Đặc điểm của hợp đồng thiết kế - Cung cấp thiết bị, công nghệ và thi công xây dựng công trình (EPC) - Nhìn từ góc độ pháp lý
ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG THIẾT KẾ - CUNG CẤP THIẾT BỊ,...
CÔNG NGHỆ VÀ THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH (EPC) -
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ PHÁP LÝ
ĐẶNG HOÀNG MAI*
Hợp đồng EPC nhìn từ góc độ pháp lý có nhiều điểm khác biệt so với hợp đồng xây dựng
truyền thống. Chính vì vậy, việc điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ hợp đồng này cũng đặt
ra những yêu cầu riêng, đặc biệt là các quy định liên quan đến quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm
của các bên trong giao kết, quản lý và thực hiện hợp đồng EPC; nhằm phát huy được những ưu
thế của mô hình hợp đồng này trong việc triển khai thực hiện dự án đầu tư xây dựng.
Từ khoá: Hợp đồng EPC, đặc điểm pháp lý, quy định pháp luật.
Ngày nhận bài: 20/9/2020; Biên tập xong: 22/9/2020; Duyệt đăng: 22/9/2020.
From legal perspective, Engineering - Procurement - Construction (EPC) Contract
is different from traditional ones. Therefore, legal adjustment for this contractual
relationship also sets its own requirements, especially the provisions related to parties’
rights, obligations and responsibilities in contract management and performance to
bring into play the advantages of this contract in the implementation of construction
investment projects.
Keywords: EPC contract, legal characteristics, legal regulations.
PC là các chữ viết tắt của cụm là Design - Bid - Build). Việc thực hiện dự
từ tiếng Anh: Engineering - án theo mô hình EPC đem lại nhiều lợi
E
Procurement - Construction ích cho chủ đầu tư như tập trung một đầu
(Thiết kế - Cung cấp thiết bị công nghệ - mối chịu trách nhiệm thực hiện dự án;
Thi công xây dựng). Khái niệm này được kiểm soát chi phí và tiến độ thực hiện dự
hiểu là trong cùng một gói thầu, một hợp án tốt hơn, cũng như giúp cho việc cung
đồng, nhà thầu được giao thực hiện cả cấp tài chính được dễ dàng hơn; tốc độ
ba nội dung công việc: Tư vấn thiết kế, hoàn thành dự án nhanh hơn và tăng hiệu
cung cấp thiết bị, công nghệ và thi công quả thực hiện dự án.
xây dựng công trình. EPC là một hình
Thuật ngữ EPC có nguồn gốc từ những
thức cụ thể của phương thức thực hiện dự
án mới: Giao cho cùng một nhà thầu vừa
thiết kế, vừa thi công xây dựng (được gọi
là phương thức Thiết kế - Xây dựng, tiếng
Anh là Design - Build); khác với phương
thức thực hiện dự án truyền thống: Chủ
đầu tư thiết kế xong mới lựa chọn nhà
thầu thi công (được gọi là phương thức
Thiết kế - Đấu thầu - Xây dựng, tiếng Anh
hợp đồng xây dựng các toà nhà và tổ hợp
công nghiệp trong ngành công nghiệp
dầu khí ở Mỹ1. Hiện tại, thuật ngữ này
được sử dụng trên phạm vi quốc tế. Tuy
nhiên, chưa có một định nghĩa chính thức
* Thạc sĩ, Giảng viên chính Trường Đại học Xây
dựng
1ꢀ Joseph A.Huse, Understanding and Negotiating Turnkey
and EPC Contracts, p.5, Sweet and Maxwell, 2002
Số chuyên đề 03 - 2020
Khoa học Kiểm sát 109
ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG THIẾT KẾ - CUNG CẤP THIẾT BỊ,...
được thừa nhận đối với hợp đồng EPC. định về hợp đồng xây dựng – Chương
Theo cách hiểu thông thường, hợp đồng
EPC là loại hợp đồng mà trong đó một
nhà thầu được coi là tổng thầu chịu trách
nhiệm về thiết kế (Engineering), cung cấp
thiết bị công nghệ (Procurement) và thi
công xây dựng công trình (Construction)
trong một tổ hợp các nhà thầu. Với hợp
đồng EPC, tổng thầu sẽ chịu trách nhiệm
hoàn thành dự án và chủ đầu tư chỉ cần
”nhận chìa khoá” để bắt đầu sử dụng
công trình. Vì thế, trong nhiều trường
hợp, hợp đồng EPC cũng được gọi là hợp
đồng Chìa khoá trao tay (Turnkey). Việc
sử dụng hợp đồng EPC/Turnkey trong
các dự án xây dựng hiện nay, đặc biệt là
trong các dự án hạ tầng, đã trở thành phổ
biến với các chủ đầu tư và định chế tài
chính. Theo thống kê, ở Mỹ, việc sử dụng
hợp đồng EPC/Turnkey cho các dự án xây
dựng đã tăng từ 18 tỷ USD (giữa những
năm 80) lên 69 tỷ USD (giữa những năm
12: Hợp đồng cho dự án xây dựng, bao
gồm 18 Điều (từ Điều 269 đến Điều 287).
