Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam (Phần 2)

Chương 9  
TRÌNH TỰ, THỦ TỤC TẠI PHIÊN TOÀ SƠ THẨM  
1. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ PHIÊN TÒA SƠ THẨM  
DÂN SỰ  
Việc xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thông qua phiên tòa sơ thẩm có ý  
nghĩa đặc biệt quan trọng vì phiên toà là sự thể hiện rõ nhất chức năng  
xét xử của Toà án. Các quy định về thủ tục phiên toà sơ thẩm được quy  
định khá rõ ràng cụ thể trong BLTTDS 2004, thể hiện:  
1.1. Nguyên tắc tiến hành phiên toà sơ thẩm  
Xét xử sơ thẩm vụ án dân sự liên tục và căn cứ vào kết quả tranh  
tụng. Việc xét xử vụ án dân sự được thể hiện bằng lời nói và tiến hành  
liên tục, trừ thời gian nghỉ. Bản án chỉ được căn cứ vào kết quả tranh  
tụng, việc hỏi tại phiên toà và các chứng cứ đã được kiểm tra xem xét tại  
phiên toà (khoản 1 Điều 197 BLTTDS 2004). Quy định thể hiện rõ việc  
thực hiện cải cách tư pháp ở nước ta đảm bảo sự độc lập khi xét xử. Đây  
là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động tố tụng vì nó ảnh hưởng  
trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả xét xử cũng như đến quyền và lợi ích  
hợp pháp của các chủ thể tranh chấp. Chỉ thông qua tranh tụng tại phiên  
toà các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét, thẩm định  
khách quan đảm bảo cho việc ra các phán quyết của Toà án.  
Trong trường hợp đặc biệt việc xét xử có thể tạm ngừng không quá  
năm ngày làm việc. Khi hết thời hạn tạm ngừng thì việc xét xử vụ án  
được tiếp tục. Quy định này nhằm đảm bảo cho Hội đồng xét xử và  
những người tham gia tố tụng nhận thức liên tục các tình tiết của vụ án  
và giải quyết dứt điểm từng vụ án dân sự.  
1.2. Sự có mặt của những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng  
a. Sự có mặt của những người tiến hành tố tụng  
Đối với Hội đồng xét xử:  
Theo quy định tại Điều 52, thành phần Hội đồng xét xử vụ án dân  
sự gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân. Trong trường hợp  
215  
đặc biệt thì Hội đồng xét xử có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm  
nhân dân. Tại phiên tòa dân sự sơ thẩm, vai trò của Hội đồng xét xử hết  
sức quan trọng, nếu thiếu một thành viên thì phiên toà không thể tiến  
hành. Hội đồng xét xử nhân danh Nhà nước để đưa ra các phán quyết, do  
đó nếu có một thành viên nào của Hội đồng xét xử có lý do đặc biệt  
không thể tham gia xét xử được, việc thay thế được thực hiện như sau:  
Trong trường hợp có Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân không thể  
tiếp tục tham gia xét xử vụ án nhưng có Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân  
dân dự khuyết thì những người này thay thế và được tham gia xét xử tiếp  
vụ án nếu họ có mặt tại phiên toà ngay từ đầu. Nếu Hội đồng xét xử có hai  
Thẩm phán mà Thẩm phán chủ tọa phiên toà không tiếp tục tham gia xét  
xử được thì Thẩm phán là thành viên Hội đồng xét xử chủ tọa phiên toà và  
Thẩm phán dự khuyết được bổ sung làm thành viên Hội đồng xét xử.  
Trường hợp không có Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân dự khuyết để  
thay thế thành viên Hội đồng xét xử hoặc thay đổi chủ tọa mà không có  
Thẩm phán thay thế thì vụ án được xét xử lại từ đầu.  
Đối với những người tiến hành tố tụng khác:  
Thư ký phiên toà phải có mặt tại phiên toà, còn đại diện Viện kiểm  
sát chỉ có mặt tại phiên toà sơ thẩm khi đương sự khiếu nại việc thu thập  
chứng cứ của Toà án. Tại phiên tòa sơ thẩm nếu đương sự tự nguyên rút  
đơn khiếu nại việc thu thập chứng cứ của Toà án hoặc khi được hỏi mà  
các đương sự có thoả thuận với nhau thì vai trò của đại diện Viện kiểm  
sát còn có các ý kiến khác nhau. Một số ý kiến cho rằng trong trường  
hợp này không cần sự tham gia của Viện kiểm sát tại phiên toà nữa,  
nhưng một số ý kiến khác lại cho là đại diện Viện kiểm sát vẫn tham gia  
phiên toà để kiểm sát hoạt động xét xử mà không có quyền phát biểu ý  
kiến về việc giải quyết vụ án. Theo chúng tôi loại ý kiến thứ hai là hợp lý  
vì trong quyết định đưa vụ án ra xét xử đã có Kiểm sát viên tham gia  
phiên toà nên vẫn có quyền kiểm sát hoạt động xét xử của Toà án.  
b. Sự có mặt của những người tham gia phiên toà sơ thẩm  
Những người tham gia phiên toà sơ thẩm bao gồm nguyên đơn, bị  
đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan, người làm chứng, người  
giám định, người phiên dịch,v.v.. Các đương sự trong phiên tòa sơ thẩm  
216  
rất quan trọng bởi lẽ chỉ khi có mặt các đương sự thì việc tranh luận mới  
được thực hiện triệt để, các chứng cứ được kiểm tra thông qua các bên có  
quyền lợi đối lập nhau. Thông qua những lập luận, phản bác tại phiên toà  
sẽ giúp cho Hội đồng xét xử đánh giá các tình tiết vụ án khách quan và  
toàn diện hơn. Trường hợp vắng mặt đương sự thì việc thực hiện tranh  
luận tại phiên tòa sẽ gặp những khó khăn nếu Toà án chỉ xét xử trên hồ  
sơ của vụ án. Do đó, pháp luật quy định rõ những trường hợp cụ thể nào  
đương sự được phép vắng mặt, trường hợp nào phải có mặt để đảm bảo  
việc tranh luận có hiệu quả. Vì vậy, sự có mặt của các đương sự tại phiên  
toà không còn là lợi ích riêng tư của một đương sự nào mà làm cho việc  
xét xử của Toà án khách quan và chính xác hơn.  
