Tình trạng sức khỏe tâm thần ở công nhân nhà máy sản xuất da giầy tại miền nam, Việt Nam bằng bộ câu hỏi Dass 21

Kết quả nghiên cứu KHCN  
TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE TÂM THẦN  
Ở CÔNG NHÂN NHÀ MÁY SẢN XUẤT DA GIẦY TẠI  
MIỀN NAM, VIỆT NAM BẰNG BỘ CÂU HỎI DASS 21  
TS. Phan Minh Trang  
Phân viện Khoa học An toàn vệ sinh lao động và Bảo vệ môi trường miền Nam  
Tóm tắt:  
Việt Nam có hơn 95 triệu dân trong đó có khoảng 34 triệu người ở lứa tuổi 25-40, là lứa tuổi  
khởi phát các triệu chứng tâm lý tâm thần như trầm cảm, rối loạn lo âu và căng thẳng, đặc biệt là  
ở nhóm nữ giới. Ngành công nghiệp da giầy có lực lượng lao động nữ chiếm đa số, đặc điểm lao  
động có tiếp xúc với nhiệt độ cao và hơi dung môi hữu cơ là những yếu tố nguy cơ có liên quan  
đến sự xuất hiện các triệu chứng tâm lý tâm thần. Một nghiên cứu cắt ngang, sử dụng phương  
pháp phỏng vấn trực tiếp dựa vào bảng câu hỏi DASS 21, để thu thập thông tin về các triệu chứng  
tâm thần ở 425 công nhân da giầy tại miền Nam, kết quả nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ công nhân có  
triệu chứng rối loạn tâm lý tâm thần hành vi chiếm 20,3%, trong đó 9,9% công nhân có triệu chứng  
trầm cảm, 17,9% có triệu chứng rối loạn lo âu, và 7,3% có triệu chứng căng thẳng (stress).  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Ngành công nghiệp da giầy ở Việt Nam còn  
khá non trẻ so với một số ngành công nghiệp  
khác, nhưng lại thu hút rất nhiều lao động đặc  
biệt là lao động nữ ở các thành phố lớn điển  
hình như thành phố Hồ Chí Minh. Là ngành công  
nghiệp đã và đang phát triển ngày cành vững  
mạnh, mang lại nguồn lợi nhuận rất cao về kinh  
tế, đồng thời cũng góp phần làm gia tăng tỉ lệ  
bệnh liên quan đến nghề nghiệp. Do ở một số  
công đoạn sản xuất có sử dụng các nguyên liệu  
làm phát sinh nhiệt độ cao, hơi khí độc, cùng với  
điều kiện lao động không thuận lợi đã ảnh  
hưởng không nhỏ đến sức khỏe người lao động.  
Thế nhưng cho đến nay, hầu như chưa có nhiều  
nghiên cứu về gánh nặng sức khỏe tâm lý tâm  
thần của công nhân ngành công nghiệp da giầy  
tại Việt Nam. Do vậy, nghiên cứu và đánh giá rối  
loạn tâm lý tâm thần ở người lao động và các  
yếu tố nguy cơ tại nơi làm việc, nhất là từ môi  
gày nay sức khỏe tâm thần đang trở  
thành yếu tố nguyên nhân hàng đầu  
gây nên tình trạng tàn tật ở con người  
N
và góp phần vào khoảng 40% các nguyên nhân.  
Tỉ lệ trầm cảm toàn cầu được ước tính khoảng  
4,4%, trong đó với trầm cảm ở nữ giới là (5,1%)  
cao hơn nam giới (3,6%) [1]. Từ năm 2005 đến  
2015, bệnh nhân mắc bệnh trầm cảm tăng  
18,4% [2]. Các vấn đề sức khỏe tâm lý tâm thần  
đang ngày càng tăng và trở thành gánh nặng  
bệnh tật tác động đến sự phát triển kinh tế văn  
hóa xã hội tại Việt Nam. Một nghiên cứu về sức  
khỏe tâm thần có liên quan đến 10 bệnh tâm  
thần phổ biến tại Việt Nam được tiến hành năm  
2010 đã cho kết luận rằng, 14,9% dân số  
khoảng 14 triệu người Việt Nam phải chịu đựng  
các vấn đề sức khỏe tâm lý tâm thần như trầm  
cảm, rối loạn lo âu, tâm thần phân liệt, nghiện  
rượu, nghiện thuốc kích thích [3].  
