Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 14 - Năm 2021
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
NHỮNG BẤT CẬP CỦA CHẾ ĐỊNH HỘI ĐỒNG BẦU CỬ QUỐC GIA VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
VƯỢT QUA NGHI NGỜ HỢP LÝ: NGƯỠNG TIÊU CHUẨN CHỨNG MINH TRONG TƯ PHÁP
Số 14 (438)
Tháng 7/2021
HÌNH SỰ HOA KỲ VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
NHỮNG BẤT CẬP CỦA CHẾ ĐỊNH HỘI ĐỒNG BẦU CỬ QUỐC GIA VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
VƯỢT QUA NGHI NGỜ HỢP LÝ: NGƯỠNG TIÊU CHUẨN CHỨNG MINH TRONG TƯ PHÁP
HÌNH SỰ HOA KỲ VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Mục lục Số 14/2021
Số 14 (438)
Tháng 7/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Những bất cập của chế định Hội đồng Bầu cử quốc gia và
hướng hoàn thiện
3
PGS. TS. Nguyễn Minh Tuấn
Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tới dịch vụ công
ThS. Đậu Công Hiệp
10
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
Gian lận bảo hiểm nhân thọ và giải pháp phòng, chống gian lận
18
25
Bạch Thị Nhã Nam
CHÍNH SÁCH
Lồng ghép giới trong chương trình mục tiêu quốc gia xây
dựng nông thôn mới và chương trình mục tiêu quốc gia giảm
nghèo, giai đoạn 2021 - 2025
TS. Bùi Thị Hòa - Dương Minh Thuận
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
Trách nhiệm dân sự của người đại diện pháp nhân
31
38
TS. Vũ Quang
Quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 và Bộ luật Dân sự
năm 2015 về hợp đồng
TS. Nguyễn Văn Hꢀi - ThS. Nguyễn Tꢁi Tuấn Anh
Hình thức của di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự
năm 2015
44
ThS. Nguyễn Thanh Thư
ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chiếm đất
49
54
Nguyễn Minh Thuy
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
Ảnh bìa: Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV.
Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội.
Vượt qua nghi ngờ hợp lý: Ngưỡng tiêu chuẩn chứng minh
trong tư pháp hình sự Hoa Kỳ và kinh nghiệm cho Việt Nam
ThS. Võ Minh Kỳ
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
NHỮNG BẤT CẬP CỦA CHẾ ĐỊNH HỘI ĐỒNG BẦU CỬ QUỐC GIA VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
VƯỢT QUA NGHI NGỜ HỢP LÝ: NGƯỠNG TIÊU CHUẨN CHỨNG MINH TRONG TƯ PHÁP
HÌNH SỰ HOA KỲ VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Legis No 14/2021
Số 14 (438)
Tháng 7/2021
STATE AND LAW
Inadequacies of Provisions on the National Election Council and
Recommendations for Improvements
3
Prof. Dr. Nguyen Minh Tuan
Impacts of the Fourth Industrial Revolution to Public Services
LLM. Dau Cong Hiep
10
DISCUSSION OF BILLS
Frauds in Life Insurance and Recommended Solutions
Bach Thi Nha Nam
18
25
POLICY
Gender Mainstreaming in National Target Program on New
Rural Developments and National Target Program on Poverty
Reduction, Period of 2021 to 2025
Dr. Bui Thi Hoa - Duong Minh Thuan
LEGAL PRACTICE
Civil Liability of the Representative of the Legal Entity
Dr. Vu Quang
31
38
Regulations on Contracts under the Labor Code of 2019 and the
Civil Code of 2015
Dr. Nguyen Van Hoi - LLM. Nguyen Tai Tuan Anh
The Will Formality under the Civil Code of 2015
44
49
LLM. Nguyen Thanh Thu
LLM. Nguyen Thi Ngoc Tuyen
Sanctioning of Administrative Violations of Land Appropriation
Nguyen Minh Thuy
FOREIGN EXPERIENCE
Beyond a Reasonable Doubt: The Standard of Proof in the
U.S Criminal Justice System and Lessons for Vietnam
54
LLM. Vo Minh Ky
PRICE: 25.000VND
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
NHỮNG BẤT CẬP CỦA CHẾ ĐỊNH
HỘI ĐỒNG BẦU CỬ QUỐC GIA VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
Nguyễn Minh Tuấn*
*PGS.TS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Sự ra đời của Hꢀi đꢁng Bꢂu cꢃ quꢄc gia cho thấy các nhà lập hiến Việt Nam
mong muꢄn khắc phục những hạn chế của công tác bꢂu cꢃ, chuyên nghiệp hóa
hoạt đꢀng tổ chức bꢂu cꢃ thời gian tới. Hꢀi đꢁng Bꢂu cꢃ quꢄc gia ra đời cũng
nhằm góp phꢂn bảo đảm được tính khách quan trong chỉ đạo, điều hành, phꢂn nào
đảm bảo được tính chuyên nghiệp trong tổ chức công tác bꢂu cꢃ. Tuy nhiên, chế
định Hꢀi đꢁng Bꢂu cꢃ quꢄc gia theo pháp luật hiện hành còn có những khoảng
trꢄng, những bất cập xuất phát từ thực tế khách quan triển khai Luật Bꢂu cꢃ đại
biểu Quꢄc hꢀi và đại biểu Hꢀi đꢁng nhân dân năm 2015. Trong phạm vi bài viết
này, tác giả tập trung phân tích, chỉ rõ những bất cập của chế định Hꢀi đꢁng Bꢂu
cꢃ quꢄc gia và đưa ra quan điểm về phương hướng hoàn thiện chế định này.
Từ khóa: Hꢀi đꢁng Bꢂu cꢃ quꢄc
gia; Quꢄc hꢀi; Hꢀi đꢁng nhân
dân.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 14/5/2021
: 03/6/2021
: 05/6/2021
Article Infomation:
Abstract:
The establishment of the National Election Council shows that constitutional
agency of Vietnam wish to overcome the shortcomings of election activity
and professionalize the election arrangement activity in the coming time. The
establishment of the National Election Council also aims to ensure objectivity in
direction and administration, and to also ensure professionalism in the election
activity. However, the National Election Council’s regulations under current
law still have gaps and shortcomings stemming from the objective reality of
enforcement of the Law on Election of deputies to the National Assembly and
and deputies of People's Council of 2015. Within the scope of this article, the
author focuses on analysis of and findings of shortcomings of the regulations on
National Election Council and recommendations for further improvements of
these provisions.
Keywords: National Election
Council; National Assembly;
People’s Council.
Article History:
Received
Edited
: 14 May 2021
: 03 Jun 2021
: 05 Jun 2021
Approved
1. Về địa vị pháp lý của Hội đồng Bầu cử
quốc gia
khắc phục được những hạn chế, bất cập của
công tác bꢂu cꢃ, đảm bảo sự thꢄng nhất,
phꢄi hợp chặt chẽ, thường xuyên và trách
nhiệm cũng rõ ràng trong hoạt đꢀng bꢂu cꢃ.
Ở Việt Nam, Hꢀi đꢁng Bꢂu cꢃ quꢄc gia
(HĐBCQG) được thành lập với nhiệm vụ
chính là tổ chức bꢂu cꢃ đại biểu Quꢄc hꢀi,
chỉ đạo và hướng dẫn công tác bꢂu cꢃ đại
biểu Hꢀi đꢁng nhân (HĐND) các cấp, nhằm
mục đích bảo đảm cho việc bꢂu cꢃ được
diễn ra mꢀt cách công khai, minh bạch, dân
chủ. Việc ra đời thiết chế này đã góp phꢂn
HĐBCQG trong chế đꢀ bꢂu cꢃ là mꢀt
thiết chế quan trọng, bởi lẽ bꢂu cꢃ là
nền tảng của các nhà nước dân chủ pháp
quyền. Việc thiết kế, thực thi chế đꢀ bꢂu
cꢃ tiến bꢀ, phù hợp là công việc quan
trọng hàng đꢂu của bất kỳ nhà nước dân
Số 14(438) - T7/2021
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
chủ pháp quyền nào, trong đó Việt Nam
cũng không phải là ngoại lệ1. Tuy nhiên,
liệu HĐBCQG đã có được vị trí pháp lý
phù hợp hay chưa?
Nhiệm vụ của EMB bao gꢁm nhiều hoạt
đꢀng, tùy thuꢀc vào mô hình khác nhau như
mô hình đꢀc lập (independent model), mô
hình trực thuꢀc hành pháp (governmental
model) hoặc mô hình hỗn hợp (mixed
Vòng tròn thể hiện quy trình quản lý bꢂu cꢃ.
Theo Mạng lưới nghiên cứu về bꢂu cꢃ
model)4. Tuy nhiên, dù là mô hình nào thì
việc tổ chức, quản lý bꢂu cꢃ cũng bao gꢁm
các giai đoạn như thiết lập khuôn khổ pháp
lý, lập kế hoạch và thực thi, giáo dục và đào
tạo về bꢂu cꢃ, lập danh sách ứng cꢃ viên, tổ
chức tranh cꢃ, bỏ phiếu, xác nhận kế hoạch
bꢂu cꢃ và giai đoạn hậu bꢂu cꢃ (Xem sơ đꢁ
vòng tròn quy trình quản lý bꢂu cꢃ trên).
Giai đoạn hậu bꢂu cꢃ là giai đoạn không
thể thiếu trong quy trình quản lý bꢂu cꢃ.