Theo các quy định từ Điều 199 đến Điều 202 BLTTDS 2004, mỗi  
đương sự có tư cách khác nhau vắng mặt tại phiên toà thì sẽ có hướng  
giải quyết hậu quả khác nhau, cụ thể như sau:  
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện  
của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có  
mặt; trường hợp có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa,  
trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án thông  
báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp  
pháp của đương sự biết việc hoãn phiên tòa.  
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện  
của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có  
mặt tại phiên tòa, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng thì xử lý  
như sau:  
Một là, nguyên đơn, người đại diện theo pháp luật vắng mặt mà  
không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi  
kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu  
khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử  
vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại, nếu thời hiệu khởi kiện  
vẫn còn.  
Hai là, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu  
cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì  
Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.  
217  
Ba là, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập  
vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ  
bỏ yêu cầu độc lập của mình và Tòa án quyết định đình chỉ việc giải  
quyết đối với yêu cầu độc lập có người đó, trừ trường hợp người đó có  
đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có  
yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó.  
Bốn là, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng  
mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.  
BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định Tòa án vẫn  
xét xử trong trường hợp đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của  
đương sự vắng mặt tại phiên tòa trong các trường hợp sau đây: Nguyên  
đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện của  
họ vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt;  
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại  
phiên tòa nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa; Các trường hợp  
quy định tại điểm b và điểm d khoản 2 Điều 199 của Bộ luật này.  
1.3. Hoãn phiên toà sơ thẩm  
Phiên toà sơ thẩm là sự thể hiện tập trung và đầy đủ nhất những  
người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng nhằm giải  
quyết vụ án dân sự, BLTTDS 2004 quy định Hội đồng xét xử phải hoãn  
phiên toà trong các trường hợp sau:  
- Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân hay Thư ký Toà án theo  
quy định tại khoản 2 Điều 51 BLTTDS 2004.  
- Vắng mặt Kiểm sát viên trong trường hợp pháp luật quy định  
Viện kiểm sát phải tham gia phiên toà hoặc Kiểm sát viên bị thay đổi,  
không thể tiếp tục tham gia phiên toà mà không có Kiểm sát viên dự  
khuyết thay thế theo Điều 207 BLTTDS 2004.  
- Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan,  
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ  
nhất có lý do chính đáng theo quy định tại các Điều 199, Điều 200, Điều  
201 và Điều 203 của BLTTDS 2004.  
218  
- Vắng mặt người phiên dịch mà không có người khác thay thế, trừ  
trường hợp các đương sự vẫn yêu cầu tiến hành xét xử theo quy định tại  
khoản 2 Điều 206 của BLTTDS 2004.  
- Phải thay đổi người giám định mà không có người khác thay thế  
(quy định tại khoản 2 Điều 72 BLTTDS 2004) hoặc Hội đồng xét xử  
quyết định giám định bổ sung, giám định lại (khoản 4 Điều 230 BLTTDS  
2004). Đối với trường hợp người làm chứng, người giám định vắng mặt,  
theo các Điều 204, 205 BLTTDS 2004 thì tuỳ theo từng trường hợp mà  
Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà hay quyết định vẫn tiến hành  
xét xử.  
Đối với những trường hợp đương sự đã nhận được quyết định đưa  
vụ án ra xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 195 và đã được tống đạt  
hợp lệ giấy triệu tập phiên toà, đồng thời đương sự cũng đã chuẩn bị  
tham dự phiên toà sơ thẩm nhưng do sự kiện bất khả kháng hay trở ngại  
khách quan xảy ra ngay vào thời điểm trước ngày mở phiên toà hoặc trên  
đường đến tham dự phiên toà (do thiên tai, địch hoạ, tai nạn, ốm nặng,  
người thân chết, ...) theo hướng dẫn tại khoản 3, Điều 28 của Nghị quyết  
số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 thì Toà án phải hoãn  
phiên toà. Trường hợp Toà án không nhận được thông báo từ phía đương  
sự nên vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ, nếu sau khi bản án, quyết  
định của Toà án có hiệu lực pháp luật mà đương sự có khiếu nại và  
chứng minh được do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì  
khiếu nại cần được xem xét theo thủ tục tái thẩm.  
Thời hạn hoãn phiên toà đối với các trường hợp được quy định tại  
khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 72 và các Điều 199, 204, 205, 206, 207,  
215 và khoản 4 Điều 230 và các trường hợp khác theo quy định của  
BLTTDS 2004 là không quá ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định  
hoãn phiên toà. Quyết định hoãn phiên toà phải được chủ tọa thay mặt  
Hội đồng xét xử ký tên và thông báo công khai cho những người có mặt  
tại phiên toà và được gửi cho những người vắng mặt và Viện kiểm sát  
cùng cấp.  
Trong trường hợp sau khi hoãn phiên toà mà Toà án không thể mở  
lại phiên toà đúng như thời gian, địa điểm ghi trong quyết định hoãn  
219  
phiên toà thì phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp và những  
người tham gia tố tụng biết về thời gian, địa điểm mở lại phiên toà.  
1.4. Nội quy phiên toà  
Nội quy phiên toà là các quy định về quy tắc xử sự bắt buộc mà các  
chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng cũng như những người tham  
dự phiên toà phải tuân theo. Nội quy phiên toà do Chánh án Toà án nhân  
dân tối cao ban hành căn cứ vào khoản 1 Điều 209 BLTTDS 2004 và các  
quy định khác của pháp luật. Nội quy phiên toà được Thư ký Toà án phổ  
biến trước khi tiến hành khai mạc phiên toà để tất cả mọi người trong  
phòng xử án được biết và thực hiện.  
