Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 14 - Năm 2021

VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI  
NHỮNG BẤT CẬP CỦA CHẾ ĐỊNH HỘI ĐỒNG BẦU CỬ QUỐC GIA VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN  
VƯỢT QUA NGHI NGỜ HỢP LÝ: NGƯỠNG TIÊU CHUẨN CHỨNG MINH TRONG TƯ PHÁP  
Số 14 (438)  
Tháng 7/2021  
HÌNH SỰ HOA KỲ VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM  
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI  
NHỮNG BẤT CẬP CỦA CHẾ ĐỊNH HỘI ĐỒNG BẦU CỬ QUỐC GIA VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN  
VƯỢT QUA NGHI NGỜ HỢP LÝ: NGƯỠNG TIÊU CHUẨN CHỨNG MINH TRONG TƯ PHÁP  
HÌNH SỰ HOA KỲ VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM  
Mục lục Số 14/2021  
Số 14 (438)  
Tháng 7/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Những bất cập của chế định Hội đồng Bầu cử quốc gia và  
hướng hoàn thiện  
3
PGS. TS. Nguyễn Minh Tuấn  
Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tới dịch vụ công  
ThS. Đậu Công Hiệp  
10  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
Gian lận bảo hiểm nhân thọ và giải pháp phòng, chống gian lận  
18  
25  
Bạch Thị Nhã Nam  
CHÍNH SÁCH  
Lồng ghép giới trong chương trình mục tiêu quốc gia xây  
dựng nông thôn mới và chương trình mục tiêu quốc gia giảm  
nghèo, giai đoạn 2021 - 2025  
TS. Bùi Thị Hòa - Dương Minh Thuận  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Trách nhiệm dân sự của người đại diện pháp nhân  
31  
38  
TS. Vũ Quang  
Quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 và Bộ luật Dân sự  
năm 2015 về hợp đồng  
TS. Nguyễn Văn Hꢀi - ThS. Nguyễn Tꢁi Tuấn Anh  
Hình thức của di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự  
năm 2015  
44  
ThS. Nguyễn Thanh Thư  
ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền  
Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chiếm đất  
49  
54  
Nguyễn Minh Thuy  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
Ảnh bìa: Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV.  
Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội.  
Vượt qua nghi ngờ hợp lý: Ngưỡng tiêu chuẩn chứng minh  
trong tư pháp hình sự Hoa Kỳ và kinh nghiệm cho Việt Nam  
ThS. Võ Minh Kỳ  
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI  
NHỮNG BẤT CẬP CỦA CHẾ ĐỊNH HỘI ĐỒNG BẦU CỬ QUỐC GIA VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN  
VƯỢT QUA NGHI NGỜ HỢP LÝ: NGƯỠNG TIÊU CHUẨN CHỨNG MINH TRONG TƯ PHÁP  
HÌNH SỰ HOA KỲ VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM  
Legis No 14/2021  
Số 14 (438)  
Tháng 7/2021  
STATE AND LAW  
Inadequacies of Provisions on the National Election Council and  
Recommendations for Improvements  
3
Prof. Dr. Nguyen Minh Tuan  
Impacts of the Fourth Industrial Revolution to Public Services  
LLM. Dau Cong Hiep  
10  
DISCUSSION OF BILLS  
Frauds in Life Insurance and Recommended Solutions  
Bach Thi Nha Nam  
18  
25  
POLICY  
Gender Mainstreaming in National Target Program on New  
Rural Developments and National Target Program on Poverty  
Reduction, Period of 2021 to 2025  
Dr. Bui Thi Hoa - Duong Minh Thuan  
LEGAL PRACTICE  
Civil Liability of the Representative of the Legal Entity  
Dr. Vu Quang  
31  
38  
Regulations on Contracts under the Labor Code of 2019 and the  
Civil Code of 2015  
Dr. Nguyen Van Hoi - LLM. Nguyen Tai Tuan Anh  
The Will Formality under the Civil Code of 2015  
44  
49  
LLM. Nguyen Thanh Thu  
LLM. Nguyen Thi Ngoc Tuyen  
Sanctioning of Administrative Violations of Land Appropriation  
Nguyen Minh Thuy  
FOREIGN EXPERIENCE  
Beyond a Reasonable Doubt: The Standard of Proof in the  
U.S Criminal Justice System and Lessons for Vietnam  
54  
LLM. Vo Minh Ky  
PRICE: 25.000VND  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
NHỮNG BẤT CẬP CỦA CHẾ ĐỊNH  
HỘI ĐỒNG BẦU CỬ QUỐC GIA VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN  
Nguyễn Minh Tuấn*  
*PGS.TS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Sự ra đời của Hꢀi đꢁng Bꢂu cꢃ quꢄc gia cho thấy các nhà lập hiến Việt Nam  
mong muꢄn khắc phục những hạn chế của công tác bꢂu cꢃ, chuyên nghiệp hóa  
hoạt đꢀng tổ chức bꢂu cꢃ thời gian tới. Hꢀi đꢁng Bꢂu cꢃ quꢄc gia ra đời cũng  
nhằm góp phꢂn bảo đảm được tính khách quan trong chỉ đạo, điều hành, phꢂn nào  
đảm bảo được tính chuyên nghiệp trong tổ chức công tác bꢂu cꢃ. Tuy nhiên, chế  
định Hꢀi đꢁng Bꢂu cꢃ quꢄc gia theo pháp luật hiện hành còn có những khoảng  
trꢄng, những bất cập xuất phát từ thực tế khách quan triển khai Luật Bꢂu cꢃ đại  
biểu Quꢄc hꢀi và đại biểu Hꢀi đꢁng nhân dân năm 2015. Trong phạm vi bài viết  
này, tác giả tập trung phân tích, chỉ rõ những bất cập của chế định Hꢀi đꢁng Bꢂu  
cꢃ quꢄc gia và đưa ra quan điểm về phương hướng hoàn thiện chế định này.  
Từ khóa: Hꢀi đꢁng Bꢂu cꢃ quꢄc  
gia; Quꢄc hꢀi; Hꢀi đꢁng nhân  
dân.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 14/5/2021  
: 03/6/2021  
: 05/6/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
The establishment of the National Election Council shows that constitutional  
agency of Vietnam wish to overcome the shortcomings of election activity  
and professionalize the election arrangement activity in the coming time. The  
establishment of the National Election Council also aims to ensure objectivity in  
direction and administration, and to also ensure professionalism in the election  
activity. However, the National Election Council’s regulations under current  
law still have gaps and shortcomings stemming from the objective reality of  
enforcement of the Law on Election of deputies to the National Assembly and  
and deputies of People's Council of 2015. Within the scope of this article, the  
author focuses on analysis of and findings of shortcomings of the regulations on  
National Election Council and recommendations for further improvements of  
these provisions.  
Keywords: National Election  
Council; National Assembly;  
People’s Council.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 14 May 2021  
: 03 Jun 2021  
: 05 Jun 2021  
Approved  
1. Về địa vị pháp lý của Hội đồng Bầu cử  
quốc gia  
khắc phục được những hạn chế, bất cập của  
công tác bꢂu cꢃ, đảm bảo sự thꢄng nhất,  
phꢄi hợp chặt chẽ, thường xuyên và trách  
nhiệm cũng rõ ràng trong hoạt đꢀng bꢂu cꢃ.  
Ở Việt Nam, Hꢀi đꢁng Bꢂu cꢃ quꢄc gia  
(HĐBCQG) được thành lập với nhiệm vụ  
chính là tổ chức bꢂu cꢃ đại biểu Quꢄc hꢀi,  
chỉ đạo và hướng dẫn công tác bꢂu cꢃ đại  
biểu Hꢀi đꢁng nhân (HĐND) các cấp, nhằm  
mục đích bảo đảm cho việc bꢂu cꢃ được  
diễn ra mꢀt cách công khai, minh bạch, dân  
chủ. Việc ra đời thiết chế này đã góp phꢂn  
HĐBCQG trong chế đꢀ bꢂu cꢃ là mꢀt  
thiết chế quan trọng, bởi lẽ bꢂu cꢃ là  
nền tảng của các nhà nước dân chủ pháp  
quyền. Việc thiết kế, thực thi chế đꢀ bꢂu  
cꢃ tiến bꢀ, phù hợp là công việc quan  
trọng hàng đꢂu của bất kỳ nhà nước dân  
Số 14(438) - T7/2021  
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
chủ pháp quyền nào, trong đó Việt Nam  
cũng không phải là ngoại lệ1. Tuy nhiên,  
liệu HĐBCQG đã có được vị trí pháp lý  
phù hợp hay chưa?  
Nhiệm vụ của EMB bao gꢁm nhiều hoạt  
đꢀng, tùy thuꢀc vào mô hình khác nhau như  
mô hình đꢀc lập (independent model), mô  
hình trực thuꢀc hành pháp (governmental  
model) hoặc mô hình hỗn hợp (mixed  
Vòng tròn thể hiện quy trình quản lý bꢂu cꢃ.  
Theo Mạng lưới nghiên cứu về bꢂu cꢃ  
model)4. Tuy nhiên, dù là mô hình nào thì  
việc tổ chức, quản lý bꢂu cꢃ cũng bao gꢁm  
các giai đoạn như thiết lập khuôn khổ pháp  
lý, lập kế hoạch và thực thi, giáo dục và đào  
tạo về bꢂu cꢃ, lập danh sách ứng cꢃ viên, tổ  
chức tranh cꢃ, bỏ phiếu, xác nhận kế hoạch  
bꢂu cꢃ và giai đoạn hậu bꢂu cꢃ (Xem sơ đꢁ  
vòng tròn quy trình quản lý bꢂu cꢃ trên).  
Giai đoạn hậu bꢂu cꢃ là giai đoạn không  
thể thiếu trong quy trình quản lý bꢂu cꢃ.  