Taïp chí Hoaït ñoäng KHCN An toaøn - Söùc khoûe & Moâi tröôøng lao ñoäng, Soá 1,2&3-2021  
45  
Kết quả nghiên cứu KHCN  
trường lao động trong ngành công nghiệp da  
giầy là rất cần thiết. Điều này cho phép các nhà  
quản lý sức khỏe có thể xây dựng các các  
chương trình nâng cao sức khỏe tâm lý tâm thần  
nhằm bảo vệ dân số có nguy cơ, và cải thiện sức  
khỏe người lao động tại nơi làm việc.  
cảm và rối loạn lo âu ở công nhân; và các biến số  
khác như tuối, giới, tình trạng gia đình, học vấn,...  
Biến số về sức khỏe tâm lý tâm thần được  
thu thập bằng phỏng vấn sàng lọc ở công nhân  
bằng bộ câu hỏi DASS 21 được chuẩn hóa tiếng  
Việt. DASS 21 đo đạc mức độ về trầm cảm, rối  
loạn lo âu, và stress trên cộng đồng, là những  
dấu hiệu xuất hiện trong tuần trước khi được  
phỏng vấn, gồm 4 mức độ điểm tương ứng từ  
nhẹ đến nặng với các mức độ rối loạn mà người  
được hỏi cảm nhận (6). Trầm cảm được ghi  
nhận về sự tuyệt vọng, mất ý nghĩa cuộc sống,  
giảm khả năng, và cạn kiệt năng lượng ; rối loạn  
lo âu được đánh giá qua các hoạt động thể chất,  
các triệu chứng thực thể có liên quan đến hoạt  
động tự nhiên của cơ thể về sinh lý học như khó  
thở, ra mồ hôi tay, … ; và stress cũng được đo  
kiểm qua các dấu hiệu mãn tính như trải qua sự  
căng thẳng, mất khả năng kiểm soát, hoặc bối  
rối lo sợ.  
Bộ câu hỏi DASS 21 là một trong những thử  
nghiệm để sàng lọc các triệu chứng tâm lý tâm  
thần trong cộng đồng phổ biến tại nhiều quốc gia  
trên thế giới, trong đó có các quốc gia Đông Nam  
Á như Indonesia, Malaysia, Thái Lan [4],[5]. Việt  
Nam cho đến nay đã ứng dụng rộng rãi bộ DASS  
21 để đánh giá sàng lọc stress, trầm cảm, rối  
loạn lo âu [6]. Theo báo cáo của nhóm nghiên  
cứu chuẩn hóa bộ DASS 21 bản Việt hóa kết  
luận rằng, bộ công cụ có độ tin cậy khá cao được  
thể hiện trong nghiên cứu về tình trạng rối loạn  
sức khỏe tâm thần ở nữ giới tại các vùng nông  
thôn phía Bắc, với Cronbach’s alpha từ 0,70 đến  
0,77 thuộc 3 mức độ và 0,88 cho toàn mẫu [7].  
Với mục tiêu ước tính tỉ lệ rối loạn tâm lý tâm  
thần bao gồm trầm cảm, rối loạn lo âu, và stress  
ở công nhân ngành công nghiệp da giầy tại miền  
Nam, Việt Nam, trong nghiên cứu này bộ công cụ  
DASS 21 được sử dụng để sàng lọc chẩn đoán  
các triệu chứng tâm thần ở người lao động.  
3. KẾT QUẢ VỀ SỨC KHỎE TÂM LÝ TÂM  
THẦN Ở CÔNG NHÂN NHÀ MÁY DA GIẦY  
3.1. Đặc điểm về dân số nghiên cứu  
Bảng 1. Đặc điểm nhóm công nhân được chọn  
vào mẫu nghiên cứu  
2. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN  
ĈһF ÿLӇm  
Tҫn sӕ (tӍ lӋ%)  
2.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
Tәng sӕ công nhân  
425  
Giӟi tính  
Thiết kế nghiên cứu: theo phương pháp điều  
tra mô tả cắt ngang, được tiến hành năm 2019.  
