Hoạt động bào chữa của chủ thể gỡ tội tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA CỦA CHỦ THỂ GỠ TỘI
TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ1
NGUYỄN THỊ MAI*
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thường có sự góp mặt đông đủ nhất của
những chủ thể tiến hành tố tụng cũng như chủ thể tham gia tố tụng. Do đó, các chức năng
trong tố tụng hình sự cũng được thể hiện một cách đậm nét. Bài viết làm rõ về hoạt động
bào chữa của chủ thể gỡ tội tại phiên tòa hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật hiện
hành, một số vấn đề thực tiễn cũng như giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động bào
chữa của chủ thể gỡ tội tại phiên tòa.
Từ khóa: Tranh tụng, chủ thể gỡ tội, phiên tòa xét xử sơ thẩm.
Ngày nhận bài: 08/6/2021; Biên tập xong: 14/6/2021; Duyệt đăng: 22/6/2021
That there are enough procedure-conducting and procedure-participating persons
at the first-instance criminal trial leads to clear demonstration of the functions in
criminal proceedings. The article clarifies the defense activities of acquiꢁal subjects
at the first-instance criminal trial under current legal provisions, practical issues and
solutions to improve the quality of that activity.
Keywords: Litigation, acquiꢁal subjects, first-instance trial.
1. Cơ sở bảo đảm hoạt động bào chữa của thể trở thành người bào chữa cho người bị
chủ thể tranh tụng gỡ tội
buộc tội gồm: Luật sư, người đại diện của
“Quyền bào chữa là quyền tố tụng xuất hiện người bị buộc tội, bào chữa viên nhân dân, trợ
trên cơ sở thực hiện một trong những chức năng giúp viên pháp lý đối với đối tượng bị buộc
cơ bản của tố tụng hình sự, chỉ thuộc ngưꢀi bị tội được trợ giúp pháp lý theo Luật trợ giúp
buộc tội”2, bao gồm “tất cả các quyền mà pháp pháp lý. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm
luật quy định để ngưꢀi bị buộc tội chống lại sự cho người bị buộc tội thực hiện quyền bào
buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Thực chữa nên nếu thuộc những trường hợp quy
hiện quyền bào chữa của ngưꢀi bị buộc tội là điều định tại Điều 76 BLTTHS năm 2015 mà người
kiện cần thiết để cơ quan có thẩm quyền tiến hành bị buộc tội, người đại diện, người thân thích
tố tụng xử lý vụ án đúng ngưꢀi, đúng tội, đúng của họ không mời người bào chữa thì cơ quan
pháp luật”3. Theo quy định tại Điều 16 Bộ luật có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu
tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015, quyền các cơ quan có trách nhiệm cử người bào chữa
bào chữa của người bị buộc tội gồm quyền tự cho họ. Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, việc bảo
bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa, đảm cho bị cáo thực hiện quyền bào chữa là
hai quyền này song song tồn tại, không loại hết sức quan trọng. Chủ thể thực hiện chức
trừ, phủ định lẫn nhau. Trong trường hợp năng bào chữa là một bên thực hiện hoạt động
người bị buộc tội nhờ người bào chữa thì họ tranh tụng; do đó, ngoài sự có mặt của bị cáo
vẫn có quyền tự bào chữa. Những người có thì sự có mặt của người bào chữa tại phiên tòa
để bào chữa cho bị cáo sꢁ góp phần bảo đảm
1ꢀ Nghiên cứu này được thực hiện trong khuôn khổ
quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, hạn chế
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở: “Chủ thể tranh
tình trạng oan, sai. Để đáp ứng yêu cầu đặt ra
tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” tại
đối với việc bảo đảm quyền con người, việc
Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2021.
bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc
tội là hết sức cần thiết và cũng góp phần bảo
2ꢀ Nguyễn Văn Tuân (2015), Một số vấn đề về luật tố
tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 37.
3ꢀ Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật
tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà
Nội, tr. 48.
* Thạc sĩ, Giảng viên Trường Đại học Luật Hà Nội
Số 03 - 2021
Khoa học Kiểm sát 37
HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA CỦA CHỦ THỂ GỠ TỘI...