Trong đó, có nêu định nghĩa về hợp đồng
xây dựng; yêu cầu về hình thức giao kết
hợp đồng xây dựng là bằng văn bản; yêu
cầu về quy trình lựa chọn nhà thầu phải
công khai, công bằng và minh bạch; quy
định về nội dung của hợp đồng; quy định
về giám sát hợp đồng và quyền giám sát
hợp đồng của chủ đầu tư; các quy định về
trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Tuy
nhiên, không có sự phân loại rõ ràng về
các loại hợp đồng xây dựng cụ thể trong
hai đạo luật này. Quan hệ hợp đồng EPC
được điều chỉnh cụ thể thông qua mẫu
hợp đồng do Bộ ban hành, được hiểu là
hợp đồng mà trong đó nhà thầu sẽ đảm
nhiệm các công việc thiết kế, mua sắm,
xây dựng và chạy thử theo thoả thuận
trong hợp đồng và chịu trách nhiệm đối
với chất lượng, an toàn, thời hạn và chi
phí của dự án. Hợp đồng chìa khoá trao
tay là dạng mở rộng của EPC. Ở Trung
90) và hiện nay đang chiếm khoảng 25%
2
1
ngành công nghiệp xây dựng của Mỹ .
Hợp đồng EPC là một dạng hợp đồng
được ghi nhận phổ biến trong quy định
pháp luật của nhiều quốc gia. Tại Trung
Quốc, quan hệ hợp đồng xây dựng nói
chung và quan hệ hợp đồng EPC nói riêng
được điều chỉnh trực tiếp bởi Luật Xây
dựng (ban hành ngày 01/11/1997) và Luật
Quốc, EPC/Turnkey chủ yếu được sử
4
3
dụng trong các dự án dầu khí .
ỞẤn Độ, hợp đồng xây dựng cũng như
các loại hợp đồng khác phải tuân thủ quy
định của Luật Hợp đồng (Indian Contract
Act ban hành năm 1872) mà không có quy
định riêng dành cho hợp đồng xây dựng.
Hợp đồng của Trung Quốc (ban hành
3
Luật này được ban hành chủ yếu dựa
2
ngày 01/10/1993) . Luật Hợp đồng của
5
4
trên hệ thống thông luật Anh . Trong Bản
Trung Quốc dành một chương riêng quy
”Mẫu thoả thuận Thiết kế - Cung cấp thiết
2 Joseph A.Huse, Sđd
3ꢀ Construction Law of The People’s Republic of China, 4ꢀ K.W. Chau. Isabelle Y.S. Chan, Weisheng Lu.
1997, Chapter III – Leꢁing and Undertaking a Chris Webster, Proceedings of the 21st International
Contract for a Construction Project, Article 15-29; Symposium on Advance of Construction Management
Contract Law of The People’s Republic of China, 1993, and Real Estate, p. 1366, 120.2.1, Springer, 2018
Chapter XVI – Contracts for Construction Projects, 5ꢀ ICLG.com, India: Construction and Engineering
Article 269-287.
Law 2019, 1.4.
110 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 03 - 2020
ĐẶNG HOÀNG MAI
bị công nghệ - Thi công xây dựng” của dầu, khai thác mỏ và điện năng. Theo đó,
một nhà thầu được thuê bởi doanh nghiệp
dự án có trách nhiệm thực hiện toàn bộ dự
án trên cơ sở chìa khoá trao tay. Tức là nhà
thầu phải quản lý toàn bộ các công việc
thiết kế, mua sắm, thi công xây dựng, bao
Chính phủ Ấn Độ năm 2017, phần tổng
quan đã nhận định rằng, các dự án đầu tư
công xây dựng cơ sở hạ tầng của Ấn Độ
cần phải tiếp nhận một mô hình hợp đồng
mới là hợp đồng EPC để có được sự đảm
bảo chắc chắn về tiến độ và chi phí của dự
gồm cả việc quản lý và thực hiện của các
9
4
nhà thầu phụ .
án. Và hình thức giá trong mẫu hợp đồng
6
1
này được quy định là giá trọn gói .
