Hội thảo Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sửa đổi luật đất đai năm 2013
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CỦA VIỆC SỬA ĐỔI
LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2013
24/11/2021
CHƯƠNG TRÌNH HỘI THẢO
“Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2013”
Thời gian: 13h30-17h30 chiều thứ Tư ngày 24/11/2021
Địa điểm: Phòng 203, Nhà điều hành ĐHQG Hà Nội và online qua Zoom
13:30 – 13:45 Đăng ký đại biểu
13:45 – 13:50 Tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu
Phát biểu chào mừng của PGS.TS. Nguyễn Thị Quế Anh, Chủ nhiệm
Khoa Luật – ĐHQGHN
13:50 – 13:55
13:55 – 14:00 Phát biểu của lãnh đạo ĐHQGHN
Phiên 1: Những vấn đề lý luận về cải cách pháp luật đất đai
(Đồng chủ trì: PGS. TS. Ngô Huy Cương – PGS. TS. Vũ Công Giao)
14:00 – 14:20 Tham luận 1: Cải cách pháp luật Việt Nam về đất đai
PGS. TS. Ngô Huy Cương, Khoa Luật, ĐHQGHN
Tham luận 2: Sở hữu công của cộng đồng làng xã đối với đất đai
14:20 – 14:40
trong lịch sử và bài học của chúng ta
GS. TS. Nguyễn Đăng Dung, Khoa Luật – ĐHQGHN
Tham luận 3: Bàn về mối quan hệ và hiệu quả của các cơ chế giải
14:40-15:00
quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam hiện nay
PGS. TS. Nguyễn Hoàng Anh, Khoa Luật – ĐHQGHN
15:00 – 15:30 Thảo luận
15:30 – 15:40 Giải lao
Phiên 2: Thực trạng pháp luật đất đai ở Việt Nam và
những kiến nghị sửa đổi Luật Đất đai năm 2013
(Đồng chủ trì: TS. Nguyễn Trọng Điệp - PGS. TS. Nguyễn Quang Tuyến)
Tham luận 4: Mô hình quản lý đất đai ở Việt Nam hiện nay – Những
15:40 – 16:00
ưu điểm và hạn chế
PGS. TS. Nguyễn Đình Thọ, Viện trưởng Viện Chiến lược, chính
sách tài nguyên và môi trường
Tham luận 5: Chính sách quản lý, sử dụng đất nông nghiệp nhằm
16:00 – 16:20
khuyến khích tập trung, tích tụ đất đai trong bối cảnh công nghiệp
2
hóa, hiện đại hóa đất nước
PGS. TS. Nguyễn Quang Tuyến, Trường ĐH Luật Hà Nội
Tham luận 6: Thực tiễn giải quyết, xét xử liên quan đến đất đai tại
16:20 – 16:40
Tòa án nhân dân, một số vướng mắc và kiến nghị sửa đổi Luật Đất đai
TS. Nguyễn Hồng Nam, Phó Chánh án TAND cấp cao tại Hà Nội
ThS. Nguyễn Hoàng Long, TAND quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội
16:40 – 17:20 Thảo luận
17:20 – 17: 30 Tổng kết và bế mạc hội thảo
3
DANH MỤC BÀI VIẾT HỘI THẢO
“Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2013”
Đơn vị
công tác
TT
Tên bài viết
Tác giả
Trang
1. Cải cách pháp luật Việt Nam về đất
đai
PGS. TS. Ngô Huy Khoa Luật-
6
Cương
ĐHQGHN
2. Sở hữu công của cộng đồng làng xã
đối với đất đai trong lịch sử và bài
học của chúng ta
GS. TS. Nguyễn
Đăng Dung
Khoa Luật-
ĐHQGHN
48
55
3. Tham nhũng qua cơ chế đất đai hiện GS. TS. Nguyễn
Khoa Luật-
ĐHQGHN
hành
Đăng Dung
TS. Lưu Bình
Dương
Đại học Việt
Bắc
4. Chính sách quản lý, sử dụng đất nông PGS. TS. Nguyễn
Trường ĐH
Luật Hà Nội
63
86
nghiệp nhằm khuyến khích tập trung,
tích tụ đất đai trong bối cảnh công
nghiệp hóa, hiện dại hóa đất nước
Quang Tuyến
5. Mô hình quản lý đất đai ở Việt Nam - PGS.TS. Nguyễn
Viện trưởng,
Viện Chiến
lược, Chính
sách tài
hiện nay - ưu điểm và hạn chế
Đình Thọ
nguyên và
môi trường
Trường Đại
học Luật Hà
Nội
- Nguyễn Thị Quỳnh
Trang
6. Bảo đảm tính thống nhất giữa BLHS PGS. TS. Trịnh Tiến Khoa Luật-
100
120
năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013 Việt
ĐHQGHN
7. Bàn về mối quan hệ và hiệu quả của PGS. TS. Nguyễn
Khoa Luật-
ĐHQGHN
các cơ chế giải quyết tranh chấp đất
đai ở Việt Nam hiện nay
Hoàng Anh
8. Quyền đối với đất đai theo luật nhân
quyền quốc tế
Khoa Luật-
ĐHQGHN
137
- ThS Nguyễn Thuỳ
Dương
và pháp luật Việt Nam
- ThS. Nguyễn Đăng
Duy
- PGS.TS Vũ Công
Giao
Luật đất đai và Quy hoạch sử dụng
đất khu công nghiệp ở Việt Nam
Khoa Luật-
ĐHQGHN
9.
