Tài liệu Hướng dẫn giải quyết học phần Tư pháp quốc tế (Phần 2)

Chương 5  
CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH BẢN ÁN,  
QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI,  
PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI  
1. Mục tiêu  
Về kiến thức:  
- Hiểu và thông hiểu trình tự thủ tục công nhận và cho thi hành bản  
án, quyết định của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước  
ngoài.  
- Xác định được luật áp dụng để giải quyết vấn đề.  
Về kỹ năng:  
Vận dụng vào một tình huống cụ thể để xác định trường hợp đó có  
được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hay không. Lập luận và nêu  
chính xác căn cứ pháp lý.  
2. Lý thuyết  
2.1. Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án  
nước ngoài  
Về nguyên tắc, các bản án, quyết định dân sự của Tòa án chỉ có  
hiệu lực pháp luật trong phạm vi lãnh thổ quốc gia nơi Tòa án đã đưa ra  
các bản án quyết định đó. Đối với những tranh chấp dân sự có yếu tố  
nước ngoài, bản án có thể phải thi hành ở nước ngoài, lúc này quyền lợi  
của các đương sự liên quan mới được đảm bảo. Vì vậy, để một bản án,  
quyết định dân sự của Tòa án một nước được tuyên bố có hiệu lực và  
được thi hành ở một quốc gia khác thì bản án, quyết định dân sự đó phải  
trải qua môt giai đoạn tố tụng riêng tại hệ thống tòa án nước được yêu cầu  
công nhận.  
Như vậy, công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của  
Tòa án nước ngoài có nghĩa là thừa nhận hiệu lực pháp lý của bản án,  
quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài theo đúng như bản án dân sự  
trong nước.  
54  
Công nhận bản án dân sự nước ngoài là tiền đề cần thiết để thi hành  
cưỡng chế bản án đó, nhưng để thi hành cưỡng chế bản án nước ngoài  
này thì cần phải tuân theo các điều kiện riêng biệt được quy định chặt chẽ  
hơn nhiều so với những điều kiện cần thiết công nhận bản án đó. Hầu hết  
theo pháp luật các nước, bản án dân sự của Tòa án nước ngoài được công  
nhận và cho thi hành nếu sau khi thẩm tra thấy thỏa mãn các điều kiện sau:  
- Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài đã có hiệu lực  
pháp luật theo pháp luật nơi tuyên.  
- Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài thuộc thẩm  
quyền của Tòa án tuyên.  
- Các quy tắc tố tụng dân sự bắt buộc đã được tuân thủ.  
- Việc công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài  
không trái với pháp luât, trật tự công cộng của nơi được yêu cầu công  
nhận27.  
- Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân  
sự của Tòa án nước ngoài.  
- Cơ sở pháp lý: Dựa trên các Điều ước quốc tế, pháp luật trong  
nước.  
- Phạm vi công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án.  
Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định rất cụ thể trình tự, thủ tục  
công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài tại Việt  
Nam.  
- Trình tự, thủ tục công nhận:  
+ Thủ tục xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam  
bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài:  
Bước 1: Nộp đơn yêu cầu và các tài liệu, giấy tờ kèm theo đến Bộ  
Tư pháp (trong thời hạn 3 năm kể từ ngày bản án, quyết định dân sự của  
tòa án nước ngoài có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp bất khả kháng).  
Bước 2: Bộ Tư pháp chuyển đơn cho Tòa án có thẩm quyền.  
Bước 3: Tòa án có thẩm quyền thụ lý hồ sơ và chuẩn bị xét đơn  
yêu cầu.  
27  
Xem thêm Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2006, Nxb Tư  
pháp. tr. 337-341.  
55  
Bước 4: Tòa án mở phiên họp xét đơn yêu cầu.  
Bước 5: Kháng cáo, kháng nghị (nếu có).  
+ Thủ tục xét đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam bản án,  
quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài.  
Trình tự, thủ tục này giống với các bước của trường hợp xét đơn  
yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân  
sự của Tòa án nước ngoài.  
+ Thủ tục yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của  
tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam:  
• Bước 1: Nộp đơn yêu cầu và các tài liệu, giấy tờ kèm theo đến  
Bộ Tư pháp (trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày bản án, quyết định dân sự  
của Tòa án nước ngoài có hiệu lực pháp luật mà không có yêu cầu thi  
hành tại Việt Nam, trừ trường hợp bất khả kháng);  
• Bước 2: Bộ Tư pháp chuyển đơn cho Tòa án có thẩm quyền;  
• Bước 3: Tòa án có thẩm quyền thụ lý hồ sơ và chuẩn bị xét  
đơn yêu cầu;  
• Bước 4: Tòa án mở phiên họp xét đơn yêu cầu;  
• Bươc 5: Kháng cáo, kháng nghị (nếu có).  
- Những trường hợp không công nhận và cho thi hành tại Việt Nam  
bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được quy định tại Điều  
439 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.  
2.2. Công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài  
Việc công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước  
ngoài tại Việt Nam được thực hiện trên cơ sở của Công ước New York  
1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài  
(Việt Nam gia nhập ngày 28/7/1995); các Điều ước quốc tế song phương  
mà Việt Nam là thành viên; Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Luật Trọng tài  
thương mại 2010.  
Nguyên tắc công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài  
nước ngoài (Điều 424) về quyền được yêu cầu công nhận và cho thi hành  
phán quyết của Trọng tài nước ngoài (Điều 425); quyền kháng cáo, kháng  
nghị (Điều 426); bảo đảm hiệu lực của phán quyết trọng tài (Điều 427);  
56  
những trường hợp tòa án Việt Nam không công nhận phán quyết của  
Trọng tài nước ngoài (Điều 459).  