1.5. Bản án dân sự sơ thẩm  
Bản án dân sự sơ thẩm là kết quả của quá trình xét xử nên có hiệu  
lực pháp luật bắt buộc đối với cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước và các  
chủ thể khác. Giá trị pháp lý của bản án dân sự sơ thẩm phải đảm bảo hai  
yếu tố: tính hợp pháp và tính có căn cứ.  
Tính hợp pháp của bản án nghĩa là bản án sơ thẩm phải đúng pháp  
luật và có căn cứ pháp lý làm cơ sở cho phán quyết. Hoạt động xét xử sơ  
thẩm không chỉ tuân theo trình tự, thủ tục tố tụng mà còn là hoạt động áp  
dụng sáng tạo pháp luật vào những trường hợp cụ thể với những tình tiết  
khác nhau. Việc áp dụng pháp luật phải phù hợp với những tình tiết của  
vụ án, chẳng hạn: tranh chấp về hợp đồng kinh tế trong lĩnh vực kinh  
doanh bảo hiểm, Toà án phải áp dụng các quy định chung của pháp luật  
hay các quy định trong luật chuyên ngành. Muốn áp dụng đúng pháp luật  
và có căn cứ, Toà án phải nghiên cứu đầy đủ các văn bản pháp luật có  
liên quan, các tình tiết, chứng cứ có trong hồ sơ và các hoạt động tố tụng  
của Toà án, đồng thời các chủ thể khác tuân thủ nghiêm ngặt quy định  
của pháp luật tố tụng.  
Giá trị pháp lý của bản án phải đảm bảo yếu tố thứ hai là tính có  
căn cứ, nghĩa là dựa trên những chứng cứ đã được thẩm tra, xem xét tại  
phiên toà công khai. Thông qua việc hỏi, tranh luận tại phiên toà, các  
chứng cứ được thẩm tra xem xét một cách toàn diện làm cơ sở cho các  
quyết định trong bản án của Toà án. Bản án dân sự đã được tuyên thì Toà  
220  
án đã ra bản án không có quyền sửa đổi bổ sung, khi bản án có hiệu lực  
pháp luật sẽ được thi hành trên thực tế.  
2. TRÌNH TỰ, THỦ TỤC VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC CHỦ THỂ  
TRONG PHIÊN TÒA SƠ THẨM DÂN SỰ  
2.1. Chuẩn bị khai mạc phiên toà sơ thẩm  
Chuẩn bị khai mạc phiên toà là thủ tục bắt buộc đảm bảo cho phiên  
toà được diễn ra theo đúng thời gian quy định. Theo quy định tại Điều  
212 BLTTDS 2004, việc chuẩn bị phiên toà sơ thẩm do Thư ký Toà án  
tiến hành để nhằm mục đích ổn định trật tự trong phòng xử án; kiểm tra,  
xác định sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên toà theo  
giấy triệu tập hay giáy báo của Toà án thông qua việc thu lại các giấy tờ  
đã tống đạt và xác định lý do của những người vắng mặt; phổ biến nội  
quy phiên toà và yêu cầu mọi người đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào  
phòng xử án.  
2.2. Thủ tục bắt đầu phiên toà sơ thẩm  
- Khai mạc phiên toà: là công việc đầu tiên do chủ tọa phiên toà  
thực hiện bằng việc đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử. Sau đó thủ tục  
khai mạc phiên toà được tiến hành theo trình tự sau đây:  
+ Thư ký phiên toà báo cáo với Hội đồng xét xử về sự có mặt  
của những người tham gia phiên toà theo giấy triệu tập, giấy báo của  
Toà án và lý do vắng mặt (nếu có). Sau khi nghe Thư ký báo cáo đương sự  
vắng mặt tại phiên toà, Hội đồng xét xử phải vào phòng nghị án thảo luận  
việc hoãn phiên toà theo quy định tại khoản 2 Điều 210 BLTTDS 2004.  
+ Chủ tọa phiên toà kiểm tra sự có mặt của những người tham  
gia phiên toà theo giấy triệu tập, giấy báo của Toà án và kiểm tra căn  
cước của đương sự.  
+ Chủ tọa phiên toà phổ biến quyền, nghĩa vụ của các đương sự  
và của những người tham gia tố tụng khác; giới thiệu họ tên những  
người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch.  
+ Chủ tọa phiên toà hỏi những người có quyền có đề nghị để  
thay đổi những người tiến hành tố tụng như Hội đồng xét xử, Thư ký Toà  
221  
án, Kiểm sát viên (nếu có) và những người tham gia tố tụng (người giám  
định hay người phiên dịch).  
Trường hợp có đề nghị thì Hội đồng xét xử phải xem xét, quyết  
định theo thủ tục mà BLTTDS 2004 quy định để chấp nhận hoặc không  
chấp nhận, trường hợp không chấp nhận thì phải nêu rõ lý do. Do tính  
chất quan trọng của việc khai mạc phiên toà nên không cho phép tiến  
hành khai mạc nhiều phiên toà một lần, làm ảnh hưởng đến quyền lợi  
hợp pháp của các đương sự (Điều 213 BLTTDS 2004).  
- Xem xét, quyết định hoãn phiên toà khi có người vắng mặt: khi có  
người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên toà mà không thuộc trường  
hợp phải hoãn phiên toà thì chủ tọa phiên toà phải hỏi xem có ai đề nghị  
hoãn phiên toà hay không; nếu có người đề nghị thì Hội đồng xét xử xem  
xét, quyết định theo quy định của BLTTDS 2004; nếu không đồng ý thì  
phải nêu rõ lý do (Điều 215 BLTTDS 2004).  
2.3. Trình tự, thủ tục hỏi tại phiên tòa sơ thẩm  
Thủ tục hỏi tại phiên tòa làm căn cứ cơ sở cho việc xem xét, đánh  
giá các tình tiết của vụ án dân sự. Thông qua hỏi tại phiên tòa sẽ thẩm tra  
lại các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp. Trong thực tế, không  
phải mọi trường hợp các đương sự đều đã xem xét hồ sơ vụ án và nghiên  
cứu các chứng cứ do các đương sự khác cung cấp nên việc hỏi giúp cho  
các đương sự, người tham gia tố tụng khác nắm được toàn diện nội dung  
vụ án để làm cơ sở cho các đương sự tranh luận có hiệu quả và giúp cho  
Hội đồng xét xử quyết định đúng đắn.  