148
PGS.TS. Doãn
Hồng Nhung
4
hướng đến mục tiêu phát triển bền vững và
tăng trưởng xanh
10. Giải quyết xung đột đất đai: các chính
sách, công cụ quốc tế và liên hệ với Việt
Nam
- PGS.TS. Đặng
Minh Tuấn
Khoa Luật-
169
ĐHQGHN
- NCS. Nguyễn
Ngọc Lan
11. Thực tiễn tiếp cận đất đai của doanh PGS.TS. Doãn
nghiệp Việt Nam hướng tới thuận lợi hóa Hồng Nhung
kinh doanh và thu hút đầu tư
Khoa Luật-
181
199
ĐHQGHN
12. Thực tiễn giải quyết, xét xử liên quan đến - TS. Nguyễn Hồng
đất đai tại Tòa án nhân dân, một số vướng Nam
Phó Chánh án
TAND cấp cao
tại Hà Nội
mắc và kiến nghị sửa đổi Luật Đất đai
- ThS. Nguyễn
Hoàng Long
TAND quận
Bắc Từ Liêm,
Hà Nội
13. Quản trị đất đai: Các tiêu chuẩn, khuyến
- TS. Bùi Tiến Đạt
Khoa Luật-
212
nghị quốc tế và giá trị tham khảo cho Việt - Trịnh Thị Trinh
ĐHQGHN
Nam
14. Thu hồi đất: Chuẩn mực nhân quyền quốc TS. Lã Khánh Tùng
Khoa Luật-
221
230
tế và một số vấn đề ở Việt Nam
ĐHQGHN
15. Vấn đề quyền của người sử dụng đất trong TS. Đặng Thị Bích
thực hiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử Liễu
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, và tài sản
khác gắn liền với đất theo Luật Đất đai
2013
Khoa Luật-
ĐHQGHN
16. Thực trạng thi hành Luật đất đai năm 2013 TS. Lê Kim Nguyệt
Khoa Luật-
236
244
261
ĐHQGHN
17. Quyền về đất đai của phụ nữ trong luật
TS. Ngô Minh
Khoa Luật-
nhân quyền quốc tế và pháp luật Việt Nam Hương
ĐHQGHN
18. Chế độ sở hữu đất đai trên thế giới và ở
ThS Nguyễn Anh
Khoa Luật-
Việt Nam
Đức
ĐHQGHN
- PGS.TS. Vũ Công
Giao
19. Đất đai – tư liệu sản xuất đặc biệt tương
- Giảng viên
Khoa Luật-
272
ứng với hình thức sở hữu đặc biệt
Nguyễn Đăng Duy
- Sinh viên Vũ
Thành Cự
ĐHQGHN
20. Đất và tranh chấp đất ở Tây nguyên
Ls Tạ Quang Tòng
282
300
21. Rà soát bất cập luật đất đai Việt Nam năm TS. Nguyễn Trọng Điệp Khoa Luật -
2013 và yêu cầu sửa đổi, bổ sung trong
thời gian tới
ĐHQGGN
ThS. Nguyễn Tiến Đạt
5
CẢI CÁCH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐẤT ĐAI
PGS. TS. Ngô Huy Cương
Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội
Giới thiệu
Chính sách và pháp luật về đất đai ở Việt Nam đã ngày càng nhanh
chóng tỏ ra bất cập, trong khi, hiện nay trên thế giới, người ta luôn luôn xem
chính sách về đất đai là một chính sách công hàng đầu ở tất cả các nước, nhất
là ở những nước đang phát triển, những nước có nền kinh tế chuyển đổi. Vậy
việc sửa đổi hay cải cách căn bản và toàn diện chính sách và pháp luật về đất
đai ở Việt Nam là một nhu cầu bức bách để giảm bớt sự bất bình đẳng, căng
thẳng và xung đột trong đời sống xã hội mà có nguy cơ ảnh hưởng tới cả an
ninh và quốc phòng.
Bài viết trình bày những vấn đề lý luận nền tảng, kinh nghiệm quốc tế
về chính sách và pháp luật đất đai, đồng thời phê bình pháp luật đất đai của
Việt Nam để tập trung làm rõ các định hướng chủ yếu trong việc cải cách căn
bản pháp luật của Việt Nam về đất đai, kể cả về kỹ thuật pháp lý.
Bài viết sử dụng các phương pháp mô tả và phân tích luật học, định
danh pháp lý, phân loại pháp lý, quan hệ pháp luật hóa các quan hệ xã hội, so
sánh pháp luật… Nội dung chủ yếu của bài viết được chia thành ba mục: (i)
Mục I nói về “Nền tảng lý luận của chính sách và pháp luật đất đai”; (ii) Mục II
nói về “Phê bình pháp luật đất đai hiện hành của Việt Nam; và (iii) Mục III nói
về “Định hướng cải cách pháp luật đất đai của Việt Nam”.
I. Nền tảng lý luận của chính sách và pháp luật đất đai
1. Vai trò và ý nghĩa chung của chính sách đất đai và chỉnh sửa chính
sách đất đai
Chính sách đất đai luôn là một chính sách công hàng đầu, nhất là ở
những nước đang phát triển hiện nay. Nó đã từng có vai trò cực lớn mang tính
chất quyết định, làm thay đổi nền tảng đời sống xã hội ở những nước tiến hành
cách mạng xã hội chủ nghĩa trước kia.
6
Định nghĩa vắn tắt của ba tổ chức quốc tế (bao gồm: African Union,
African Development Bank, và Economic Commission for Africa) về chính
sách đất đai như sau: “Chính sách đất đai là một tập hợp các nguyên tắc được
thỏa thuận để điều chỉnh quyền sở hữu (hoặc để tiếp cận tới), việc sử dụng và
quản lý tài nguyên đất nhằm nâng cao sức sản xuất và đóng góp cho sự phát
triển xã hội, kinh tế, chính trị và môi trường và làm giảm đói nghèo.”1 Định
nghĩa này không chỉ cho thấy những nội dung chủ yếu của chính sách đất đai,
mà còn cho thấy qui trình dân chủ trong việc thiết kế và quyết định chính sách
thông qua đồng thuận xã hội. Đất đai của một quốc gia là nơi chung sống của
cả cộng đồng chính trị xây dựng nên quốc gia đó, cho nên tạo được sự đồng
thuận trong việc thiết lập chính sách đất đai là vô cùng cần thiết cho sự bình ổn
và phát triển của cộng đồng ấy.
Chính sách đất đai, theo một nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển Châu
Á (Asian Development Bank), luôn được bàn luận trong bối cảnh phát triển
nông nghiệp; và qua đó người ta tìm thấy ở đó sự công bằng xã hội, “sức khỏe
chính trị” (political health), sự gia tăng của sản lượng nông nghiệp và sự duy trì
phát triển toàn diện2. Nhưng những nhận xét đó có lẽ chỉ là những nhận xét về
vai trò của chính sách đất đai tại những nước có nền chính trị ổn định.