ACE, mꢀt mạng lưới nghiên cứu về bꢂu cꢃ  
hàng đꢂu thế giới2, mꢀt cơ quan quản lý bꢂu  
cꢃ (Electoral Management Body - EMB) là  
cơ quan được tổ chức, được lập ra nhằm  
mục đích và có trách nhiệm pháp lý trong  
việc quản lý mꢀt hoặc nhiều công việc cꢄt  
yếu trong các cuꢀc bꢂu cꢃ (elections) và  
những hình thức dân chủ khác được pháp  
luật quy định như trưng cꢂu ý dân, lấy ý  
kiến công dân3.  
1
Vũ Văn Nhiêm, Vai trò của bầu cử trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân,  
Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, sꢄ 2/2012, tr.11-25.  
2 The ACE Electoral Knowledge Network (gọi tắt là ACE) là mꢀt dự án thông tin về bꢂu cꢃ lớn trên thế giới  
3
ema01, truy cập gꢂn nhất ngày 14/5/2021.  
4 Tìm hiểu thêm về các mô hình này: Vũ Công Giao, Cơ quan bầu cử quốc gia trên thế giới và việc hiến định  
cơ quan này trong Hiến pháp 1992 sửa đổi 2013 của Việt Nam, trong cuꢄn sách “Các thiết chế Hiến định đꢀc  
lập kinh nghiệm quꢄc tế và triển vọng ở Việt Nam”, Viện chính sách công và pháp luật, Nxb. Đại học Quꢄc  
gia Hà Nꢀi, 2013, tr.102.  
4
Số 14(438) - T7/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Ở giai đoạn này có nhiều việc phải làm bao  
gꢁm hoạt đꢁng bꢂu bổ sung đại biểu trong  
trường hợp khuyết đại biểu, xꢃ lý tranh chấp  
bꢂu cꢃ, theo dõi hoạt đꢀng của đại biểu, bãi  
miễn đại biểu, tổ chức nghiên cứu về bꢂu  
cꢃ, hoàn thiện pháp luật về bꢂu cꢃ v.v...  
Nếu xác định HĐBCQG là mꢀt cơ quan  
hiến định đꢀc lập thì không thể coi đây là  
mꢀt thiết chế có tính chất vụ việc, khi hoàn  
thành xong việc bꢂu cꢃ là chấm dứt nhiệm  
vụ. Việc sau bꢂu cꢃ là việc rất quan trọng  
bao gꢁm giải quyết các công việc phát sinh  
liên quan đến các đại biểu trong suꢄt nhiệm  
kỳ của Quꢄc hꢀi và HĐND các cấp.  
Ở Việt Nam, Điều 20 Luật Bꢂu cꢃ đại  
biểu Quꢄc hꢀi (ĐBQH) và đại biểu Hꢀi đꢁng  
nhân dân (ĐBHĐND) hiện hành quy định:  
“Hội đồng bầu cử quốc gia kết thúc nhiệm  
vụ sau khi đã trình Quốc hội khóa mới báo  
cáo tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước và  
kết quả xác nhận tư cách đại biểu Quốc hội  
được bầu, bàn giao biên bản tổng kết và hồ  
sơ, tài liệu về bầu cử đại biểu Quốc hội cho  
Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa mới”.  
Như vậy, nhiệm vụ của HĐBCQG chỉ giới  
hạn trong hoạt đꢀng trước và trong khi diễn  
ra bꢂu cꢃ, không có giai đoạn hậu bầu cử.  
Hơn nữa, mỗi đại biểu khi tham gia ứng  
cꢃ đều phải có “chương trình, kế hoạch  
hành đꢀng rõ ràng”; do vậy phải làm rõ chế  
đꢀ trách nhiệm của đại biểu đꢄi với cꢃ tri  
sau bꢂu cꢃ, giám sát chính sách đưa ra và  
việc thực thi chính sách đó ra sao sau khi  
được bꢂu. HĐBCQG cꢂn phải là cơ quan  
tiến hành việc theo dõi người được bꢂu có  
thực hiện tꢄt lời hứa với cꢃ tri hay không.  
Nếu hiểu bꢂu cꢃ là sự lựa chọn, thì bất kỳ sự  
lựa chọn nào cũng có thể đúng hoặc không  
đúng. Bởi vậy, việc giám sát sau bꢂu cꢃ là  
việc rất quan trọng. HĐBCQG cꢂn phải  
được trao quyền giám sát trách nhiệm của  
đại biểu đối với cử tri sau bầu cử. Muꢄn  
vậy, trước tiên cơ chế cử tri bãi nhiệm đại  
biểu khi đại biểu đó không còn xứng đáng  
với sự tín nhiệm của nhân dân phải được  
xác lập rõ ràng7.  
Nếu hiểu đúng theo nghĩa là mꢀt Cơ quan  
quản lý bꢂu cꢃ (EMB) theo tiêu chí ACE  
đưa ra, HĐBCQG phải được trao nhiều  
thẩm quyền hơn so với những quy định  
trong Luật Bꢂu cꢃ ĐBQH và ĐBHĐND  
hiện hành5.  
HĐBCQG phải là cơ quan hoạt đꢀng  
thường xuyên, vì việc bꢂu cꢃ ĐBQH, đại  
biểu HĐND các cấp không chỉ theo định  
kỳ mà còn tổ chức bꢂu cꢃ cả trong trường  
hợp khuyết đại biểu vì lý do sức khỏe hoặc  
bị bãi miễn. Hơn nữa, đây còn là cơ quan  
chuyên môn trong việc thúc đẩy, bảo đảm  
quyền bꢂu cꢃ, ứng cꢃ và thực hiện luật bꢂu  
cꢃ, với công việc lớn, cꢂn tiến hành thường  
xuyên, liên tục6.  
2. Hội đồng Bầu cử quốc gia cần phải là  
cơ quan có trách nhiệm trong việc hạn  
chế những tiêu cực, bất cập, thiếu thống  
nhất của hoạt động bầu cử hiện nay  
Về mꢄi quan hệ công tác của HĐBCQG,  
khoản 2 Điều 18 Luật Bꢂu cꢃ ĐBQH và  
ĐBHĐND quy định: “Hội đồng Bầu cử  
quốc gia phối hợp với Đoàn Chủ tịch Ủy  
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam  
5 Vũ Công Giao, Cơ quan bầu cử quốc gia trên thế giới và việc hiến định cơ quan này trong Hiến pháp 1992  
sửa đổi 2013 của Việt Nam, Tlđd, tr.102.  
6 Ngô Đức Mạnh, Chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng Bầu cử quốc gia và việc sửa đổi Luật bầu cử đại biểu  
Quốc hội, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, sꢄ 18 (274), T9/2014, tr.27.  
7
Thái Thị Thu Trang, Nguyễn Thị Quỳnh Trang, Cơ quan hiến định độc lập theo Hiến pháp năm 2013 và  
những vấn đề đặt ra, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, sꢄ 5 (338)/2020, tr.58.  
Số 14(438) - T7/2021  
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
trong việc hiệp thương, giới thiệu người vì dân thì HĐBCQG cꢂn phải có mꢀt vị  
ứng cử đại biểu Quốc hội, hướng dẫn việc  
hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại  
biểu Hội đồng nhân dân và vận động bầu  
cử”. Quy định này chưa thực sự làm rõ vị  
trí pháp lý cꢂn thiết của HĐBCQG. Trong  
điều kiện Việt Nam hiện nay, HĐBCQG ra  
đời cần phải là một thiết chế có vai trò hạn  
chế tối đa những mặt tiêu cực của công tác  
bầu cử lâu nay.  
thế đꢀc lập, được trao quyền quyết định  
sꢄ lượng người ứng cꢃ sau khi đã tổ chức  
hiệp thương. Trong trường hợp danh sách  
có nhiều ứng cꢃ viên hoặc khi cꢂn phải cân  
nhắc giữa vấn đề cơ cấu và tiêu chuẩn, thì  
HĐBCQG dựa trên những nguyên tắc chung  
của pháp luật bꢂu cꢃ, sẽ quyết định sꢄ lượng  
phù hợp, để đảm bảo tính cạnh tranh, tính  
công bằng, tính khách quan và không bỏ sót  
những người xứng đáng do không được “cơ  
cấu” nên không được đưa vào danh sách  
bꢂu cꢃ.  
Thực tế hiện nay, người tự ứng cꢃ không  
biết khả năng mình có thể trở thành ứng cꢃ  
viên chính thức hay không, vì kết quả của  
Hꢀi nghị hiệp thương do Mặt trận Tổ quꢄc  
Việt Nam chủ trì mới có tính chất quyết  
định. Bản chất của hiệp thương là cơ cấu.  
Việc tiếp xúc giữa các ứng viên với cꢃ tri  
nhìn chung còn nặng tính hình thức, có nơi  
khi mời cꢃ tri tiếp xúc đại biểu, chỉ mời  
những người ăn ý với mình8. Trên thực tế,  
có người tự ứng cꢃ sau khi lấy ý kiến tại nơi  
cư trú, tại nơi công tác nhận được tín nhiệm  
cao, nhưng khi Hꢀi nghị hiệp thương lꢂn thứ  
ba người đó lại không được lựa chọn, giới  
thiệu ứng cꢃ9. Điều đó cho thấy người đủ  
tiêu chuẩn thì chưa chắc đã được cơ cấu, mà  
người được cơ cấu lại chưa chắc đã đủ tiêu  
chuẩn cao hơn. Từ đó có thể thấy “ý chí của  
hiệp thương” chưa chắc đã phản ánh ý chí  
của nhân dân. Trong trường hợp qua hiệp  
thương mà mꢀt danh sách bꢂu cꢃ được lựa  
chọn ra không thể hiện ý chí thực sự của  
nhân dân, thì việc bꢂu cꢃ tiếp theo sẽ không  
có nhiều ý nghĩa.  