- Thứ tự trình bày của đương sự và thứ tự hỏi tại phiên tòa được  
quy định trong BLTTDS 2004 đã thể hiện quan điểm đổi mới của Đảng  
và Nhà nước ta về đổi mới hoạt động tư pháp trong đó có việc đề cao vai  
trò của đương sự trong phiên tòa. Các quy định về thủ tục hỏi tại phiên  
tòa sơ thẩm đã thể hiện chủ trương đổi mới trong hoạt động tư pháp của  
Đảng và Nhà nước ta. Đó là việc mở rộng hơn quyền dân chủ và vai trò  
của đương sự, những người tham gia tố tụng khác trong việc cung cấp  
chứng cứ, thực hiện nghĩa vụ chứng minh tại phiên tòa để bảo vệ quyền  
và lợi ích hợp pháp của mình. Cụ thể như sau:  
222  
Trước hết, chủ tọa phiên toà hỏi đương sự (nguyên đơn, bị đơn,  
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập) về việc thay  
đổi, bổ sung, rút yêu cầu và xem xét việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu.  
Tại phiên toà sơ thẩm đương sự có quyền thay đổi, bổ sung và rút yêu  
cầu. Tuy nhiên, việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự chỉ được  
chấp nhận nếu không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản  
tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu.  
Xác định thời điểm ban đầu của yêu cầu độc lập của các đương sự  
còn có nhiều cách hiểu khác nhau. Cách hiểu thứ nhất là thời điểm ban  
đầu được xác định theo đơn khởi kiện hay văn bản phản tố; cách hiểu thứ  
hai là thời điểm ban đầu được xác định khi có yêu cầu cuối cùng trong  
giai đoạn xét xử sơ thẩm. Ví dụ: nguyên đơn yêu cầu Công ty A phải  
thanh toán các khoản tiền theo hợp đồng và bồi thường thiệt hại (trong  
đơn khởi kiện), trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự  
nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình thì được xác định là yêu  
cầu ban đầu. Nếu trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm, nguyên đơn đã  
rút một phần yêu cầu bằng văn bản hoặc việc rút yêu cầu được ghi nhận  
trong biên bản hoà giải. Thời điểm xác định yêu cầu ban đầu là thời điểm  
gửi văn bản cho Toà án hoặc trong biên bản hoà giải cuối cùng là yêu cầu  
cuối cùng xuất phát từ quyền tự định đoạt của đương sự. Theo hướng dẫn  
tại Điều 32 của Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP thì việc thay đổi, bổ  
sung yêu cầu của đương sự tại phiên toà chỉ được Hội đồng xét xử chấp  
nhận nếu việc thay đổi bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi  
yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu trong  
đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập.  
Xác định phạm vi yêu cầu ban đầu bao gồm tổng hợp các yếu tố  
như: loại yêu cầu (yêu cầu bên kia phải thanh toán một khoản tiền, yêu  
cầu bồi thường thiệt hại, yêu cầu phạt hợp đồng,v.v..), giá trị yêu cầu  
(giá trị trong từng loại yêu cầu hoặc trong tổng các yêu cầu được giới  
hạn ban đầu là bao nhiêu), các yếu tố khác (yêu cầu Toà án giải quyết  
toàn bộ hay chỉ yêu cầu giải quyết một phần).  
Trong trường hợp có đương sự tự nguyện rút một phần hoặc toàn  
bộ yêu cầu thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần  
223  
yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu mà đương sự đã rút. Việc rút yêu cầu của  
đương sự trong một số trường hợp dẫn đến thay đổi địa vị tố tụng khi:  
+ Nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn  
giữ yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên  
đơn trở thành bị đơn (khoản 1 Điều 219 BLTTDS 2004);  
+ Trường hợp cả nguyên đơn và bị đơn đều rút yêu cầu, nhưng  
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ yêu cầu độc lập của mình  
thì họ trở thành nguyên đơn trong vụ án, còn người có nghĩa vụ đối với  
yêu cầu độc lập trở thành bị đơn (khoản 2 Điều 219 BLTTDS 2004)  
Thứ hai, công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Tại phiên tòa  
sơ thẩm, Toà án không tiến hành hoà giải mà chỉ hỏi các đương sự về  
việc thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Trường hợp các đương  
sự tự nguyện thoả thuận được về giải quyết toàn bộ các yêu cầu trong vụ  
án thì Hội đồng xét xử thảo luận và ra quyết định công nhận sự thoả  
thuận của các đương sự tại phòng xử án. Sự thoả thuận của các đương sự  
phải được ghi vào biên bản phiên toà. Tuy nhiên, không phải bất kỳ sự  
thoả thuận nào cũng được công nhận. Trường hợp sự thoả thuận của các  
đương sự trái pháp luật hoặc vi phạm đạo đức xã hội Toà án thì vẫn tiến  
hành xét xử và giải thích cho các đương sự biết rõ lý do (Điều 220  
BLTTDS 2004).  
Thứ ba, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng nghe lời  
trình bày của các đương sự. Việc trình bày trước hết do người bảo vệ  
quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền, lợi  
ích có liên quan (nếu có) trình bày yêu cầu và các chứng cứ để chứng  
minh cho yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa  
vụ có liên quan là có căn cứ và hợp pháp. Sau đó nguyên đơn, bị đơn,  
người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan có quyền bổ sung các ý kiến.  
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn hoặc  
của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (nếu có) là những người có  
am hiểu, có kinh nghiệm thực tiễn nên việc trình bày của họ rõ ràng, cụ  
thể tiết kiệm thời gian và tránh được sự lặp lại.  
Tại phiên toà, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp  
của đương sự có quyền bổ sung chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu  
224  
hay đề nghị của mình (Điều 221 BLTTDS 2004).  