ACE, mꢀt mạng lưới nghiên cứu về bꢂu cꢃ
hàng đꢂu thế giới2, mꢀt cơ quan quản lý bꢂu
cꢃ (Electoral Management Body - EMB) là
cơ quan được tổ chức, được lập ra nhằm
mục đích và có trách nhiệm pháp lý trong
việc quản lý mꢀt hoặc nhiều công việc cꢄt
yếu trong các cuꢀc bꢂu cꢃ (elections) và
những hình thức dân chủ khác được pháp
luật quy định như trưng cꢂu ý dân, lấy ý
kiến công dân3.
1
Vũ Văn Nhiêm, Vai trò của bầu cử trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân,
Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, sꢄ 2/2012, tr.11-25.
2 The ACE Electoral Knowledge Network (gọi tắt là ACE) là mꢀt dự án thông tin về bꢂu cꢃ lớn trên thế giới
3
ema01, truy cập gꢂn nhất ngày 14/5/2021.
4 Tìm hiểu thêm về các mô hình này: Vũ Công Giao, Cơ quan bầu cử quốc gia trên thế giới và việc hiến định
cơ quan này trong Hiến pháp 1992 sửa đổi 2013 của Việt Nam, trong cuꢄn sách “Các thiết chế Hiến định đꢀc
lập kinh nghiệm quꢄc tế và triển vọng ở Việt Nam”, Viện chính sách công và pháp luật, Nxb. Đại học Quꢄc
gia Hà Nꢀi, 2013, tr.102.
4
Số 14(438) - T7/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Ở giai đoạn này có nhiều việc phải làm bao
gꢁm hoạt đꢁng bꢂu bổ sung đại biểu trong
trường hợp khuyết đại biểu, xꢃ lý tranh chấp
bꢂu cꢃ, theo dõi hoạt đꢀng của đại biểu, bãi
miễn đại biểu, tổ chức nghiên cứu về bꢂu
cꢃ, hoàn thiện pháp luật về bꢂu cꢃ v.v...
Nếu xác định HĐBCQG là mꢀt cơ quan
hiến định đꢀc lập thì không thể coi đây là
mꢀt thiết chế có tính chất vụ việc, khi hoàn
thành xong việc bꢂu cꢃ là chấm dứt nhiệm
vụ. Việc sau bꢂu cꢃ là việc rất quan trọng
bao gꢁm giải quyết các công việc phát sinh
liên quan đến các đại biểu trong suꢄt nhiệm
kỳ của Quꢄc hꢀi và HĐND các cấp.
Ở Việt Nam, Điều 20 Luật Bꢂu cꢃ đại
biểu Quꢄc hꢀi (ĐBQH) và đại biểu Hꢀi đꢁng
nhân dân (ĐBHĐND) hiện hành quy định:
“Hội đồng bầu cử quốc gia kết thúc nhiệm
vụ sau khi đã trình Quốc hội khóa mới báo
cáo tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước và
kết quả xác nhận tư cách đại biểu Quốc hội
được bầu, bàn giao biên bản tổng kết và hồ
sơ, tài liệu về bầu cử đại biểu Quốc hội cho
Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa mới”.
Như vậy, nhiệm vụ của HĐBCQG chỉ giới
hạn trong hoạt đꢀng trước và trong khi diễn
ra bꢂu cꢃ, không có giai đoạn hậu bầu cử.
Hơn nữa, mỗi đại biểu khi tham gia ứng
cꢃ đều phải có “chương trình, kế hoạch
hành đꢀng rõ ràng”; do vậy phải làm rõ chế
đꢀ trách nhiệm của đại biểu đꢄi với cꢃ tri
sau bꢂu cꢃ, giám sát chính sách đưa ra và
việc thực thi chính sách đó ra sao sau khi
được bꢂu. HĐBCQG cꢂn phải là cơ quan
tiến hành việc theo dõi người được bꢂu có
thực hiện tꢄt lời hứa với cꢃ tri hay không.
Nếu hiểu bꢂu cꢃ là sự lựa chọn, thì bất kỳ sự
lựa chọn nào cũng có thể đúng hoặc không
đúng. Bởi vậy, việc giám sát sau bꢂu cꢃ là
việc rất quan trọng. HĐBCQG cꢂn phải
được trao quyền giám sát trách nhiệm của
đại biểu đối với cử tri sau bầu cử. Muꢄn
vậy, trước tiên cơ chế cử tri bãi nhiệm đại
biểu khi đại biểu đó không còn xứng đáng
với sự tín nhiệm của nhân dân phải được
xác lập rõ ràng7.
Nếu hiểu đúng theo nghĩa là mꢀt Cơ quan
quản lý bꢂu cꢃ (EMB) theo tiêu chí ACE
đưa ra, HĐBCQG phải được trao nhiều
thẩm quyền hơn so với những quy định
trong Luật Bꢂu cꢃ ĐBQH và ĐBHĐND
hiện hành5.
HĐBCQG phải là cơ quan hoạt đꢀng
thường xuyên, vì việc bꢂu cꢃ ĐBQH, đại
biểu HĐND các cấp không chỉ theo định
kỳ mà còn tổ chức bꢂu cꢃ cả trong trường
hợp khuyết đại biểu vì lý do sức khỏe hoặc
bị bãi miễn. Hơn nữa, đây còn là cơ quan
chuyên môn trong việc thúc đẩy, bảo đảm
quyền bꢂu cꢃ, ứng cꢃ và thực hiện luật bꢂu
cꢃ, với công việc lớn, cꢂn tiến hành thường
xuyên, liên tục6.
2. Hội đồng Bầu cử quốc gia cần phải là
cơ quan có trách nhiệm trong việc hạn
chế những tiêu cực, bất cập, thiếu thống
nhất của hoạt động bầu cử hiện nay
Về mꢄi quan hệ công tác của HĐBCQG,
khoản 2 Điều 18 Luật Bꢂu cꢃ ĐBQH và
ĐBHĐND quy định: “Hội đồng Bầu cử
quốc gia phối hợp với Đoàn Chủ tịch Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
5 Vũ Công Giao, Cơ quan bầu cử quốc gia trên thế giới và việc hiến định cơ quan này trong Hiến pháp 1992
sửa đổi 2013 của Việt Nam, Tlđd, tr.102.
6 Ngô Đức Mạnh, Chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng Bầu cử quốc gia và việc sửa đổi Luật bầu cử đại biểu
Quốc hội, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, sꢄ 18 (274), T9/2014, tr.27.
7
Thái Thị Thu Trang, Nguyễn Thị Quỳnh Trang, Cơ quan hiến định độc lập theo Hiến pháp năm 2013 và
những vấn đề đặt ra, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, sꢄ 5 (338)/2020, tr.58.
Số 14(438) - T7/2021
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
trong việc hiệp thương, giới thiệu người vì dân thì HĐBCQG cꢂn phải có mꢀt vị
ứng cử đại biểu Quốc hội, hướng dẫn việc
hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại
biểu Hội đồng nhân dân và vận động bầu
cử”. Quy định này chưa thực sự làm rõ vị
trí pháp lý cꢂn thiết của HĐBCQG. Trong
điều kiện Việt Nam hiện nay, HĐBCQG ra
đời cần phải là một thiết chế có vai trò hạn
chế tối đa những mặt tiêu cực của công tác
bầu cử lâu nay.
thế đꢀc lập, được trao quyền quyết định
sꢄ lượng người ứng cꢃ sau khi đã tổ chức
hiệp thương. Trong trường hợp danh sách
có nhiều ứng cꢃ viên hoặc khi cꢂn phải cân
nhắc giữa vấn đề cơ cấu và tiêu chuẩn, thì
HĐBCQG dựa trên những nguyên tắc chung
của pháp luật bꢂu cꢃ, sẽ quyết định sꢄ lượng
phù hợp, để đảm bảo tính cạnh tranh, tính
công bằng, tính khách quan và không bỏ sót
những người xứng đáng do không được “cơ
cấu” nên không được đưa vào danh sách
bꢂu cꢃ.
Thực tế hiện nay, người tự ứng cꢃ không
biết khả năng mình có thể trở thành ứng cꢃ
viên chính thức hay không, vì kết quả của
Hꢀi nghị hiệp thương do Mặt trận Tổ quꢄc
Việt Nam chủ trì mới có tính chất quyết
định. Bản chất của hiệp thương là cơ cấu.
Việc tiếp xúc giữa các ứng viên với cꢃ tri
nhìn chung còn nặng tính hình thức, có nơi
khi mời cꢃ tri tiếp xúc đại biểu, chỉ mời
những người ăn ý với mình8. Trên thực tế,
có người tự ứng cꢃ sau khi lấy ý kiến tại nơi
cư trú, tại nơi công tác nhận được tín nhiệm
cao, nhưng khi Hꢀi nghị hiệp thương lꢂn thứ
ba người đó lại không được lựa chọn, giới
thiệu ứng cꢃ9. Điều đó cho thấy người đủ
tiêu chuẩn thì chưa chắc đã được cơ cấu, mà
người được cơ cấu lại chưa chắc đã đủ tiêu
chuẩn cao hơn. Từ đó có thể thấy “ý chí của
hiệp thương” chưa chắc đã phản ánh ý chí
của nhân dân. Trong trường hợp qua hiệp
thương mà mꢀt danh sách bꢂu cꢃ được lựa
chọn ra không thể hiện ý chí thực sự của
nhân dân, thì việc bꢂu cꢃ tiếp theo sẽ không
có nhiều ý nghĩa.