Về vấn đề cơ cấu, cꢂn thay đổi tư duy,  
xóa bỏ cách hiểu cơ cấu mꢀt cách cứng  
nhắc. Tác giả bài viết đꢁng tình với quan  
điểm cho rằng cꢂn “cơ cấu” theo hướng tỷ  
lệ tꢄi thiểu và tꢄi đa sꢄ đại biểu, miễn sao có  
đại biểu đại diện là đạt yêu cꢂu10.  
3. Cơ cấu thành viên Hội đồng Bầu cử  
quốc gia và điều kiện, tiêu chuẩn thành  
viên Hội đồng Bầu cử quốc gia  
Cơ cấu thành viên của HĐBCQG cꢂn  
có sự đại diện đa dạng để tránh sự phụ  
thuꢀc của HĐBCQG vào mꢀt cơ quan  
nhà nước nào. Khoản 1 Điều 12 Luật  
Bꢂu cꢃ ĐBQH và ĐBHĐND năm 2015  
quy định: “Hội đồng Bầu cử quốc gia  
do Quốc hội thành lập, có từ mười lăm  
đến hai mươi mốt thành viên gồm Chủ  
tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên  
là đại diện Ủy ban Thường vụ Quốc hội,  
Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận  
Tổ quốc Việt Nam và một số cơ quan, tổ  
Để đáp ứng yêu cꢂu xây dựng Nhà nước  
phápquyềnViệtNamXHCNcủadân,dodân, chức hữu quan”.  
8
Phan Xuân Sơn (Chủ biên), Các đoàn thể nhân dân với việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở hiện nay, Nxb.  
Chính trị Quꢄc gia, Hà Nꢀi, năm 2003, tr.238.  
9 Chẳng hạn, trường hợp ông Trꢂn Đăng Tuấn, nguyên Phó Tổng giám đꢄc Đài truyền hình Việt Nam bị loại  
khỏi danh sách ứng cꢃ đại biểu Quꢄc hꢀi khóa XIV của TP. Hà Nꢀi dù được tín nhiệm cao trong nhân dân.  
10  
Mai Thị Minh Ngọc, Tác đꢀng của hiệp thương tới các cuꢀc bꢂu cꢃ ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và  
Pháp luật, sꢄ 11/2017, tr.12-17.  
6
Số 14(438) - T7/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Quy định trên chưa thể hiện rõ thành phải thuꢀc về Ủy ban Thường vụ Quꢄc hꢀi  
phꢂn Hꢀi đꢁng này có các chuyên gia, mới đảm bảo tính nhất quán12.  
những nhà khoa học, người ngoài Đảng hay  
không? Tác giả bài viết cho rằng quy định  
4. Về các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của  
Hội đồng Bầu cử quốc gia  
cụ thể có sự tham gia của những chủ thể này  
Điều14LuậtBꢂucꢃĐBQHvàĐBHĐND  
sẽ đảm bảo tiêu chí trung lập, dân chủ, công  
năm 2015 quy định những nhiệm vụ, quyền  
bằng của mꢀt cuꢀc bꢂu cꢃ, đꢁng thời cũng  
hạn chung của Hꢀi đꢁng Bꢂu cꢃ quꢄc gia  
thể hiện rõ hơn tính chất dân chủ của Nhà  
như sau: “1. Tổ chức bầu cử đại biểu Quốc  
hội; 2. Chỉ đạo, hướng dẫn công tác bầu cử  
đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; 3. Chỉ  
đạo công tác thông tin, tuyên truyền và vận  
động bầu cử; 4. Chỉ đạo công tác bảo vệ an  
ninh, trật tự, an toàn xã hội trong cuộc bầu  
cử; 5. Kiểm tra, đôn đốc việc thi hành pháp  
nước ta.  
Hơn nữa, với quy định hiện hành tại  
khoản 1 Điều 12 Luật Bꢂu cꢃ ĐBQH và  
ĐBHĐND năm 2015, tiêu chuẩn của thành  
viên HĐBCQG chưa thực sự rõ ràng. Cꢂn  
có quy định cụ thể về độ tuổi, trình độ, phẩm  
chất đạo đức, kinh nghiệm công tác, trình  
luật về bầu cử; 6. Quy định mẫu hồ sơ ứng  
độ, có nghiệp vụ về bầu cử, có thực tiễn thời  
cử, mẫu thẻ cử tri, mẫu phiếu bầu cử, nội  
gian công tác thực tiễn liên quan đến pháp  
quy phòng bỏ phiếu, các mẫu văn bản khác  
sử dụng trong công tác bầu cử”.  
luật. Ngoài ra, để đảm bảo tính vô tư, khách  
quan, thành viên HĐBCQG không được là  
Như vậy, có thể thấy mꢀt sꢄ hướng dẫn  
ứng viên trong bất kỳ cuꢀc bꢂu cꢃ nào trước  
về quy trình, cách thức tổ chức vận đꢀng  
và sau đó11.  
bꢂu cꢃ, quy trình xꢃ lý đꢄi với việc vi phạm  
Về chức danh Chủ tịch HĐBCQG, vì  
về vận đꢀng bꢂu cꢃ, về khiếu nại, tꢄ cáo vẫn  
HĐBCQG là do Quꢄc hꢀi thành lập, do đó  
chưa được quy định rõ ràng13.  
UBTVQH cꢂn giữ quyền đề nghị Quꢄc hꢀi  
Mꢀt trong những yếu tꢄ quan trọng gia  
bꢂu Chủ tịch HĐBCQG. Đây là thẩm quyền  
tăng chất lượng ĐBQH và ĐBHĐND là tính  
cạnh tranh trong vận động bầu cử và bảo đảm  
thực sự công bằng, khách quan, giám sát chặt  
chẽ để tránh tình trạng gian lận trong bꢂu cꢃ.  
HĐBCQG phải là thiết chế quan trọng được  
trao quyền, được tạo mọi điều kiện đảm bảo  
để thực hiện quyền giám sát này.  
thuꢀc về Quꢄc hꢀi, không phải là quyền của  
Nguyên thủ quꢄc gia. Hơn nữa, Điều 13  
Luật Bꢂu cꢃ ĐBQH và ĐBHĐND cũng  
quy định “Hội đồng Bầu cử quốc gia chịu  
trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo về  
hoạt động của mình trước Quốc hội, Ủy ban  
Thường vụ Quốc hội”. Như vậy, HĐBCQG  
không phải chịu trách nhiệm trước Chủ  
Thực tế cho thấy, hiện nay sꢄ lượng  
tịch nước. Do đó, HĐBCQG do Quꢄc hꢀi người tự ứng cꢃ rất thấp và sꢄ lượng người  
thành lập, chịu trách nhiệm trước Quꢄc hꢀi, tự ứng cꢃ được bꢂu thì còn thấp hơn rất  
UBTVQH, thì quyền đề nghị Quꢄc hꢀi bꢂu nhiều. Sự vắng bóng của những người tự  
11 Xem thêm: Thái Doãn Thành, Hội đồng Bầu cử quốc gia - thiết chế góp phần bảo đảm quyền làm chủ của  
nhân dân, Tạp chí Nghề luật, sꢄ 4/2019, tr.5.  
12 Thái Doãn Thành, Hội đồng Bầu cử quốc gia - thiết chế góp phần bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân,  
Tlđd, tr.6.  
13 Nguyễn Thị Kim Anh, Hội đồng Bầu cử quốc gia theo pháp luật Việt Nam, Tlđd, tr.42.  
Số 14(438) - T7/2021  
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
ứng cꢃ có chất lượng có thể làm cho quá  
trình bꢂu cꢃ không tạo ra sự cạnh tranh  
đúng đắn. Tác giả Nguyễn Đăng Dung cho  
rằng, quyền ứng cꢃ trước hết phải được  
hiểu ở nghĩa tự ứng cꢃ, sau mới có thể đến  
quyền đề cꢃ. Quy trình tự ứng cꢃ hiện nay  
đang tạo nên sự bất bình đẳng giữa người  
được đề cꢃ và người tự ứng cꢃ14. Chính vì  
sự bất cập này, cho nên cꢂn phải mở rꢀng  
phạm vi lựa chọn cho cꢃ tri bằng việc tăng  
sꢄ người tự ứng cꢃ cho mꢀt đơn vị bꢂu  
cꢃ, ngoài ra cꢂn quy định cụ thể, chi tiết  
trình tự, thủ tục tự ứng cꢃ để tạo điều kiện  
cho công dân thực hiện quyền tự ứng cꢃ,  
hướng tới tranh cꢃ. HĐBCQG phải là cơ  
quan đóng góp quan trọng vào tiến trình  
này. Mꢀt cuꢀc bꢂu cꢃ chân chính thì cꢃ  
tri bỏ phiếu là bỏ phiếu cho “chính sách”,  
không phải giản đơn cho mꢀt con người  
cụ thể. Vì vậy, người ra tranh cꢃ phải có  
chương trình hành đꢀng cụ thể để tranh cꢃ.  
Chương trình hành đꢀng đó phải khả thi,  
phải đáp ứng được những mong mỏi người  
dân và được cꢃ tri giám sát thực hiện. Có  
như vậy mới tăng cường sự phụ thuꢀc của  
người được bꢂu với cꢃ tri. Pháp luật bꢂu  
cꢃ phải quy định rõ các hình thức vận đꢀng  
tranh cꢃ, trên cơ sở đó HĐBCQG sẽ giám  
sát và xꢃ lý những vi phạm trong quá trình  
vận đꢀng tranh cꢃ này15.  
rất khó khăn vì nhiều thành viên giữ các  
vị trí chủ chꢄt ở các tỉnh, thành phꢄ không  
bꢄ trí được thời gian16. Muꢄn có những  
ĐBQH và ĐBHĐND chuyên nghiệp thì  
họ trước tiên phải là những người không  
kiêm nhiệm quá nhiều vị trí, phải là  
những người thạo nghề (thạo giao tiếp,  
thuyết phục, thương lượng, nắm vững các  
quy trình và thủ tục làm việc của Quꢄc  
hꢀi...) và có điều kiện làm việc chuyên  
nghiệp (thu nhập cao, bꢀ máy giúp việc  
chuyên nghiệp, có nhiều đặc quyền của  
ĐBQH...)17. Tác giả cho rằng HĐBCQG  
sẽ là thiết chế giám sát hoạt đꢀng của các  
ĐBQH và ĐBHĐND để góp phꢂn nâng  
cao chất lượng thực sự của đꢀi ngũ này  
và cũng là chất lượng hoạt đꢀng của Quꢄc  
hꢀi và HĐND các cấp.  