Nếu xét đất đai từ giác độ là đối tượng của các quyền, thì có thể thấy sở
hữu những thửa đất có sự khác biệt khá nhiều so với sở hữu những tài sản khác
vì sở hữu đất không chỉ đơn thuần là một vấn đề pháp lý, mà còn là một vấn đề
không thể bỏ qua của môi trường tự nhiên, công bằng xã hội và kinh tế, kể cả
an ninh và quốc phòng.
Vì thế, nói về thiết kế và quyết định chính sách đất đai ở những nước
đang phát triển, nhiều nhà nghiên cứu chính sách quốc tế khuyến nghị:
“Các chính sách đất đai là một yếu tố then chốt của những chính
sách công. Chúng có tầm ảnh hưởng to lớn về chính trị, kinh tế và xã hội
1 Africa Union-African Development Bank-Economic Commission for Africa, Land Policy in Africa:
North Africa Regional Assessment, Edited and designed by the ECA Publications and Conference
Management Section (PCMS), Addis Ababa, Ethiopia, 2010, p. VIII. Nguyên văn: “Land policy”: the
set of agreed principles to govern ownership (or access to), use and management of land resources to
enhance their productivity and contribution to social, economic, political and environmental
development and poverty alleviation.”
2 R. S. Deshpande, Emerging Issues in Land Policy, Asian Development Bank, New Delhi, 2007, p. 1.
7
bởi vì chúng xác định cách thức mà theo đó mọi người quan hệ với nhau
trong lĩnh vực đất đai và tài nguyên thiên nhiên. Chúng có thể là bao
gồm hoặc loại trừ, tiếp cận tới đất đai, nhà ở và tài nguyên thiên nhiên
linh động hơn hoặc khắt khe hơn, và giúp củng cố hòa bình hoặc gia
tăng căng thẳng và xung đột. Các chính sách đất đai đã từ lâu là một
nguồn của loại trừ hơn là bao gồm. Giờ đây, khi đất đai gia tăng bất bình
đẳng, thì đó là vấn đề quan trọng hơn bao giờ hết mà thúc giục các chính
quyền cần hành động có dự tính làm cân bằng lại giữa sự phức tạp và
hỗn hợp những vấn đề luôn chất chứa sự bùng nổ liên quan tới đất đai
trong đất nước họ.”3
Những nhận định khái quát về chính sách đất đai, nhất là nhận định về
sự bất bình đẳng, gia tăng căng thẳng và xung đột trong khuyến nghị này
dường như đang được minh chứng thêm ở Việt Nam thông qua những vụ tranh
chấp đất đai vô cùng phức tạp đã từng xảy ra ở Tây Nguyên, Thái Bình, Hải
Phòng, Hà Nội, Hưng Yên, Thành phố Hồ Chí Minh..., và thông qua những vụ
tranh chấp nhỏ lẻ hơn liên quan tới đền bù giải phóng mặt bằng khi nhà đầu tư
lấy đất để làm các dự án khác nhau.
Nhận thức rõ về tầm quan trọng của đất đai, và với mong muốn cần có
một chính sách đất đai thích hợp với sự phát triển của đất nước, Tờ trình Dự án
Luật Đất đai ra Quốc hội năm 2012, Chính phủ Việt Nam viết “Đất đai là vấn
đề lớn, phức tạp và rất nhạy cảm, tác động trực tiếp đến kinh tế, chính trị, xã
hội, sự ổn định và phát triển của đất nước”, tuy nhiên vẫn duy trì quan điểm
“Tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ
sở hữu và thống nhất quản lý”4. Là một nước nông nghiệp, nên chính sách đất
đai ở nước ta không thể không nhằm tới phát triển nông nghiệp và nông thôn.
Tuy nhiên việc cân đối để tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa
luôn được đặt ra, thậm chí ngay cả vấn đề công nghiệp hóa và hiện đại hóa
nông nghiệp và nông thôn. Gần đây Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh
3 Technical Committee on “Land Tenure and Development”, Formalising land rights in developing
countries- Moving from past controversies to future strategies, Printed by XL-Print & Mailing, Paris,
March 2015, p. 15.
4 Chính phủ, Tờ trình về Dự án Luật Đất đai (sửa đổi), Số 222/ TTr- CP ngày 06/09/2012, tr. 4.
8
“Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan
trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”5 với một
trong các giải pháp chủ yếu là “Quy hoạch bố trí lại dân cư nông thôn gắn với
việc quy hoạch xây dựng công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị ở các
vùng”6. Thực tế ở Việt Nam hiện nay, nông thôn, nông nghiệp khởi động sự
nghiệp đổi mới, cứu thua cho cái hiện đại và đô thị công nghiệp, nhưng người
nông dân phải bỏ làng ra đi làm thuê với giá rẻ mạt do thiếu đất, mất đất…7.
Vì vậy sự chỉnh sửa chính sách đất đai, thậm chí thiết kế lại chính sách
này, là việc hết sức cần thiết. Ngay ở Hoa Kỳ (một liên bang có đất đai rộng
lớn với mật độ dân cư thấp), nhưng các cơ quan hành pháp và tư pháp của liên
bang này phải thường xuyên cố gắng thiết lập những chính sách sử dụng đất để
đáp ứng các mối quan tâm mới nổi và nhu cầu phát triển8. Gần đây, Bộ Tài
nguyên và Môi trường vẫn khẳng định: “Việc tích tụ, tập trung ruộng đất là
bước đi cần thiết, đáp ứng đòi hỏi của tính hiệu quả trong sản xuất nông
nghiệp, tạo điều kiện để thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn.”, và cho rằng “Đây là quan điểm nhất quán của Đảng
và Nhà nước ta”9.
2. Những nội dung chủ yếu của chính sách đất đai và pháp luật đất đai
FAO (Food and Agriculture Organization- Tổ chức Nông Lương Liên
Hiệp Quốc) đưa ra định nghĩa về đất đai như sau: “Đất đai là một khu vực có
thể phân định được của bề mặt trái đất, chứa đựng các thuộc tính sinh quyển
trực tiếp trên hoặc dưới bề mặt đó bao gồm thuộc tính cận bề mặt, khí hậu, thổ
nhưỡng và dạng địa hình, thủy học bề mặt (như những hồ nông, sông, đầm lầy,
và đất ngập nước), những lớp trầm tích cận bề mặt và trữ lượng nước ngầm liên
quan, thực vật và quần thể động vật, mô hình định cư của con người và kết quả
5 Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương
Khóa X về Nông nghiệp, Nông dân và Nông thôn số 26- NQ/TW ngày 05/8/2008, điểm 1, Mục II.