Về vấn đề cơ cấu, cꢂn thay đổi tư duy,
xóa bỏ cách hiểu cơ cấu mꢀt cách cứng
nhắc. Tác giả bài viết đꢁng tình với quan
điểm cho rằng cꢂn “cơ cấu” theo hướng tỷ
lệ tꢄi thiểu và tꢄi đa sꢄ đại biểu, miễn sao có
đại biểu đại diện là đạt yêu cꢂu10.
3. Cơ cấu thành viên Hội đồng Bầu cử
quốc gia và điều kiện, tiêu chuẩn thành
viên Hội đồng Bầu cử quốc gia
Cơ cấu thành viên của HĐBCQG cꢂn
có sự đại diện đa dạng để tránh sự phụ
thuꢀc của HĐBCQG vào mꢀt cơ quan
nhà nước nào. Khoản 1 Điều 12 Luật
Bꢂu cꢃ ĐBQH và ĐBHĐND năm 2015
quy định: “Hội đồng Bầu cử quốc gia
do Quốc hội thành lập, có từ mười lăm
đến hai mươi mốt thành viên gồm Chủ
tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên
là đại diện Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và một số cơ quan, tổ
Để đáp ứng yêu cꢂu xây dựng Nhà nước
phápquyềnViệtNamXHCNcủadân,dodân, chức hữu quan”.
8
Phan Xuân Sơn (Chủ biên), Các đoàn thể nhân dân với việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở hiện nay, Nxb.
Chính trị Quꢄc gia, Hà Nꢀi, năm 2003, tr.238.
9 Chẳng hạn, trường hợp ông Trꢂn Đăng Tuấn, nguyên Phó Tổng giám đꢄc Đài truyền hình Việt Nam bị loại
khỏi danh sách ứng cꢃ đại biểu Quꢄc hꢀi khóa XIV của TP. Hà Nꢀi dù được tín nhiệm cao trong nhân dân.
10
Mai Thị Minh Ngọc, Tác đꢀng của hiệp thương tới các cuꢀc bꢂu cꢃ ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật, sꢄ 11/2017, tr.12-17.
6
Số 14(438) - T7/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Quy định trên chưa thể hiện rõ thành phải thuꢀc về Ủy ban Thường vụ Quꢄc hꢀi
phꢂn Hꢀi đꢁng này có các chuyên gia, mới đảm bảo tính nhất quán12.
những nhà khoa học, người ngoài Đảng hay
không? Tác giả bài viết cho rằng quy định
4. Về các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của
Hội đồng Bầu cử quốc gia
cụ thể có sự tham gia của những chủ thể này
Điều14LuậtBꢂucꢃĐBQHvàĐBHĐND
sẽ đảm bảo tiêu chí trung lập, dân chủ, công
năm 2015 quy định những nhiệm vụ, quyền
bằng của mꢀt cuꢀc bꢂu cꢃ, đꢁng thời cũng
hạn chung của Hꢀi đꢁng Bꢂu cꢃ quꢄc gia
thể hiện rõ hơn tính chất dân chủ của Nhà
như sau: “1. Tổ chức bầu cử đại biểu Quốc
hội; 2. Chỉ đạo, hướng dẫn công tác bầu cử
đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; 3. Chỉ
đạo công tác thông tin, tuyên truyền và vận
động bầu cử; 4. Chỉ đạo công tác bảo vệ an
ninh, trật tự, an toàn xã hội trong cuộc bầu
cử; 5. Kiểm tra, đôn đốc việc thi hành pháp
nước ta.
Hơn nữa, với quy định hiện hành tại
khoản 1 Điều 12 Luật Bꢂu cꢃ ĐBQH và
ĐBHĐND năm 2015, tiêu chuẩn của thành
viên HĐBCQG chưa thực sự rõ ràng. Cꢂn
có quy định cụ thể về độ tuổi, trình độ, phẩm
chất đạo đức, kinh nghiệm công tác, trình
luật về bầu cử; 6. Quy định mẫu hồ sơ ứng
độ, có nghiệp vụ về bầu cử, có thực tiễn thời
cử, mẫu thẻ cử tri, mẫu phiếu bầu cử, nội
gian công tác thực tiễn liên quan đến pháp
quy phòng bỏ phiếu, các mẫu văn bản khác
sử dụng trong công tác bầu cử”.
luật. Ngoài ra, để đảm bảo tính vô tư, khách
quan, thành viên HĐBCQG không được là
Như vậy, có thể thấy mꢀt sꢄ hướng dẫn
ứng viên trong bất kỳ cuꢀc bꢂu cꢃ nào trước
về quy trình, cách thức tổ chức vận đꢀng
và sau đó11.
bꢂu cꢃ, quy trình xꢃ lý đꢄi với việc vi phạm
Về chức danh Chủ tịch HĐBCQG, vì
về vận đꢀng bꢂu cꢃ, về khiếu nại, tꢄ cáo vẫn
HĐBCQG là do Quꢄc hꢀi thành lập, do đó
chưa được quy định rõ ràng13.
UBTVQH cꢂn giữ quyền đề nghị Quꢄc hꢀi
Mꢀt trong những yếu tꢄ quan trọng gia
bꢂu Chủ tịch HĐBCQG. Đây là thẩm quyền
tăng chất lượng ĐBQH và ĐBHĐND là tính
cạnh tranh trong vận động bầu cử và bảo đảm
thực sự công bằng, khách quan, giám sát chặt
chẽ để tránh tình trạng gian lận trong bꢂu cꢃ.
HĐBCQG phải là thiết chế quan trọng được
trao quyền, được tạo mọi điều kiện đảm bảo
để thực hiện quyền giám sát này.
thuꢀc về Quꢄc hꢀi, không phải là quyền của
Nguyên thủ quꢄc gia. Hơn nữa, Điều 13
Luật Bꢂu cꢃ ĐBQH và ĐBHĐND cũng
quy định “Hội đồng Bầu cử quốc gia chịu
trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo về
hoạt động của mình trước Quốc hội, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội”. Như vậy, HĐBCQG
không phải chịu trách nhiệm trước Chủ
Thực tế cho thấy, hiện nay sꢄ lượng
tịch nước. Do đó, HĐBCQG do Quꢄc hꢀi người tự ứng cꢃ rất thấp và sꢄ lượng người
thành lập, chịu trách nhiệm trước Quꢄc hꢀi, tự ứng cꢃ được bꢂu thì còn thấp hơn rất
UBTVQH, thì quyền đề nghị Quꢄc hꢀi bꢂu nhiều. Sự vắng bóng của những người tự
11 Xem thêm: Thái Doãn Thành, Hội đồng Bầu cử quốc gia - thiết chế góp phần bảo đảm quyền làm chủ của
nhân dân, Tạp chí Nghề luật, sꢄ 4/2019, tr.5.
12 Thái Doãn Thành, Hội đồng Bầu cử quốc gia - thiết chế góp phần bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân,
Tlđd, tr.6.
13 Nguyễn Thị Kim Anh, Hội đồng Bầu cử quốc gia theo pháp luật Việt Nam, Tlđd, tr.42.
Số 14(438) - T7/2021
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
ứng cꢃ có chất lượng có thể làm cho quá
trình bꢂu cꢃ không tạo ra sự cạnh tranh
đúng đắn. Tác giả Nguyễn Đăng Dung cho
rằng, quyền ứng cꢃ trước hết phải được
hiểu ở nghĩa tự ứng cꢃ, sau mới có thể đến
quyền đề cꢃ. Quy trình tự ứng cꢃ hiện nay
đang tạo nên sự bất bình đẳng giữa người
được đề cꢃ và người tự ứng cꢃ14. Chính vì
sự bất cập này, cho nên cꢂn phải mở rꢀng
phạm vi lựa chọn cho cꢃ tri bằng việc tăng
sꢄ người tự ứng cꢃ cho mꢀt đơn vị bꢂu
cꢃ, ngoài ra cꢂn quy định cụ thể, chi tiết
trình tự, thủ tục tự ứng cꢃ để tạo điều kiện
cho công dân thực hiện quyền tự ứng cꢃ,
hướng tới tranh cꢃ. HĐBCQG phải là cơ
quan đóng góp quan trọng vào tiến trình
này. Mꢀt cuꢀc bꢂu cꢃ chân chính thì cꢃ
tri bỏ phiếu là bỏ phiếu cho “chính sách”,
không phải giản đơn cho mꢀt con người
cụ thể. Vì vậy, người ra tranh cꢃ phải có
chương trình hành đꢀng cụ thể để tranh cꢃ.
Chương trình hành đꢀng đó phải khả thi,
phải đáp ứng được những mong mỏi người
dân và được cꢃ tri giám sát thực hiện. Có
như vậy mới tăng cường sự phụ thuꢀc của
người được bꢂu với cꢃ tri. Pháp luật bꢂu
cꢃ phải quy định rõ các hình thức vận đꢀng
tranh cꢃ, trên cơ sở đó HĐBCQG sẽ giám
sát và xꢃ lý những vi phạm trong quá trình
vận đꢀng tranh cꢃ này15.
rất khó khăn vì nhiều thành viên giữ các
vị trí chủ chꢄt ở các tỉnh, thành phꢄ không
bꢄ trí được thời gian16. Muꢄn có những
ĐBQH và ĐBHĐND chuyên nghiệp thì
họ trước tiên phải là những người không
kiêm nhiệm quá nhiều vị trí, phải là
những người thạo nghề (thạo giao tiếp,
thuyết phục, thương lượng, nắm vững các
quy trình và thủ tục làm việc của Quꢄc
hꢀi...) và có điều kiện làm việc chuyên
nghiệp (thu nhập cao, bꢀ máy giúp việc
chuyên nghiệp, có nhiều đặc quyền của
ĐBQH...)17. Tác giả cho rằng HĐBCQG
sẽ là thiết chế giám sát hoạt đꢀng của các
ĐBQH và ĐBHĐND để góp phꢂn nâng
cao chất lượng thực sự của đꢀi ngũ này
và cũng là chất lượng hoạt đꢀng của Quꢄc
hꢀi và HĐND các cấp.