đảm hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử người bào chữa. Cụ thể, chủ thể gỡ tội tại
sơ thẩm vụ án hình sự.
phiên tòa gồm bị cáo, người bào chữa được
thực hiện những hoạt động sau:
Chủ thể thực hiện chức năng gỡ tội gồm
người bào chữa và bị cáo. Trên thực tế, các
chủ thể này sꢁ thực hiện hoạt động bào chữa
với mục đích xác định sự vô tội hoặc làm giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Cơ sở
phát sinh hoạt động bào chữa là quyền bào
chữa của người bị buộc tội và ngược lại, hoạt
động bào chữa là phương thức để người bị
buộc tội và người bào chữa thực hiện quyền
bào chữa của người bị buộc tội. Quyền bào
chữa là quyền cơ bản của con người, của
công dân trong tố tụng hình sự, đó là tổng thể
các quyền mà pháp luật quy định, cho phép
người bị buộc tội có thể sử dụng nhằm bác bỏ
một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội và giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự4. Trong quá trình
giải quyết vụ án hình sự, đặc biệt là khi tranh
tụng tại phiên tòa, hoạt động bào chữa phải
được bảo đảm thực hiện nhằm bảo vệ quyền
con người, quyền bình đẳng trước pháp luật.
Nếu quá trình tố tụng chỉ thể hiện vai trò áp
đặt của Nhà nước đối với người bị buộc tội
thông qua hoạt động buộc tội hay xét xử của
Viện kiểm sát và Tòa án thì sꢁ dẫn tới tình
trạng cả hệ thống tố tụng hình sự sꢁ trở thành
hệ thống buộc tội. Với tư cách là quyền cơ bản
hiến định của công dân, quyền bào chữa bắt
buộc các cơ quan tiến hành tố tụng phải tạo
cơ hội để chức năng bào chữa được thực hiện
một cách thuận lợi. Các cơ quan tiến hành tố
tụng cũng phải tôn trọng và bảo đảm quyền
bào chữa của bị can, bị cáo.
- Bị cáo được nghe Kiểm sát viên công bố
bản cáo trạng, được trình bày ý kiến về việc
bản cáo trạng tại phiên tòa có giống như bản
cáo trạng bị cáo đã được nhận hay không.
Nếu có những nội dung không giống hoặc có
những nội dung Kiểm sát viên bổ sung gây
bất lợi cho bị cáo thì bị cáo trình bày để Hội
đồng xét xử xem xét.
- Bị cáo trả lời các câu hỏi của chủ tọa
phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát
viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự. Bị cáo trả
lời câu hỏi cũng chính là bị cáo đang thể hiện
nhận thức, quan điểm về hành vi mà mình đã
thực hiện. Việc bị cáo trả lời trung thực, đúng
đắn và chi tiết về hành vi cũng có thể được coi
là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bên
cạnh đó, tại phiên tòa, bị cáo cũng có quyền
không trả lời các câu hỏi (quyền im lặng);
nếu được chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo có
thể hỏi bị cáo khác, hỏi bị hại, đương sự hoặc
người đại diện của họ, hỏi người làm chứng
về các vấn đề có liên quan đến bị cáo.
- Bị cáo, người bào chữa có quyền trình
bày, nêu ý kiến về các hoạt động mà Hội đồng
xét xử thực hiện tại phiên tòa; người bào chữa
có quyền tiến hành xét hỏi.
- Bị cáo, người bào chữa trình bày lời bào
chữa, có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng
cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp với quan
điểm buộc tội của Kiểm sát viên.
Nhằm bảo đảm tốt nhất hoạt động bào
chữa của chủ thể gỡ tội, BLTTHS năm 2015
đã có những quy định cụ thể về việc bị cáo,
người bào chữa có quyền yêu cầu triệu tập
người tham gia tố tụng tại phiên toà, xuất
trình tài liệu, đồ vật hoặc một số quyền
yêu cầu khác như hoãn phiên toà, xem xét
chứng cứ, đề nghị thay đổi người tiến hành
tố tụng… Các quyền này cũng nhằm phục
vụ hoạt động tranh tụng gỡ tội của bị cáo,
2. Thực tiễn hoạt động bào chữa của chủ
thể gỡ tội tại phiên tòa sơ thẩm
Chủ thể thực hiện chức năng bào chữa (gỡ
tội) cho bị cáo tại phiên tòa có thể là Luật sư,
bào chữa viên nhân dân, người đại diện của
bị cáo, trợ giúp viên pháp lý. Trên thực tế, việc
thống kê, báo cáo về sự tham gia của bào chữa
viên nhân dân, người đại diện của bị cáo, trợ
giúp viên pháp lý không được thực hiện đầy
đủ mà chủ yếu dựa trên báo cáo của Liên
đoàn Luật sư. Nhìn chung, trong tất cả phiên
tòa có sự có mặt của Luật sư bào chữa thì Luật
sư đều chủ động, tích cực tham gia bào chữa
4ꢀ Hoàng Thị Sơn (2003), Thực hiện quyền bào chữa của
bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự, Luận án Tiến sĩ Luật
học, tr. 14.