Thứ tư, về thứ tự hỏi tại phiên toà được quy định tại Điều 222  
BLTTDS 2004, theo đó chủ tọa phiên toà hỏi trước rồi đến Hội thẩm  
nhân dân, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương  
sự và những người tham gia tố tụng khác, Kiểm sát viên (nếu có) tham  
gia phiên toà là người hỏi sau cùng. Như vậy thứ tự hỏi trong phiên toà  
dân sự hoàn toàn khác với phiên toà hình sự thể hiện xu hướng dân chủ  
trong phiên toà và đề cao vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp  
pháp của đương sự và các đương sự.  
Phương thức thực hiện việc hỏi trong phiên toà dân sự không phải  
là theo các câu hỏi đã chuẩn bị trước về tất cả các vấn đề trong vụ án.  
Việc hỏi và trả lời tập trung vào các vấn đề còn chưa rõ hay còn mâu  
thuẫn để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án, khẳng định lại giá trị của các  
chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Để nắm bắt được các vấn đề cần làm sáng  
tỏ tại phiên toà thì các thành viên của Hội đồng xét xử phải nghiên cứu  
kỹ hồ sơ vụ án, lắng nghe sự trình bày của các đương sự tại phiên toà và  
phải có khả năng khái quát những vấn đề đã được làm rõ và những vấn  
đề cần hỏi. Có như vậy việc đặt câu hỏi mới đúng trọng tâm và có ý  
nghĩa cho việc giải quyết vụ án. Khi tiến hành hỏi, phải hỏi riêng từng  
người, xong người này mới đến người khác. BLTTDS 2004 quy định khá  
chi tiết việc hỏi tại phiên toà, cụ thể như sau:  
Hỏi nguyên đơn: Trong trường hợp có nhiều nguyên đơn thì phải hỏi  
riêng từng nguyên đơn. Chỉ hỏi nguyên đơn về những vấn đề mà người  
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, nguyên đơn trình bày  
chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với những lời khai của  
họ trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày của bị đơn, người có quyền lợi,  
nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những  
người này. Nguyên đơn có thể tự mình trả lời hoặc người bảo vệ quyền  
và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trả lời thay cho nguyên đơn và sau  
đó nguyên đơn trả lời bổ sung.  
Hỏi bị đơn: Trong trường hợp có nhiều bị đơn thì phải hỏi riêng  
từng bị đơn.  
225  
Chỉ hỏi bị đơn về những vấn đề mà người bảo vệ quyền và lợi ích  
hợp pháp của bị đơn, bị đơn trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau  
hoặc mâu thuẫn với những lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với yêu  
cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo  
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người này.  
Bị đơn có thể tự mình trả lời hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp  
pháp của bị đơn trả lời thay cho bị đơn và sau đó bị đơn trả lời bổ sung.  
Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan: Trong trường hợp  
có nhiều người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì phải hỏi riêng từng  
người một.  
Chỉ hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về những vấn đề mà  
họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày chưa rõ, có  
mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với những lời khai của họ trước đó,  
mâu thuẫn với yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị của bị đơn và người bảo  
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người này.  
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể tự mình trả lời hoặc  
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trả lời thay cho họ và  
sau đó họ trả lời bổ sung.  
Hỏi người làm chứng: Trong trường hợp có nhiều người làm  
chứng thì phải hỏi riêng từng người một.  
Trước khi hỏi người làm chứng, chủ tọa phiên toà phải hỏi rõ về  
quan hệ giữa họ với các đương sự trong vụ án; nếu người làm chứng là  
người chưa thành niên thì chủ tọa phiên toà có thể yêu cầu cha, mẹ,  
người giám hộ hoặc thầy giáo, cô giáo giúp đỡ để hỏi.  
Chủ tọa phiên toà yêu cầu người làm chứng trình bày rõ những tình  
tiết của vụ án mà họ biết. Sau khi người làm chứng trình bày xong thì chỉ  
hỏi thêm người làm chứng về những điểm mà họ trình bày chưa rõ, chưa  
đầy đủ hoặc có mâu thuẫn với nhau, mâu thuẫn với những lời khai của họ  
trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền  
và lợi ích hợp pháp của đương sự.  
Sau khi đã trình bày xong, người làm chứng ở lại phòng xử án để  
có thể được hỏi thêm.  
226  
Trong trường hợp cần thiết phải bảo đảm an toàn cho người làm  
chứng và những người thân thích của họ, Hội đồng xét xử quyết định  
không tiết lộ những thông tin về nhân thân của người làm chứng và  
không để những người trong phiên toà nhìn thấy họ.  
Hỏi người giám định: Chủ tọa phiên toà yêu cầu người giám định  
trình bày kết luận của mình về vấn đề được giao giám định. Khi trình  
bày, người giám định có quyền giải thích bổ sung về kết luận giám định,  
các căn cứ để đưa ra kết luận giám định.  
Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên toà  
có quyền nhận xét về kết luận giám định, được hỏi những vấn đề còn  
chưa rõ, hoặc có mâu thuẫn trong kết luận giám định hoặc có mâu thuẫn  
với những tình tiết khác của vụ án.  
Trong trường hợp người giám định không có mặt tại phiên toà thì  
chủ tọa phiên toà công bố kết luận giám định.  
Khi có người tham gia tố tụng không đồng ý với kết luận giám  
định được công bố tại phiên toà và có yêu cầu giám định bổ sung hoặc  
giám định lại, nếu xét thấy việc giám định bổ sung, giám định lại là cần  
thiết cho việc giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử quyết định giám định  
bổ sung, giám định lại; trong trường hợp này thì Hội đồng xét xử quyết  
định hoãn phiên toà.  
Ngoài ra, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể do pháp luật tố tụng quy  
định Hội đồng xét xử có quyền công bố các tài liệu của vụ án; nghe băng  
ghi âm, đĩa nghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình hoặc xem xét vật chứng  
theo quy định tại các điều 227, Điều 228 và Điều 229 BLTTDS 2004.  