5. Về tổ chức và hoạt động của bộ máy
giúp việc của Hội đồng Bầu cử quốc gia
Về bꢀ máy giúp việc của HĐBCQG,
Điều 19 Luật Bꢂu cꢃ ĐBQH và ĐBHĐND
năm 2015 quy định rất chung chung như
sau: “1. Hội đồng Bầu cử quốc gia có bộ
máy giúp việc do Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định; 2. Hội đồng Bầu cử quốc gia
có quyền trưng tập cán bộ, công chức của
cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội để giúp việc cho Hội đồng
Bầu cử quốc gia”.
Chất lượng ĐBQH và ĐBHĐND cũng
là vấn đề cꢂn được quan tâm nhiều hơn ở
giai đoạn hậu bꢂu cꢃ. Thực tế hoạt đꢀng
thời gian qua cho thấy mꢀt sꢄ Ủy ban của
Quꢄc hꢀi, Ban của HĐND khi triệu tập
Thực tế, thời gian qua cho thấy, trong
quá trình thực thi các nhiệm vụ và quyền
hạn của mình, HĐBCQG còn có những
hạn chế như: có trường hợp sau khi trúng
14 Nguyễn Đăng Dung, Bầu cử và tự ứng cử, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, sꢄ 08 (312), T4/2016, tr.3-7.
15 Nguyễn Minh Tuấn, Đi ngược lợi ích của dân phải quyết bãi nhiệm, https://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/
di-nguoc-loi-ich-cua-dan-phai-quyet-bai-nhiem-231132.html, truy cập gꢂn nhất ngày 11/5/2021.
16 Tạ Thị Yên, Cơ cấu, tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp, sꢄ 22 (396), T11/2019, tr.19.
17 Nguyễn Minh Tuấn, Một Quốc hội lập pháp, Tạp chí Tia sáng, https://tiasang.com.vn/-dien-dan/mot-quoc-
hoi-lap-phap-7434, truy cập gꢂn nhất ngày 11/5/2021.
8
Số 14(438) - T7/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
cꢃ phát hiện không đủ tư cách ĐBQH, vẫn
xảy ra sai sót khi in ấn phiếu bꢂu dẫn đến
phải hủy bỏ kết quả bꢂu cꢃ và phải tiến
hành bꢂu cꢃ lại; sơ suất trong việc kiểm
soát sꢄ lượng phiếu phát ra, sꢄ phiếu thu
vào, việc đóng dấu đã bỏ phiếu, vẫn còn có
trường hợp bꢂu hꢀ, bꢂu thay. Việc hướng
dẫn công tác bꢂu cꢃ ĐBHĐND các cấp
vẫn còn chậm trễ, biểu hiện như mꢀt sꢄ
văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của các cơ
quan trung ương chậm được ban hành,
thiếu thꢄng nhất; mꢀt sꢄ biểu mẫu thꢄng
kê có sự điều chỉnh, bổ sung chậm gây khó
khăn, ảnh hưởng nhất định đến việc triển
khai, thực hiện công tác chuẩn bị bꢂu cꢃ ở
các địa phương18. Những hạn chế này cho
thấy, còn có sự thiếu chuyên nghiệp trong
tổ chức, hoạt đꢀng của HĐBCQG, mà
nguyên nhân có thể là do chưa chú trọng
đúng mức công tác tập huấn bꢂu cꢃ, nhất
là đꢄi với cán bꢀ, nhân viên tổ bꢂu cꢃ về
nghiệp vụ bꢂu cꢃ19.
theo chế độ chuyên trách thì họ mới có thể
gắn bó lâu dài với công việc20.
HĐBCQG phải là thiết chế có trách
nhiệm giám sát, hỗ trợ các ĐBQH và
ĐBHĐND trong việc thực hiện chức năng,
nhiệm vụ của mình để gia tăng tính chuyên
nghiệp trong hoạt đꢀng.
Tóm lại, việc hoàn thiện chế định
HĐBCQG thực chất cũng là hướng tới bảo
đảm tꢄt nhất quyền làm chủ của nhân dân,
đảm bảo nguyên tắc bꢂu cꢃ, đảm bảo kết
quả bꢂu cꢃ đúng đắn và trung thực, thể hiện
ý chí của cꢃ tri21. Đúng như điểm 3 Điều 21
Tuyên ngôn thế giới nhân quyền năm 1948
nêu rõ: “Ý chí của cử tri phải là cơ sở của
quyền lực của nhà nước. Ý chí này thể hiện
qua các cuộc bầu cử định kỳ và chân thực, tổ
chức theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu,
bình đẳng và bỏ phiếu kín hoặc bằng những
tiến trình bầu cử tự do tương đương”. Dân
chủ là xu thế của thời đại và bꢂu cꢃ là công
đoạn đꢂu tiên cho cả quá trình dân chủ này.
Bꢂu cꢃ tạo ra sự chính danh, tạo nên sự thay
đổi chính quyền trong xã hꢀi dân chủ22. Đổi
mới chế định HĐBCQG theo hướng gia
tăng vị thế đꢀc lập của chế định này, trao
quyền nhiều hơn để hạn chế những bất cập,
thiếu thꢄng nhất, đổi mới cơ cấu, cơ quan
giúp việc của HĐBCQG là mꢀt bước quan
trọng trong tiến trình tạo nên chế đꢀ bꢂu cꢃ
công bằng, chân thực, quyết định vận mệnh,
tương lai của mꢀt đất nước, cũng như toàn
Tác giả bài viết này cho rằng Bꢀ máy giúp
việc của HĐBCQG phải được thiết lập với
sự chú trọng đặc biệt về tính chuyên nghiệp
trong hoạt động. Việc tổ chức bꢂu cꢃ là hoạt
đꢀng chuyên môn, khác với hoạt đꢀng xác
lập chính sách bꢂu cꢃ là hoạt đꢀng mang tính
chất chính trị. Trong bꢀ máy giúp việc hoàn
toàn mang tính chuyên môn đó, người đứng
đꢂu Ban Thư ký và đứng đꢂu các bꢀ phận
chức năng có vai trò rất quan trọng. Những
vị trí này cꢂn phải được lựa chọn và bổ nhiệm
bꢀ hoạt đꢀng xã hꢀi
18
Nguyễn Thị Kim Anh, Hội đồng Bầu cử quốc gia theo pháp luật Việt Nam, Tạp chí Quản lý nhà nước,
sꢄ 260 (92017), tr. 42.
19 Nguyễn Thị Kim Anh, Hội đồng Bầu cử quốc gia theo pháp luật Việt Nam, Tlđd, tr.42-43.
20 Vũ Công Giao, Thiết kế bộ máy giúp việc của Hội đồng Bầu cử quốc gia theo Hiến pháp năm 2013, Tạp chí
Nhà nước và Pháp luật, sꢄ 11/2014, tr.15-21.
21 Thái Vĩnh Thắng, Bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội
đồng nhân dân các cấp, Tạp chí Tổ chức nhà nước, sꢄ 4/2016, tr.5.
22
Nguyễn Đăng Dung, Vai trò của bầu cử, Tạp chí khoa học Đại học Quꢄc gia Hà Nꢀi: Luật học, Tập 34,
sꢄ 1 (2018), tr.13-30.
Số 14(438) - T7/2021
9
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ
TỚI DỊCH VỤ CÔNG
Đậu Công Hiệp*
* ThS. Khoa Pháp luật Hành chính - Nhà nước,
Trường Đại học Luật Hà Nội.
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Từ khóa: Dịch vụ công, cách
mạng công nghiệp lꢂn thứ tư, dữ
liệu lớn, trí tuệ nhân tạo.
Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích tác đꢀng của hai thành tựu lớn
mà Cách mạng công nghiệp lꢂn thứ tư mang lại – Dữ liệu lớn và Trí tuệ
nhân tạo tới dịch vụ công, chỉ ra những triển vọng cũng như thách thức mà
Nhà nước phải đꢄi mặt để cải thiện hơn nữa chất lượng dịch vụ công.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 17/6/2021
: 06/7/2021
: 08/7/2021
Article Infomation:
Abstract:
Keywords: Public services,
fourth industrial revolution, big
data, artificial intelligence
Within the scope of this article, the author provides an analysis of the
impacts of two major achievements brought by the Fourth Industrial
Revolution - Big Data andArtificial Intelligence on public services, points
out the prospects as well as challenges to be faced by the Government so
that it is to further improve the quality of the public services
Article History:
Received
Edited
: 17 Jun 2021
: 06 July 2021
: 08 July 2021
Approved
Cuꢀc Cách mạng công nghiệp lꢂn thứ tư
(CMCN 4.0) hay trực tiếp hơn là các thành
tựu của nó đang tác đꢀng mạnh tới hꢂu hết
các khía cạnh, lĩnh vực của đời sꢄng. Mꢀt
điểm chung của tất cả các cuꢀc cách mạng
công nghiệp đó là sự gia tăng nhanh chóng
của năng suất, hiệu quả lao đꢀng. Vì vậy, có
thể nói rằng, thành quả của cuꢀc CMCN 4.0
này sẽ là mꢀt xã hꢀi với nhiều tiện ích và giá
trị hơn. Tuy nhiên, đặc thù của CMCN 4.0 là
tính “ảo”, tức là đꢄi tượng, phạm vi và môi
trường chủ yếu của nó xoay quanh các thực
tại phi con người, thậm chí hướng tới thay
thế con người. Điều đó cũng tạo ra những
thách thức nhất định trong việc kiểm soát
chúng, sao cho chính những thành quả của
cuꢀc cách mạng này không bị lợi dụng để
gây hại tới con người. Đꢄi với lĩnh vực dịch
vụ công, mꢀt trong những đặc trưng của nó
là tính đa dạng, hướng tới nhiều thành phꢂn,
đꢄi tượng khác nhau và có tꢂm bao phủ rất
rꢀng. Dịch vụ công, trước hết là mꢀt dịch
vụ cho nên nó cꢂn sự tiện lợi, nhanh chóng,
hiệu quả. Tuy nhiên, tính chất “công” của
nó vừa đòi hỏi sự bất vụ lợi lại vừa gắn chặt
với nhu cꢂu quản lý của Nhà nước. Dù trên
10
Số 14(438) - T7/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
góc đꢀ nào thì chắc chắn những thành quả
của cuꢀc CMCN 4.0 sẽ có tác đꢀng lớn tới
dịch vụ công.
chúng ta có thể làm với chúng ngay lúc
này”1. Ví dụ, ở Hoa Kỳ, trong dịch cúm
H1N1 năm 2009 cho thấy, việc xꢃ lý Dữ
liệu lớn đem lại hiệu quả hơn so với dữ
liệu truyền thꢄng là, trong khi thông tin
được tổng hợp từ các phòng khám và các
cơ quan y tế địa phương thường chậm trễ
và khiến cơ quan trung ương không đánh
giá được mức đꢀ lây lan của bệnh thì các
chuyên viên của Google đã dùng các thuật
toán để phỏng đoán mức đꢀ lây lan dựa
trên lượt tìm kiếm của người dùng2.
1. Dữ liệu lớn và dịch vụ công
Mꢀt trong những thành tựu vĩ đại mà
cuꢀc CMCN 4.0 mang đến chính là Dữ
liệu lớn (Big data). Dữ liệu lớn, nói mꢀt
cách đơn giản, chính là sự giao thoa giữa
Cách mạng công nghiệp lꢂn thứ ba và thứ
tư. Điều đó thể hiện ở chỗ, với khả năng
sꢄ hóa dữ liệu đã được tạo nên nhờ máy
Bảng 1. Vai trò của Dữ liệu lớn với chính quyền
Đặc trưng của Dữ liệu lớn thể hiện ở mꢀt
sꢄ điểm như3: (1) Dung lượng lớn và tăng
mꢀt cách mạnh mẽ; (2) Tꢄc đꢀ xꢃ lý cao;
(3) Đa dạng với nhiều nguꢁn; và (4) Có giá
trị tiềm ẩn to lớn. Từ những đặc trưng trên
có thể đặt ra những câu hỏi gắn với chủ đề
nghiên cứu: Ai sở hữu Dữ liệu lớn? Ai có
nhu cꢂu sꢃ dụng Dữ liệu lớn? và Dữ liệu
lớn có thể mang lại điều gì. Đꢄi với khꢄi tư
nhân, điều đó có thể rất rõ ràng. Các công ty,
tính, Internet là những thành tựu chủ yếu
của cuꢀc Cách mạng công nghiệp lꢂn thứ
ba, thì nhân loại đã tạo nên mꢀt kho lưu trữ
khổng lꢁ các dữ liệu. CMCN 4.0 ra đời đã
tiến hơn mꢀt bước trong việc xꢃ lý khꢄi dữ
liệu này nhằm ứng dụng vào thực tế. Tức
là, từ mꢀt tập hợp dữ liệu thông thường
tới cái được gọi là Dữ liệu lớn cꢂn không
chỉ mꢀt khꢄi lượng lớn dữ liệu mà ở “điều
1 Bernard Marr, Dữ liệu lớn - Phân tích và đo lường dữ liệu thông minh để đưa ra quyết định đúng đắn và cải
thiện hiệu suất, Nxb. Công thương, 2017.
2 Viktor Mayer-Schonberger, Kenneth Cukier, Dữ liệu lớn, Cuộc cách mạng sẽ làm thay đổi cách chúng ta
sống, làm việc và tư duy, Nxb. Trẻ, TP. Hꢁ Chí Minh, 2014.
3 http://m.dainam.edu.vn/vai-net-ve-du-lieu-lon-big-data-va-ung-dung-cua-no-trong-cuoc-song.htm.
Số 14(438) - T7/2021
11
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
doanh nghiệp trong hoạt đꢀng của mình
có thể tự thu thập các dữ liệu khác nhau
về khách hàng, sản phẩm, đꢄi tác, thậm
chí chính nꢀi bꢀ của mình hoặc họ có thể
mua dữ liệu từ nơi khác. Họ có nhu cꢂu sꢃ
dụng các dữ liệu này trong hoạt đꢀng kinh
doanh, Marketing, quản trị nhân sự để góp
phꢂn giải quyết các câu hỏi cơ bản như sản
xuất cái gì, quy mô bao nhiêu, v.v.. Đꢄi với
khꢄi dịch vụ công, triển vọng áp dụng Dữ
liệu lớn cũng rất rõ nét. Đꢂu tiên, Nhà nước
là tổ chức sꢃ dụng quyền lực công và nắm
giữ trong tay mꢀt khꢄi lượng dữ liệu rất lớn
về người dân. Các dữ liệu này cũng rất đa
dạng bởi hoạt đꢀng quản lý hành chính diễn
ra trên hꢂu như các mặt của đời sꢄng xã hꢀi.
Tiếp theo, Dữ liệu lớn có thể áp dụng trên
nhiều khía cạnh của chính quyền. Bảng sau4
cho thấy điều đó:
tài nguyên, v.v.. Tất cả những dữ liệu này
có thể được sꢃ dụng mꢀt cách hiệu quả nếu
Nhà nước biết cách vận dụng và tích hợp nó.
Đặc biệt, trong các lĩnh vực đòi hỏi phải tích
hợp nhiều loại dữ liệu như bảo hiểm (nhân
khẩu học, hành vi, kinh tế xã hꢀi, sức khỏe,
sinh trắc học)6, ứng dụng của Dữ liệu lớn lại
ngày càng trở nên quan trọng. Vì vậy, có thể
khẳng định, triển vọng của áp dụng Dữ liệu
lớn trong dịch vụ công là hết sức rõ ràng.
Vấn đề đặt ra trong trường hợp này là áp
dụng như thế nào. Trong từng lĩnh vực lại
có những đặc thù riêng đòi hỏi phương thức
xꢃ lý dữ liệu riêng. Vì vậy, chúng ta có thể
chỉ ra các phương hướng mꢀt cách chung
nhất như sau: (1) Cꢂn xây dựng hệ thꢄng
thu thập, lưu trữ, kết nꢄi nguꢁn dữ liệu tiên
tiến, thꢄng nhất và cập nhật hóa; (2) Trong
từng lĩnh vực các cơ quan, đơn vị phải chủ
đꢀng xꢃ lý nguꢁn dữ liệu, và nếu cꢂn thiết
phải có trung tâm chuyên môn trợ giúp; và
(3) Việc chia sẻ, tích hợp dữ liệu phải được
thực hiện với cơ chế nhanh chóng, trong đó
cꢂn có sự tham gia của khꢄi tư nhân.
Đꢄi với các dịch vụ công cꢀng, rất nhiều
ví dụ có thể đưa ra nhằm làm rõ lợi ích của
Dữ liệu lớn như5: (1) Trong giao thông, Nhà
nước có thể thiết lập các cảnh báo về thời
tiết, tắc đường, tình trạng đường xá mꢀt
cách cập nhật nhất thông qua dữ liệu từ
camera giao thông, phản ánh qua điện thoại,
mạng xã hꢀi, v.v..; (2) Trong việc làm, Nhà
nước có thể nắm bắt nhu cꢂu về bảo hiểm
xã hꢀi, an sinh để đưa ra các loại hình bảo
hiểm, trợ cấp phù hợp; (3) Trong y tế, Nhà
nước có thể nắm bắt tình trạng sức khỏe xã
hꢀi để điều tiết sản xuất thuꢄc, vắc-xin. Cꢂn
phải thấy rằng, Nhà nước sở hữu mꢀt nguꢁn
dữ liệu khổng lꢁ về dân cư, doanh nghiệp,
Bên cạnh những triển vọng, việc ứng
dụng Dữ liệu lớn cũng có nhiều thách thức,
chủ yếu trên ba mảng lớn7: (1) Quản lý Dữ
liệu lớn; (2) Bảo đảm chất lượng dữ liệu; và
(3) Các lo ngại về đạo đức, riêng tư. Cụ thể,
việc quản lý mꢀt khꢄi lượng dữ liệu rất lớn
đặt ra nhiều vấn đề về công nghệ, cơ sở hạ
tꢂng, nguy cơ bị ăn cắp dữ liệu. Đặc biệt,
trong bꢄi cảnh khꢄi lượng dữ liệu ngày càng
tăng với khꢄi lượng và đa dạng về phạm vi,
4
World Bank Group, Big data in action for government big data innovation in public services, policy and
engagement, 2017.