Ở Việt Nam hiện nay, về cơ bản đã hình
thành khung pháp lý điều chỉnh hoạt động
xây dựng nói chung, trong đó có quan hệ
hợp đồng xây dựng, thông qua hệ thống
các văn bản quy phạm pháp luật chuyên
ngành là Luật Xây dựng và các văn bản
hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng. Theo
đó, hợp đồng xây dựng được hiểu là hợp
đồng dân sự được thỏa thuận bằng văn
bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu
Tại Nhật Bản, quan hệ hợp đồng xây
dựng được điều chỉnh bởi quy định của
Bộ luật dân sự (Civil Code ban hành năm
1896 và sửa đổi bổ sung năm 2006) và
Luật Kinh doanh xây dựng (Construction
Business Act ban hành năm 1949 và sửa
đổi bổ sung năm 2008). Theo quy định của
Nhật Bản, việc đầu tư cơ sở hạ tầng và các
nhà máy điện chủ yếu dựa trên hình thức
đối tác công tư. Các nhà tài trợ dự án luôn
yêu cầu một hợp đồng xây dựng với ngày
hoàn thành xác định và chi phí trọn gói.
Để thoả mãn yêu cầu này, các thoả thuận
để thực hiện một phần hay toàn bộ công
10
5
việc trong hoạt động đầu tư xây dựng . Về
hợp đồng EPC, tại Nghị định số 37/2015/
NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy
định chi tiết về hợp đồng xây dựng đã quy
định: Hợp đồng thiết kế - cung cấp thiết bị
công nghệ và thi công xây dựng công trình
(tiếng Anh là Engineering - Procurement –
Construction, viết tắt là EPC) là hợp đồng
để thực hiện các công việc từ thiết kế, cung
cấp thiết bị công nghệ đến thi công xây
dựng công trình, hạng mục công trình; hợp
đồng tổng thầu EPC là hợp đồng thiết kế -
cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây
dựng tất cả các công trình của một dự án
hợp đồng thường được thiết lập dưới
7
2
hình thức EPC/Turnkey .
Ở Anh, Luật Tái thiết và Xây dựng
(Housing Grants, Construction and
Regeneration Act) ban hành năm 1996
và được sửa đổi bổ sung vào 10/2011 là
khung pháp lý áp dụng cho tất cả các
8
3
hợp đồng xây dựng . Trong đó, hợp đồng
EPC/ Turnkey là dạng hợp đồng được các
doanh nghiệp dự án sử dụng phổ biến
11
6
trong các dự án PPP thuộc các lĩnh vực hoá đầu tư xây dựng .
6ꢀ Government of India, Engineering – Procurement and 9ꢀ Julio Cesar Bueno, tlđd, P.231.
Construction of Civil Works, Model Agreement, 2018.
Julio Cesar Bueno, The Projects and Construction ngày 18/6/2014
10 Xem Điều 138 – Luật Xây dựng số 50/2014/QH13
7ꢀ
Review, Law Business Research Ltd, p.134, 2019.
11ꢀ Xem điểm g, khoản 1, Điều 3 Nghị định 37/2015/
8ꢀ ICLG, The International Comparative Legal Guide to: NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định
Construciton and Engineering Law 2018, 5th edition, p.49. chi tiết về hợp đồng xây dựng
Số chuyên đề 03 - 2020
Khoa học Kiểm sát 111
ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG THIẾT KẾ - CUNG CẤP THIẾT BỊ,...
Nhìn từ góc độ pháp lý, hợp đồng EPC sẻ rủi ro một cách “cân bằng” giữa các
có các đặc điểm cơ bản để nhận diện là:
bên tham gia hợp đồng trong hợp đồng
xây dựng truyền thống, đối với một hợp
đồng EPC trọn gói, cán cân rủi ro và
trách nhiệm bị nghiêng về phía tổng thầu
EPC. Có thể nói, với một hợp đồng EPC
trọn gói, gần như tất cả các rủi ro của việc
thực hiện dự án đã được chuyển sang cho
tổng thầu EPC. Chủ đầu tư dự án EPC
sẵn sàng chi trả nhiều hơn để có được
sự đảm bảo chắc chắn từ phía tổng thầu
EPC về việc sẽ nhận được công trình đáp
ứng những yêu cầu của mình được đặt ra
trong hợp đồng với giới hạn thời gian và
chi phí thực hiện dự kiến. Thông thường,
đối với hợp đồng Thiết kế - Xây dựng nói
chung và EPC nói riêng, giá hợp đồng
sẽ được xác định cố định vào thời điểm
không muộn hơn giai đoạn giữa của việc
thiết kế - khi mà phạm vi công việc đã
được xác định12.