3. Tình huống  
3.1. Tình huống 128  
3.1.1. Nội dung tình huống  
Ngày 23/4/2017, bà Ngô Veronika (quốc tịch Ukraina) gửi đơn đến  
Bộ Tư pháp Việt Nam yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam  
quyết định ly hôn vụ việc dân sự số 2 - 1958/2015 ngày 14/4/2015 của  
Tòa án quận Shevohenco, thành phố Kiev, Ukraina giữa bà và ông Ngô  
Tấn D (quốc tịch Việt Nam), kèm theo đơn là quyết định ly hôn trên. Nội  
dung Quyết định của Tòa án quận Shevohenco, thành phố Kiev, Ukraina  
nêu rõ: Năm 2003, ông Ngô Tấn D và bà Ngô Veronika đăng ký kết hôn  
tại Ukraina và có 1 đứa con chung sinh ngày 02/4/2004. Năm 2005, ông D về  
Việt Nam sinh sống và đến năm 2007 thì định cư tại Việt Nam. Hiện nay,  
ông đang sống tại quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Xét thấy tình cảm  
giữa hai bên không còn nên Tòa án giải quyết cho họ được ly hôn và  
quyết định ông Ngô Tấn D hàng tháng phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho  
bà Ngô Veronika 500 rúp để bà Ngô Veronika nuôi dưỡng con chung của  
hai vợ chồng.  
Sau khi bản án ly hôn đã có hiệu lực được một năm nhưng ông Ngô  
Tấn D vẫn không thực hiện quyết định trên của Tòa án. Do vậy, bà Ngô  
Veronika đã làm đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam  
quyết định trên để đảm bảo quyền lợi cho con chung của hai vợ chồng.  
Hỏi: Bản án của tòa án Ukraina có được công nhận và thi hành tại  
Việt Nam hay không? Tại sao?  
3.1.2. Hướng dẫn giải quyết tình huống  
Ngày 23/4/2017, bà Ngô Veronika (quốc tịch Ukraina) gửi đơn đến  
Bộ Tư pháp Việt Nam yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam  
28 Theo vụ việc trong đề tài nghiên cứu khoa học của Viện khoa học xét xử, Tòa án nhân  
dân Tối cao, tr. 54.  
57  
Quyết định ly hôn (vụ việc dân sự số 2 - 1958/2015 ngày 14/4/2015 của  
Tòa án quận Shevohenco, thành phố Kiev, Ukraina) giữa bà và ông Ngô  
Tấn D (quốc tịch Việt Nam), kèm theo đơn là quyết định ly hôn trên. Tòa  
án Ukraina giải quyết cho họ được ly hôn và quyết định ông Ngô Tấn D  
hàng tháng phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho bà Ngô Veronika 500 rúp để  
bà Ngô Veronika nuôi dưỡng con chung của hai vợ chồng. Bà Ngô  
Veronika đã làm đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam  
quyết định trên để đảm bảo quyền lợi cho con chung của hai vợ chồng.  
Căn cứ Điều 41, Điều 42, Điều 43, Điều 44 Hiệp định Tương trợ tư  
pháp Việt Nam - Ukraina.  
Căn cứ Điều 423 và 439 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.  
Tòa án Việt Nam ra quyết định công nhận và cho thi hành bản án  
của Tòa án Ukraina (bản án có giá trị pháp lý như bản án mà Tòa án Việt  
Nam đã tuyên).  
3.2. Tình huống 229  
3.2.1. Nội dung tình huống  
Ngày 17/4/2017, Vụ Pháp luật quốc tế Bộ Tư Pháp nhận được đơn  
xin công nhận và cho thi hành quyết định cho ly hôn từ Sở Sự vụ hành  
chính Đài Loan (Trung Quốc) của chị Nguyễn Thị Huệ cư trú tại thị xã  
Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 11/3/2014, chị Huệ đăng ký kết hôn với  
anh Su Chia Lin quốc tịch Đài Loan tại tỉnh Vĩnh Phúc. Giấy chứng nhận  
đăng ký kết hôn của anh chị có giá trị pháp lý từ ngày 29/3/2014. Do  
cuộc sống vợ chồng chị Huệ không hạnh phúc, chưa có con chung và  
thường xuyên bất đồng ý kiến nên họ đã đồng ý cùng nhau thỏa thuận ly  
hôn. Ngày 16/2/2017, chị Nguyễn Thị Huệ và anh Su Chia-Lin đã tiến  
hành các thủ tục ly hôn tại cơ quan đăng ký hộ tịch. Bản thỏa thuận ly  
hôn này đã được người làm chứng và chủ nhiệm cơ quan hộ tịch thị trấn  
Bắc Cảng, huyện Văn Lâm, Đài Loan (Trung Quốc) công nhận thỏa  
thuận tự nguyện ly hôn, căn cứ vào Điều 1050 của Luật Dân sự Đài  
29  
Theo vụ việc trong đề tài nghiên cứu khoa học của Viện khoa học xét xử, Tòa án  
nhân dân Tối cao.  
58  
Loan. Bản thỏa thuận ly hôn này đã được chuyển đến Sở Sự vụ hành  
chính hộ tịch thị trấn Bắc Cảng, huyện Văn Lâm, Đài Loan. Ngày  
3/3/2017, chị Nguyễn Thị Huệ đã được Sở Sự vụ hành chính hộ tịch cấp  
Giấy chứng nhận ly hôn. Chị Huệ đã nộp đầy đủ hồ sơ yêu cầu công  
nhận và được hợp pháp hóa lãnh sự, công chứng, chứng thực hợp pháp.  
Hỏi: Tòa án Việt Nam có công nhận và cho thi hành bản thỏa thuận  
ly hôn của cơ quan hộ tịch Đài Loan hay không? Căn cứ pháp lý?  
3.2.2. Hướng dẫn giải quyết tình huống (Irac)  
Issue (các sự kiện có ý nghĩa pháp lý).  
Trong tình huống trên sinh viên cần quan tâm tới các vấn đề sau:  
Chị Huệ và anh Su Chia-Lin thỏa thuận ly hôn tại Đài Loan và  
được Sở Sự vụ hành chính hộ tịch thị trấn Bắc Cảng, huyện Văn Lâm,  
Đài Loan cấp Giấy chứng nhận ly hôn. Chị Huệ về Việt Nam xin công  
nhận quyết định này tại Việt Nam.  
Relevant law (pháp luật liên quan, quy tắc áp dụng).  
Thỏa thuận tương trợ tư pháp Việt Nam - Đài Loan; Bộ luật Tố  
tụng Dân sự 2015.  