5
public-services-expert-views.
6 https://tuoitre.vn/du-lieu-lon-va-buoc-ngoat-cua-nganh-bao-hiem-20190102170956379.htm.
7
Cecilia Fredriksson, Farooq Mubarak, Marja Tuohimaa and Ming Zhan, Big Data in the Public Sector:
A Systematic Literature Review, Scandinavian Journal of Public Administration 21(3): 39-61, 2017.
12
Số 14(438) - T7/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
cách thức phân tích, xꢃ lý nó cũng trở nên
phức tạp và tꢄn kém hơn. Những công việc
trên đòi hỏi sự bao quát cao đꢄi với khꢄi dữ
liệu mà đôi khi cꢂn rất nhiều chuyên gia mới
có thể thực hiện được. Trong trường hợp
này, sự tham gia từ phía tư nhân là rất quan
trọng nhưng đôi khi họ lại gặp những cản
trở nhất định khi phải xꢃ lý những thông tin
nhạy cảm. Đꢄi với việc bảo đảm chất lượng
dữ liệu, đây là mꢀt câu hỏi lớn gây đau đꢂu
cho tất cả những ai vận dụng và xꢃ lý Dữ
liệu lớn. Để so sánh, người ta thường dùng
khảo sát tỷ lệ người cho rằng đó là vấn đế
lớn nhất.
Cải thiện chất lượng dữ liệu sẽ có ảnh
hưởng tích cực, thậm chí đến việc người
sꢃ dụng có lựa chọn ứng dụng Dữ liệu lớn
trong hoạt đꢀng của mình hay không. Để
làm được điều đó, chỉ có cách là cải thiện
hơn nữa các công cụ thu thập, xꢃ lý dữ liệu
và tiến hành kiểm soát thường xuyên.
Thách thức cuꢄi cùng được nhắc tới là
vấn đề đạo đức và quyền riêng tư. Trong bꢄi
Sơ đồ 1. Vấn đề gây nên bởi dữ liệu kém chất lượng
Bị than phiền
Khách hàng thất vọng
Tꢄn thêm chi phí
Giảm nguꢁn thu
Làm giảm mức đꢀ tin cậy của phân tích
Làm chậm phát triển
Tꢄn thời gian xꢃ lý
0
10 20 30 40 50 60 70 80 90 100
hình ảnh “rác” và “vàng” để nói đến điều
này8. Tức là, trong sꢄ rất nhiều dữ liệu thì
các dữ liệu mang lại giá trị thực sự không
“lꢀ thiên” mà nằm ẩn trong sꢄ rất nhiều dữ
liệu vô giá trị.
cảnh ngày nay, quyền riêng tư với dữ liệu cá
nhân được cả pháp luật quꢄc tế lẫn các quꢄc
gia bảo vệ nghiêm ngặt để tránh sự lạm
dụng chúng10. Tuy vậy, cùng với sự bùng nổ
của thông tin, rất nhiều vụ việc nổi bật hiện
đang gây ra tranh cãi về việc thu thập, sꢃ
dụng dữ liệu mang tính riêng tư, điển hình
Sơ đꢁ sau9 cho thấy mꢀt sꢄ vấn đề do
dữ liệu chất lượng thấp tạo ra trên cơ sở
8 https://www.brandsvietnam.com/7130-Big-Data-mo-vang-moi-cua-doanh-nghiep.
9
Noraini Abdullah, Saiful Adli Ismail, Siti Sophiayati, and Suriani Mohd Sam, Data Quality in Big Data:
A Review, Int. J. Advance Soft Compu. Appl, Vol. 7, No. 3, November 2015.
10
Nguyễn Thị Quế Anh, Vũ Công Giao, Ngô Minh Hương, Lã Khánh Tùng, Quyền về sự riêng tư, Nxb.
Chính trị quꢄc gia - Sự thật, Hà Nꢀi, 2018, tr.64, 65.
Số 14(438) - T7/2021
13
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
như vụ việc của facebook11 hay các doanh
nghiệp công nghệ ở Trung Quꢄc. Thông tin,
dữ liệu được coi như mꢀt nguꢁn tài nguyên
và cũng là mꢀt thứ quyền lực. Với việc Nhà
nước có thể thu thập và sꢃ dụng mꢀt khꢄi
lượng thông tin to lớn, nguy cơ lạm quyền
trở nên rất cao. Để đảm bảo không có sự
lạm quyền từ phía Nhà nước, cꢂn có các cơ
chế pháp lý cũng như các thiết chế xã hꢀi có
chức năng giám sát. Đây vừa là mꢀt thách
thức lại vừa là mꢀt triển vọng cho pháp luật
về dịch vụ công trong bꢄi cảnh mới.
Điểm khác biệt giữa Trí thông minh nhân
tạo với mꢀt phꢂn mềm hay mꢀt thuật toán
máy tính thông thường đó là máy tính
không chỉ thực hiện những mệnh lệnh đơn
thuꢂn mà có khả năng mô phỏng lại quá
trình suy nghĩ của con người. Máy móc
không chỉ biết “làm” mà còn biết “học”,
và nhờ thế chúng ngày càng trở nên thông
minh hơn. Trong bꢄi cảnh máy móc đã
dꢂn trở nên phổ biến, việc phát minh ra
Trí thông minh nhân tạo có thể tiến tới
cải hóa toàn bꢀ các phương diện của đời
sꢄng. Bất cứ nơi nào có máy tính, nơi đấy
có thể ứng dụng Trí thông minh nhân tạo,
mà máy tính thì đang được ứng dụng khắp
mọi nơi. Vì vậy, ứng dụng của nó không
chỉ mang tính đơn lẻ mà còn có thể kết nꢄi
thành mꢀt mạng lưới, chẳng hạn như xây
2. Trí thông minh nhân tạo và dịch
vụ công
Mꢀt thành tựu quan trọng khác của cuꢀc
Cáchmạngcôngnghiệplꢂnthứtưhiệnđang
làm thay đổi nhân loại đó chính là Trí thông
minh nhân tạo (Artificial Intelligence - AI).
Sơ đồ 2. Đóng góp của Trí thông minh nhân tạo (đvt: 1.000.000$)
11 Từ năm 2014, dữ liệu của hàng triệu người dùng facebook đã bị Cambridge Analytica sꢃ dụng để phân tích
và tác đꢀng tới chiến dịch tranh cꢃ của chính trị gia Hoa Kỳ Ted Cruz năm 2015 cũng như cuꢀc trưng cꢂu ý
cheat-sheet/.
14
Số 14(438) - T7/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
dựng cả mꢀt thành phꢄ thông minh12. Các
lĩnh vực đi đꢂu trong ứng dụng Trí thông
minh nhân tạo có thể kể tới như Điện thoại
thông minh, Logistics, Thương mại điện
tꢃ, Khoa học vũ trụ, Khoa học quꢄc phòng
với mꢀt nguꢁn lợi to lớn. Sơ đꢁ sau13 cho
thấy sự đóng góp hiện tại cũng như dự kiến
đến năm 2025 của Trí thông minh nhân tạo
trong thương mại toàn cꢂu.
tương tác giữa người dạy, người học, phụ
huynh. Nếu như giới tư nhân có đꢀng lực là
lợi nhuận thì rõ ràng khả năng và nhu cꢂu
ứng dụng Trí thông minh nhân tạo của họ
là lớn hơn. Vì vậy, nếu các cơ sở cung cấp
dịch vụ công ích của Nhà nước không có
sự ứng dụng kịp thời thì nguy cơ tụt hậu là
chắc chắn có thể xảy ra.
- Đꢄi với các dịch vụ hành chính công,
ứng dụng của Trí thông minh nhân tạo có
thể được sꢃ dụng để làm giảm bớt thủ tục
hành chính, giải đáp thắc mắc của người
dân, hỗ trợ nhân viên của Nhà nước trong
công việc. Bên cạnh đó, thông qua việc tập
hợp, xꢃ lý các dữ liệu liên quan về mức đꢀ
hài lòng của người dân, hiệu quả và thời
gian giải quyết công việc, Trí thông minh
nhân tạo có thể giúp những nhà hoạch định
chính sách tìm ra những cách cải thiện quy
trình, thủ tục trong lĩnh vực này. Đặc biệt,
Trí thông minh nhân tạo có thể giúp các cơ
quan nhà nước quản lý nhanh chóng mꢀt
khꢄi lượng rất lớn thông tin của người dân,
trên mọi mặt như hꢀ chiếu, căn cước công
dân, biển sꢄ xe, v.v..