Nӳ  
Nam  
399 (93,9%)  
26 (6,1%)  
32 8,2  
Dựa theo một nghiên cứu cắt ngang được  
tiến hành tại miền Bắc, Việt Nam năm 2012 với  
420 công nhân đang làm việc trong ngành công  
nghiệp giầy, có 18,8% công nhân có dấu hiệu  
trầm cảm (8). Do vậy, chọn p = 18,8%, d = 0,05,  
Tuәi trung bình (năPꢀ  
Tình trҥng hôn nhân  
Ĉӝc thân  
208 (44,24%)  
222 (52,24%)  
14 (3,29%)  
1 (0,24%)  
KӃt hôn  
Li dӏ  
Góa  
2
2
α = 5% →Z  
=1,96 → n = Z  
p(1-  
1-α/2  
(1 -α/2)  
2
p)/d = 235. Như vậy, tổng số mẫu tối thiểu cần  
được nghiên cứu là 235 công nhân. Trên thực  
tế, đề tài đã chọn toàn bộ 425 công nhân của  
các phân xưởng thuộc nhà máy giầy tại thành  
phố Hồ Chí Minh vào mẫu nghiên cứu.  
Trình ÿӝ hӑc vҩn  
Mù chӳ  
Cҩp 1  
Cҩp 2  
86 (20,23%)  
111 (26,12%)  
138 (32,47%)  
85 (20%)  
Cҩp 3  
Thu thập thông tin và tính tỉ lệ hiện mắc các  
triệu chứng tâm lý tâm thần bao gồm stress, trầm  
&DR ÿҷng  
5 (1,18%)  
Taïp chí Hoaït ñoäng KHCN An toaøn - Söùc khoûe & Moâi tröôøng lao ñoäng, Soá 1,2&3-2021  
46  
Kết quả nghiên cứu KHCN  
Kết quả nghiên cứu được thực hiện vào năm  
2019 trên 425 công nhân có độ tuổi trung bình là  
32 8,22 trong khoảng tuổi từ 18 đến 53. Trong  
đó, có 93,88% công nhân nữ và 6,12% công nhân  
nam cùng với 57,69% công nhân đã lập gia đình.  
Ngoài ra, 1,88% công nhân không được đi học,  
18,35% học cấp 1, 26,12% học cấp 2, 32,47%  
học cấp 3, và 21,18% học trung cấp và cao đẳng.  
Công nhân ở nhóm tuổi trên 40 có tỉ lệ xuất  
hiện các triệu chứng tâm thần cao hơn nhóm công  
nhân từ 18-40 tuổi. Những người lao động có trình  
độ học vấn cấp 1 hay đã kết hôn thì có các triệu  
chứng tâm thần cao hơn các nhóm khác (Bảng 3).  
4. BÀN LUẬN  
Nghiên cứu được tiến hành vào năm 2019 với  
công cụ thu thập số liệu là bộ câu hỏi DASS 21  
được chuẩn hóa tiếng Việt. Bằng phương pháp  
phỏng vấn trực tiếp 425 công nhân đang làm việc  
tại nhà máy sản xuất da giầy thuộc khu vực miền  
Nam, Việt Nam. Thông tin từ (Bảng 1) cho thấy  
rằng công nhân có độ tuổi trung bình là 32 8,2  
trong khoảng tuổi từ 18 đến 53 bao gồm 93,88%  
công nhân nữ và 6,12% công nhân nam, cùng  
với 57,69% công nhân đã lập gia đình.  
3.2. Tỉ lệ của các triệu chứng rối loạn tâm lý  
tâm thần ở công nhân tham gia nghiên cứu  
Sau khi phỏng vấn bằng bộ câu hỏi DASS 21,  
kết quả cho thấy, tỉ lệ công nhân có các triệu chứng  
về rối loạn tâm lý tâm thần chiếm 20,3%, trong đó  
công nhân có triệu chứng trầm cảm chiếm 9,9%,  
có triệu chứng rối loạn lo âu chiếm 17,9%, có triệu  
chứng stress chiếm 7,3% (Bảng 2).  
Bảng 2. Tỉ lệ xuất hiện các triệu chứng tâm thần  
Sau khi phỏng vấn trực tiếp công nhân bằng  
bộ câu hỏi DASS 21, kết quả thể hiện công nhân  
có các triệu chứng về sức khỏe tâm lý tâm thần  
chiếm 20,3% bao gồm công nhân có triệu chứng  
trầm cảm chiếm 9,9%, và có triệu chứng rối loạn  
lo âu chiếm 17,9% (Bảng 2). Khi so sánh kết quả  
nghiên cứu với các nghiên cứu khác trên thế giới  
và Việt Nam cũng gợi ý rằng tỉ lệ trầm cảm và rối  
loạn lo âu ở công nhân cao hơn dân số chung.  