6 Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương
Khóa X về Nông nghiệp, Nông dân và Nông thôn số 26- NQ/TW ngày 05/8/2008, điểm 2, Mục I.
7 Tương Lai, “Về nông thôn và nông dân” (tr. 9 – 127), Nông dân, nông thôn & nông nghiệp, những
vấn đề đang đặt ra, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2008, tr. 13.
8 Robert R. Wright and Susan Webber Wright, Land Use in a Nutshell, Second Edition, St. Paul, Minn.
West Publishing Co., 1985, p. 9.
9 Bộ Tài nguyên và Môi trường, Đề án thí điểm tính tụ, tập trung đất đai phục vụ thu hút đầu tư sản
xuất nông nghiệp tập trung, 2018, tr. 1.
9
vật lý của hoạt động trong quá khứ và hiện tại của con người (tôn tạo, các công
trình trữ nước hoặc thoát nước, đường xá, xây dựng…)”10 Như vậy đất đai là
một khái niệm rất rộng, gắn chặt với môi trường và đời sống của con người,
nhất là các hoạt động kinh tế nông nghiệp và lâm nghiệp. Vì vậy nội dung
chính sách đất đai không chỉ dừng lại ở sử dụng đất. Tuy nhiên trong phạm vi
của luật đất đai, nội dung của chính sách đất đai có thể được xem xét ở mức độ
hẹp hơn.
Nội dung của chính sách đất đai bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm:
(1) những vấn đề liên quan tới việc thủ đắc, phân bổ, bảo tồn, tôn tạo và phát
triển đất đai; (2) định hướng, mục tiêu và biện pháp chủ yếu liên quan tới lập
qui hoạch, kế hoạch và quản lý “sử dụng đất”; và (3) các khuyến khích liên
quan tới đất đai và phát triển bền vững, tăng trưởng xanh…
Chính sách công, nhất là chính sách đất đai ảnh hưởng rất lớn tới pháp
luật nếu như không muốn nói nó là linh hồn của pháp luật về đất đai, luật tài
sản. Ngoài việc xem lập qui hoạch và quản lý tài nguyên đất đai có ảnh hưởng
tích cực tới sự phát triển của đất nước bởi chúng giúp giành được sự phát triển
bền vững toàn diện11, người ta còn nhận định rằng: Sự quan tâm của chính sách
công ảnh hưởng tới pháp luật về sử dụng đất với mức độ lớn hơn rất nhiều so
với bất kỳ lĩnh vực nào của pháp luật tài sản12.
Khi nói tới chính sách đất đai ở những nước có nền kinh tế chuyển đổi
từ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung sang nền kinh tế thị trường, trước hết
phải nói về chế độ sở hữu đất đai.
Xét từ giác độ kinh tế, người ta cho rằng tư tưởng trung tâm của hệ tư
tưởng cộng sản là sự đối lập với quyền tư hữu về tư liệu sản xuất; và như một
hệ quả trực tiếp, điều cấm chống lại quyền tư hữu tài sản được thể hiện trước
hết và cao nhất trong quan hệ đất đai; và vì thế ngay ngày hôm sau khi mới
giành được chính quyền từ Chính phủ lâm thời vào tháng 10/2017, những
10 Xem Filipe Batista e Silva, Land Function: Origin and Evolution of the Concept, Cadernos Curso de
Doutoramento Em Geografia Flup, 2011, p. 68.
11 Africa Union-African Development Bank-Economic Commission for Africa, Land Policy in Africa:
North Africa Regional Assessment, Edited and designed by the ECA Publications and Conference
Management Section (PCMS), Addis AbabaEthiopia, 2010, p.1.
12 Robert R. Wright and Susan Webber Wright, Land Use in a Nutshell, Second Edition, St. Paul,
Minn. West Publishing Co., 1985, p. 9.
10
người Bolshevik đã ban hành Sắc lệnh về đất đai xóa bỏ quyền sở hữu tư nhân
về đất đai13. Chế độ sở hữu này được củng cố qua Hiến pháp 1936 cho tới Hiến
pháp 1977 (bản Hiến pháp cuối cùng) của Liên Bang Cộng hòa Xã hội chủ
nghĩa Xô Viết (cũ). Các nước xã hội chủ nghĩa cũ cũng theo đó mà thiết lập
chế độ sở hữu khác biệt hay gọi xa xôi hơn là chế độ sở hữu toàn dân về đất
đai.
Bộ luật Dân sự 1950 theo kiểu Xô viết của Tiệp Khắc (từ Điều 155 tới
Điều 165) bắt đầu tách quyền sở hữu đất đai khỏi quyền sở hữu các công trình
được xây dựng trên đất. Và từ đó Đảng Cộng sản Tiệp Khắc từng bước tiến tới
xóa bỏ quyền tư hữu đất đai và biến Nhà nước thành chủ sở hữu tuyệt đối, tuy
nhiên vẫn cho phép các công trình được xây dựng trên đất thuộc sở hữu của
Nhà nước không chỉ thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, mà còn thuộc quyền sở
hữu của các cơ quan Nhà nước, các pháp nhân và thậm chí thuộc quyền sở hữu
của công dân- những người được phép sở hữu những ngôi nhà nhỏ của gia
đình14. Như vậy xét từ khía cạnh kỹ thuật pháp lý, Nhà nước Tiệp Khắc đã cấp
quyền bề mặt cho mọi tổ chức và cá nhân. Nói cách khác, mọi tổ chức và cá
nhân tại Tiệp Khắc chỉ có quyền bề mặt trên đất của Nhà nước liên quan tới các
công trình xây dựng. Điều này khác ở Việt Nam vì ở Việt Nam thực chất có
nhiều công trình được xây dựng như vậy nhưng pháp luật không cho rằng chủ
sở hữu công trình có quyền bề mặt trên thửa đất đó của Nhà nước bởi cho đến
khi Bộ luật Dân sự 2015 ra đời, tại đó mới có các qui định về quyền bề mặt.