38 Khoa học Kiểm sát
Số 03 - 2021
NGUYỄN THỊ MAI
cho bị cáo, chủ động tranh luận, đối đáp với tố tụng được triệu tập, phổ biến quyền, nghĩa
vụ cho họ, xem xét về việc có cần thay đổi
người tiến hành tố tụng nào không để đảm
bảo tính vô tư, khách quan khi giải quyết vụ
án… Việc thực hiện thủ tục bắt đầu phiên tòa
đầy đủ, tuân theo các quy định của pháp luật
sꢁ góp phần đảm bảo chất lượng hoạt động
tranh tụng. Có nhiều trường hợp, Luật sư đã
phát hiện được căn cứ đề nghị thay đổi Thẩm
phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư kí hoặc
người phiên dịch, người dịch thuật… Khi xem
xét về sự có mặt của những người tham gia tố
tụng được triệu tập, có trường hợp Luật sư
đã kịp thời đề xuất triệu tập người làm chứng
vắng mặt, triệu tập thêm người làm chứng.
Trường hợp bị cáo đã nhận được quyết định
đưa vụ án ra xét xử nhưng chưa đủ thời gian
tối thiểu mà pháp luật quy định, Luật sư cũng
kịp thời đề nghị hoãn phiên tòa để bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo.
Ví dụ, khi chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo về
việc đã được giao nhận quyết định đưa vụ án
ra xét xử hay chưa, nếu bị cáo trả lời đã được
nhận; chủ tọa hỏi tiếp bị cáo đã được nhận
cách đây bao nhiêu ngày, nếu số ngày bị cáo
trả lời là dưới 10 ngày tức là không đáp ứng
số ngày tối thiểu mà pháp luật quy định. Lúc
này, Luật sư bào chữa cho bị cáo hoàn toàn có
quyền đề nghị hoãn phiên tòa để bảo đảm số
ngày tối thiểu bị cáo nhận được quyết định
đưa vụ án ra xét xử trước ngày mở phiên tòa
như BLTTHS năm 2015 quy định.
Khi tiến hành thủ tục bắt đầu phiên tòa,
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa bắt buộc phải
phổ biến quyền, nghĩa vụ cho bị cáo nhưng
nếu tại phiên tòa, bị cáo không được phổ biến
thì Luật sư bào chữa có quyền đề nghị chủ tọa
phải phổ biến vì chỉ khi bị cáo đã nắm được
quyền, nghĩa vụ mới bảo đảm các lợi ích hợp
pháp cho bị cáo. Nếu chủ tọa không hỏi bị cáo
về việc có đề nghị thay đổi người tiến hành
tố tụng, người phiên dịch, người dịch thuật,
người giám định thì Luật sư bào chữa đề nghị
cho bị cáo được thực hiện các quyền này.
Như vậy, mặc dù trong thủ tục bắt đầu
phiên tòa, hoạt động tranh tụng chưa diễn
ra nhưng vai trò của người bào chữa đã
Kiểm sát viên. Tại một số phiên tòa, Luật sư
đề xuất Hội đồng xét xử trả hồ sơ cho Viện
kiểm sát để điều tra bổ sung, làm rõ thêm các
tình tiết có liên quan đến vụ án. Hầu hết các
quan điểm bào chữa đều đề nghị Hội đồng
xét xử xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đề nghị cho bị
cáo được hưởng khoan hồng. Điều này đã thể
hiện được trình độ chuyên môn cũng như đạo
đức, trách nhiệm nghề nghiệp của Luật sư khi
tham gia bào chữa tại phiên tòa sơ thẩm.
Thông qua các báo cáo của Liên đoàn
Luật sư, có thể thấy số lượng các đoàn Luật
sư và đội ngũ Luật sư ngày càng phát triển.
Liên đoàn Luật sư được thành lập vào tháng
5/2009 với hơn 5.000 Luật sư, đến năm 2018
đã có 12.821 Luật sư hành nghề tại hơn 4.000
tổ chức hành nghề Luật sư, đến năm 2019 số
Luật sư thành viên đã lên tới 13.859 người5.