ở công nhân tham gia nghiên cứu  
TriӋu chӭng rӕi loҥn sӭc  
khӓe tâm thҫn  
Tҫn sӕ  
TӍ lӋ (%)  
TriӋu chӭng tâm thҫn chung  
Trҫm cҧm  
Rӕi loҥn lo âu  
Stress  
87  
42  
76  
31  
20,3  
9,9  
17,9  
7,3  
Bảng 3. Tỉ lệ xuất hiện các triệu chứng tâm thần ở công nhân được phân loại theo tuổi, trình độ học  
vấn, và tình trạng hôn nhân  
Tuәi  
TӍ lӋ công nhân  
Stress (%)  
Trҫm cҧm (%)  
Rӕi loҥn lo âu (%)  
Tuәi 18 - 40  
Tuәi trên 40  
1,2  
3,3  
3,4  
6,1  
6,6  
14,5  
Trình ÿӝ hӑc vҩn  
Mù chӳ  
1,9  
3,1  
Cҩp 1  
4,24  
3,3  
5,2  
Cҩp 2  
0,24  
1,6  
Cҩp 3  
0,92  
1,9  
Ĉҥi hӑc  
Stress (%)  
Trҫm cҧm (%)  
Rӕi loҥn lo âu (%)  
0
0
0,4  
3,8  
4
4,5  
Tình trҥng hôn nhân  
Ĉӝc thân  
KӃt hôn  
5,2  
6,3  
Ly dӏ  
0,5  
0,7  
1
Góa  
0
0
Stress (%)  
Trҫm cҧm (%)  
Rӕi loҥn lo âu (%)  
1,6  
2,9  
8
8,9  
0
Taïp chí Hoaït ñoäng KHCN An toaøn - Söùc khoûe & Moâi tröôøng lao ñoäng, Soá 1,2&3-2021  
47  
Kết quả nghiên cứu KHCN  
Điều này có thể do góp phần của yếu tố nguyên  
nhân liên quan đến nghề nghiệp như tiếp xúc  
dung môi hữu cơ, nhiệt độ cao, ồn,... làm tăng  
nguy cơ về rối loạn tâm lý tâm thần hành vi ở  
công nhân trong đó có các biểu hiện về trầm cảm  
và rối loạn lo âu [1]. Tại Việt Nam, một nghiên  
cứu quốc gia dựa vào cộng đồng ở nhóm tuổi từ  
14 – 25, kết quả cho thấy có đến 32% đối tượng  
có cảm giác buồn trong cuộc sống, trong số đó  
25% đối tượng cảm thấy quá buồn và tuyệt vọng  
với cuộc sống của mình không muốn hòa nhập  
với cuộc sống thật với những hoạt động thường  
ngày [9]. Trong nghiên cứu này, nhóm công nhân  
trên 40 có các triệu chứng tâm thần cao hơn  
nhóm công nhân có tuổi từ 18-40. Ngoài ra,  
những người có trình độ học vấn cấp 1 hay nhóm  
lao động đã kết hôn thì xuất hiện các triệu chứng  
tâm thần cao hơn các nhóm lao động khác (Bảng  
3). Điều này có thể một phần được giải thích bởi  
số lượng công nhân ở nhóm học cấp 1 hay công  
nhân đã lập gia đình chiếm tỉ lệ cao nhất trong  
dân số nghiên cứu được khảo sát.  
tôi có tỉ lệ trầm cảm ở công nhân cao hơn so với  
nghiên cứu tại Hoa kỳ với tỉ lệ trầm cảm từ 7%  
đến 9,9%. Trầm cảm ở công nhân sẽ ảnh hưởng  
không chỉ đến sức khỏe, chất lượng cuộc sống  
mà còn ảnh hưởng đến năng suất lao động và dễ  
bị chấn thương trong quá trình lao động. Tuy  
nhiên, kết quả nghiên cứu này thấp hơn kết quả  
nghiên cứu gần đây ở Hải Phòng, Việt Nam năm  
2012 với cỡ mẫu 420 công nhân ngành giầy đã  
cho thấy, có khoảng 18,8% công nhân có tỉ lệ  
hiện mắc bệnh trầm cảm và các yếu tố nghi ngờ  
liên quan đến trầm cảm này bao gồm các yếu tố  
nguy cơ liên quan đến tổ chức và cường độ lao  
động [8]. Nghiên cứu tại Hải Phòng vẫn chưa báo  
cáo về mối liên quan giữa trầm cảm và các yếu  
tố nguy cơ từ môi trường lao động. Kết quả  
nghiên cứu hiện tại cũng thấp hơn rất nhiều so  
với nghiên cứu tại Trung Quốc [14],[15]. Các  
nghiên cứu về sức khỏe tâm thần tại Trung quốc  
xuất hiện cả hai khu vực sản xuất với quy mô lớn,  
quy mô vừa và nhỏ, trong đó ở khu vực sản xuất  
vừa và nhỏ có tỉ lệ mắc bệnh tâm thần cao hơn.  