Cũng là một nước theo con đường xã hội chủ nghĩa nhưng Việt Nam
không giống Trung Quốc về chế độ sở hữu đất đai. Luật Đất đai 1986 của
Trung Quốc trong lần sửa đổi gần đây vào năm 2004 vẫn duy trì một chế độ đa
hình thức sở hữu về đất đai. Điều 2, đoạn 1 của đạo luật này qui định: “Nước
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa theo đuổi công hữu xã hội chủ nghĩa về đất đai,
cụ thể là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể tập thể của người lao động.” Sở hữu
13 Encyclopedia.com, Land Tenure, Soviet and Post-Soviet,
soviet-and-post-soviet], 17:01,10/10/2021, p. 1.
14 George E. Glos, “The Czechoslovak Civil Code of 1964 and Its 1982 Amendment Within the
Framework of Czechoslovak Civil Law”, NYLS Journal of International and Comparative Law: Vol. 6
: No. 2 , Article 2, 1985, p. 244.
11
toàn dân về đất đai được giải thích chính thức bởi đạo luật này như sau: “Sở
hữu toàn dân có nghĩa là quyền sở hữu đối với đất đai của Nhà nước được thi
hành bởi Hội đồng Nhà nước nhân danh Nhà nước.” (Điều 2, đoạn 2). Chế độ
sở hữu này gần với chế độ sở hữu được thiết lập bởi Hiến pháp 1977 của Liên
Bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết hơn so với chế độ sở hữu được Việt
Nam thiết lập trong Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013.
Ấy thế mà khi xây dựng kinh tế thị trường, sau khi Liên Xô sụp đổ, Liên
Bang Nga hiện nay ban hành một Bộ luật Đất đai vào năm 2001 (được sửa đổi
và bổ sung vào các năm 2003, 2004, 2005, 2006 và 2007) có quan điểm ngược
lại hẳn với tư tưởng trên. Ngay tại Điều 1 của Bộ luật này, hai nguyên tắc15 nền
tảng nhất về đất đai được tuyên bố như sau:
“1. Bộ luật này và các đạo luật khác về đất đai được ban hành
phù hợp với nó phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
1) cân nhắc tới tầm quan trọng của đất đai như là nền tảng của
đời sống và hoạt động của con người mà theo đó việc điều chỉnh các
mối quan hệ trong việc sử dụng và bảo tồn đất đai được theo đuổi xuất
phát từ ý tưởng rằng đất đai là một điều kiện tự nhiên được gìn giữ như
thành tố quan trọng nhất của tự nhiên, một tài nguyên thiên nhiên được
sử dụng như một tư liệu sản xuất trong nông nghiệp và lâm nghiệp và là
nền tảng của các hoạt động kinh tế trên lãnh thổ Liên Bang Nga và đồng
thời là bất động sản, đối tượng của quyền sở hữu và các quyền khác liên
quan tới đất;
2) ưu tiên bảo tồn đất đai như một thành phần quan trọng nhất
của môi trường và của tư liệu sản xuất trong nông nghiệp và lâm nghiệp
đối với việc sử dụng đất như bất động sản, có nghĩa là việc chiếm hữu,
sử dụng và định đoạt đất được thực hiện một cách tự do bởi các chủ sở
hữu những thửa đất, trừ khi nó có hại cho môi trường;”.
Quyền sở hữu tư nhân về đất đai ở Liên Bang Nga được Bộ luật này
thừa nhận, phát triển và bảo vệ như sau:
15 Tại Điều 1, khoản 1, Bộ luật Đất đai của Liên Bang Nga tuyên bố 11 nguyên tắc cơ bản về đất đai.
12
“1. Tài sản của công dân và pháp nhân (tài sản tư) là những thửa
đất được thủ đắc bởi công dân và pháp nhân căn cứ theo luật của Liên
Bang Nga.
2. Công dân và pháp nhân có quyền ngang nhau tiếp cận tới việc
thủ đắc quyền sở hữu những thửa đất. Những thửa đất của nhà nước
hoặc của chính quyền thành phố có thể được chuyển nhượng cho công
dân và pháp nhân để trở thành tài sản của họ, trừ những thửa đất không
thể là tài sản tư theo Bộ luật này và pháp luật liên bang.” (Điều 15)
Điều luật này khuyến khích tư nhân hóa đất đai- một vấn đề quan trọng
trong chính sách xây dựng kinh tế thị trường.
Tuy nhiên có quan điểm khác với quan điểm tư nhân hóa đất đai xuất
hiện ở Trung Quốc và ở Việt Nam. Khi nghiên cứu về chế độ sở hữu đất đai
(một vấn đề vật quyền) ở Trung Quốc, có nhận định rằng chế độ này sẽ giữ vai
trò chủ chốt trong việc làm biến đổi cơ cấu hiện tại mà đang chuyển Trung
Quốc từ một xã hội nông nghiệp và nông thôn chiếm ưu thế sang một xã hội
thành thị và công nghiệp16.
Ở Việt Nam có quan điểm cho rằng vì những thửa đất là những bộ phận
của lãnh thổ quốc gia mà cả dân tộc ta đã đổ biết bao xương máu để giành giật
và gìn giữ, cho nên để thi hành nguyên tắc Hiến pháp 1980 về chế độ sở hữu
toàn dân về đất đai, Luật Đất đai 1987 của Việt Nam đưa ra lập luận cho chế độ
đất đai này tại lời mở đầu như sau: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý
giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được của nông nghiệp, lâm
nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn
phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và
quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta tốn bao công sức và xương máu
mới khai thác, bồi bổ, cải tạo và bảo vệ được vốn đất như ngày nay.” Và căn cứ
vào đó, đạo luật này tuyên bố trong Điều 1 rằng “Đất đai thuộc sở hữu toàn
dân, do Nhà nước thống nhất quản lý.” Kế tiếp các lập luận đó để khẳng định
lại một lần nữa rằng “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất
16 Dwight H. Perkins, “China’s Land System: Past, Present, and Future”, Property Rights and Land
Policies, Edited by Gregory K. Ingram and Yu-Hung Hong, Proceedings of the 2008 Land Policy
Conference, The Lincoln Institute of Land Policy, 2009, p. 70.