Cũng trong năm 2018, tổng số vụ án có Luật
sư tham gia bào chữa là 12.450 vụ, tổng số vụ
án đưa ra xét xử là 61.699 vụ (số vụ án có Luật
sư tham gia bào chữa chiếm 20,18%); năm
2019, tổng số vụ án có Luật sư tham gia bào
chữa là 12.728 vụ, tổng số vụ án đưa ra xét
xử là 61.850 vụ (số vụ án có Luật sư tham gia
bào chữa chiếm 20,59%). Số lượng vụ án có
Luật sư tham gia bào chữa, gỡ tội cho bị cáo
ngày càng tăng không chỉ thể hiện nhu cầu
của xã hội (của người bị buộc tội) đối với dịch
vụ bào chữa ngày càng phát triển, vai trò của
người bào chữa được nâng cao mà còn giúp
cho chất lượng tranh tụng, chất lượng xét xử
vụ án được bảo đảm.
2.1. Thực tiễn hoạt động của Luật sư trong
phần thủ tục bắt đầu phiên tòa
Trong thủ tục bắt đầu phiên tòa chưa có
hoạt động tranh tụng của các chủ thể, tuy
nhiên đây là tiền đề quan trọng để hoạt động
tranh tụng có thể diễn ra một cách công bằng,
bình đẳng giữa các bên. Bởi lꢁ, trong phần thủ
tục bắt đầu phiên tòa, chủ tọa phiên tòa phải
kiểm tra sự có mặt của những người tham gia
5ꢀ Báo cáo tổ chức, hoạt động các năm 2018, 2019 của
Liên đoàn Luật sư Việt Nam.
Số 03 - 2021
Khoa học Kiểm sát 39
HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA CỦA CHỦ THỂ GỠ TỘI...
được thể hiện một cách rõ nét. Nhờ sự có vẫn phải bảo đảm có lợi cho bị cáo. Trong
mặt của người bào chữa với những đề xuất, quá trình hỏi, đa số Luật sư đều sử dụng rất
yêu cầu kịp thời mà quyền và lợi ích hợp đa dạng các loại câu hỏi như câu hỏi đóng,
pháp của bị cáo tại phiên tòa được bảo đảm, câu hỏi mở, câu hỏi mang tính đối chất… Từ
những người tiến hành tố tụng tại phiên tòa câu trả lời của bị cáo hoặc những người tham
không thuộc trường hợp phải từ chối hoặc gia tố tụng khác, Luật sư bào chữa sꢁ củng cố
bị thay đổi, có đủ những người tham gia tố thêm các căn cứ gỡ tội, căn cứ giảm nhẹ trách
tụng cần thiết. Đây sꢁ là tiền đề quan trọng nhiệm hình sự cho bị cáo.
cho hoạt động tranh tụng diễn ra một cách
Tuy nhiên, vẫn không tránh được trường
chất lượng, đáp ứng được yêu cầu về tăng hợp Luật sư hỏi lặp lại các vấn đề đã được
cường tranh tụng trong xét xử mà công cuộc làm sáng tỏ. Thậm chí, có trường hợp Luật sư
cải cách tư pháp đã đặt ra.
đặt câu hỏi quá phức tạp, không phù hợp với
Bên cạnh đó, trong một số vụ án, mặc dù trình độ hiểu biết của bị cáo dẫn đến bị cáo
người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên trả lời theo hướng bất lợi. Trong một số phiên
tòa nhưng vẫn để xảy ra những sai sót nhất tòa có phát sinh những tình huống mới chưa
định trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa. được dự liệu trước, có những Luật sư vẫn còn
Có những phiên tòa tuy Thẩm phán chủ tọa tỏ ra lúng túng trong việc đặt câu hỏi hoặc
phiên tòa thực hiện chưa đầy đủ trình tự, thủ nhận thức về vấn đề còn thiếu thống nhất.
tục tố tụng mà pháp luật quy định nhưng
2.3. Thực tiễn hoạt động tranh tụng của
người bào chữa không phát hiện được. Một Luật sư khi tiến hành tranh luận tại phiên tòa
số trường hợp khác, mặc dù sự có mặt của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
người làm chứng, bị hại, người giám định…
Khi các bên buộc tội, gỡ tội tiến hành
tại phiên tòa là rất quan trọng, chỉ khi những tranh luận, đối đáp là thể hiện hoạt động
chủ thể này có mặt tại phiên tòa thì các tình tranh tụng đã lên đến đỉnh điểm. Lúc này,
tiết có liên quan đến vụ án mới được làm rõ Luật sư bào chữa phải trình bày bản luận cứ,
nhưng Hội đồng xét xử lại tiến hành xét xử tiến hành bào chữa cho thân chủ của mình
vắng mặt họ. Vì những nguyên nhân khác theo hướng có lợi nhất mà vẫn đảm bảo tuân
nhau mà người bào chữa cũng không phát thủ các quy định của pháp luật. Nhìn chung,
hiện được để có những đề xuất kịp thời. Luật sư đã kịp thời đưa ra những yêu cầu,
Trong một số vụ án, những đề xuất của Luật đề xuất để bảo đảm vụ án được giải quyết
sư bào chữa liên quan đến việc hoãn phiên chính xác, khách quan. Nếu việc luận tội của
tòa chưa thực sự phù hợp dẫn đến bị bác bỏ Viện kiểm sát đã phù hợp với hành vi phạm
cũng gây ảnh hưởng nhất định đến vị thế tội của bị cáo, Luật sư cũng kịp thời khai thác
của người bào chữa tại phiên tòa.