Các vấn đề sức khỏe tâm thần trong cộng đồng  
người lao động ở 6 tỉnh của Trung Quốc cho thấy  
tỉ lệ trầm cảm chiếm 50% trong công nhân [14].  
Báo cáo cũng kết luận rằng, môi trường lao động  
góp phần không nhỏ là yếu tố nguy cơ gây bệnh  
trầm cảm như công nhân phải tiếp xúc với các  
yếu tố nguy cơ vật lý, hóa học trong môi trường  
lao động tại nơi làm việc [14],[15].  
Trong lĩnh vực sức khỏe nghề nghiệp, những  
vấn đề sức khỏe của người lao động có liên quan  
đến tâm lý tâm thần liên quan đến nghề nghiệp,  
thường được xem như gánh nặng tinh thần có  
liên quan đến nghề nghiệp hay còn gọi là gánh  
nặng nghề nghiệp. Một trong những yếu tố  
nguyên nhân có liên quan đến gánh nặng nghề  
nghiệp là môi trường lao động nghèo nàn như  
nhiệt độ cao, hơi hoá chất độc hại, bụi, ồn,... mà  
công nhân phải phơi nhiễm. Đối với người lao  
động những vấn đề sức khỏe tâm thần sẽ làm  
giảm khả năng lao động nổi bật là trầm cảm,  
nghiện rượu, rối loạn lo âu là thường gặp nhất  
[10]. Một số nghiên cứu trong lĩnh vực sức khỏe  
môi trường và nghề nghiệp tại Australia và một  
số quốc gia vùng Đông Nam Á như Việt Nam  
cũng chứng minh rằng, việc tiếp xúc với môi  
trường lao động nóng sẽ gây ra sự giảm sút về  
năng suất lao động, mất thu nhập, và ảnh hưởng  
đến các hoạt động xã hội sinh hoạt thường ngày  
của người lao động [11],[12]. Ở Mỹ, trường đại  
học Harvard đã nghiên cứu cho thấy có khoảng  
6,4% công nhân có dấu hiệu trầm cảm trong dân  
số lao động [13]. Kết quả nghiên cứu của chúng  
5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
Như vậy tỉ lệ trầm cảm, stress và rối loạn lo âu  
ở công nhân ngành công nghiệp da giầy trong  
nghiên cứu này cao hơn ước tính trong dân số  
chung tại Việt Nam là khoảng 5% [9]. Vì đây là  
ngành công nghiệp có dân số lao động rất đông  
chiếm khoảng 2,5 triệu công nhân và chủ yếu là  
lao động nữ, do vậy cần xây dựng các chương  
trình nâng cao sức khỏe tinh thần tại nơi làm  
việc, chẩn đoán sớm các triệu chứng tâm lý tâm  
thần cho công nhân theo định kỳ, nhằm phát hiện  
và điều trị sớm cho người lao động. Điều này sẽ  
giúp hạn chế tối đa sự xuất hiện các triệu chứng  
mãn tính hay nặng hơn các rối loạn tâm thần như  
stress, trầm cảm, rối loạn lo âu để nâng cao chất  
Taïp chí Hoaït ñoäng KHCN An toaøn - Söùc khoûe & Moâi tröôøng lao ñoäng, Soá 1,2&3-2021  
48  
Kết quả nghiên cứu KHCN  
lượng sức khỏe cho công nhân, đồng thời nâng  
cao năng suất lao động và hạn chế tai nạn lao  
động cho công nhân ngành da giầy nói riêng và  
các ngành công nghiệp nói chung.  
Vietnamese women, BMC psychiatry; 13:24.  