13
quản lý” (Điều 1), Luật Đất đai năm 1993 cũng tại lời mở đầu đưa ra một
khẳng định nhất quán làm căn cứ xây dựng nên đạo luật này như sau: “Đất đai
là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành
phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân
cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng; Trải
qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo
vệ được vốn đất đai như ngày nay;”.
Đồng ý rằng một quốc gia phải hội đủ ba yếu tố theo luật quốc tế hiện
đại, bao gồm: (1) phải có lãnh thổ; (2) phải có dân cư; và (3) phải có một chính
quyền có khả năng duy trì quyền kiểm soát có hiệu quả đối với lãnh thổ của
mình và có khả năng tiến hành quan hệ quốc tế với các quốc gia khác. Các luật
gia về công pháp quốc tế hiện đại cho rằng: đối với yếu tố lãnh thổ trong khái
niệm quốc gia, thì sự chắc chắn hoàn toàn về biên giới quốc gia không được
yêu cầu (nguyên văn: But absolute certainty about a state’s frontiers is not
required)17. Lãnh thổ theo cách hiểu thông thường là một khu vực đất hoặc
nước hoặc bao gồm cả hai thuộc về một cộng đồng hay một cá nhân nào đó.
Quốc gia có chủ quyền trên lãnh thổ của mình. Và chủ quyền quốc gia luôn
được xem xét trên hai phương diện bên trong và bên ngoài. Trước hết chủ
quyền của một quốc gia thuộc về cơ quan có quyền làm ra luật cho toàn bộ đất
nước- đó là chủ quyền bên trong (internal sovereignty); và chủ quyền mở rộng
ra bên ngoài (external sovereignty) được thừa nhận bởi luật quốc tế rằng quốc
gia có quyền tài phán trên lãnh thổ của mình18. Trong mối quan hệ với các thửa
đất, lãnh thổ được xem là một phần của không gian mà trong đó bao gồm các
thửa đất thuộc về những tổ chức hoặc cá nhân nào đó. Vì vậy khi chúng ta
chiến đấu bảo vệ lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc có nghĩa là chúng ta bảo vệ
cho cái không gian mà tại đó cộng đồng chính trị của chúng ta có chủ quyền
bên trong và bên ngoài đối với nó, chứ việc chiến đấu như vậy không có ý
nghĩa thô thiển là bảo vệ cho những thửa đất cụ thể thuộc về ai đó. Trước khi
17 Michael Akehurst, A Modern Introduction to International Law, Sixth Edition, Routledge, London
and New York, 1995, p. 53.
18 Rod Hague, Martin Harrop, Shaun Breslin, Political Science: A Comparative Introduction, St.
Martin’s Press, New York, 1992, p. 7.
14
có Hiến pháp năm 1980, dân tộc ta đã chiến đấu bảo vệ tổ quốc mà trong đó có
cả công thổ và tư thổ. Hiện nay chúng ta chiến đấu giành lại Hoàng Sa mà
không loại trừ trong không gian đó có cả tư thổ tại thời điểm mà quân Trung
Quốc xâm chiếm? Việc tranh chấp quần đảo Senkaku giữa Trung Quốc và
Nhật Bản cho chúng ta thấy rõ điều này.
Nhận thức khoa học về sở hữu toàn dân về đất đai của nhiều nhà nghiên
cứu Việt Nam có những nội dung khá “khó hiểu” như đoạn trích dẫn dưới đây:
“Sở hữu toàn dân có nghĩa là sở hữu của toàn thể nhân dân trong
xã hội xã hội chủ nghĩa, cũng có nghĩa là sở hữu xã hội chủ nghĩa Nhà
nước. Chế độ này ra đời cùng với việc thiết lập Nhà nước xã hội chủ
nghĩa. Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, sở hữu xã hội chủ nghĩa
thể hiện dưới hai hình thức: Sở hữu Nhà nước và sở hữu tập thể. Trong
hai hình thức sở hữu đó, sở hữu Nhà nước là hình thức cao, vì nó thể
hiện đầy đủ nhất nguyên tắc xã hội hóa xã hội chủ nghĩa”19.
Tuy nhiên ở Việt Nam, tiến trình công hữu hóa đất đai diễn ra chậm hơn
so với hầu hết các nước làm cách mạng xã hội chủ nghĩa khác do điều kiện và
hoàn cảnh đặc biệt. Cách tiếp cận ban đầu của cuộc cách mạng ở Việt Nam khá
khác biệt góp phần quyết định thời điểm muộn của công hữu hóa đất đai mãi về
sau này.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thực chất là một cuộc Cách mạng dân
tộc, dân chủ do nhân dân Việt Nam tiến hành và xây dựng nên chính quyền của
mình, thể hiện rất rõ qua khởi nghĩa cướp chính quyền và xây dựng nên nền tài
chính cho chính quyền cách mạng... Nhưng không thể phủ nhận được vai trò
tập hợp lực lượng và lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong cuộc cách mạng này.
Tuy nhiên trước đó, bản chất của cuộc cách mạng này được xác định là cách
mạng “tư sản dân quyền” với nhiệm vụ “phản đế và phản phong kiến”, sau đó
19 Xem Nguyễn Mạnh Hùng, Tìm hiểu Luật Đất đai mới – Chính sách ruộng đất mới, Nxb. Chính trị
Quốc Gia, Hà Nội, 1993, tr. 9 – 10.
15
được thay đổi chút ít cho phù hợp với tình hình mới vào tháng 11/1939 mà tại
đó Đảng đã chỉ rõ việc đặt nhiệm vụ phản đế lên vị trí chủ yếu nhất20.
Vì vậy, như một hệ quả tất yếu, Tuyên ngôn Độc lập 1945 đã dẫn lại
những danh ngôn nổi tiếng của các cuộc cách mạng cùng bản chất, rằng:
“Hỡi đồng bào cả nước,
‘Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho
họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền
ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc’.
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của
nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế
giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung
sướng và quyền tự do.
Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp
năm 1791 cũng nói: ‘người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi,
và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi’.
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.”