2.2. Thực tiễn hoạt động tranh tụng của có được các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
Luật sư khi tiến hành xét hỏi hình sự cho bị cáo. Có trường hợp, tại phiên
những tình tiết thuộc về nhân thân bị cáo để
Mục đích của việc xét hỏi là để làm rõ tòa xét xử khi nhận thấy bị cáo có thể đã bị
các tình tiết của vụ án. Theo quy định của bức cung, mớm cung, dùng nhục hình, Luật
BLTTHS năm 2015, có rất nhiều chủ thể có sư cũng đã có những lập luận rất sắc bén, đề
quyền hỏi. Thông thường, chủ tọa hỏi trước, nghị Hội đồng xét xử phải xem xét lại bút
Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên xét hỏi lục cũng như các tài liệu khác trong hồ sơ vụ
rồi mới đến người bào chữa. Thực tế sꢁ có án. Khi xét thấy có những tình tiết chưa được
những trường hợp hầu hết các tình tiết của làm rõ, Luật sư đã đề nghị Hội đồng xét xử
vụ án đã được hỏi và làm sáng tỏ. Do đó, quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
việc đặt câu hỏi của người bào chữa phải có
Có thể thấy, chất lượng việc tranh luận,
sự chọn lọc kĩ càng để không bị trùng lặp, đối đáp của Luật sư bào chữa tại phiên tòa xét
làm rõ hơn các tình tiết có liên quan nhưng xử sơ thẩm vụ án hình sự ngày càng bảo đảm,
40 Khoa học Kiểm sát
Số 03 - 2021
NGUYỄN THỊ MAI
thể hiện được trình độ nghiệp vụ cũng như đồ vật liên quan đến việc bào chữa, người bào
tinh thần làm việc, đạo đức nghề nghiệp của chữa phải kịp thời giao cho cơ quan có thẩm
Luật sư. Tuy nhiên, vẫn còn có những trường quyền tiến hành tố tụng để đưa vào hồ sơ vụ
hợp khi tiến hành đối đáp, Luật sư bào chữa án. Rõ ràng, người bào chữa đã rất vất vả mới
tỏ ra căng thẳng, gay gắt, đưa ra những tình thu thập được chứng cứ trên thực tế, nhưng
tiết không phù hợp với thực tế khách quan sau khi đã có chứng cứ thì phải giao nộp cho
của vụ án. Điều này dẫn đến làm mất không cơ quan tiến hành tố tụng, phải đưa vào hồ
khí trang nghiêm của phiên tòa, ảnh hưởng sơ vụ án. Điều này đồng nghĩa với việc tất cả
đến chất lượng bào chữa. Trong một số trường chứng cứ, tài liệu mà người bào chữa thu thập
hợp khác, Luật sư bào chữa mới chỉ tập trung để phục vụ cho việc gỡ tội, giảm nhẹ trách
khai thác các yếu tố thuộc về nhân thân bị cáo nhiệm hình sự cho bị cáo thì Kiểm sát viên
mà chưa khai thác được các tình tiết liên quan đều đã rõ nên Kiểm sát viên sꢁ có nhiều thuận
đến hành vi phạm tội có lợi của bị cáo. Cá biệt, lợi khi tiến hành tranh tụng.
một số trường hợp Luật sư còn đưa ra những
Ở thời điểm hiện tại, diện người tham gia
quan điểm, đề xuất đi ngược với lợi ích của bị bào chữa là bào chữa viên nhân dân cũng
cáo hoặc cố tình đưa ra những ý kiến không không còn thực sự phù hợp. Quy định về chủ
phù hợp với quy định của pháp luật.