Khi nhận thấy các tình tiết của vụ án đã được xem xét đầy đủ thì  
chủ tọa phiên toà hỏi kiểm sát viên (nếu có), đương sự, người bảo vệ  
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng  
khác xem họ có yêu cầu hỏi vấn đề gì nữa không; trường hợp có yêu cầu  
và xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ thì chủ tọa phiên toà quyết định tiếp  
tục việc hỏi.  
2.4. Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm  
Các quy định về tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm đã mở rộng quyền  
227  
dân chủ cho các đương sự và những người tham gia tố tụng khác trong  
việc hỏi, tranh luận mà không bị hạn chế về thời gian. Các đương sự tại  
phiên tòa thực hiện quyền định đoạt, phát huy triệt để nghĩa vụ cung cấp  
chứng cứ và lập luận cho các chứng cứ trước Tòa để chứng mình yêu cầu  
của mình là có căn cứ và hợp pháp, làm cho phiên tòa sơ thẩm thực sự  
theo hướng tranh tụng. Nếu xét thấy việc hỏi của Hội đồng xét xử chưa  
đầy đủ, chưa làm rõ được bản chất của vụ án đương sự có quyền trực tiếp  
đặt câu hỏi với phía bên kia. Những người tham gia tố tụng khác cũng có  
quyền được hỏi tương tự. Ngoài ra, những người tham gia tố tụng còn  
được quyền đặt câu hỏi với người giám định trong trường hợp thấy kết  
luận giám định chưa rõ ràng hoặc có nghi ngờ.  
- Vấn đề tranh luận tại phiên tòa có ý nghĩa hết sức quan trọng  
trong hoạt động tố tụng vì mức độ ảnh hưởng của vấn đề đến chất lượng,  
hiệu quả xét xử của Toà án cũng như quyền và lợi ích chính đáng của chủ  
thể. Khi xét xử các vụ án dân sự theo quan điểm cải cách tư pháp hiện  
nay thì việc tranh luận phải theo hướng tranh tụng, đồng thời đề cao vai  
trò của các đương sự. Việc tranh luận theo hướng tranh tụng tại phiên tòa  
sơ thẩm phải đảm bảo nâng cao chất lượng nên những người tiến hành tố  
tụng và những người tham gia tố tụng phải phát huy tối đa các quyền  
năng tố tụng của mình. Những phiên toà có nhiều tình tiết phức tạp,  
nhiều quan điểm khác nhau thì sự tranh luận của các đương sự tại phiên  
toà càng cần thiết để cho Hội đồng xét xử thấy được hết các góc cạnh của  
vụ án, từ đó mới đưa ra được các phán quyết đúng pháp luật. Tăng cường  
tranh luận công khai và dân chủ tại phiên tòa không chỉ phụ thuộc và quy  
định của pháp luật mà đòi hỏi những người tham gia tố tụng và những  
người tiến hành tố tụng có nhận thức đúng và chủ động khi tranh luận.  
Thời gian tranh luận cũng như số lần phát biểu ý kiến về một vấn đề  
không bị hạn chế, chủ tọa phiên tòa chỉ có quyền cắt những ý kiến không  
liên quan đến vụ án. Pháp luật quy định theo hướng mở rộng tối đa thời  
gian tranh luận. Chủ tọa phiên tòa là người trung tâm điều khiển có  
quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ án.  
- Những người tham gia tranh luận theo quy định tại Điều 232  
BLTTDS 2004 bao gồm: đương sự, người đại diện của đương sự, người  
228  
bảo vệ quyền lợi cử đương sự, cơ quan tổ chức khởi kiện. Vai trò chủ  
động của các đương sự hoặc người đại diện của đương sự tại phiên tòa có  
ý nghĩa hết sức quan trọng tạo cho việc tranh luận hiệu quả, còn Hội  
đồng xét xử vẫn giữ vai trò trung tâm thực hiện quyền điều khiển phiên  
tòa. Sự chuẩn bị của các đương sự cho phiên tòa đòi hỏi phải kỹ lưỡng,  
chu đáo sự tranh luận mới thực sự gay gắt và hiệu quả. Ngoài ra, những  
người tham gia tố tụng khác cũng có quyền phát biểu ý kiến hoặc tranh  
luận tại phiên toà để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án.  
Tranh luận tại phiên toà nhằm sáng tỏ các sự kiện, các chứng cứ và  
các lý lẽ lập luận cho các chứng cứ nên tập trung vào các nội dung sau:  
Trước hết, phân tích, lập luận để bảo vệ các chứng cứ mà mình đã cung  
cấp hoặc bác bỏ các lý lẽ, chứng cứ của phía bên kia. Sau đó, đề xuất  
quan điểm của mình về hướng giải quyết vụ án, các quy định của pháp  
luật áp dụng để giải quyết vụ án cho phù hợp với các chứng cứ có trong  
hồ sơ vụ án đã được xem xét, tranh luận công khai tại phiên toà.  
- Trình tự phát biểu khi tranh luận được thực hiện như sau;  
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phát  
biểu, sau đó nguyên đơn bổ sung ý kiến. Nếu cơ quan, tổ chức khởi kiện  
thì người đại điện của họ phát biểu ý kiến trước và người có quyền, lợi  
ích được bảo vệ bổ sung ý kiến;  
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn phát biểu  
ý kiến, sau đó bị đơn bổ sung ý kiến;  
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền  
lợi, nghĩa vụ liên quan phát biểu, sau đó người có quyền lợi, nghĩa vụ  
liên quan có quyền bổ sung ý kiến.  
Trường hợp những người nêu trên không có người bảo vệ quyền và  
lợi ích hợp pháp thì tự mình phát biểu ý kiến. Để đi vào những vấn đề  
trọng tâm của vụ án, người tham gia tranh luận phải căn cứ vào tài liệu,  
chứng cứ đã thu thập và đã được xem xét, kiểm tra tại phiên toà cũng như  
kết quả của việc hỏi tại phên toà. Người tham gia tranh luận có quyền  
đáp lại ý kiến của người khác trong thời gian không hạn chế, trừ những ý  
kiến không có liên quan đến vụ án.  