Qua đó, Tuyên ngôn Độc lập 1945 của chúng ta đã khẳng định mấy
điểm sau xét từ khía cạnh lãnh thổ:
Thứ nhất, cũng giống như mỗi con người, mỗi dân tộc đều phải được
bình đẳng với các dân tộc khác về quyền lợi mà trong quyền lợi đó có quyền
lợi về lãnh thổ. Còn vấn đề lãnh thổ là đối tượng của quyền lợi đó rộng hay hẹp
và với vị trí và địa hình ra sao hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn gốc lịch sử để
lại.
Thứ hai, cũng giống như mỗi con người, mỗi dân tộc đều có quyền tự do
đối với lãnh thổ của mình để xây đắp hạnh phúc và có quyền chống lại sự xâm
chiếm lãnh thổ hay biến lãnh thổ của dân tộc khác thành thuộc địa.
Xét cho cùng, con người luôn luôn có khuynh hướng nhìn và đánh giá
các sự vật, sự việc từ các phẩm chất của mình (chính con người). Quốc gia dân
20 Xem Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội, Viện Kinh tế Việt Nam, Cách mạng Ruộng Đất ở Việt Nam,
Tái bản theo bản in năm 1968, Trần Phương (Chủ biên), Nxb. Khoa học xã hội- MaiHa Books, 2021,
tr. 62-65.
16
tộc cũng được con người xem xét theo kiểu nhân cách hóa để cho nó có một
đời sống pháp lý và có chủ quyền. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn như vậy.
Do đó, rất logic, Hiến pháp 1946 tuyên bố (tại Điều 12) một nguyên tắc
nền tảng để xây dựng pháp luật, xây dựng chính quyền và thiết lập nên nhiệm
vụ và mục tiêu bảo vệ của pháp luật và của chính quyền như sau: “Quyền tư
hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”. Ngắn gọn, dứt khoát, đầy
tính nhân văn và pháp lý là những gì mà không thể không nhận thấy từ tuyên
bố đó.
Quyền tư hữu tài sản là nội dung nền tảng của “quyền được sống, quyền
tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”, và là nội dung quan trọng nhất để bảo
đảm “tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Việc đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh
thần theo kiểu ban phát hay “cào bằng” là trái với phẩm chất của con người, là
chống lại “tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
Rõ ràng có quy luật phân bổ không đồng đều mà con người hoàn toàn ý
thức được. Trí tuệ, sức khỏe, tài năng, khả năng lao động và cống hiến, tình
cảm, sự nhanh nhậy, giới tính, nhu cầu… không thể được phân bổ đồng đều
giữa mọi người, dù hết lòng mong muốn. Do đó sự công bằng và bình đẳng
phải giải thích theo nghĩa công bằng và bình đẳng về cơ hội.
Rõ ràng chúng ta đều thấy, thủ tiêu quyền tư hữu đồng nghĩa với thủ tiêu
động lực phát triển của xã hội loài người. “Mỗi người làm việc bằng hai, để
cho chủ nhiệm mua đài, mua xe; Mỗi người làm việc bằng ba, để cho chủ
nhiệm xây nhà, xây sân” là một câu dân thơ từ thời còn tồn tại hợp tác xã nông
nghiệp mà mỗi trong số chúng đều đặt dưới sự lãnh đạo của một vị chủ nhiệm
hợp tác xã. Câu dân thơ đó đang nhắc chúng ta về hậu quả của sự thủ tiêu
quyền tư hữu ruộng đất. Cái đói dày vò những con người đầy tình yêu đối với
quê hương và đất nước bởi họ không có động lực để lao động, sản xuất. Tư
tưởng của Kim Ngọc xuất hiện gây một cú sốc. Thực chất của tư tưởng ấy là trả
lại ruộng đất cho nông dân, nhưng buộc phải sử dụng hình thức khác.
Vẫn theo tư duy về sở hữu của truyền thống Sovietique Law, Hiến pháp
năm 2013 cũng như Bộ luật Dân sự năm 2015 đều nhầm lẫn giữa tài sản chung
và tài sản công. Hiến pháp năm 2013 qui định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài
17
nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên
khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu
toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”21. Bộ luật
Dân sự năm 2015 đã sao chép nguyên văn qui định trên của Hiến pháp năm
2013 vào Điều 197 để qui kết đó là hình thức sở hữu toàn dân.
Rất đáng tiếc, lịch sử không diễn ra như vậy. Luật La Mã cổ đại dựa vào
tài sản có thuộc sở hữu tư hay không để phân loại tài sản thành: tài sản chung
(res communes) bao gồm không khí, nước chảy, biển… không thể thuộc sở hữu
của bất kỳ ai, chung cho tất cả mọi người hưởng thụ, và tài sản công (res
publicae) thuộc về nhà nước như đường xá, cầu cống, bến cảng công…22. Trên
căn bản đó, luật dân sự của Québec (Canada) xem các vật thể vật chất là tài sản
chung không phụ thuộc vào sự chiếm giữ (occupation) dù rằng pháp luật có thể
qui định về việc sử dụng chúng23. Bộ luật Dân sự Louisiana cũng phân loại tài
sản thành tài sản chung (common things), tài sản công (public things) và tài sản
tư (private things) trước khi phân loại tài sản thành hữu hình (corporeals), vô
hình (incorporeals), bất động sản (immovables) và động sản (movables)24. Tuy
nhiên khi xem lại, Hiến pháp 1977 của Liên Xô (cũ) có sự khác biệt với những
nhầm lẫn của pháp luật Việt Nam như trên đã dẫn.
Hiến pháp 1977 của Liên Xô (cũ) có sự phân biệt giữa quyền sở hữu và
tài sản. Điều 10 của Hiến pháp này quy định (theo bản dịch chính thức ra tiếng
Anh của Liên Xô) như sau:
“Chế độ kinh tế của Liên Bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô
Viết dựa trên sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất dưới hình thức
tài sản nhà nước, và tài sản của các nông trang tập thể.” (Nguyên văn:
“The economic system of the USSR shall be based on socialist
ownership of the means of production in the form of state (public)
property, and collective farm-and-co-operative property.”).
21 Hiến pháp năm 2013, Điều 53.
22 Xem Andrew Borkowski & Paul du Lessis, Textbook on Roman Law, Third Edition, Oxford
University Press, New York, 2005, tr. 154.