Những con sꢄ trên phꢂn nào phản ánh
mꢀt triển vọng to lớn của Trí thông minh
nhân tạo khi nó được ứng dụng ngày càng
rꢀng rãi. Ở Việt Nam, chủ đề này đã dành
được mꢀt sự quan tâm khá lớn với hàng
nghìn công bꢄ khoa học quꢄc tế, mở rꢀng
đào tạo về Trí thông minh nhân tạo, sự ra
đời của các phòng thí nghiệm chuyên về
vấn đề này14. Trong bꢄi cảnh đó, chắc chắn
lĩnh vực dịch vụ công cũng có thể tận dụng
được những thành quả to lớn mà Trí thông
minh nhân tạo mang lại. Điều đó thể hiện ở
những khía cạnh như:
- Đꢄi với các dịch vụ công cꢀng, công
ích; đây là những lĩnh vực mà bên cạnh vai
trò của Nhà nước còn có sự tham gia của
giới tư nhân. Trong bꢄi cảnh cạnh tranh tự
do, các dịch vụ này ngày càng được cải thiện
nhằm làm khách hàng hài lòng hơn. Chẳng
hạn trong lĩnh vực y tế, các “trợ lý ảo” có
thể giúp bác sĩ và bệnh nhân điều trị tꢄt hơn;
trong giáo dục, Trí thông minh nhân tạo có
thể hỗ trợ đánh giá kết quả học tập, thúc đẩy
Bên cạnh những lợi ích nêu trên, đꢀng
lực để các nhà nước trên thế giới ứng dụng
Trí thông minh nhân tạo vào hoạt đꢀng của
mình bao gꢁm15: (1) Tự đꢀng hóa để giải
quyết nhu cꢂu của người dân muꢄn có phản
ứng nhanh chóng từ chính quyền mà không
phải chờ đợi quá lâu; (2) Trong bꢄi cảnh
12 Trung tâm Thông tin và Thꢄng kê Khoa học và Công nghệ, Sở Khoa học và công nghệ TP. Hꢁ Chí Minh,
Xu hướng nghiên cứu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và mạng lưới kết nối vạn vật trong thành phố
thông minh, Báo cáo chuyên đề, TP. Hꢁ Chí Minh, 2018.
13 https://existek.com/blog/ai-programming-and-ai-programming-languages/.
14 Nguyễn Thanh Thủy, Hà Quang Thụy, Phan Xuân Hiếu, Nguyễn Trí Thành, Trí tuệ nhân tạo trong thời đại
số: Bối cảnh thế giới và liên hệ với Việt Nam, Tạp chí Công thương, sꢄ 08/2018.
15 https://viettimes.vn/dan-mach-su-dung-tri-tue-nhan-tao-trong-linh-vuc-hanh-chinh-cong-122491.html.
Số 14(438) - T7/2021
15
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
già hóa dân sꢄ, khu vực công trở nên thiếu
hụt nhân lực và cꢂn sự trợ giúp từ Trí thông
minh nhân tạo. Ngoài ra, có thể thấy, việc
Nhà nước đꢂu tư cho Trí thông minh nhân
tạo thông qua các dịch vụ công chính là
cách để tạo ra mꢀt nền hành chính hiệu quả
hơn, phục vụ đắc lực cho người dân, doanh
nghiệp và qua đó thúc đẩy cho toàn bꢀ nền
kinh tế phát triển. Mꢀt lý do nữa được chỉ
ra là, khi công việc có thể giải quyết nhanh
chóng hơn, bꢀ máy hành chính có thể được
giảm nhẹ và tiền thuế của người dân sẽ được
sꢃ dụng mꢀt cách hiệu quả hơn16.
triển hiện nay, Nhà nước chỉ nên cung cấp
những dịch vụ mà “rõ ràng là được ưa
chuộng nhưng lại không được cung cấp
bởi các doanh nghiệp cạnh tranh bởi vì
điều đó là vừa khó vừa không thể để đáp
ứng những lợi ích cá nhân của họ. Chẳng
hạn như các dịch vụ vệ sinh và sức khỏe,
xây dựng và bảo dưỡng đường xá...”18. Xu
hướng chuyển dịch này chắc chắn sẽ là mꢀt
thách thức đꢄi với Nhà nước khi nó phải
từ bỏ bớt vai trò của mình. Ngoài ra, nguy
cơ Trí thông minh nhân tạo có thể được sꢃ
dụng như mꢀt công cụ tꢀi phạm cũng khiến
Nhà nước phải tăng cường bảo mật hơn bởi
nếu hệ thꢄng dịch vụ công phụ thuꢀc hoàn
toàn vào Trí thông minh nhân tạo bị tê liệt,
nó có thể làm ngưng trệ những hoạt đꢀng
quan trọng nhất của xã hꢀi.
Tuy nhiên, bên cạnh lợi ích mà Trí thông
minh nhân tạo mang lại, chúng ta cũng cꢂn
nhận thức đến những nguy cơ của nó trong
đời sꢄng. Mꢀt nghiên cứu17 chỉ ra rằng, “mặt
tꢄi” của Trí thông minh nhân tạo đến trước
hết từ góc đꢀ kinh tế khi việc máy móc làm
thay con người có thể dẫn tới tình trạng thất
nghiệp. Trong lĩnh vực dịch vụ công ích,
chúng tôi cho rằng, Trí thông minh nhân
tạo sẽ góp phꢂn làm chuyển dịch cơ cấu
của các đơn vị cung cấp dịch vụ công ích
từ phía Nhà nước sang tư nhân. Điều này là
dễ hiểu bởi trong bꢄi cảnh khoa học, công
nghệ phát triển, khꢄi tư nhân sẽ nhận ra lợi
nhuận từ các dịch vụ công ích vꢄn do Nhà
nước chủ yếu đảm trách và tăng cường đꢂu
tư vào đây. Với mꢀt cơ chế vận hành nhanh
gọn, thông thoáng và hướng tới lợi nhuận,
hiệu quả của họ chắc chắn sẽ cao hơn khꢄi
nhà nước. Đặc biệt, trong xu hướng phát
3. Kết luận và hàm ý tới Việt Nam
CMCN 4.0 mang đến mꢀt đꢀng lực
mới mẻ không chỉ cho những cải cách ở
khu vực tư nhân mà ở cả khu vực công mà
trong đó bao hàm lĩnh vực dịch vụ công.
Mặt biểu hiện rõ ràng nhất của điều đó
chính là ở chỗ những thành tựu của cuꢀc
cách mạng này đem lại rất nhiều lợi ích,
cả về kinh tế lẫn xã hꢀi. Nắm bắt được
điều này, Việt Nam đã và đang có những
bước đi mạnh mẽ hơn để ứng dụng nó,
điển hình như dự án thành phꢄ thông
minh của Hà Nꢀi19, hay tham vọng hơn là
mꢀt Chính phủ Trí thông minh nhân tạo
16 Emma Martinho-Truswell, How AI could help the public sector, Havard Business Review, January 26, 2018.
17 Capgemini Consulting, Unleashing the potential of Artificial Intelligence in the Public Sector, 2017, https://
18 F. A. Hayek, The Constitution of Liberty, Routledge, 2014, tr.196.
19
chinh-cong-132784.html.
16
Số 14(438) - T7/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
(AI-Government) cũng dꢂn được quan
tâm20. Khác với lĩnh vực tư nhân, dịch vụ
công là mꢀt khía cạnh rất đặc biệt mà sự
ứng dụng của Dữ liệu lớn cũng như Trí
thông minh nhân tạo ở Việt Nam có thể
đến với những xu hướng như sau:
khꢄi tư nhân tham gia và đóng những vai
trò nhất định22.
- Hướng tới minh bạch và chống
tham nhũng
Trong lĩnh vực dịch vụ công, sự thiếu
minh bạch và tình trạng tham nhũng là mꢀt
đe dọa lớn. Hiện tượng tham nhũng trong
các cơ sở cung cấp dịch vụ công ích của
Nhà nước như bệnh viện, trường học vẫn
xảy ra thường xuyên. Ngay cả các dịch vụ
hành chính công như cấp giấy tờ pháp lý
cũng là mꢀt “địa bàn” của tham nhũng. Việc
ứng dụng máy móc, công nghệ sẽ khiến các
hoạt đꢀng này trở nên minh bạch hơn khi
người dân tiếp cận dễ dàng với các thủ tục
và có thể phản ánh lại những hành vi tham
nhũng mꢀt cách dễ dàng hơn.
- Tăng cường tính chuyên nghiệp của bộ
máy hành chính
Giữa quản lý hành chính và dịch vụ công
có mꢄi liên hệ rất chặt chẽ. Điều này thể
hiện ở chỗ thông qua các dịch vụ công, đꢀi
ngũ quản lý hành chính nhà nước có thể
nắm bắt thực tế đời sꢄng và triển khai công
việc của mình mꢀt cách hiệu quả hơn. Khi
dịch vụ công được ứng dụng khoa học và
trở nên chuyên nghiệp hơn thì kéo theo đó
là đꢀi ngũ quản lý hành chính cũng phải
chuyên nghiệp. Điều này sẽ giúp khắc
phục sự chꢁng chéo giữa bꢀ máy chính trị
và hành chính, từ đó tách biệt hai bꢀ phận
này nhằm đảm bảo những yêu cꢂu của hành
chính công truyền thꢄng21.
- Cuối cùng, thách thức cơ bản trong việc
ứng dụng thành tựu của cuộc cách mạng
này là cách thức chúng ta triển khai nó
Hiện nay, sự chênh lệch về trình đꢀ
kinh tế xã hꢀi giữa các vùng miền là mꢀt
điều cꢂn phải tính tới. Trong khi các thành
phꢄ, đô thị lớn đang dành nhiều khoản đꢂu
tư cho Dữ liệu lớn, Trí tuệ nhân tạo thì
điều này vẫn còn xa vời đꢄi với nhiều địa
phương. Vì vậy, để khắc phục vấn đề này,
chúng ta cꢂn xây dựng cơ chế đặc thù để
các địa phương có thể tìm cách ứng dụng
những thành tựu của cuꢀc CMCN 4.0
theo đúng nhu cꢂu và tình hình của địa
- Giảm nhẹ và thu gọn bộ máy hành chính
Cùng với việc máy móc ngày càng thay
thế con người mꢀt cách hiệu quả hơn và sự
tham gia của khꢄi tư nhân khiến Nhà nước
bị phá thế đꢀc quyền trong việc cung cấp
các dịch vụ công, bꢀ máy hành chính sẽ
được thu gọn dꢂn. Bên cạnh đó, nó cũng
góp phꢂn làm thay đổi tư duy, nhận thức của
nhà quản lý theo hướng Nhà nước không
làm hꢀ, làm thay hay can thiệp quá nhiều
vào đời sꢄng xã hꢀi mà phải mở đường cho
phương mình
20 http://hhtp.gov.vn/vi/thong-tin-kh-cn/khai-niem-ve-chinh-phu-tri-tue-nhan-tao-ai-government-74.html.