2.4. Nguyên nhân của những hạn chế khi được xem xét và thay thế bằng những chủ thể
chủ thể gỡ tội tiến hành tranh tụng khác để hoạt động tranh tụng gỡ tội diễn ra có
thể này trong BLTTHS năm 2015 cũng cần
Thứ nhất, người bào chữa muốn thực hiện chất lượng. Quy định tại Điều 73 BLTTHS về
được việc bào chữa cho bị cáo theo hướng gỡ quyền của người bào chữa cũng cần được mở
tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì phải rộng để bảo đảm vị thế ngang bằng hơn giữa
có những chứng cứ, tài liệu có liên quan. Mặc chủ thể buộc tội và gỡ tội.
dù Điều 88 BLTTHS năm 2015 đã quy định
Thứ hai, theo quy định tại Điều 80 BLTTHS
người bào chữa có quyền thu thập chứng cứ năm 2015, người bào chữa có quyền gặp bị
bằng cách gặp người mà mình bào chữa, bị can, bị cáo để hỏi thêm các thông tin, tình tiết
hại, người làm chứng và những người khác có liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, tại khoản 2
biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về Điều 61 BLTTHS năm 2015 về các quyền của
những vấn đề liên quan đến vụ án, đề nghị bị cáo thì không có quy định về quyền được
cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, gặp người bào chữa của bị cáo, cũng không có
đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào quy định nào thể hiện việc cơ quan có thẩm
chữa. Tuy nhiên, hoạt động thu thập chứng cứ quyền tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm
của người bào chữa trên thực tế gặp rất nhiều thông báo, liên lạc với người bào chữa trong
khó khăn, nhiều trường hợp người bào chữa trường hợp bị cáo cần gặp. Như vậy, pháp
gặp bị hại, gặp người làm chứng hoặc những luật chỉ quy định về trường hợp người bào
người khác để thu thập thông tin, chứng cứ chữa chủ động gặp bị cáo, còn trường hợp bị
nhưng các chủ thể này không hợp tác và cũng cáo muốn chủ động gặp người bào chữa của
không có cơ chế để xử lý. Ngược lại, hoạt mình để trao đổi thêm thì hiện BLTTHS đang
động thu thập chứng cứ của Viện kiểm sát là bỏ ngỏ. Đây cũng là bất lợi cho cả bị cáo và
hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, có người bào chữa khi ra đến phiên tòa và có ảnh
cơ chế xử lý với những hành vi cản trở hoạt hưởng đến chất lượng tranh tụng.
động tố tụng. Điều này làm mất đi tính công
Thứ ba, trong nhiều trường hợp, cơ quan
bằng trong việc thu thập chứng cứ giữa người có thẩm quyền tiến hành tố tụng còn gây
bào chữa đảm nhiệm vai trò gỡ tội và Viện khó khăn đối với Luật sư tham gia bào chữa.
kiểm sát với vai trò buộc tội.
Để có những chứng cứ phục vụ cho việc
Ngoài ra, Điều 81 BLTTHS năm 2015 còn bào chữa, tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ
quy định khi thu thập được chứng cứ, tài liệu, thẩm vụ án hình sự, Luật sư phải được tiếp
Số 03 - 2021
Khoa học Kiểm sát 41
HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA CỦA CHỦ THỂ GỠ TỘI...
cận, đọc, sao chụp hồ sơ vụ án. Mặc dù đây nhiệm phối hợp với người bào chữa để thực
là quyền của người bào chữa đã được quy hiện yêu cầu thu thập chứng cứ của người
định trong BLTTHS nhưng trên thực tế, cơ bào chữa, có như vậy mới bảo đảm tính công
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chưa bằng giữa chủ thể buộc tội và chủ thể gỡ tội,
tạo điều kiện để Luật sư thực hiện quyền mới tăng khả năng và hiệu quả tranh tụng
này. Những lý do cơ quan có thẩm quyền của chủ thể gỡ tội. Do đó, tác giả đề xuất sửa
tiến hành tố tụng đưa ra có thể là không có đổi, bổ sung khoản 2 Điều 88 BLTTHS năm
phòng đọc, không có máy photo tài liệu… 2015 như sau:
Những lý do này đã thể hiện sự thiếu hợp
tác với Luật sư bào chữa trong việc chuẩn bị
tài liệu cho tranh tụng.