229  
- Trở lại việc hỏi: qua việc tranh luận, nếu xét thấy có tình tiết của  
vụ án chưa được xem xét, việc xem xét chưa đầy đủ hoặc cần xem xét  
thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử quyết định trở lại việc hỏi; sau khi  
hỏi xong phải tiếp tục tranh luận (Điều 235 BLTTDS 2004).  
2.5. Nghị án và tuyên án  
a. Nghị án  
BLTTDS 2004 quy định khá đầy đủ trình tự, nội dung của việc  
nghị án. Thành phần nghị án chỉ là các thành viên của Hội đồng xét xử  
mới có quyền thảo luận, bàn bạc và quyết định.  
Căn cứ nghị án được quy định cụ thể là dựa trên các chứng cứ, tài  
liệu đã được kiểm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả hỏi và tranh luận tại  
phiên tòa. Hội đồng xét xử có quyền trở lại việc hỏi và tranh luận nhằm  
làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án để làm cơ sở pháp lý cho bản án kinh  
tế sơ thẩm khách quan, toàn diện và đúng pháp luật.  
Khi nghị án Hội thẩm nhân dân ngang bằng với Thẩm phán. Để  
Hội thẩm nhân dân phát huy được quyền năng tố tụng của Hội thẩm nhân  
dân thì việc nghiên cứu hồ sơ phải thực sự nghiêm túc để nắm bắt được  
các tình tiết của vụ án để bị động và hoàn toàn phụ thuộc vào Thẩm  
phán; phải xuất phát từ các đặc thù của tranh chấp để có kinh nghiệm  
thực tiễn giúp cho Hội đồng xét xử nhận thức khách quan, toàn diện về  
vụ án. Khi nghị án, tất cả các thành viên của Hội đồng xét xử phải giả  
quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng  
vấn đề một. Khi phát biểu hoặc khi biểu quyết các Hội thẩm nhân dân  
phát biểu (hoặc biểu quyết trước), Thẩm phán chủ tọa phiên toà phát biểu  
(biểu quyết sau cùng). Thành viên của Hội đồng xét xử có ý kiến thiểu số  
thì có quyền (không phải là nghĩa vụ) trình bày ý kiến của mình bằng văn  
bản riêng và văn bản đó được đưa và hồ sơ vụ án.  
Thời gian nghị án từ khi kết thúc tranh luận có thể tiến hành ngay,  
đối với vụ án phức tạp được kéo dài không quá 05 ngày. Quy định này là  
để đảm bảo thời gian cho Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá toàn diện  
các chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Vụ án được xác định là phức tạp như có  
nhiều người tham gia, các chứng có trong hồ sơ và việc tranh luận phiên  
230  
toà có nhiều điểm mâu thuẫn với nhau, tại phiên toà sơ thẩm các đương  
sự mới xuất trình các chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu,v.v..  
Qua nghị án, nếu xét thấy có tình tiết của vụ án chưa được xem xét,  
việc hỏi chưa đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét  
xử quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận.  
b. Tuyên án  
Tuyên án là việc Hội đồng xét xử nhân danh nước Cộng hoà xã hội  
chủ nghĩa Việt Nam đọc phán quyết nên tất cả mọi người trong phòng xử  
án phải đứng dậy, trừ trường hợp đặc biệt được phép của chủ tọa phiên  
toà (như người già yếu, ốm đau phải ngồi trên xe lăn,v.v..). Chủ tọa  
phiên toà hoặc một thành viên khác của Hội đồng xét xử đọc bản án và  
sau khi đọc xong có thể giải thích về việc thi hành bản án và quyền  
kháng cáo. Nếu có đương sự không biết tiếng Việt thì ngay sau khi tuyên  
án, người phiên dịch có nghĩa vụ dịch lại cho họ nghe toà bộ bản án  
sang ngôn ngữ mà họ biết.  
3. NHỮNG THỦ TỤC CẦN TIẾN HÀNH SAU PHIÊN TOÀ  
SƠ THẨM  
3.1. Sửa chữa, bổ sung bản án  
Sau khi đã tuyên án, về nguyên tắc không được sửa chữa, bổ sung  
bản án dân sự đã tuyên. Tuy nhiên trong một số trường hợp có thể thực  
hiện việc sửa chữa nhưng phải tuân theo các quy định tại Điều 240  
BLTTDS 2004 như sau:  
- Trường hợp được tiến hành sửa chữa, bổ sung bản án: khi phát  
hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai.  
Người có thẩm quyền sửa chữa, bổ sung bản án là Thẩm phán và các Hội  
thẩm nhân dân là thành viên hội đồng xét xử vụ án đó thực hiện. Nếu  
Thẩm phán đã xét xử không còn đảm nhận chức vụ Thẩm phán thì việc  
sửa chữa, bổ sung do Chánh án Toà án đó thực hiện.  
- Về thủ tục pháp luật quy định việc sửa chữa, bổ sung phải được  
thông báo ngay cho người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến việc  
sửa chữa, bổ sung, đồng thời thông báo cho cơ quan, tổ chức khởi kiện  
và Viện kiểm sát cùng cấp biết.  
231  
3.2. Cấp trích lục bản án và bản án  
Quy định việc cấp trích lục bản án và bản án được thực hiện như sau:  
- Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày kết thúc phiên toà,  
các đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện được Toà án cấp trích bản án;  
- Trong thời hạn mười ngày kể từ ngày tuyên án, Toà án phỉa giao  
hoặc phải gửi bản án cho các đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện và  
Viện kiểm sát cùng cấp.  
Quy định trách nhiệm cấp trích lục bản án và bản án có ý nghĩa rất  
quan trọng, Toà án có nghĩa vụ thực trong thời hạn pháp luật quy định.  
Khi có trích lục bản án hoặc bản án, không chỉ giúp cho các đương sự  
biết rõ được các quyền và nghĩa vụ của mình đã được Toà án xác định  
trong bản án mà còn là cơ sở cho các đương sự, cơ quan tổ chức khởi  
kiện xem xét thực hiện quyền kháng cáo và Viện kiểm sát thực hiện việc  
kháng nghị trong thời hạn do pháp luật quy định.  