[8]. Minh KP (2014), Work-related depression  
and associated factors in a shoe manufacturing  
factory in Haiphong City, Vietnam. International  
journal of occupational medicine and environ-  
mental health; 27(6):950-8.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[9]. Vuong DA, Van Ginneken E, Morris J, Ha ST,  
Busse R. (2011), Mental health in Vietnam:  
Burden of disease and availability of services.  
Asian journal of psychiatry; 4(1):65-70.  
[1]. WHO (2017), Depression and Other  
Common Mental Disorders - Global Health  
Estimates, Cited by 20 Nov 2017.  
[2]. Global, regional, and national incidence,  
prevalence, and years lived with disability for 310  
diseases and injuries, 1990-2015: a systematic  
analysis for the Global Burden of Disease Study  
2015. Lancet. 2016;388(10053):1545-602.  
[10]. Sanderson K, Andrews G (2006), Common  
mental disorders in the workforce: recent find-  
ings from descriptive and social epidemiology,  
Canadian journal of psychiatry Revue canadi-  
enne de psychiatrie; 51(2):63-75.  
[3]. Marcus M, Yasamy MT, van Ommeren M,  
Chisholm D, Saxena S (2012), Depression a global  
public health concern, WHO Department of Mental  
Health and Substance Abuse. Geneva, Switzerland:  
World Federation for Mental Health; pp. 1418.  
[cited 11 March 2015].  
[11]. McInnes JA, MacFarlane EM, Sim MR,  
Smith P. (2018), The impact of sustained hot  
weather on risk of acute work-related injury in  
Melbourne, Australia, International journal of bio-  
meteorology; 62(2):153-63.  
[12]. Kjellstrom T, Lemke B, Otto M. (2017),  
Climate conditions, workplace heat and occupa-  
tional health in South-East Asia in the context of  
climate change, WHO South-East Asia journal of  
public health; 6(2):15-21.  
[4]. Rao S, Ramesh N. (2015), Depression, anx-  
iety and stress levels in industrial workers: A pilot  
study in Bangalore, India, Industrial psychiatry  
journal; 24(1):23-8.  
[13]. Kessler RC, Akiskal HS, Ames M, Birnbaum  
H, Greenberg P, Hirschfeld RM, et al. (2006),  
Prevalence and effects of mood disorders on  
work performance in a nationally representative  
sample of U.S. workers, The American journal of  
psychiatry; 163(9):1561-8.  
[5]. Ratanasiripong P, Kaewboonchoo O, Bell E,  
Haigh C, Susilowati I, Isahak M, et al. (2016),  
Depression, Anxiety and Stress among Small  
and Medium Enterprise Workers in Indonesia,  
Malaysia, Thailand, and Vietnam, 13-29 p.  
[6]. Ratanasiripong PK, Orawan & Bell, Edith &  
Haigh, Charlotte & Susilowati, Indri & Isahak,  
Marzuki & Harncharoen, Kitiphong & Nguyen, Toai  
& Low, Wah Yun. (2016), Depression, Anxiety and  
Stress among Small and Medium Enterprise  
Workers in Indonesia, Malaysia, Thailand, and  
Vietnam, International Journal of Occupational  
Health & Public Health Nursing. 3. 13-29.  
[14]. Zeng Z, Guo Y, Lu L, Han L, Chen W, Ling  
L (2014), Mental health status and work environ-  
ment among workers in small- and medium-  
sized enterprises in Guangdong, China-a cross-  
sectional survey, BMC public health; 14:1162.  
[15]. Ren F, Yu X, Dang W, Niu W, Zhou T, Lin Y,  
et al. (2018), Depressive symptoms in Chinese  
assembly-line migrant workers: A case study in  
the shoe-making industry. Asia-Pacific psychia-  
try: official journal of the Pacific Rim College of  
Psychiatrists; :e12332.  
[7]. Tran TD, Tran T, Fisher J. (2013), Validation of  
the depression anxiety stress scales (DASS) 21 as  
a screening instrument for depression and anxiety  
in a rural community-based cohort of northern  
Taïp chí Hoaït ñoäng KHCN An toaøn - Söùc khoûe & Moâi tröôøng lao ñoäng, Soá 1,2&3-2021  
49  
pdf 5 trang Thùy Anh 9900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tình trạng sức khỏe tâm thần ở công nhân nhà máy sản xuất da giầy tại miền nam, Việt Nam bằng bộ câu hỏi Dass 21", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftinh_trang_suc_khoe_tam_than_o_cong_nhan_nha_may_san_xuat_da.pdf