5. Về tổ chức và hoạt động của bộ máy  
giúp việc của Hội đồng Bầu cử quốc gia  
Về bꢀ máy giúp việc của HĐBCQG,  
Điều 19 Luật Bꢂu cꢃ ĐBQH và ĐBHĐND  
năm 2015 quy định rất chung chung như  
sau: “1. Hội đồng Bầu cử quốc gia có bộ  
máy giúp việc do Ủy ban thường vụ Quốc  
hội quy định; 2. Hội đồng Bầu cử quốc gia  
có quyền trưng tập cán bộ, công chức của  
cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức  
chính trị - xã hội để giúp việc cho Hội đồng  
Bầu cử quốc gia”.  
Chất lượng ĐBQH và ĐBHĐND cũng  
là vấn đề cꢂn được quan tâm nhiều hơn ở  
giai đoạn hậu bꢂu cꢃ. Thực tế hoạt đꢀng  
thời gian qua cho thấy mꢀt sꢄ Ủy ban của  
Quꢄc hꢀi, Ban của HĐND khi triệu tập  
Thực tế, thời gian qua cho thấy, trong  
quá trình thực thi các nhiệm vụ và quyền  
hạn của mình, HĐBCQG còn có những  
hạn chế như: có trường hợp sau khi trúng  
14 Nguyễn Đăng Dung, Bầu cử và tự ứng cử, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, sꢄ 08 (312), T4/2016, tr.3-7.  
15 Nguyễn Minh Tuấn, Đi ngược lợi ích của dân phải quyết bãi nhiệm, https://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/  
di-nguoc-loi-ich-cua-dan-phai-quyet-bai-nhiem-231132.html, truy cập gꢂn nhất ngày 11/5/2021.  
16 Tạ Thị Yên, Cơ cấu, tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, Tạp chí Nghiên cứu lập  
pháp, sꢄ 22 (396), T11/2019, tr.19.  
17 Nguyễn Minh Tuấn, Một Quốc hội lập pháp, Tạp chí Tia sáng, https://tiasang.com.vn/-dien-dan/mot-quoc-  
hoi-lap-phap-7434, truy cập gꢂn nhất ngày 11/5/2021.  
8
Số 14(438) - T7/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
cꢃ phát hiện không đủ tư cách ĐBQH, vẫn  
xảy ra sai sót khi in ấn phiếu bꢂu dẫn đến  
phải hủy bỏ kết quả bꢂu cꢃ và phải tiến  
hành bꢂu cꢃ lại; sơ suất trong việc kiểm  
soát sꢄ lượng phiếu phát ra, sꢄ phiếu thu  
vào, việc đóng dấu đã bỏ phiếu, vẫn còn có  
trường hợp bꢂu hꢀ, bꢂu thay. Việc hướng  
dẫn công tác bꢂu cꢃ ĐBHĐND các cấp  
vẫn còn chậm trễ, biểu hiện như mꢀt sꢄ  
văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của các cơ  
quan trung ương chậm được ban hành,  
thiếu thꢄng nhất; mꢀt sꢄ biểu mẫu thꢄng  
kê có sự điều chỉnh, bổ sung chậm gây khó  
khăn, ảnh hưởng nhất định đến việc triển  
khai, thực hiện công tác chuẩn bị bꢂu cꢃ ở  
các địa phương18. Những hạn chế này cho  
thấy, còn có sự thiếu chuyên nghiệp trong  
tổ chức, hoạt đꢀng của HĐBCQG, mà  
nguyên nhân có thể là do chưa chú trọng  
đúng mức công tác tập huấn bꢂu cꢃ, nhất  
là đꢄi với cán bꢀ, nhân viên tổ bꢂu cꢃ về  
nghiệp vụ bꢂu cꢃ19.  
theo chế độ chuyên trách thì họ mới có thể  
gắn bó lâu dài với công việc20.  
HĐBCQG phải là thiết chế có trách  
nhiệm giám sát, hỗ trợ các ĐBQH và  
ĐBHĐND trong việc thực hiện chức năng,  
nhiệm vụ của mình để gia tăng tính chuyên  
nghiệp trong hoạt đꢀng.  
Tóm lại, việc hoàn thiện chế định  
HĐBCQG thực chất cũng là hướng tới bảo  
đảm tꢄt nhất quyền làm chủ của nhân dân,  
đảm bảo nguyên tắc bꢂu cꢃ, đảm bảo kết  
quả bꢂu cꢃ đúng đắn và trung thực, thể hiện  
ý chí của cꢃ tri21. Đúng như điểm 3 Điều 21  
Tuyên ngôn thế giới nhân quyền năm 1948  
nêu rõ: “Ý chí của cử tri phải là cơ sở của  
quyền lực của nhà nước. Ý chí này thể hiện  
qua các cuộc bầu cử định kỳ và chân thực, tổ  
chức theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu,  
bình đẳng và bỏ phiếu kín hoặc bằng những  
tiến trình bầu cử tự do tương đương”. Dân  
chủ là xu thế của thời đại và bꢂu cꢃ là công  
đoạn đꢂu tiên cho cả quá trình dân chủ này.  
Bꢂu cꢃ tạo ra sự chính danh, tạo nên sự thay  
đổi chính quyền trong xã hꢀi dân chủ22. Đổi  
mới chế định HĐBCQG theo hướng gia  
tăng vị thế đꢀc lập của chế định này, trao  
quyền nhiều hơn để hạn chế những bất cập,  
thiếu thꢄng nhất, đổi mới cơ cấu, cơ quan  
giúp việc của HĐBCQG là mꢀt bước quan  
trọng trong tiến trình tạo nên chế đꢀ bꢂu cꢃ  
công bằng, chân thực, quyết định vận mệnh,  
tương lai của mꢀt đất nước, cũng như toàn  
Tác giả bài viết này cho rằng Bꢀ máy giúp  
việc của HĐBCQG phải được thiết lập với  
sự chú trọng đặc biệt về tính chuyên nghiệp  
trong hoạt động. Việc tổ chức bꢂu cꢃ là hoạt  
đꢀng chuyên môn, khác với hoạt đꢀng xác  
lập chính sách bꢂu cꢃ là hoạt đꢀng mang tính  
chất chính trị. Trong bꢀ máy giúp việc hoàn  
toàn mang tính chuyên môn đó, người đứng  
đꢂu Ban Thư ký và đứng đꢂu các bꢀ phận  
chức năng có vai trò rất quan trọng. Những  
vị trí này cꢂn phải được lựa chọn và bổ nhiệm  
bꢀ hoạt đꢀng xã hꢀi  
18  
Nguyễn Thị Kim Anh, Hội đồng Bầu cử quốc gia theo pháp luật Việt Nam, Tạp chí Quản lý nhà nước,  
sꢄ 260 (92017), tr. 42.  
19 Nguyễn Thị Kim Anh, Hội đồng Bầu cử quốc gia theo pháp luật Việt Nam, Tlđd, tr.42-43.  
20 Vũ Công Giao, Thiết kế bộ máy giúp việc của Hội đồng Bầu cử quốc gia theo Hiến pháp năm 2013, Tạp chí  
Nhà nước và Pháp luật, sꢄ 11/2014, tr.15-21.  
21 Thái Vĩnh Thắng, Bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội  
đồng nhân dân các cấp, Tạp chí Tổ chức nhà nước, sꢄ 4/2016, tr.5.  
22  
Nguyễn Đăng Dung, Vai trò của bầu cử, Tạp chí khoa học Đại học Quꢄc gia Hà Nꢀi: Luật học, Tập 34,  
sꢄ 1 (2018), tr.13-30.  
Số 14(438) - T7/2021  
9
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ  
TỚI DỊCH VỤ CÔNG  
Đậu Công Hiệp*  
* ThS. Khoa Pháp luật Hành chính - Nhà nước,  
Trường Đại học Luật Hà Nội.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Dịch vụ công, cách  
mạng công nghiệp lꢂn thứ tư, dữ  
liệu lớn, trí tuệ nhân tạo.  
Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích tác đꢀng của hai thành tựu lớn  
mà Cách mạng công nghiệp lꢂn thứ tư mang lại – Dữ liệu lớn và Trí tuệ  
nhân tạo tới dịch vụ công, chỉ ra những triển vọng cũng như thách thức mà  
Nhà nước phải đꢄi mặt để cải thiện hơn nữa chất lượng dịch vụ công.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 17/6/2021  
: 06/7/2021  
: 08/7/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Keywords: Public services,  
fourth industrial revolution, big  
data, artificial intelligence  
Within the scope of this article, the author provides an analysis of the  
impacts of two major achievements brought by the Fourth Industrial  
Revolution - Big Data andArtificial Intelligence on public services, points  
out the prospects as well as challenges to be faced by the Government so  
that it is to further improve the quality of the public services  
Article History:  
Received  
Edited  
: 17 Jun 2021  
: 06 July 2021  
: 08 July 2021  
Approved  
Cuꢀc Cách mạng công nghiệp lꢂn thứ tư  
(CMCN 4.0) hay trực tiếp hơn là các thành  
tựu của nó đang tác đꢀng mạnh tới hꢂu hết  
các khía cạnh, lĩnh vực của đời sꢄng. Mꢀt  
điểm chung của tất cả các cuꢀc cách mạng  
công nghiệp đó là sự gia tăng nhanh chóng  
của năng suất, hiệu quả lao đꢀng. Vì vậy, có  
thể nói rằng, thành quả của cuꢀc CMCN 4.0  
này sẽ là mꢀt xã hꢀi với nhiều tiện ích và giá  
trị hơn. Tuy nhiên, đặc thù của CMCN 4.0 là  
tính “ảo”, tức là đꢄi tượng, phạm vi và môi  
trường chủ yếu của nó xoay quanh các thực  
tại phi con người, thậm chí hướng tới thay  
thế con người. Điều đó cũng tạo ra những  
thách thức nhất định trong việc kiểm soát  
chúng, sao cho chính những thành quả của  
cuꢀc cách mạng này không bị lợi dụng để  
gây hại tới con người. Đꢄi với lĩnh vực dịch  
vụ công, mꢀt trong những đặc trưng của nó  
là tính đa dạng, hướng tới nhiều thành phꢂn,  
đꢄi tượng khác nhau và có tꢂm bao phủ rất  
rꢀng. Dịch vụ công, trước hết là mꢀt dịch  
vụ cho nên nó cꢂn sự tiện lợi, nhanh chóng,  
hiệu quả. Tuy nhiên, tính chất “công” của  
nó vừa đòi hỏi sự bất vụ lợi lại vừa gắn chặt  
với nhu cꢂu quản lý của Nhà nước. Dù trên  
10  
Số 14(438) - T7/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
góc đꢀ nào thì chắc chắn những thành quả  
của cuꢀc CMCN 4.0 sẽ có tác đꢀng lớn tới  
dịch vụ công.  
chúng ta có thể làm với chúng ngay lúc  
này”1. Ví dụ, ở Hoa Kỳ, trong dịch cúm  
H1N1 năm 2009 cho thấy, việc xꢃ lý Dữ  
liệu lớn đem lại hiệu quả hơn so với dữ  
liệu truyền thꢄng là, trong khi thông tin  
được tổng hợp từ các phòng khám và các  
cơ quan y tế địa phương thường chậm trễ  
và khiến cơ quan trung ương không đánh  
giá được mức đꢀ lây lan của bệnh thì các  
chuyên viên của Google đã dùng các thuật  
toán để phỏng đoán mức đꢀ lây lan dựa  
trên lượt tìm kiếm của người dùng2.  
1. Dữ liệu lớn và dịch vụ công  
Mꢀt trong những thành tựu vĩ đại mà  
cuꢀc CMCN 4.0 mang đến chính là Dữ  
liệu lớn (Big data). Dữ liệu lớn, nói mꢀt  
cách đơn giản, chính là sự giao thoa giữa  
Cách mạng công nghiệp lꢂn thứ ba và thứ  
tư. Điều đó thể hiện ở chỗ, với khả năng  
sꢄ hóa dữ liệu đã được tạo nên nhờ máy  
Bảng 1. Vai trò của Dữ liệu lớn với chính quyền  
Đặc trưng của Dữ liệu lớn thể hiện ở mꢀt  
sꢄ điểm như3: (1) Dung lượng lớn và tăng  
mꢀt cách mạnh mẽ; (2) Tꢄc đꢀ xꢃ lý cao;  
(3) Đa dạng với nhiều nguꢁn; và (4) Có giá  
trị tiềm ẩn to lớn. Từ những đặc trưng trên  
có thể đặt ra những câu hỏi gắn với chủ đề  
nghiên cứu: Ai sở hữu Dữ liệu lớn? Ai có  
nhu cꢂu sꢃ dụng Dữ liệu lớn? và Dữ liệu  
lớn có thể mang lại điều gì. Đꢄi với khꢄi tư  
nhân, điều đó có thể rất rõ ràng. Các công ty,  
tính, Internet là những thành tựu chủ yếu  
của cuꢀc Cách mạng công nghiệp lꢂn thứ  
ba, thì nhân loại đã tạo nên mꢀt kho lưu trữ  
khổng lꢁ các dữ liệu. CMCN 4.0 ra đời đã  
tiến hơn mꢀt bước trong việc xꢃ lý khꢄi dữ  
liệu này nhằm ứng dụng vào thực tế. Tức  
là, từ mꢀt tập hợp dữ liệu thông thường  
tới cái được gọi là Dữ liệu lớn cꢂn không  
chỉ mꢀt khꢄi lượng lớn dữ liệu mà ở “điều  
1 Bernard Marr, Dữ liệu lớn - Phân tích và đo lường dữ liệu thông minh để đưa ra quyết định đúng đắn và cải  
thiện hiệu suất, Nxb. Công thương, 2017.  
2 Viktor Mayer-Schonberger, Kenneth Cukier, Dữ liệu lớn, Cuộc cách mạng sẽ làm thay đổi cách chúng ta  
sống, làm việc và tư duy, Nxb. Trẻ, TP. Hꢁ Chí Minh, 2014.  
3 http://m.dainam.edu.vn/vai-net-ve-du-lieu-lon-big-data-va-ung-dung-cua-no-trong-cuoc-song.htm.  
Số 14(438) - T7/2021  
11  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
doanh nghiệp trong hoạt đꢀng của mình  
có thể tự thu thập các dữ liệu khác nhau  
về khách hàng, sản phẩm, đꢄi tác, thậm  
chí chính nꢀi bꢀ của mình hoặc họ có thể  
mua dữ liệu từ nơi khác. Họ có nhu cꢂu sꢃ  
dụng các dữ liệu này trong hoạt đꢀng kinh  
doanh, Marketing, quản trị nhân sự để góp  
phꢂn giải quyết các câu hỏi cơ bản như sản  
xuất cái gì, quy mô bao nhiêu, v.v.. Đꢄi với  
khꢄi dịch vụ công, triển vọng áp dụng Dữ  
liệu lớn cũng rất rõ nét. Đꢂu tiên, Nhà nước  
là tổ chức sꢃ dụng quyền lực công và nắm  
giữ trong tay mꢀt khꢄi lượng dữ liệu rất lớn  
về người dân. Các dữ liệu này cũng rất đa  
dạng bởi hoạt đꢀng quản lý hành chính diễn  
ra trên hꢂu như các mặt của đời sꢄng xã hꢀi.  
Tiếp theo, Dữ liệu lớn có thể áp dụng trên  
nhiều khía cạnh của chính quyền. Bảng sau4  
cho thấy điều đó:  
tài nguyên, v.v.. Tất cả những dữ liệu này  
có thể được sꢃ dụng mꢀt cách hiệu quả nếu  
Nhà nước biết cách vận dụng và tích hợp nó.  
Đặc biệt, trong các lĩnh vực đòi hỏi phải tích  
hợp nhiều loại dữ liệu như bảo hiểm (nhân  
khẩu học, hành vi, kinh tế xã hꢀi, sức khỏe,  
sinh trắc học)6, ứng dụng của Dữ liệu lớn lại  
ngày càng trở nên quan trọng. Vì vậy, có thể  
khẳng định, triển vọng của áp dụng Dữ liệu  
lớn trong dịch vụ công là hết sức rõ ràng.  
Vấn đề đặt ra trong trường hợp này là áp  
dụng như thế nào. Trong từng lĩnh vực lại  
có những đặc thù riêng đòi hỏi phương thức  
xꢃ lý dữ liệu riêng. Vì vậy, chúng ta có thể  
chỉ ra các phương hướng mꢀt cách chung  
nhất như sau: (1) Cꢂn xây dựng hệ thꢄng  
thu thập, lưu trữ, kết nꢄi nguꢁn dữ liệu tiên  
tiến, thꢄng nhất và cập nhật hóa; (2) Trong  
từng lĩnh vực các cơ quan, đơn vị phải chủ  
đꢀng xꢃ lý nguꢁn dữ liệu, và nếu cꢂn thiết  
phải có trung tâm chuyên môn trợ giúp; và  
(3) Việc chia sẻ, tích hợp dữ liệu phải được  
thực hiện với cơ chế nhanh chóng, trong đó  
cꢂn có sự tham gia của khꢄi tư nhân.  
Đꢄi với các dịch vụ công cꢀng, rất nhiều  
ví dụ có thể đưa ra nhằm làm rõ lợi ích của  
Dữ liệu lớn như5: (1) Trong giao thông, Nhà  
nước có thể thiết lập các cảnh báo về thời  
tiết, tắc đường, tình trạng đường xá mꢀt  
cách cập nhật nhất thông qua dữ liệu từ  
camera giao thông, phản ánh qua điện thoại,  
mạng xã hꢀi, v.v..; (2) Trong việc làm, Nhà  
nước có thể nắm bắt nhu cꢂu về bảo hiểm  
xã hꢀi, an sinh để đưa ra các loại hình bảo  
hiểm, trợ cấp phù hợp; (3) Trong y tế, Nhà  
nước có thể nắm bắt tình trạng sức khỏe xã  
hꢀi để điều tiết sản xuất thuꢄc, vắc-xin. Cꢂn  
phải thấy rằng, Nhà nước sở hữu mꢀt nguꢁn  
dữ liệu khổng lꢁ về dân cư, doanh nghiệp,  
Bên cạnh những triển vọng, việc ứng  
dụng Dữ liệu lớn cũng có nhiều thách thức,  
chủ yếu trên ba mảng lớn7: (1) Quản lý Dữ  
liệu lớn; (2) Bảo đảm chất lượng dữ liệu; và  
(3) Các lo ngại về đạo đức, riêng tư. Cụ thể,  
việc quản lý mꢀt khꢄi lượng dữ liệu rất lớn  
đặt ra nhiều vấn đề về công nghệ, cơ sở hạ  
tꢂng, nguy cơ bị ăn cắp dữ liệu. Đặc biệt,  
trong bꢄi cảnh khꢄi lượng dữ liệu ngày càng  
tăng với khꢄi lượng và đa dạng về phạm vi,  
4
World Bank Group, Big data in action for government big data innovation in public services, policy and  
engagement, 2017.  