Điều 88. Thu thập chứng cứ
2. Để thu thập chứng cứ, người bào chữa
có quyền gặp người mà mình bào chữa, bị
Thứ tư, trình độ chuyên môn, đạo đức hại, người làm chứng và những người khác
nghề nghiệp của một bộ phận nhỏ Luật sư biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về
còn hạn chế dẫn đến mặc dù tại phiên tòa những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị
Luật sư có tham gia bào chữa nhưng lại có cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu,
những quan điểm gây bất lợi cho bị cáo, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc
thậm chí có những Luật sư thể hiện quan bào chữa. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận
điểm đồng tình với việc buộc tội, định tội được đề nghị của người bào chữa có trách
danh mà Viện kiểm sát đưa ra.
3. Một số kiến nghị nhằm bảo đảm hoạt
động tranh tụng của chủ thể gỡ tội
Thứ nhất, cần bổ sung quy định nhằm bảo với tư cách là ngưꢀi bào chữa
đảm việc thu thập chứng cứ của ngưꢀi bào chữa
nhiệm phối hợp thực hiện.
Thứ hai, sửa đổi, bổ sung Điều 72 BLTTHS
năm 2015 về diện ngưꢀi có thể tham gia tố tụng
Theo Điều 72 BLTTHS năm 2015, người
Theo quy định tại khoản 2 Điều 88 bào chữa có thể là Luật sư, người đại diện của
BLTTHS năm 2015: “Để thu thập chứng cứ, người bị buộc tội, bào chữa viên nhân dân và
ngưꢀi bào chữa có quyền gặp ngưꢀi mà mình bào trợ giúp viên pháp lý. Tuy nhiên, đến thời
chữa, bị hại, ngưꢀi làm chứng và những ngưꢀi điểm hiện tại, chủ thể bào chữa là bào chữa
khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về viên nhân dân không còn thực sự phù hợp.
những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ Trước đây, khi chưa có chủ thể bào chữa là
quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, Luật sư thì bào chữa viên nhân dân tham gia
dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa”. tố tụng để bảo vệ cho quyền, lợi ích của bị
Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động thu thập cáo là người trong các tổ chức thành viên của
chứng cứ của người bào chữa gặp rất nhiều Mặt trận Tổ quốc. Tuy nhiên, đội ngũ Luật
khó khăn bởi việc gặp những chủ thể có liên sư hiện nay đã phát triển đông đảo về đội
quan, việc đề nghị cung cấp thông tin, tài ngũ, cơ bản đáp ứng được nhu cầu bào chữa
liệu chỉ mang danh nghĩa cá nhân, nếu các cá đặt ra. Quy định về chủ thể bào chữa là bào
nhân, cơ quan, tổ chức khác không hợp tác chữa viên nhân dân chỉ mang tính hình thức
thì người bào chữa cũng không thể thu thập mà không được thực hiện trên thực tế. Hơn
được chứng cứ. Trong khi đó, Viện kiểm sát nữa, chất lượng bào chữa của đội ngũ này
với vai trò là chủ thể buộc tội đồng thời là rất hạn chế do đa phần hoạt động trong các
cơ quan tiến hành tố tụng có quyền áp dụng tổ chức chính trị xã hội, ít liên quan đến pháp
biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, luật. Do đó, theo quan điểm của tác giả, nên
xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng. bỏ chủ thể bào chữa viên nhân dân ra khỏi
Như vậy, chủ thể buộc tội có lợi thế hơn rất diện những người có thể trở thành người bào
nhiều so với chủ thể gỡ tội trong việc thu chữa; đưa thêm diện người có thể trở thành
thập chứng cứ. Vấn đề đặt ra là cơ quan có người bào chữa là những người có kiến thức
thẩm quyền tiến hành tố tụng phải có trách pháp lý mà được bị cáo, người đại diện của bị
42 Khoa học Kiểm sát
Số 03 - 2021
NGUYỄN THỊ MAI
cáo mời, ví dụ có thể là giảng viên của các cơ thực hiện và việc bào chữa do Luật sư thực
sở đào tạo luật, có thể là những người trong
các cơ quan tư pháp đã nghỉ hưu… Khoản 2
và khoản 3 Điều 72 BLTTHS năm 2015 có thể
sửa đổi, bổ sung như sau:
hiện có hiệu quả nhất, do đó cần “phát triển
đội ngũ Luật sư đủ về số lượng, bảo đảm về chất
lượng, vững vàng về bản lĩnh chính trị, trong
sáng về đạo đức nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu
cải cách tư pháp và nhu cầu của xã hội”6. Cần
bảo đảm công tác đào tạo đội ngũ Luật sư đủ
số lượng, đáp ứng được nhu cầu có người
bào chữa trong các vụ án hình sự. Thực tiễn
xét xử cho thấy, nếu trong vụ án không có
Luật sư bào chữa thì các bị cáo gần như chỉ
thụ động trả lời các câu hỏi của Hội đồng xét
xử và Kiểm sát viên mà không có khả năng
tranh luận, đối đáp để bảo vệ quyền lợi cho
mình. Vì vậy, việc bảo đảm đủ số lượng Luật
sư tham gia bào chữa cho bị cáo là hết sức
cần thiết để hoạt động tranh tụng diễn ra
thực chất và hiệu quả.