Application facts (cách thức áp dụng):  
Căn cứ Điều 19, Điều 20, Điều 21, Điều 22 Thỏa thuận tương trợ  
tư pháp Việt Nam - Đài Loan. Thỏa thuận quy định công nhận cả các  
quyết định của cơ quan khác có thẩm quyền.  
Chị Nguyễn Thị Huệ và anh Su Chia-Lin đã cùng nhau tiến hành  
thỏa thuận ly hôn tại cơ quan đăng ký hộ tịch làm thủ tục ly hôn. Bản  
thỏa thuận ly hôn này đã được người làm chứng và chủ nhiệm cơ quan hộ  
tịch thị trấn Bắc Cảng, huyện Văn Lâm, Đài Loan (Trung Quốc) công  
nhận thỏa thuận tự nguyện ly hôn căn cứ vào Điều 1050 của Luật Dân sự  
Đài Loan. Bản thỏa thuận ly hôn này đã được chuyển đến Sở sự vụ hành  
chính hộ tịch thị trấn Bắc Cảng, huyện Văn Lâm, Đài Loan và chị  
Nguyễn Thị Huệ đã được Sở sự vụ hành chính hộ tịch cấp Giấy chứng  
nhận ly hôn ngày 3/3/2017. Hồ sơ yêu cầu công nhận của chị Huệ đã nộp  
đầy đủ và đã được hợp pháp hóa lãnh sự, công chứng, chứng thực hợp pháp.  
Điều 22 thỏa thuận Tương trợ Tư pháp Việt Nam - Đài Loan quy định:  
59  
“1. Một Bên phải áp dụng pháp luật của mình trong việc công  
nhận và cho thi hành quyết định do Tòa án của Bên kia tuyên.  
2. Tòa án của Bên được yêu cầu phải giới hạn trong việc xem xét  
sự đáp ứng các điều kiện được nêu trong thỏa thuận này, và không xem  
xét lại nội dung của quyết định đó”.  
Do đó, Tòa án Việt Nam sẽ áp dụng pháp luật Việt Nam để xem xét  
công nhận quyết định của Sở Sự vụ hành chính Đài Loan.  
Căn cứ quy định tại Điều 423 và Điều 439 Bộ luật Tố tụng Dân sự  
2015 thì quyết định của Sở Sự vụ hành chính Đài Loan thuộc trường hợp  
được công nhận tại Việt Nam.  
Conclusion (kết luận).  
Quyết định của Sở sự vụ hành chính hộ tịch thị trấn Bắc Cảng,  
huyện Văn Lâm, Đài Loan công nhận thỏa thuận ly hôn giữa chị Nguyễn  
Thị Huệ và anh Su Chia-Lin được công nhận tại Việt Nam.  
3.3. Tình huống 3  
3.3.1. Nội dung tình huống  
Tranh chấp trong hợp đồng mua bán thép tấm giữa người mua là  
công ty của Việt Nam và người bán là Công ty Liechtenstein của Liên  
bang Nga.  
Ngày 17/3/2014, người mua (Việt Nam) - bị đơn ký hợp đồng mua  
bán với người bán (Liechtenstein) - nguyên đơn để mua thép cuộn cán  
mỏng có xuất xứ tại Liên bang Nga. Hợp đồng được Phó Giám đốc của  
bị đơn ký và đóng dấu của một xí nghiệp trực thuộc của bên bị đơn. Theo  
điều lệ của công ty bị đơn thì xí nghiệp là đơn vị hạch toán phụ thuộc,  
không có tư cách pháp nhân và được thực hiện các hoạt động sản xuất  
kinh doanh theo sự phân cấp của công ty bị đơn.  
Theo hợp đồng, hai bên thoả thuận lựa chọn Công ước quốc tế về  
mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) ngày 11/4/1980 làm luật áp dụng và  
thoả thuận chọn trọng tài quốc tế để giải quyết tranh chấp. Sau khi ký  
hợp đồng, bị đơn đã không mở L/C để thực hiện hợp đồng. Lý do có thể  
vào thời điểm đó, giá thép tấm trên thị trường giảm đột ngột, nếu thực  
hiện hợp đồng, bị đơn sẽ bị lỗ nặng.  
60  
Ngày 13/6/2014, nguyên đơn làm đơn kiện bị đơn vi phạm hợp  
đồng đến trọng tài, yêu cầu bị đơn thanh toán tổn thất do việc không thực  
hiện hợp đồng là 47.500 USD, với lý do nguyên đơn phải bán lô hàng  
cho hai người mua khác của Việt Nam với giá thấp hơn giá hợp đồng đã  
ký với bị đơn. Do bị đơn từ chối đóng 50% phí trọng tài, nguyên đơn đã  
đóng toàn bộ số phí trọng tài là 14.000 USD.  
Bị đơn không chấp nhận thẩm quyền của Trọng tài vì cho rằng,  
người ký hợp đồng từ phía mình không có thẩm quyền nên hợp đồng vô hiệu.  
Ngày 18/10/2015, Trọng tài đã ra quyết định đối với vụ kiện, tuyên  
hợp đồng có hiệu lực và ràng buộc đối với các bên, buộc bị đơn phải  
thanh toán số tiền trên cùng phí trọng tài cho nguyên đơn.  
Sau khi trọng tài quốc tế ra Quyết định, tháng 1/2017, nguyên đơn  
gửi đơn cùng hồ sơ yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam  
quyết định trọng tài tới Bộ Tư pháp Việt Nam để chuyển tới Tòa án nhân  
dân có thẩm quyền. Ngày 19/1/2017, Tòa án nhân dân thành phố X đã  
thụ lý để giải quyết yêu cầu trên của nguyên đơn. Ngày 14/4/2017, Tòa  
án nhân dân thành phố X đã mở phiên tòa xét đơn yêu cầu xin công nhận  
và cho thi hành quyết định trọng tài quốc tế có liên quan. Tòa án nhân  
thành phố X đã áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 459 Bộ luật Tố tụng Dân  
sự năm 2015, không công nhận quyết định của trọng tài về vụ kiện nêu  
trên. Không chấp nhận với quyết định của Tòa án nhân dân thành phố X,  
công ty của Liên bang Nga đã làm đơn kháng cáo lên Tòa phúc thẩm tòa  
án nhân dân tối cao. Tại phiên họp xét quyết định bị kháng cáo ngày  
12/7/2017, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã giữ nguyên toàn bộ  
quyết định của Tòa án nhân dân thành phố X.  