21
Nguyễn Trọng Bình, Cơ sở lý luận và đặc điểm của hành chính công truyền thống, Tạp chí Tổ chức
nhà nước, sꢄ 3/2018.
22 Trịnh Xuân Thắng, Tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đến sự phát triển của nền hành chính
nhà nước, Tạp chí Lý luận chính trị, sꢄ 09/2017.
Số 14(438) - T7/2021
17
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
GIAN LẬN BẢO HIỂM NHÂN THỌ
VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG GIAN LẬN
Bạch Thị Nhã Nam*
* GV. Khoa luật, Trường đại học Kinh tế - Luật, Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích những vấn đề liên quan
đến gian lận bảo hiểm nhân thọ và đề xuất kiến nghị hoàn thiện quy định
của pháp luật về chế tài xꢃ lý vi phạm, xây dựng thiết chế chuyên trách
giám sát, ngăn ngừa đꢀng cơ và các ý đꢁ gian lận của các chủ thể tham
gia bảo hiểm; xꢃ lý hiệu quả, kịp thời các hành vi gian lận bảo hiểm đảm
bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ bảo hiểm.
Từ khóa: Gian lận bảo hiểm nhân
thọ, bảo hiểm.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 18/5/2021
: 13/6/2021
: 16/6/2021
Article Infomation:
Abstract:
Within the scope of this article, the author provides an analysis of
questionsrelatedtolifeinsurancefraudandproposesrecommendationsto
improve the legal provisions on sanctions for violations, recommendation
of establishment of a specialized supervision system to supervise and
prevent the motives and fraudulent intentions of the insurers, effectively
and promptly handle acts of insurance fraud to ensure the legitimate
rights and interests of the subjects in the insurance reactions.
Keywords: Fraud on life
insurance, insurance.
Article History:
Received
Edited
: 18 May 2021
: 13 Jun 2021
: 16 Jun 2021
Approved
1. Nhận diện gian lận bảo hiểm nhân thọ
thường hay chi trả sꢄ tiền bảo hiểm đꢄi với
những rủi ro được bảo hiểm tương ứng mức
phí bảo hiểm đã thu. Tuy nhiên, xuất phát từ
lòng tham của con người đꢄi với sꢄ tiền bꢁi
thường hay sꢄ tiền bảo hiểm mà DNBH có
thể chi trả khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra,
không ít người có những hành vi gian dꢄi,
thiếu thiện chí, và trái với thỏa thuận trong
hợp đꢁng nhằm kiếm lợi ích bất hợp pháp
trong quan hệ bảo hiểm. Chính vì vậy, việc
đưa ra định nghĩa và thꢄng nhất quan điểm
về gian lận bảo hiểm nhân thọ (BHNT) có
Kinh doanh bảo hiểm (KDBH) bao gꢁm
cả KDBH nhân thọ, là hoạt đꢀng của doanh
nghiệp bảo hiểm (DNBH) nhằm mục đích
sinh lợi; theo đó, DNBH chấp nhận rủi ro
của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên
mua bảo hiểm (BMBH) đóng phí bảo hiểm
để DNBH trả tiền bảo hiểm cho người thụ
hưởng hoặc bꢁi thường cho người được bảo
hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm1. Như vậy,
khi DNBH thu phí của BMBH thì DNBH
sẽ phải gánh chịu mꢀt mức trách nhiệm bꢁi
1 Khoản 1 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 đã được sꢃa đổi, bổ sung năm 2010 và năm 2019 (Luật
KDBH).
18
Số 14(438) - T7/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
ý nghĩa quan trọng trong việc phòng, chꢄng
gian lận BHNT hiện nay.
bất hợp pháp khi tham gia vào quan hệ bảo
hiểm (chủ thể có thể là người mua bảo hiểm,
người được bảo hiểm, người thụ hưởng,
DNBH, thậm chí có thể là hành vi gian lận
của đại lý bảo hiểm và doanh nghiệp môi
giới bảo hiểm). Vậy, những hành vi gian lận
xảy ra liên quan đến các nghĩa vụ pháp lý
ràng buꢀc ở giai đoạn tiền hợp đꢁng, giai
đoạn trước khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, hay
giai đoạn giải quyết khiếu nại bꢁi thường
có khả năng không bị truy cứu trách nhiệm
hình sự, liệu có cꢂn phải áp dụng các chế
tài pháp lý cꢂn thiết khác để ngăn ngừa các
hành vi này?
Dưới góc đꢀ ngôn ngữ học, theo Từ điển
Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, gian lận
được hiểu là “hành vi dꢄi trá, mánh khóe,
lừa lọc”2. Dưới góc đꢀ pháp lý, Luật Kinh
doanh bảo hiểm năm 2014 (Luật KDBH)
chưa quy định thế nào là gian lận bảo hiểm
hay gian lận BHNT. Tuy nhiên, Điều 213
Bꢀ luật Hình sự năm 2015 đã được sꢃa đổi,
bổ sung mꢀt sꢄ điều năm 2017 (BLHS)
quy định về tꢀi gian lận trong KDBH (tꢀi
danh mới được bổ sung). Tꢀi gian lận trong
KDBH được BLHS quy định theo hướng
liệt kê, bao gꢁm các hành vi: a) Thông đꢁng
với người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm để
giải quyết bꢁi thường bảo hiểm, trả tiền bảo
hiểm trái pháp luật; b) Giả mạo tài liệu, cꢄ ý
làm sai lệch thông tin để từ chꢄi bꢁi thường,
trả tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm đã
xảy ra; c) Giả mạo tài liệu, cꢄ ý làm sai lệch
thông tin trong hꢁ sơ yêu cꢂu bꢁi thường,
trả tiền bảo hiểm; d) Tự gây thiệt hại về tài
sản, sức khỏe của mình để hưởng quyền lợi
bảo hiểm.
Trước đây, thuật ngữ trục lợi bảo hiểm
đã xuất hiện trong văn bản dưới luật cũng
hướng đến các hành vi lừa dꢄi, mang tính
chất cꢄ ý, nhằm thu lợi bất chính, có ý
nghĩa khá gꢂn gũi với gian lận bảo hiểm.
Khoản 4 Mục V Thông tư sꢄ 31/2004/TT-
BTC3 của Bꢀ Tài chính hướng dẫn thực
hiện Nghị định sꢄ 118/2003/NĐ-CP về xꢃ
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
KDBH quy định: “Trục lợi bảo hiểm là
hành vi cꢄ ý lừa dꢄi của tổ chức, cá nhân
nhằm thu lợi bất chính khi tham gia bảo
hiểm, bꢁi thường bảo hiểm, trả tiền bảo
hiểm và giải quyết khiếu nại bảo hiểm”.
Tuy nhiên, khái niệm “trục lợi bảo hiểm”
không được tiếp tục đề cập trong các văn
bản pháp luật về bảo hiểm hiện hành. Văn
bản xꢃ phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực KDBH cũng thiếu vắng khái niệm
“gian lận” bảo hiểm mà đề cập đến chế tài
xꢃ phạt đꢄi với hành vi gian dꢄi, giả mạo
tài liệu trong hꢁ sơ yêu cꢂu bꢁi thường, trả
tiền bảo hiểm4. Như vậy, có thể thấy rằng,
Quy định trên hướng đến những hành vi
bất hợp pháp nhằm mục đích chiếm đoạt sꢄ
tiền bảo hiểm từ DNBH, hoặc thụ hưởng
quyền lợi bảo hiểm không chính đáng trong
giai đoạn sau khi sự kiện bảo hiểm xảy ra.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hành vi gian lận
trong bảo hiểm có thể xảy ra ở bất kỳ giai
đoạn nào của quá trình giao kết, thực hiện
hợp đꢁng hay khi có sự kiện bảo hiểm xảy
ra, hoặc khi tiến hành yêu cꢂu bꢁi thường
mà chủ thể tiến hành nhằm tìm kiếm lợi ích
2 Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, Nxb. Đà Nẵng, 2003, tr.390.
3 Văn bản pháp luật này đã hết hiệu lực vào 01/7/2016.
4 Xem Điều 14 Nghị định sꢄ 98/2013/NĐ-CP về xꢃ phạt đꢄi với hành vi vi phạm các quy định về bꢁi thường
bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm. Nghị định sꢄ 98/2013/NĐ-CP ngày 28/8/2013 của Chính phủ quy định về xꢃ phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ sꢄ đꢄi với hành vi gian lận bảo hiểm
đã được sꢃa đổi, bổ sung năm 2018, 2019.
Số 14(438) - T7/2021
19
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 14 - Năm 2021", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tap_chi_nghien_cuu_lap_phap_so_14_nam_2021.pdf