Đội ngũ Luật sư cần được trang bị đầy
đủ kiến thức pháp lý và kỹ năng hành nghề,
tránh tình trạng lúng túng, bị động khi bào
chữa. Kỹ năng tranh tụng cũng là một đòi
hỏi tất yếu đối với Luật sư khi tham gia bào
chữa cho bị cáo tại phiên tòa, bảo đảm việc
đối đáp, tranh luận với Kiểm sát viên đúng
trọng tâm, lời lꢁ, lập luận chuẩn xác, có sức
thuyết phục. Luật sư, trợ giúp viên pháp
lý phải thường xuyên cập nhật kiến thức
về tình hình chính trị, kinh tế - xã hội cả
trong nước và quốc tế để thực hiện việc bào
chữa đúng quan điểm, đường lối của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước, đồng
thời phù hợp với quan điểm tiến bộ của các
nước trên thế giới. Điều này đòi hỏi chương
trình đào tạo, bồi dưỡng, tập sự cho Luật sư
phải được xây dựng một cách hợp lý, khoa
học, chú trọng đào tạo kỹ năng, không sa
đà lý thuyết, học phải đi đôi với hành, đánh
giá chất lượng đào tạo bằng hoạt động thực
tế. Đồng thời, chương trình phải đặc biệt
chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng tranh
tụng cho Luật sư để đáp ứng được những
đòi hỏi của thực tiễn và pháp luật đặt ra./.
Điều 72. Người bào chữa
2. Người bào chữa có thể là:
a) Luật sư;
b) Người đại diện của người bị buộc tội;
c) Trợ giúp viên pháp lý trong trường
hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được
trợ giúp pháp lý.
d) Những người khác được người bị
buộc tội, người đại diện của người bị buộc
tội lựa chọn.
Thứ ba, sửa đổi, bổ sung quy định về quyền
của ngưꢀi bào chữa
Để chuẩn bị cho việc bào chữa tại phiên
tòa, người bào chữa có quyền “đọc, ghi
chép và sao chụp những tài liệu trong hồ
sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa từ
khi kết thúc điều tra” (theo điểm l khoản
1 Điều 73 BLTTHS năm 2015). Tuy nhiên,
quyền này của người bào chữa lại bị giới
hạn bởi hai yếu tố: Một là, phạm vi tài liệu
người bào chữa có quyền đọc, ghi chép và
sao chụp chỉ liên quan đến việc bào chữa;
hai là, thời điểm người bào chữa có quyền
đọc, ghi chép và sao chụp tài liệu trong hồ
sơ vụ án chỉ từ khi kết thúc điều tra. Vì vậy,
việc người bào chữa được tiếp cận hồ sơ vụ
án, ghi chép, sao chụp các tài liệu trên thực
tế gặp rất nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến
chất lượng tranh tụng.
Do đó, tác giả đề xuất sửa đổi, bổ sung
điểm l khoản 1 Điều 73 theo hướng người bào
chữa có quyền “Đọc, ghi chép và sao chụp
những tài liệu trong hồ sơ vụ án. Trường hợp
cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm
phạm an ninh quốc gia thì đọc, ghi chép, sao
chụp từ khi kết thúc điều tra”.
Ngoài ra, để hoạt động tranh tụng tại
phiên tòa hình sự sơ thẩm thực sự có chất
lượng đòi hỏi phải có định hướng đúng đắn
cho sự phát triển của đội ngũ Luật sư về cả
“chất” và “lượng”, đủ “tâm” và đủ “tầm”.
6ꢀ Chiến lược phát triển nghề Luật sư đến năm 2020, ban
hành kèm theo Quyết định số 1072/QĐ-TTg của Thủ
Hoạt động bào chữa chủ yếu do Luật sư tướng Chính phủ ngày 15/11/2011.
Số 03 - 2021
Khoa học Kiểm sát 43
Bạn đang xem tài liệu "Hoạt động bào chữa của chủ thể gỡ tội tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hoat_dong_bao_chua_cua_chu_the_go_toi_tai_phien_toa_xet_xu_s.pdf