Trước vụ việc trên hãy cho biết: Tòa án nhân thành phố X đã áp  
dụng Điểm a, Khoản 1, Điều 459 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 để  
không công nhận quyết định của trọng tài về vụ kiện trên có đúng không?  
Tại sao?  
3.3.2. Hướng dẫn giải quyết tình huống (Irac)  
Issue (các sự kiện có ý nghĩa pháp lý).  
Trong tình huống trên sinh viên cần quan tâm tới các vấn đề sau:  
Công ty Việt Nam ký hợp đồng mua thép của Công ty Nga, Công  
ty Việt Nam không thực hiện thanh toán nên Công ty Nga khởi kiện ra  
61  
Trọng tài quốc tế tế. Công ty Việt Nam không chấp nhận thẩm quyền của  
Trọng tài vì người ký thỏa thuận của công ty không có thẩm quyền.  
Trọng tài quốc tế ra phán quyết, Công ty Nga yêu cầu công nhận phán  
quyết tại Việt Nam.  
Relevant law (pháp luật liên quan, quy tắc áp dụng).  
Điều 459 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.  
Application facts (cách thức áp dụng).  
Nguyên đơn gửi đơn cùng hồ sơ yêu cầu công nhận và cho thi hành  
tại Việt Nam quyết định của trọng tài quốc tế tới Bộ Tư pháp Việt Nam  
để chuyển tới tòa án nhân dân có thẩm quyền. Ngày 19/1/2017, Tòa án  
nhân dân thành phố X đã thụ lý để giải quyết yêu cầu trên của nguyên đơn.  
Ngày 14/4/2017, Tòa án nhân dân thành phố X đã mở phiên tòa xét đơn  
yêu cầu xin công nhận và cho thi hành quyết định trọng tài quốc tế có  
liên quan. Tòa án nhân thành phố X đã áp dụng Điểm a, Khoản 1, Điều  
459 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, không công nhận quyết định của  
trọng tài về vụ kiện nêu trên. Không chấp nhận với quyết định của Tòa án  
nhân dân thành phố X, công ty của Liên bang Nga đã làm đơn kháng cáo  
lên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao.  
Điều 459 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định những trường hợp  
Tòa án Việt Nam không công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng  
tài nước ngoài. Trong đó, Điểm a Khoản 1, Điều 459 quy định trường  
hợp: Các bên ký kết thỏa thuận trọng tài không có năng lực để ký kết  
thỏa thuận đó theo pháp luật được áp dụng cho mỗi bên. Theo đó, xác  
định luật áp dụng để xác định bên Công ty Việt Nam có thẩm quyền để  
ký kết thỏa thuận trọng tài hay không phải căn cứ theo quy định của pháp  
luật Việt Nam. Trong trường hợp này, người ký thỏa thuận trọng tài bên  
Công ty Việt Nam không có thẩm quyền theo luật Việt Nam thì căn cứ  
vào Điểm a Khoản 1 Điều 459, Tòa án Việt Nam ra quyết định không  
công nhận phán quyết của Trọng tài nước ngoài.  
Conclusion (kết luận).  
Tòa án Việt Nam áp dụng quy định tại Khoản 1, Điều 459 Điểm a  
Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 để ra quyết định không công nhận và cho  
thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài.  
62  
Chương 6  
QUYỀN SỞ HỮUTÀI SẢNTRONGTƯ PHÁPQUỐCTẾ  
1. Mục tiêu  
Về kiến thức: Hiểu và thông hiểu các vấn đề xung đột pháp luật về  
quyền sở hữu trong Tư pháp quốc tế, cách thức giải quyết xung đột pháp  
luật về vấn đề này.  
Về kỹ năng:  
- Vận dụng vào một tình huống cụ thể, chọn được luật áp dụng và  
giải quyết được vấn đề về sở hữu trong Tư pháp quốc tế.  
- Vận dụng được nguyên tắc luật nơi có tài sản để giải quyết các  
tình huống về quyền sở hữu trong Tư pháp quốc tế.  
- Giải quyết được các tình huống pháp lý về quyền sở hữu có yếu tố  
nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.  
2. Lý thuyết  
2.1. Khái niệm và luật áp dụng về quyền sở hữu trong Tư pháp quốc tế  
Lý luận và thực tiễn trong hoạt động lập pháp ở tất cả các quốc gia  
đã chứng minh rằng, quyền sở hữu luôn là một chế định quan trọng trong  
Luật Dân sự của bất kỳ hệ thống pháp luật nào. Dựa trên các chế độ sở  
hữu khác nhau, chế độ quyền sở hữu của mỗi hệ thống pháp luật cũng có  
những quy định khác nhau. Vì vậy, việc hình thành các quan hệ sở hữu  
có yếu tố nước ngoài thường phát sinh hiện tượng xung đột pháp luật về  
quyền sở hữu.  
Do đó, có thể hiểu quyền sở hữu trong Tư pháp quốc tế là quan hệ  
sở hữu có yếu tố nước ngoài.  
Mặc dù còn có quan điểm khác nhau nhưng hầu hết pháp luật các  
nước đều thừa nhận áp dụng nguyên tắc “Luật nơi có tài sản” để giải  
quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu. Điều đó có nghĩa, tài sản trên  
lãnh thổ quốc gia nào thì sẽ chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật  
quốc gia đó. Như vậy, nguyên tắc “Luật nơi có tài sản” giữ vai trò quan  
trọng trong việc giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu.  
63  
“Luật nơi có tài sản” được quy định trong pháp luật các nước  
không những quy định nội dung của quyền sở hữu, mà còn ấn định các  
điều kiện phát sinh thay đổi chấm dứt quyền sở hữu.  