3.3. Sửa chữa, bổ sung biên bản phiên toà  
Sau khi phiên toà dân sự kết thúc thì chủ tọa phiên toà kiểm tra  
biên bản và cùng Thư ký ký vào biên bản đó. Khi có một trong những  
người được quy định tại khoản 4 Điều 211 của BLTTDS 2004 có yêu cầu  
được xem biên bản phiên toà ngay sau khi kết thúc phiên toà, thì chủ tọa  
phiên toà phải cho phép họ xem biên bản phiên toà. Nếu họ có yêu cầu  
ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên toà thì Thư ký phiên toà  
ghi những điểm sửa chữa, bổ sung vào biên bản cho đúng với diễn biến  
tại phiên toà. Việc sửa chữa, bổ sung không được tẩy xoá mà được ghi  
tiếp vào biên bản phiên toà theo cách sau đây (những sửa đổi, bổ sung  
theo yêu cầu của (v.v..) những vấn đề được ghi tại dòng từ trên xuống  
(hoặc từ dưới lên) trangv.v.. của biên bản phiên toà yêu cầu ghi sửa, bổ  
sung như sau:v.v..). Nếu có nhiều người yêu cầu sửa đổi, bổ sung thì ghi  
thứ tự từng người một sau đó yêu cầu họ ký xác nhận vào biên bản.  
232  
Chương 10  
THỦ TỤC PHÚC THẨM DÂN SỰ  
1. KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA CỦA THỦ TỤC PHÚC THẨM  
1.1. Khái niệm  
Kết thúc phiên toà sơ thẩm, bản án hoặc quyết định của toà sơ thẩm  
chưa có hiệu lực ngay mà còn có một thời hạn để các đương sự có thể  
thực hiện quyền kháng cáo, nếu không đồng ý với phán quyết của Tòa  
án; hoặc Viện Kiểm sát có thể kháng nghị theo quy định của pháp luật.  
Trong trường hợp có kháng cáo hoặc kháng nghị thì bản án, quyết định  
sơ thẩm đó sẽ được Toà án cấp trên tiến hành xét xử lại. Thủ tục đó được  
gọi là thủ tục phúc thẩm dân sự. Vậy:  
Thủ tục phúc thẩm dân sự là thủ tục xét xử do TAND cấp trên trực  
tiếp tiến hành nhằm xét xử lại bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu  
lực pháp luật của TAND cấp dưới trên cơ sở có kháng cáo, kháng nghị  
theo quy định của pháp luật.  
Phúc thẩm dân sự thực chất không phải là một thủ tục xét xử mới  
đối với một vụ án nhưng lại khác cơ bản so với thủ tục xét xử sơ thẩm.  
Nếu như thủ tục xét xử sơ thẩm nhằm mục đích xem xét tính công khai,  
trực tiếp tất cả các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được; trên cơ sở đó Toà  
án sơ thẩm ra bản án, quyết định hợp pháp và có căn cứ thì mục đích của  
cấp phúc thẩm là kiểm tra lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án,  
quyết định đó. Kiểm tra tính hợp pháp của bản án, quyết định sơ thẩm là  
xem việc áp dụng pháp luật trong bản án, quyết định sơ thẩm đó có phù  
hợp với pháp luật nội dung và pháp luật về tố tụng hay không? Kiểm tra  
tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm là xem kết luận trong bản  
án, quyết định sơ thẩm đó có được chứng minh bằng những chứng cứ đã  
được xem xét, thẩm tra công khai tại phiên tòa hay chưa? Có phù hợp với  
sự thật khách quan của vụ án hay không?  
Phúc thẩm dân sự được coi là cấp xét xử thứ hai, được tiến hành  
sau thủ tục sơ thẩm. Nói cách khác, thủ tục phúc thẩm luôn được tiến  
233  
hành sau thủ tục sơ thẩm và ngược lại sơ thẩm luôn được thực hiện trước  
thủ tục phúc thẩm. Đây chính là nội dung của nguyên tắc hai cấp xét xử  
mà hệ thống Toà án của Việt Nam cũng như của nhiều nước trên thế giới  
áp dụng nhằm đảm bảo tính thận trọng cho các phán quyết nhân danh  
Nhà nước. Đối tượng của thủ tục phúc thẩm phải là những bản án, quyết  
định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Đó là những bản án còn nằm  
trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Trường  
hợp nếu bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật mới bị đề  
nghị xét xử lại thì việc xét xử lại sẽ được tiến hành theo thủ tục đặc biệt  
là giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.  
Tuy nhiên, không phải tất cả các bản án, quyết định sơ thẩm chưa  
có hiệu lực pháp luật đều bị đưa ra xét xử phúc thẩm. Việc phúc thẩm chỉ  
được tiến hành trên cơ sở có kháng cáo, kháng nghị đối với bản án hoặc  
quyết định đó theo quy định của pháp luật. Do vậy, việc có kháng cáo,  
kháng nghị sẽ mang tính chất quyết định cho việc tiến hành phúc thẩm  
một bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật.  
1.2. Ý nghĩa của phúc thẩm dân sự  
Việc phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp  
luật có ý nghĩa quan trọng trong việc có thể khắc phục những sai lầm có  
thể có trong những bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Toà  
án, đảm bảo cho quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân cũng như các lợi  
ích công cộng được thực hiện trong thực tế, góp phần bảo vệ pháp chế xã  
hội chủ nghĩa.  
Thông qua việc phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của  
TAND, Toà án cấp trên có thể kiểm tra hoạt động xét xử của Toà án cấp  
dưới, qua đó có thể chỉ đạo một cách kịp thời và thống nhất việc áp dụng  
pháp luật trong hoạt động xét xử của các Toà án ở địa phương.  
2. KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM  
2.1. Khái niệm kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm  
Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án, đương sự và những người  
tham gia tố tụng khác nếu không đồng ý với cách giải quyết của tòa án  
cấp sơ thẩm thì có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên để yêu cầu xem  
234  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 158 trang Thùy Anh 5900 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_luat_to_tung_dan_su_viet_nam_phan_2.pdf