5
public-services-expert-views.  
6 https://tuoitre.vn/du-lieu-lon-va-buoc-ngoat-cua-nganh-bao-hiem-20190102170956379.htm.  
7
Cecilia Fredriksson, Farooq Mubarak, Marja Tuohimaa and Ming Zhan, Big Data in the Public Sector:  
A Systematic Literature Review, Scandinavian Journal of Public Administration 21(3): 39-61, 2017.  
12  
Số 14(438) - T7/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
cách thức phân tích, xꢃ lý nó cũng trở nên  
phức tạp và tꢄn kém hơn. Những công việc  
trên đòi hỏi sự bao quát cao đꢄi với khꢄi dữ  
liệu mà đôi khi cꢂn rất nhiều chuyên gia mới  
có thể thực hiện được. Trong trường hợp  
này, sự tham gia từ phía tư nhân là rất quan  
trọng nhưng đôi khi họ lại gặp những cản  
trở nhất định khi phải xꢃ lý những thông tin  
nhạy cảm. Đꢄi với việc bảo đảm chất lượng  
dữ liệu, đây là mꢀt câu hỏi lớn gây đau đꢂu  
cho tất cả những ai vận dụng và xꢃ lý Dữ  
liệu lớn. Để so sánh, người ta thường dùng  
khảo sát tỷ lệ người cho rằng đó là vấn đế  
lớn nhất.  
Cải thiện chất lượng dữ liệu sẽ có ảnh  
hưởng tích cực, thậm chí đến việc người  
sꢃ dụng có lựa chọn ứng dụng Dữ liệu lớn  
trong hoạt đꢀng của mình hay không. Để  
làm được điều đó, chỉ có cách là cải thiện  
hơn nữa các công cụ thu thập, xꢃ lý dữ liệu  
và tiến hành kiểm soát thường xuyên.  
Thách thức cuꢄi cùng được nhắc tới là  
vấn đề đạo đức và quyền riêng tư. Trong bꢄi  
Sơ đồ 1. Vấn đề gây nên bởi dữ liệu kém chất lượng  
Bị than phiền  
Khách hàng thất vọng  
Tꢄn thêm chi phí  
Giảm nguꢁn thu  
Làm giảm mức đꢀ tin cậy của phân tích  
Làm chậm phát triển  
Tꢄn thời gian xꢃ lý  
0
10 20 30 40 50 60 70 80 90 100  
hình ảnh “rác” và “vàng” để nói đến điều  
này8. Tức là, trong sꢄ rất nhiều dữ liệu thì  
các dữ liệu mang lại giá trị thực sự không  
“lꢀ thiên” mà nằm ẩn trong sꢄ rất nhiều dữ  
liệu vô giá trị.  
cảnh ngày nay, quyền riêng tư với dữ liệu cá  
nhân được cả pháp luật quꢄc tế lẫn các quꢄc  
gia bảo vệ nghiêm ngặt để tránh sự lạm  
dụng chúng10. Tuy vậy, cùng với sự bùng nổ  
của thông tin, rất nhiều vụ việc nổi bật hiện  
đang gây ra tranh cãi về việc thu thập, sꢃ  
dụng dữ liệu mang tính riêng tư, điển hình  
Sơ đꢁ sau9 cho thấy mꢀt sꢄ vấn đề do  
dữ liệu chất lượng thấp tạo ra trên cơ sở  
8 https://www.brandsvietnam.com/7130-Big-Data-mo-vang-moi-cua-doanh-nghiep.  
9
Noraini Abdullah, Saiful Adli Ismail, Siti Sophiayati, and Suriani Mohd Sam, Data Quality in Big Data:  
A Review, Int. J. Advance Soft Compu. Appl, Vol. 7, No. 3, November 2015.  
10  
Nguyễn Thị Quế Anh, Vũ Công Giao, Ngô Minh Hương, Lã Khánh Tùng, Quyền về sự riêng tư, Nxb.  
Chính trị quꢄc gia - Sự thật, Hà Nꢀi, 2018, tr.64, 65.  
Số 14(438) - T7/2021  
13  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
như vụ việc của facebook11 hay các doanh  
nghiệp công nghệ ở Trung Quꢄc. Thông tin,  
dữ liệu được coi như mꢀt nguꢁn tài nguyên  
và cũng là mꢀt thứ quyền lực. Với việc Nhà  
nước có thể thu thập và sꢃ dụng mꢀt khꢄi  
lượng thông tin to lớn, nguy cơ lạm quyền  
trở nên rất cao. Để đảm bảo không có sự  
lạm quyền từ phía Nhà nước, cꢂn có các cơ  
chế pháp lý cũng như các thiết chế xã hꢀi có  
chức năng giám sát. Đây vừa là mꢀt thách  
thức lại vừa là mꢀt triển vọng cho pháp luật  
về dịch vụ công trong bꢄi cảnh mới.  
Điểm khác biệt giữa Trí thông minh nhân  
tạo với mꢀt phꢂn mềm hay mꢀt thuật toán  
máy tính thông thường đó là máy tính  
không chỉ thực hiện những mệnh lệnh đơn  
thuꢂn mà có khả năng mô phỏng lại quá  
trình suy nghĩ của con người. Máy móc  
không chỉ biết “làm” mà còn biết “học”,  
và nhờ thế chúng ngày càng trở nên thông  
minh hơn. Trong bꢄi cảnh máy móc đã  
dꢂn trở nên phổ biến, việc phát minh ra  
Trí thông minh nhân tạo có thể tiến tới  
cải hóa toàn bꢀ các phương diện của đời  
sꢄng. Bất cứ nơi nào có máy tính, nơi đấy  
có thể ứng dụng Trí thông minh nhân tạo,  
mà máy tính thì đang được ứng dụng khắp  
mọi nơi. Vì vậy, ứng dụng của nó không  
chỉ mang tính đơn lẻ mà còn có thể kết nꢄi  
thành mꢀt mạng lưới, chẳng hạn như xây  
2. Trí thông minh nhân tạo và dịch  
vụ công  
Mꢀt thành tựu quan trọng khác của cuꢀc  
Cáchmạngcôngnghiệplꢂnthứtưhiệnđang  
làm thay đổi nhân loại đó chính là Trí thông  
minh nhân tạo (Artificial Intelligence - AI).  
Sơ đồ 2. Đóng góp của Trí thông minh nhân tạo (đvt: 1.000.000$)  
11 Từ năm 2014, dữ liệu của hàng triệu người dùng facebook đã bị Cambridge Analytica sꢃ dụng để phân tích  
và tác đꢀng tới chiến dịch tranh cꢃ của chính trị gia Hoa Kỳ Ted Cruz năm 2015 cũng như cuꢀc trưng cꢂu ý  
cheat-sheet/.  
14  
Số 14(438) - T7/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
dựng cả mꢀt thành phꢄ thông minh12. Các  
lĩnh vực đi đꢂu trong ứng dụng Trí thông  
minh nhân tạo có thể kể tới như Điện thoại  
thông minh, Logistics, Thương mại điện  
tꢃ, Khoa học vũ trụ, Khoa học quꢄc phòng  
với mꢀt nguꢁn lợi to lớn. Sơ đꢁ sau13 cho  
thấy sự đóng góp hiện tại cũng như dự kiến  
đến năm 2025 của Trí thông minh nhân tạo  
trong thương mại toàn cꢂu.  
tương tác giữa người dạy, người học, phụ  
huynh. Nếu như giới tư nhân có đꢀng lực là  
lợi nhuận thì rõ ràng khả năng và nhu cꢂu  
ứng dụng Trí thông minh nhân tạo của họ  
là lớn hơn. Vì vậy, nếu các cơ sở cung cấp  
dịch vụ công ích của Nhà nước không có  
sự ứng dụng kịp thời thì nguy cơ tụt hậu là  
chắc chắn có thể xảy ra.  
- Đꢄi với các dịch vụ hành chính công,  
ứng dụng của Trí thông minh nhân tạo có  
thể được sꢃ dụng để làm giảm bớt thủ tục  
hành chính, giải đáp thắc mắc của người  
dân, hỗ trợ nhân viên của Nhà nước trong  
công việc. Bên cạnh đó, thông qua việc tập  
hợp, xꢃ lý các dữ liệu liên quan về mức đꢀ  
hài lòng của người dân, hiệu quả và thời  
gian giải quyết công việc, Trí thông minh  
nhân tạo có thể giúp những nhà hoạch định  
chính sách tìm ra những cách cải thiện quy  
trình, thủ tục trong lĩnh vực này. Đặc biệt,  
Trí thông minh nhân tạo có thể giúp các cơ  
quan nhà nước quản lý nhanh chóng mꢀt  
khꢄi lượng rất lớn thông tin của người dân,  
trên mọi mặt như hꢀ chiếu, căn cước công  
dân, biển sꢄ xe, v.v..  