23 John E. C. Brierley, Roderick A. Macdonald, Quebec Civil Law – An Introduction to Quecbec
Private Law, Edmond Montgomery Publications Limited, Toronto, Canada, 1993, p. 278.
24 Louisiana Civil Code, Article 448.
18
Điều 11 của Hiến pháp này quy định:
“Tài sản nhà nước, tức là tài sản chung của nhân dân Xô Viết, là
hình thức chủ yếu của tài sản xã hội chủ nghĩa.
Đất đai, khoáng sản, nước, và rừng là tài sản riêng của nhà nước.
Nhà nước sở hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu trong công nghiệp, xây
dựng, và nông nghiệp, các phương tiện giao thông và thông tin, liên lạc;
ngân hàng; tài sản của các tổ chức thương mại nhà nước và dịch vụ công
cộng, và doanh nghiệp nhà nước; hầu hết nhà ở đô thị; và tài sản khác
cần thiết cho mục đích nhà nước.” (Nguyên văn: “State property, i.e. the
common property of the Soviet people, is the principal form of socialist
property. The land, its minerals, waters, and forests shall be the
exclusive property of the state. The state shall own the basic means of
production in industry, construction, and agriculture; means of transport
and communication; the banks; the property of state-run trade
organisations and public utilities, and other state-run undertakings; most
urban housing; and other property necessary for state purposes.”
Để bênh vực cho chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và thiết lập các qui
chế pháp lý khác nhau đối với quyền sử dụng đất ở Việt Nam, có quan niệm
cho rằng quyền sử dụng đất ở Việt Nam giống với chế định ‘estate’ trong luật
tài sản của Anh Quốc.
Vậy luật tài sản của Anh Quốc nói gì về đất đai với tính cách là tài sản,
và ‘estate’ là gì và có thật giống với quyền sử dụng đất ở Việt Nam không?
Trả lời cho các câu hỏi này, trước hết chúng ta cần khảo sát sơ lược về
luật tài sản của Anh Quốc và đặc biệt là chế định ‘estate’. Tuy nhiên cần lưu ý
rằng: pháp luật Anh Quốc là truyền thống Common Law rất khác biệt với
truyền thống Civil Law và truyền thống Sovietique Law. Có nhiều khái niệm
chỉ có ở Common Law mà không có ở các truyền thống pháp luật khác, nhất là
những khái niệm trong khuôn khổ của luật tài sản- phần cổ nhất trong pháp luật
Anh Quốc. Vì vậy việc dịch chính xác thuật ngữ luật tài sản của Anh Quốc ra
tiếng Việt là không thể, mà chỉ có thể cố gắng dùng thuật ngữ tương đương của
19
tiếng Việt để dịch thuật, kèm theo dùng nguyên văn thuật ngữ tiếng Anh, cộng
với mô tả trong một chừng mực nhất định để hiểu.
Nói tới luật tài sản của Anh Quốc phải nói tới các khái niệm chủ yếu
liên quan bao gồm: chiếm hữu (possession); vật quyền (title)25; và quyền sở
hữu (ownership). “Pháp luật Anh chưa bao giờ trình bày thấu đáo và logic hoàn
toàn về khái niệm chiếm hữu” bởi nó được nhào nặn qua những sự áp dụng
khác nhau26. Tuy nhiên để hiểu được luật tài sản của Anh Quốc trước hết cần
tìm hiểu ‘the doctrine of tenure’ và ‘the doctrine of estate’ (tạm dịch là: ‘học
thuyết về chiếm hữu bất động sản’ và ‘học thuyết về sở hữu bất động sản’).
Một cuốn sách nói về luật tài sản của Anh và Úc có viết: theo ‘the
doctrine of tenure’ và ‘the doctrine of estate’, thì không thể nói rằng một cá
nhân có được quyền sở hữu tuyệt đối (absolute ownership) bất động sản; hậu
quả là một người chỉ có ‘title’ (quyền sở hữu hạn chế) trên bất động sản27. Và
thuật ngữ ‘title’ được giải thích là biểu hiện của ‘quyền sở hữu’ (ownership) tới
mức độ mà quyền sở hữu được thừa nhận bởi pháp luật với giả định rằng (hay
căn cứ vào) Nhà vua là người nắm giữ tối cao bất động sản (nguyên văn: Title
represents ‘ownership’ to the degree that ownership is recognised by the law,
given that the Crown is ultimate holder of real property.28). Bản chất của ‘title’
là quyền được chiếm hữu và có thể được thủ đắc bởi các căn cứ như: được Nhà
vua cấp quyền, mua bán, tặng cho hoặc thừa kế.
Có thể hiểu ‘tenure’ trong học thuyết chiếm hữu bất động sản (the
doctrine of tenure) là một phương thức chiếm hữu bất động sản đã được xác
định bởi mối quan hệ giữa người chiếm hữu và chủ sở hữu mà có nguồn gốc từ
việc nhà vua ban phát bất động sản cho các quần thần; và ‘estate’ (quyền sở
hữu bất động sản) xuất phát từ căn cứ đó và bị thay đổi tùy thuộc vào đặc tính
của mối quan hệ29. ‘Tenure’ có thể hiểu đơn giản là sự chiếm hữu những thửa
đất nhất định với các dạng thức khác nhau được phát triển từ thời Trung cổ ở
25 Thuật ngữ “title” trong luật tài sản của Anh Quốc cũng có thể gọi là “quyền sở hữu” như nhiều công
trình nghiên cứu. Song nó có những khác biệt với “ownership”.
26 Bruce Ziff, Principles of Property Law, Second Edition, Carswell, Canada, 1996, p. 116.
27 Bronwen Jackman, Kip Werren, Property Law, LexisNexis Butterworths, Autralia, 2011, p.26.
28 Bronwen Jackman, Kip Werren, Property Law, LexisNexis Butterworths, Autralia, 2011, p.26.
29 Nguyễn Thế Kỳ, Phạm Quốc Toản, Lương Hữu Định, Từ điển Pháp luật Anh-Việt, Nxb. Khoa học
xã hội, Hà Nội, 1994, tra từ “tenure”, tr. 406.
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Hội thảo Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sửa đổi luật đất đai năm 2013", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hoi_thao_co_so_ly_luan_va_thuc_tien_cua_viec_sua_doi_luat_da.pdf