Trường hợp tài sản được xác lập hợp pháp trên cơ sở pháp luật của  
một nước, sau đó được dịch chuyển sang lãnh thổ của nước khác thì  
quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản đó được pháp luật của nước  
sở tại thừa nhận và nội dung của quyền sở hữu phải do pháp luật của  
nước sở tại quy định.  
Ngoài ra, “Luật nơi có tài sản” được đa số các nước áp dụng nhằm  
giải quyết xung đột pháp luật về định danh tài sản. Nguyên tắc này cũng  
được ghi nhận trong các hiệp định Tương trợ Tư pháp giữa Việt Nam với  
các nước như: Cuba, Hung-ga-ri, Bun-ga-ri… Hầu hết pháp luật các  
nước đều dựa vào tính chất có thể di dời của tài sản để định danh là động  
sản hay bất động sản. Tuy vậy, vẫn có những khác biệt nhất định.  
Ví dụ: Nước Ý cho rằng thú rừng là động sản, máy móc nông  
nghiệp có thể xem là bất động sản.  
(1) Các trường hợp ngoại lệ không áp dụng nguyên tắc “Luật  
nơi có tài sản”.  
Thứ nhất, tài sản trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ: Luật được áp dụng  
là luật ở quốc gia nơi các đối tượng được bảo hộ vì quyền sở hữu trí tuệ  
mang tính lãnh thổ (tài sản trí tuệ là tài sản vô hình). Ví dụ: Quyền tác  
giả, sáng chế, kiểu dáng, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý.  
Thứ hai, quyền sở hữu trong lĩnh vực hàng không dân dụng và  
trong lĩnh vực hàng hải, đặc biệt tàu biển và máy bay: Pháp luật được áp  
dụng là pháp luật của nước mà tàu biển treo cờ, máy bay mang quốc tịch  
(quốc gia nơi đăng ký tàu bay).  
Ví dụ: Điều 4 Luật Hàng không dân dụng của Ba Lan năm 1962  
quy định: “Các quyền sở hữu đối với tàu bay cũng như đối với tài sản  
trên tàu bay được điều chỉnh bởi pháp luật của nước nơi tàu bay đăng ký”.  
Thứ ba, tài sản thuộc quyền sở hữu của quốc gia ở nước ngoài:  
Vì tài sản của quốc gia được hưởng quyền miễn trừ cho nên về nguyên  
tắc, tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu của quốc gia được giải quyết  
bằng con đường ngoại giao.  
Thứ tư, tài sản của pháp nhân trong trường hợp pháp nhân tổ chức  
lại hoạt động hay bị đình chỉ hoạt động tại nước ngoài: Đối với những  
64  
tài sản này, luật được áp dụng là luật của quốc gia mà pháp nhân mang  
quốc tịch30.  
(2) Xác định quyền sở hữu đối với tài sản trên đường vận chuyển  
Việc xác định quyền sở hữu đối với tài sản trên đường vận chuyển  
(tài sản quá cảnh qua nhiều lãnh thổ quốc gia) cũng là một vấn đề rất  
được quan tâm trong Tư pháp quốc tế của các nước hiện nay. Theo pháp  
luật các nước hiện nay, quyền sở hữu cũng như các quyền tài sản đối với  
hàng hóa trên đường vận chuyển được xác định như sau:  
Trường hợp 1: Tài sản đang trên đường vận chuyển, từ nơi này  
sang nơi khác trên lãnh thổ của 1 quốc gia thì áp dụng nguyên tắc luật  
nơi có tài sản để giải quyết.  
Trường hợp 2: Tài sản đang trên đường vận chuyển, từ nơi này  
sang nơi khác trên lãnh thổ của 2 quốc gia có chung đường biên giới thì  
luật nơi có tài sản vẫn được áp dụng.  
Trường hợp 3: Tài sản đang được vận chuyển trên vùng trời, vùng  
biển quốc tế, hay quá cảnh qua quốc gia thứ 3 (đây là trường hợp phức  
tạp). Vì vậy, tùy theo quan điểm mỗi nước mà có thể áp dụng 1 trong các  
hệ thống pháp luật sau (do trong trường hợp này, tài sản không có quan  
hệ gắn bó với nơi có tài sản):  
- Pháp luật của nước do các bên lựa chọn.  
- Pháp luật của nước nơi gửi tài sản đi.  
- Pháp luật của nơi tài sản được chuyển đến.  
- Pháp luật của nước mà phương tiện vận tải mang quốc tịch nếu  
hàng hóa được vận chuyển bằng đường biển quốc tế hay đường hàng  
không quốc tế.  
Ví dụ: Điều 4 Luật Hàng không dân dụng của Ba Lan năm 1962  
quy định: “Các quyền sở hữu đối với tàu bay cũng như đối với tài sản  
trên tàu bay được điều chỉnh bởi pháp luật của nước nơi tàu bay đăng ký”.  
- Pháp luật nơi có tài sản.  
- Pháp luật của nước nơi có trụ sở Tòa án có thẩm quyền giải quyết  
tranh chấp.  
30. Xem chương Chủ thể, phần Pháp nhân nước ngoài.  
65  
2.2. Quy định của pháp luật Việt Nam về quyền sở hữu của người  
nước ngoài  
Bộ luật Dân sự năm 2015 đã tách việc phân loại tài sản và quyền sở  
hữu tài sản ra thành hai điều luật riêng là Điều 677 và Điều 678. Điều  
677 quy định về việc xác định bản chất tài sản: “Việc phân loại tài sản là  
động sản, bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài  
sản”. Theo đó, hệ thuộc luật nơi có tài sản sẽ được áp dụng để xác định bản  
chất tài sản.  
Điều 678. Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản.  
1. Việc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu và  
quyền khác đối với tài sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có  
tài sản, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 điều này.  
2. Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản là động sản trên  
đường vận chuyển được xác định theo pháp luật của nước nơi động sản  
được chuyển đến, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.  