Những con sꢄ trên phꢂn nào phản ánh  
mꢀt triển vọng to lớn của Trí thông minh  
nhân tạo khi nó được ứng dụng ngày càng  
rꢀng rãi. Ở Việt Nam, chủ đề này đã dành  
được mꢀt sự quan tâm khá lớn với hàng  
nghìn công bꢄ khoa học quꢄc tế, mở rꢀng  
đào tạo về Trí thông minh nhân tạo, sự ra  
đời của các phòng thí nghiệm chuyên về  
vấn đề này14. Trong bꢄi cảnh đó, chắc chắn  
lĩnh vực dịch vụ công cũng có thể tận dụng  
được những thành quả to lớn mà Trí thông  
minh nhân tạo mang lại. Điều đó thể hiện ở  
những khía cạnh như:  
- Đꢄi với các dịch vụ công cꢀng, công  
ích; đây là những lĩnh vực mà bên cạnh vai  
trò của Nhà nước còn có sự tham gia của  
giới tư nhân. Trong bꢄi cảnh cạnh tranh tự  
do, các dịch vụ này ngày càng được cải thiện  
nhằm làm khách hàng hài lòng hơn. Chẳng  
hạn trong lĩnh vực y tế, các “trợ lý ảo” có  
thể giúp bác sĩ và bệnh nhân điều trị tꢄt hơn;  
trong giáo dục, Trí thông minh nhân tạo có  
thể hỗ trợ đánh giá kết quả học tập, thúc đẩy  
Bên cạnh những lợi ích nêu trên, đꢀng  
lực để các nhà nước trên thế giới ứng dụng  
Trí thông minh nhân tạo vào hoạt đꢀng của  
mình bao gꢁm15: (1) Tự đꢀng hóa để giải  
quyết nhu cꢂu của người dân muꢄn có phản  
ứng nhanh chóng từ chính quyền mà không  
phải chờ đợi quá lâu; (2) Trong bꢄi cảnh  
12 Trung tâm Thông tin và Thꢄng kê Khoa học và Công nghệ, Sở Khoa học và công nghệ TP. Hꢁ Chí Minh,  
Xu hướng nghiên cứu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và mạng lưới kết nối vạn vật trong thành phố  
thông minh, Báo cáo chuyên đề, TP. Hꢁ Chí Minh, 2018.  
13 https://existek.com/blog/ai-programming-and-ai-programming-languages/.  
14 Nguyễn Thanh Thủy, Hà Quang Thụy, Phan Xuân Hiếu, Nguyễn Trí Thành, Trí tuệ nhân tạo trong thời đại  
số: Bối cảnh thế giới và liên hệ với Việt Nam, Tạp chí Công thương, sꢄ 08/2018.  
15 https://viettimes.vn/dan-mach-su-dung-tri-tue-nhan-tao-trong-linh-vuc-hanh-chinh-cong-122491.html.  
Số 14(438) - T7/2021  
15  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
già hóa dân sꢄ, khu vực công trở nên thiếu  
hụt nhân lực và cꢂn sự trợ giúp từ Trí thông  
minh nhân tạo. Ngoài ra, có thể thấy, việc  
Nhà nước đꢂu tư cho Trí thông minh nhân  
tạo thông qua các dịch vụ công chính là  
cách để tạo ra mꢀt nền hành chính hiệu quả  
hơn, phục vụ đắc lực cho người dân, doanh  
nghiệp và qua đó thúc đẩy cho toàn bꢀ nền  
kinh tế phát triển. Mꢀt lý do nữa được chỉ  
ra là, khi công việc có thể giải quyết nhanh  
chóng hơn, bꢀ máy hành chính có thể được  
giảm nhẹ và tiền thuế của người dân sẽ được  
sꢃ dụng mꢀt cách hiệu quả hơn16.  
triển hiện nay, Nhà nước chỉ nên cung cấp  
những dịch vụ mà “rõ ràng là được ưa  
chuộng nhưng lại không được cung cấp  
bởi các doanh nghiệp cạnh tranh bởi vì  
điều đó là vừa khó vừa không thể để đáp  
ứng những lợi ích cá nhân của họ. Chẳng  
hạn như các dịch vụ vệ sinh và sức khỏe,  
xây dựng và bảo dưỡng đường xá...”18. Xu  
hướng chuyển dịch này chắc chắn sẽ là mꢀt  
thách thức đꢄi với Nhà nước khi nó phải  
từ bỏ bớt vai trò của mình. Ngoài ra, nguy  
cơ Trí thông minh nhân tạo có thể được sꢃ  
dụng như mꢀt công cụ tꢀi phạm cũng khiến  
Nhà nước phải tăng cường bảo mật hơn bởi  
nếu hệ thꢄng dịch vụ công phụ thuꢀc hoàn  
toàn vào Trí thông minh nhân tạo bị tê liệt,  
nó có thể làm ngưng trệ những hoạt đꢀng  
quan trọng nhất của xã hꢀi.  
Tuy nhiên, bên cạnh lợi ích mà Trí thông  
minh nhân tạo mang lại, chúng ta cũng cꢂn  
nhận thức đến những nguy cơ của nó trong  
đời sꢄng. Mꢀt nghiên cứu17 chỉ ra rằng, “mặt  
tꢄi” của Trí thông minh nhân tạo đến trước  
hết từ góc đꢀ kinh tế khi việc máy móc làm  
thay con người có thể dẫn tới tình trạng thất  
nghiệp. Trong lĩnh vực dịch vụ công ích,  
chúng tôi cho rằng, Trí thông minh nhân  
tạo sẽ góp phꢂn làm chuyển dịch cơ cấu  
của các đơn vị cung cấp dịch vụ công ích  
từ phía Nhà nước sang tư nhân. Điều này là  
dễ hiểu bởi trong bꢄi cảnh khoa học, công  
nghệ phát triển, khꢄi tư nhân sẽ nhận ra lợi  
nhuận từ các dịch vụ công ích vꢄn do Nhà  
nước chủ yếu đảm trách và tăng cường đꢂu  
tư vào đây. Với mꢀt cơ chế vận hành nhanh  
gọn, thông thoáng và hướng tới lợi nhuận,  
hiệu quả của họ chắc chắn sẽ cao hơn khꢄi  
nhà nước. Đặc biệt, trong xu hướng phát  
3. Kết luận và hàm ý tới Việt Nam  
CMCN 4.0 mang đến mꢀt đꢀng lực  
mới mẻ không chỉ cho những cải cách ở  
khu vực tư nhân mà ở cả khu vực công mà  
trong đó bao hàm lĩnh vực dịch vụ công.  
Mặt biểu hiện rõ ràng nhất của điều đó  
chính là ở chỗ những thành tựu của cuꢀc  
cách mạng này đem lại rất nhiều lợi ích,  
cả về kinh tế lẫn xã hꢀi. Nắm bắt được  
điều này, Việt Nam đã và đang có những  
bước đi mạnh mẽ hơn để ứng dụng nó,  
điển hình như dự án thành phꢄ thông  
minh của Hà Nꢀi19, hay tham vọng hơn là  
mꢀt Chính phủ Trí thông minh nhân tạo  
16 Emma Martinho-Truswell, How AI could help the public sector, Havard Business Review, January 26, 2018.  
17 Capgemini Consulting, Unleashing the potential of Artificial Intelligence in the Public Sector, 2017, https://  
18 F. A. Hayek, The Constitution of Liberty, Routledge, 2014, tr.196.  
19  
chinh-cong-132784.html.  
16  
Số 14(438) - T7/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
(AI-Government) cũng dꢂn được quan  
tâm20. Khác với lĩnh vực tư nhân, dịch vụ  
công là mꢀt khía cạnh rất đặc biệt mà sự  
ứng dụng của Dữ liệu lớn cũng như Trí  
thông minh nhân tạo ở Việt Nam có thể  
đến với những xu hướng như sau:  
khꢄi tư nhân tham gia và đóng những vai  
trò nhất định22.  
- Hướng tới minh bạch và chống  
tham nhũng  
Trong lĩnh vực dịch vụ công, sự thiếu  
minh bạch và tình trạng tham nhũng là mꢀt  
đe dọa lớn. Hiện tượng tham nhũng trong  
các cơ sở cung cấp dịch vụ công ích của  
Nhà nước như bệnh viện, trường học vẫn  
xảy ra thường xuyên. Ngay cả các dịch vụ  
hành chính công như cấp giấy tờ pháp lý  
cũng là mꢀt “địa bàn” của tham nhũng. Việc  
ứng dụng máy móc, công nghệ sẽ khiến các  
hoạt đꢀng này trở nên minh bạch hơn khi  
người dân tiếp cận dễ dàng với các thủ tục  
và có thể phản ánh lại những hành vi tham  
nhũng mꢀt cách dễ dàng hơn.  
- Tăng cường tính chuyên nghiệp của bộ  
máy hành chính  
Giữa quản lý hành chính và dịch vụ công  
có mꢄi liên hệ rất chặt chẽ. Điều này thể  
hiện ở chỗ thông qua các dịch vụ công, đꢀi  
ngũ quản lý hành chính nhà nước có thể  
nắm bắt thực tế đời sꢄng và triển khai công  
việc của mình mꢀt cách hiệu quả hơn. Khi  
dịch vụ công được ứng dụng khoa học và  
trở nên chuyên nghiệp hơn thì kéo theo đó  
là đꢀi ngũ quản lý hành chính cũng phải  
chuyên nghiệp. Điều này sẽ giúp khắc  
phục sự chꢁng chéo giữa bꢀ máy chính trị  
và hành chính, từ đó tách biệt hai bꢀ phận  
này nhằm đảm bảo những yêu cꢂu của hành  
chính công truyền thꢄng21.  
- Cuối cùng, thách thức cơ bản trong việc  
ứng dụng thành tựu của cuộc cách mạng  
này là cách thức chúng ta triển khai nó  
Hiện nay, sự chênh lệch về trình đꢀ  
kinh tế xã hꢀi giữa các vùng miền là mꢀt  
điều cꢂn phải tính tới. Trong khi các thành  
phꢄ, đô thị lớn đang dành nhiều khoản đꢂu  
tư cho Dữ liệu lớn, Trí tuệ nhân tạo thì  
điều này vẫn còn xa vời đꢄi với nhiều địa  
phương. Vì vậy, để khắc phục vấn đề này,  
chúng ta cꢂn xây dựng cơ chế đặc thù để  
các địa phương có thể tìm cách ứng dụng  
những thành tựu của cuꢀc CMCN 4.0  
theo đúng nhu cꢂu và tình hình của địa  
- Giảm nhẹ và thu gọn bộ máy hành chính  
Cùng với việc máy móc ngày càng thay  
thế con người mꢀt cách hiệu quả hơn và sự  
tham gia của khꢄi tư nhân khiến Nhà nước  
bị phá thế đꢀc quyền trong việc cung cấp  
các dịch vụ công, bꢀ máy hành chính sẽ  
được thu gọn dꢂn. Bên cạnh đó, nó cũng  
góp phꢂn làm thay đổi tư duy, nhận thức của  
nhà quản lý theo hướng Nhà nước không  
làm hꢀ, làm thay hay can thiệp quá nhiều  
vào đời sꢄng xã hꢀi mà phải mở đường cho  
phương mình  
20 http://hhtp.gov.vn/vi/thong-tin-kh-cn/khai-niem-ve-chinh-phu-tri-tue-nhan-tao-ai-government-74.html.  