Với quy định tại Điều 678 này thì ngoài quyền sở hữu tài sản còn  
ghi nhận các quyền khác đối với tài sản (quyền hưởng dụng, quyền bề  
mặt và quyền đối với bất động sản liền kề). Quy phạm xung đột này tiếp  
tục ghi nhận hệ thuộc “Luật nơi có tài sản” được áp dụng để giải quyết  
xung đột về việc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu và  
quyền khác đối với tài sản. Còn đối với quyền sở hữu và quyền khác đối  
với tài sản là động sản trên đường vận chuyển theo hướng ưu tiên áp  
dụng pháp luật của nước do các bên thỏa thuận, trong trường hợp các bên  
không có thỏa thuận mới áp dụng luật của nước nơi động sản được  
chuyển đến.  
Về nguyên tắc, quyền sở hữu của người nước ngoài cư trú tại Việt  
Nam được hưởng chế độ đãi ngộ như công dân, có các quyền và nghĩa vụ  
như công dân Việt Nam. Tuy nhiên, đối với tài sản là bất động sản tại  
Việt Nam, người nước ngoài chỉ được hưởng một số quyền nhất định,  
hạn chế hơn so với công dân Việt Nam.  
Quan hệ sở hữu của người nước ngoài tại Việt Nam cũng được bảo  
hộ theo quy định trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.  
Ví dụ: Hiệp định Tương trợ Tư pháp giữa Việt Nam với Cộng hòa Cuba  
66  
(Điều 1), Hung-ga-ri (Điều 1), Bun-ga-ri (Điều 1) đã quy định: “Công  
dân nước ký kết này được hưởng trên lãnh thổ của nước ký kết sự bảo hộ  
pháp luật đối với các quyền nhân thân và tài sản nước ký kết kia dành  
cho công dân của nước mình”.  
Trong lĩnh vực đầu tư, Nhà nước Việt Nam bảo đảm đối xử công  
bằng và thỏa đáng đối với nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.  
Đối với nhân viên chức ngoại giao nước ngoài và của các tổ chức  
quốc tế tại Việt Nam, quyền sở hữu của họ cũng được bảo hộ theo các  
Điều ước quốc tế31 và Pháp lệnh về quyền ưu đãi miễn trừ dành cho cơ  
quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ  
chức quốc tế tại Việt Nam ngày 23/8/1993.  
3. Tình huống  
3.1. Tình huống 132  
3.1.1. Nội dung tình huống  
Ông Nguyễn Văn Đức, trú tại 34, Boulevard Lucien Geslot_ 93270  
Sevran, France (tạm trú tại tỉnh Lâm Đồng), mua hai ngôi nhà ở Lâm  
Đồng gồm: Ngôi nhà số 87 Phan Bội Châu, Bảo Lộc, Lâm Đồng của ông  
Thuận và bà Màu với giá 800.000.000đ (việc mua nhà chỉ thỏa thuận  
bằng miệng, chưa làm thủ tục mua bán) và ngôi nhà số 11 đường Lê Thị  
Pha, thành phố Bảo Lộc của bà Dung (tháng 11/2004 bà Dung thỏa thuận  
bán nhà cho ông Đức, giá 320.000.000đ. Ông Đức đặt cọc 40.000.000đ  
rồi về Pháp. Sau đó, ông Đức gửi tiền về cho anh trai mình là ông Bá để  
giao trả tiền cho bà Dung).  
Vì ông chưa đủ thủ tục đứng tên sở hữu nhà đất tại Việt Nam nên  
ông Đức nhờ chị Thảo (con ông Thuận) đứng tên nhà đất. Chị Thảo có ký  
giấy xác nhận quyền sở hữu nhà đất với nội dung: Đứng tên giúp ông  
Đức và sẽ trả lại khi ông Đức yêu cầu. Ngày 29/5/2002, ông Thuận và bà  
Màu được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất  
đối với ngôi nhà số 87 Phan Bội Châu. Ngày 15/9/2007, chị Thảo được  
31. Xem Công ước Viên năm 1963 về quan hệ ngoại giao, Công ước Viên 1963 về quan  
hệ lãnh sự.  
32  
Theo bản án phúc thẩm số 151/2011/DSPT ngày 13/6/2011 của Tòa phúc thẩm Tòa  
án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và quyết định Giám đốc thẩm số  
68/2013 ngày 13/6/2013 của Tòa án nhân dân tối cao.  
67  
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà đối với căn  
nhà số 11 Lê Thị Pha.  
Ngày 20/11/2015, ông Đức về nước và yêu cầu ông Thuận và chị  
Thảo phải trả lại hai căn nhà trên cho ông nhưng ông Thuận và chị Thảo  
không trả. Ngày 12/1/2017, ông Đức khởi kiện ra Tòa án nhân dân tỉnh  
Lâm Đồng yêu cầu giải quyết. Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã  
thụ lý giải quyết.  
Hỏi: Ông Đức có quyền sở hữu hai căn nhà gắn liền với đất đai nêu  
trên hay không? Tại sao?  
3.1.2. Hướng dẫn giải quyết tình huống (Irac)  
Issue (các sự kiện có ý nghĩa pháp lý).  
Trong tình huống trên sinh viên cần quan tâm tới các vấn đề sau:  
Ông Đức mua hai căn nhà tại Việt Nam nên nhờ ông Thuận và bà  
Màu đứng tên đối với ngôi nhà số 87 Phan Bội Châu và nhờ chị Thảo  
đứng tên quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà đối với căn nhà số 11  
Lê Thị Pha; ông Đức yêu cầu ông Thuận, bà Màu và chị Thảo trả lại nhà  
nhưng ông Thuận, bà Màu và chị Thảo không trả; ông Đức khởi kiện  
yêu cầu trả nhà.  
Relevant law (pháp luật liên quan, quy tắc áp dụng).  
Bộ luật Dân sự 2015, Luật Đất đai 2013, Luật Nhà ở 2014; Nghị  
định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết  
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở.  
Application facts (cách thức áp dụng).  
- Căn cứ quy định tại Khoản 6, Điều 5 Luật Đất đai 2013, người  
Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của Luật Quốc tịch thuộc  
đối tượng được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử  
dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai.  
Theo Khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, người  
Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam (có quốc tịch Việt  
Nam) và người gốc Việt Nam (đã từng có quốc tịch Việt Nam) cư trú,  
sinh sống lâu dài ở nước ngoài.  
Do đó, Ông Đức thuộc trường hợp người Việt Nam định cư ở nước  
ngoài thuộc đối tượng được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất.  
68  
- Căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 7 và Khoản 1; Điểm b Khoản 2  
Điều 8 Luật Nhà ở năm 2014, người Việt Nam định cư ở nước ngoài  
thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở Việt Nam. Điều kiện được công nhận  
quyền sở hữu nhà ở đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài là phải  
được phép nhập cảnh vào Việt Nam và phải có nhà ở hợp pháp thông qua  
hình thức mua, thuê mua nhà ở thương mại của doanh nghiệp, hợp tác xã  
kinh doanh bất động sản; mua, nhận tặng cho, nhận đổi, nhận thừa kế nhà  
ở của hộ gia đình, cá nhân; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở  
trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại được phép bán nền để tự  
tổ chức xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật.  
Theo Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015  
của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của  
Luật Nhà ở, đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi làm thủ  
tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài  
sản khác gắn liền với đất thì phải có giấy tờ sau đây:  
- Trường hợp mang hộ chiếu Việt Nam thì phải còn giá trị và có  
đóng dấu kiểm chứng nhập cảnh của cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh  
Việt Nam vào hộ chiếu.  
- Trường hợp mang hộ chiếu nước ngoài thì phải còn giá trị có  
đóng dấu kiểm chứng nhập cảnh của cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh  
Việt Nam vào hộ chiếu và kèm theo giấy tờ chứng minh còn quốc tịch  
Việt Nam hoặc giấy tờ xác nhận là người gốc Việt Nam do Sở Tư pháp  
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cơ quan đại diện Việt Nam ở  
nước ngoài, cơ quan quản lý về người Việt Nam ở nước ngoài cấp hoặc  
giấy tờ khác theo quy định của pháp luật Việt Nam.  
Do đó, ông Đức được quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam.  
Conclusion (kết luận).  
Căn cứ vào các quy định nêu trên ông Đức là người Việt Nam định  
cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được quyền sở hữu nhà ở gắn liền với  
đất đai ở Việt Nam.  
69  
3.2. Tình huống 233  
3.2.1. Nội dung tình huống  
Năm 2001, bà Hoàng Ngọc (quốc tịch Australia) và bà Lâm Ngọc  
thỏa thuận mua của ông Ba Lù diện tích đất 3.500m2 tại xã Dương Tơ,  
huyện Phú Quốc với giá 8 lượng vàng 24k. Do phải về nước nên mọi  
giấy tờ bà Hoàng Ngọc giao cho bà Lâm Ngọc thay bà thực hiện việc  
mua bán với ông Ba Lù. Năm 1994, bà Lâm Ngọc làm thủ tục đăng ký kê  
khai và được Ủy ban nhân dân huyện Phú Quốc cấp giấy chứng nhận  
quyền sử dụng đất. Năm 2015, bà Hoàng Ngọc về Việt Nam đòi bà Lâm  
Ngọc phải trả lại diện tích đất trên cho bà nhưng bà Lâm Ngọc không trả  
vì bà cho rằng phần diện tích đất đó do bà mua lại của bố ông Ba Lù.  
Năm 2016, bà Hoàng Ngọc khởi kiện bà Lâm Ngọc ra Tòa án, yêu cầu  
phải trả lại phần diện tích đất đã mua của ông Ba Lù cho bà.  
Hỏi: Luật nước nào được áp dụng để giải quyết trường hợp nêu  
trên? Nếu thắng kiện bà Hoàng Ngọc có được Tòa án giao diện tích đất  
nêu trên hay không? Tại sao?  
3.2.2. Hướng dẫn giải quyết tình huống (Irac)  
Issue (các sự kiện có ý nghĩa pháp lý).  
Trong tình huống trên sinh viên cần quan tâm tới các vấn đề sau:  
Bà Hoàng Ngọc và bà Lâm Ngọc thỏa thuận mua đất của ông bà  
Lù. Bà Hoàng Ngọc giao mọi giấy tờ cho bà Lâm Ngọc thay bà thực hiện  
việc mua bán với ông Ba Lù; bà Hoàng Ngọc yêu cầu bà Lâm Ngọc trả  
diện tích đất cho bà nhưng bà Lâm Ngọc không trả vì cho rằng bà mua  
của bố ông Ba Lù; bà Hoàng Ngọc khởi kiện yêu cầu trả diện tích đất.  
Relevant law (pháp luật liên quan, quy tắc áp dụng).  
Điều 677, Điều 678 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 3 Luật Quốc tịch  
2008; Điều 6 Luật Đất đai 2013.  
Application facts (cách thức áp dụng).  
Căn cứ quy định tại Điều 677, Điều 678 Bộ luật Dân sự năm 2015,  
xác định luật áp dụng là luật của nước nơi có tài sản (tức luật Việt Nam): Việc  
33  
Theo Quyết định Giám đốc thẩm số 258/2012/DS-GĐT ngày 29/5/2012 của tòa dân  
sự Tòa án nhân dân tối cao.  
70  
xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu và quyền khác đối  
với tài sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản.  
Căn cứ quy định tại Khoản 6, Điều 5 Luật Đất đai năm 2013, thì  
người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của Luật Quốc tịch  
thuộc đối tượng được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền  
sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai.  
Theo Khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, xác định  
bà Hoàng Ngọc thuộc trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài.  
Conclusion (kết luận).  
Do đó, luật Việt Nam được áp dụng và nếu thắng kiện bà Hoàng  
Ngọc sẽ được Tòa án giao diện tích đất nêu trên.  