21  
Nguyễn Trọng Bình, Cơ sở lý luận và đặc điểm của hành chính công truyền thống, Tạp chí Tổ chức  
nhà nước, sꢄ 3/2018.  
22 Trịnh Xuân Thắng, Tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đến sự phát triển của nền hành chính  
nhà nước, Tạp chí Lý luận chính trị, sꢄ 09/2017.  
Số 14(438) - T7/2021  
17  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
GIAN LẬN BẢO HIỂM NHÂN THỌ  
VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG GIAN LẬN  
Bạch Thị Nhã Nam*  
* GV. Khoa luật, Trường đại học Kinh tế - Luật, Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích những vấn đề liên quan  
đến gian lận bảo hiểm nhân thọ và đề xuất kiến nghị hoàn thiện quy định  
của pháp luật về chế tài xꢃ lý vi phạm, xây dựng thiết chế chuyên trách  
giám sát, ngăn ngừa đꢀng cơ và các ý đꢁ gian lận của các chủ thể tham  
gia bảo hiểm; xꢃ lý hiệu quả, kịp thời các hành vi gian lận bảo hiểm đảm  
bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ bảo hiểm.  
Từ khóa: Gian lận bảo hiểm nhân  
thọ, bảo hiểm.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 18/5/2021  
: 13/6/2021  
: 16/6/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Within the scope of this article, the author provides an analysis of  
questionsrelatedtolifeinsurancefraudandproposesrecommendationsto  
improve the legal provisions on sanctions for violations, recommendation  
of establishment of a specialized supervision system to supervise and  
prevent the motives and fraudulent intentions of the insurers, effectively  
and promptly handle acts of insurance fraud to ensure the legitimate  
rights and interests of the subjects in the insurance reactions.  
Keywords: Fraud on life  
insurance, insurance.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 18 May 2021  
: 13 Jun 2021  
: 16 Jun 2021  
Approved  
1. Nhận diện gian lận bảo hiểm nhân thọ  
thường hay chi trả sꢄ tiền bảo hiểm đꢄi với  
những rủi ro được bảo hiểm tương ứng mức  
phí bảo hiểm đã thu. Tuy nhiên, xuất phát từ  
lòng tham của con người đꢄi với sꢄ tiền bꢁi  
thường hay sꢄ tiền bảo hiểm mà DNBH có  
thể chi trả khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra,  
không ít người có những hành vi gian dꢄi,  
thiếu thiện chí, và trái với thỏa thuận trong  
hợp đꢁng nhằm kiếm lợi ích bất hợp pháp  
trong quan hệ bảo hiểm. Chính vì vậy, việc  
đưa ra định nghĩa và thꢄng nhất quan điểm  
về gian lận bảo hiểm nhân thọ (BHNT) có  
Kinh doanh bảo hiểm (KDBH) bao gꢁm  
cả KDBH nhân thọ, là hoạt đꢀng của doanh  
nghiệp bảo hiểm (DNBH) nhằm mục đích  
sinh lợi; theo đó, DNBH chấp nhận rủi ro  
của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên  
mua bảo hiểm (BMBH) đóng phí bảo hiểm  
để DNBH trả tiền bảo hiểm cho người thụ  
hưởng hoặc bꢁi thường cho người được bảo  
hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm1. Như vậy,  
khi DNBH thu phí của BMBH thì DNBH  
sẽ phải gánh chịu mꢀt mức trách nhiệm bꢁi  
1 Khoản 1 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 đã được sꢃa đổi, bổ sung năm 2010 và năm 2019 (Luật  
KDBH).  
18  
Số 14(438) - T7/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
ý nghĩa quan trọng trong việc phòng, chꢄng  
gian lận BHNT hiện nay.  
bất hợp pháp khi tham gia vào quan hệ bảo  
hiểm (chủ thể có thể là người mua bảo hiểm,  
người được bảo hiểm, người thụ hưởng,  
DNBH, thậm chí có thể là hành vi gian lận  
của đại lý bảo hiểm và doanh nghiệp môi  
giới bảo hiểm). Vậy, những hành vi gian lận  
xảy ra liên quan đến các nghĩa vụ pháp lý  
ràng buꢀc ở giai đoạn tiền hợp đꢁng, giai  
đoạn trước khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, hay  
giai đoạn giải quyết khiếu nại bꢁi thường  
có khả năng không bị truy cứu trách nhiệm  
hình sự, liệu có cꢂn phải áp dụng các chế  
tài pháp lý cꢂn thiết khác để ngăn ngừa các  
hành vi này?  
Dưới góc đꢀ ngôn ngữ học, theo Từ điển  
Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, gian lận  
được hiểu là “hành vi dꢄi trá, mánh khóe,  
lừa lọc”2. Dưới góc đꢀ pháp lý, Luật Kinh  
doanh bảo hiểm năm 2014 (Luật KDBH)  
chưa quy định thế nào là gian lận bảo hiểm  
hay gian lận BHNT. Tuy nhiên, Điều 213  
Bꢀ luật Hình sự năm 2015 đã được sꢃa đổi,  
bổ sung mꢀt sꢄ điều năm 2017 (BLHS)  
quy định về tꢀi gian lận trong KDBH (tꢀi  
danh mới được bổ sung). Tꢀi gian lận trong  
KDBH được BLHS quy định theo hướng  
liệt kê, bao gꢁm các hành vi: a) Thông đꢁng  
với người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm để  
giải quyết bꢁi thường bảo hiểm, trả tiền bảo  
hiểm trái pháp luật; b) Giả mạo tài liệu, cꢄ ý  
làm sai lệch thông tin để từ chꢄi bꢁi thường,  
trả tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm đã  
xảy ra; c) Giả mạo tài liệu, cꢄ ý làm sai lệch  
thông tin trong hꢁ sơ yêu cꢂu bꢁi thường,  
trả tiền bảo hiểm; d) Tự gây thiệt hại về tài  
sản, sức khỏe của mình để hưởng quyền lợi  
bảo hiểm.  
Trước đây, thuật ngữ trục lợi bảo hiểm  
đã xuất hiện trong văn bản dưới luật cũng  
hướng đến các hành vi lừa dꢄi, mang tính  
chất cꢄ ý, nhằm thu lợi bất chính, có ý  
nghĩa khá gꢂn gũi với gian lận bảo hiểm.  
Khoản 4 Mục V Thông tư sꢄ 31/2004/TT-  
BTC3 của Bꢀ Tài chính hướng dẫn thực  
hiện Nghị định sꢄ 118/2003/NĐ-CP về xꢃ  
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực  
KDBH quy định: “Trục lợi bảo hiểm là  
hành vi cꢄ ý lừa dꢄi của tổ chức, cá nhân  
nhằm thu lợi bất chính khi tham gia bảo  
hiểm, bꢁi thường bảo hiểm, trả tiền bảo  
hiểm và giải quyết khiếu nại bảo hiểm”.  
Tuy nhiên, khái niệm “trục lợi bảo hiểm”  
không được tiếp tục đề cập trong các văn  
bản pháp luật về bảo hiểm hiện hành. Văn  
bản xꢃ phạt vi phạm hành chính trong lĩnh  
vực KDBH cũng thiếu vắng khái niệm  
“gian lận” bảo hiểm mà đề cập đến chế tài  
xꢃ phạt đꢄi với hành vi gian dꢄi, giả mạo  
tài liệu trong hꢁ sơ yêu cꢂu bꢁi thường, trả  
tiền bảo hiểm4. Như vậy, có thể thấy rằng,  
Quy định trên hướng đến những hành vi  
bất hợp pháp nhằm mục đích chiếm đoạt sꢄ  
tiền bảo hiểm từ DNBH, hoặc thụ hưởng  
quyền lợi bảo hiểm không chính đáng trong  
giai đoạn sau khi sự kiện bảo hiểm xảy ra.  
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hành vi gian lận  
trong bảo hiểm có thể xảy ra ở bất kỳ giai  
đoạn nào của quá trình giao kết, thực hiện  
hợp đꢁng hay khi có sự kiện bảo hiểm xảy  
ra, hoặc khi tiến hành yêu cꢂu bꢁi thường  
mà chủ thể tiến hành nhằm tìm kiếm lợi ích  
2 Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, Nxb. Đà Nẵng, 2003, tr.390.  
3 Văn bản pháp luật này đã hết hiệu lực vào 01/7/2016.  
4 Xem Điều 14 Nghị định sꢄ 98/2013/NĐ-CP về xꢃ phạt đꢄi với hành vi vi phạm các quy định về bꢁi thường  
bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm. Nghị định sꢄ 98/2013/NĐ-CP ngày 28/8/2013 của Chính phủ quy định về xꢃ phạt  
vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ sꢄ đꢄi với hành vi gian lận bảo hiểm  
đã được sꢃa đổi, bổ sung năm 2018, 2019.  
Số 14(438) - T7/2021  
19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 66 trang Thùy Anh 18380 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 14 - Năm 2021", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftap_chi_nghien_cuu_lap_phap_so_14_nam_2021.pdf