3.3. Tình huống 334  
3.3.1. Nội dung tình huống  
Bà Trần Thị Suil (quốc tịch Pháp, gốc Việt Nam) sang định cư ở  
Pháp và kết hôn với ông Saint (quốc tịch Pháp). Qua những lần du lịch về  
thăm quê hương Việt Nam, ông bà có ý định ở lại Việt Nam. Năm 1998,  
ông bà đã tìm hiểu và có ý định mua một số căn hộ tại chung cư 15  
Hoàng Hoa Thám. Ông bà đã nhờ ông Quang đứng tên mua 3 căn hộ  
A31, A32, B31 chung cư 15. Sự việc ông Quang đứng tên mua hộ nhà  
cho ông bà bị phát hiện nên UBND tỉnh X đã ra quyết định hủy sổ chứng  
nhận sở hữu 3 căn hộ nói trên và trả tiền lại cho người mua. Để hợp thức  
hóa tiếp theo việc mua bán, ông bà đã làm giấy cho quyền tài sản là số  
tiền mua 2 căn hộ A31 và B31 cho ông Quang và bà Thanh (mỗi người  
mua một căn), căn còn lại A32, ông bà lập hợp đồng cho quyền tài sản  
ông Nghiệm (con nuôi của ông bà) số tiền là 130.000.000 đồng (là số tiền  
ông bà nhờ ông Quang mua hộ căn A32 trước đây) để ông Nghiệm đứng  
tên mua căn hộ A32. Ông Nghiệm tiến hành làm thủ tục mua bán và  
đứng tên chủ sở hữu căn hộ trên. Sau đó, ông Nghiệm giao toàn bộ giấy  
tờ cho ông bà Suil và ông bà Suil đang sống trong căn hộ này. Tháng  
34  
Theo Quyết định Giám đốc thẩm số 146/2013/DS-GĐT ngày 16/12/2013 của Hội  
đồng thẩm phán, Tòa án nhân dân Tối cao.  
71  
5/2015, do mâu thuẫn trong chuyện làm ăn, ông Nghiệm đã nộp đơn ra  
tòa án tỉnh X yêu cầu ông bà Suil phải trả lại căn hộ A32 cho ông. Bản án  
sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh X đã ra quyết định: Xác định căn hộ  
A32 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Nghiệm. Buộc ông bà Suil  
phải trả lại căn hộ trên cho ông Nghiệm.  
Không đồng ý với quyết định của Tòa án nhân dân tỉnh X, ông bà  
Suil kháng cáo. Bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân Tối cao tại Đà  
Nẵng tuyên: Giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tháng 3/2016, ông bà Suil có  
đơn đề nghị Giám đốc thẩm.  
Hãy cho biết: Ông bà Siul có quyền sở hữu căn hộ A31, A32 và  
B31 hay không? Tại sao? Nêu căn cứ pháp lý?  
3.3.2. Hướng dẫn giải quyết tình huống (Irac)  
Issue (các sự kiện có ý nghĩa pháp lý).  
Trong tình huống trên sinh viên cần quan tâm tới các vấn đề sau:  
Vợ chồng ông bà Suil (quốc tịch Pháp) nhờ ông Nghiệm đứng tên  
căn hộ chung cư A32, ông bà Suil sống trong căn hộ trên và giữ giấy tờ  
nhà; ông Nghiệm khởi kiện yêu cầu ông bà Suil trả lại căn hộ trên.  
Relevant law (pháp luật liên quan, quy tắc áp dụng).  
Luật Nhà ở 2014; Nghị định 99/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành  
Luật Nhà ở.  
Application facts (cách thức áp dụng).  
Ông bà Suil có quốc tịch Pháp (bà Suil thuộc trường hợp người  
Việt Nam định cư ở nước ngoài), sinh sống lâu dài tại Việt Nam.  
Theo Khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, người  
Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam (có quốc tịch Việt  
Nam) và người gốc Việt Nam (đã từng có quốc tịch Việt Nam) cư trú,  
sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Do đó, Bà Suil thuộc trường hợp người  
Việt Nam định cư ở nước ngoài, còn ông Suil là công dân nước ngoài.  
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 7 và Khoản 1; Điểm b Khoản 2  
Điều 8 Luật Nhà ở năm 2014, người Việt Nam định cư ở nước ngoài  
72  
thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở Việt Nam. Điều kiện được công nhận  
quyền sở hữu nhà ở đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài là phải  
được phép nhập cảnh vào Việt Nam và phải có nhà ở hợp pháp thông qua  
hình thức mua, thuê mua nhà ở thương mại của doanh nghiệp, hợp tác xã  
kinh doanh bất động sản; mua, nhận tặng cho, nhận đổi, nhận thừa kế nhà  
ở của hộ gia đình, cá nhân; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở  
trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại được phép bán nền để tự  
tổ chức xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật.  
Theo Khoản 2, Điều 5 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015  
của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của  
Luật Nhà ở, đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi làm thủ  
tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài  
sản khác gắn liền với đất.  
Căn cứ theo quy định của Luật Nhà ở 2014 tại các Điều 7, Điều 8,  
Điều 159, Điều 160 và Nghị định 99/2015/NĐ-CP thì ông Suil thuộc  
trường hợp cá nhân nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam và  
không thuộc diện được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao, lãnh sự  
theo quy định của pháp luật (Khoản 3, Điều 160 Luật Nhà ở). Ông được sở  
hữu nhà ở tại Việt Nam thông qua hình thức: Đầu tư xây dựng nhà ở theo  
dự án tại Việt Nam theo quy định của luật này và pháp luật có liên quan;  
mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại bao gồm  
căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở, trừ  
khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ  
(Khoản 2, Điều 159 Luật Nhà ở).  
(Cá nhân nước ngoài chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận  
thừa kế và sở hữu không quá 30% số lượng căn hộ trong một tòa chung  
cư; trường hợp trên một địa bàn có số dân tương đương khu vực hành  
chính cấp phường nhưng có nhiều tòa chung cư thì cá nhân nước ngoài  
chỉ được sở hữu không quá 30% số căn hộ của mỗi tòa nhà chung cư và  
không quá 30% tổng số căn hộ của tất cả các tòa nhà chung cư này).  
Conclusion (kết luận).  
Ông bà Suil có quyền sở hữu ba căn hộ chung cư. A31, A32 và  
B31 tại Việt Nam.  
73  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 76 trang Thùy Anh 9180 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Hướng dẫn giải quyết học phần Tư pháp quốc tế (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_huong_dan_giai_quyet_hoc_phan_tu_phap_quoc_te_phan.pdf