Thứ nhất, về tính chất, hợp đồng EPC
là một dạng hợp đồng hỗn hợp vừa thiết
kế, vừa thi công và mua sắm. Đặc điểm
này của hợp đồng EPC xuất phát từ đối
tượng của hợp đồng EPC hoàn toàn khác
biệt so với hợp đồng xây dựng truyền
thống. Nếu như trong hợp đồng xây
dựng truyền thống, đối tượng của hợp
đồng chỉ là một loại hoạt động/một sản
phẩm xây dựng riêng biệt tương ứng với
một loại công việc trong quá trình xây
dựng công trình (Ví dụ như hợp đồng
tư vấn thiết kế, hợp đồng thi công xây
dựng)... thì đối với hợp đồng EPC, đối
tượng của hợp đồng là toàn bộ quá trình
tạo lập nên công trình xây dựng; bắt đầu
từ khâu thiết kế, cho đến khâu mua sắm
trang thiết bị, công nghệ, thi công xây
dựng và lắp đặt vận hành công trình. Do
đó, có cả tính chất của hợp đồng cung ứng
dịch vụ và hợp đồng mua bán trong một
hợp đồng EPC. Giới nghiên cứu quốc tế
gọi hợp đồng EPC là một dạng hợp đồng
hỗn hợp (Mix contract).
Tính chất trách nhiệm của tổng thầu
trong hợp đồng EPC là phải hoàn thành
công trình đáp ứng yêu cầu của chủ đầu
tư đã đề ra trong hợp đồng (Fitness for
purpose). Với hợp đồng EPC/Turnkey,
trách nhiệm về thiết kế và thi công đều
do tổng thầu đảm nhiệm với những
chuẩn mực thực hiện (Standard of
performance) khắt khe hơn. Chuẩn mực
thực hiện được áp dụng sẽ được quy
định bởi hợp đồng, hoặc trong trường
hợp thiếu những điều khoản quy định
cụ thể, thì được áp dụng theo luật tương
ứng. Theo Điều kiện hợp đồng cho các
dự án EPC/Turnkey của Hiệp hội quốc tế
Thứ hai, hợp đồng EPC là loại hợp đồng
mang nội dung kỹ thuật chuyên ngành
rất rõ rệt. Chính vì vậy, quan hệ hợp đồng
EPC, ngoài việc chịu sự điều chỉnh của các
quy định pháp luật chung như Bộ luật dân
sự, Luật thương mại...; còn chịu sự điều
chỉnh rất quan trọng của hệ thống quy
định pháp luật chuyên ngành đó là Luật
Xây dựng và các văn bản hướng dẫn thi
hành; cũng như các quy định pháp luật có
liên quan khác, đặc biệt là Luật Đấu thầu.
Thứ ba, đặc điểm quan trọng nhất là
tính chất trách nhiệm của các bên trong
1ꢀ2 Julio Cesar Bueno, The Projects and Construction
Review, 6th edition, p.41, Law Business Research,
hợp đồng EPC. Khác với nguyên tắc chia July 2016
112 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 03 - 2020
ĐẶNG HOÀNG MAI
15
3
các kỹ sư tư vấn (FIDIC), tiêu chuẩn này tế cũng như pháp lý những rủi ro này .
là “sự phù hợp với mục đích” (“fitness
for purpose”). Theo luật án lệ của Anh,
tổng thầu EPC/Turnkey cũng có trách
nhiệm pháp lý nghiêm ngặt là phải bàn
Về phía chủ đầu tư, so với một hợp
đồng xây dựng truyền thống, trách nhiệm
của chủ đầu tư đối với việc thực hiện hợp
đồng đã giảm xuống một cách đáng kể.
Về cơ bản, trách nhiệm quan trọng hàng
đầu của chủ đầu tư là kiểm tra, giám sát
hoạt động của tổng thầu EPC trong quá
trình thực hiện dự án; một mặt đảm bảo
kiểm soát được quá trình thực hiện hợp
đồng của nhà thầu nhưng mặt khác lại
không được can thiệp trực tiếp vào quá
trình đó như đối với hợp đồng xây dựng
truyền thống. Chủ đầu tư khi đặt bút ký
vào hợp đồng EPC cần phải hiểu rất rõ
ràng rằng, bất kỳ sự can thiệp nào của
mình vào quá trình thực hiện dự án của
nhà thầu với cách thức như đối với hợp
đồng xây dựng truyền thống, đều có thể
phải trả giá bằng việc làm chậm tiến độ,
gia tăng chi phí của dự án, cũng tức là làm
”tê liệt” thế mạnh của EPC đối với việc
thực hiện dự án. Theo tác giả Howard
M.Steinberg, điểm chính yếu nhất đối
với một hợp đồng EPC, không gì hơn
đó chính là chủ đầu tư không được can
thiệp quá nhiều vào quá trình thực hiện
hợp đồng của tổng thầu16.
giao công trình phù hợp với mục đích
13
1
đặt ra trong hợp đồng .
Chính vì vậy, khi ký kết hợp đồng
EPC, một trong những vấn đề cốt lõi đó là
tổng thầu EPC phải xác định và đánh giá
được rủi ro, cả về mặt kỹ thuật và pháp
lý của dự án để nhận trách nhiệm ở mức
độ cao nhất là “fitness for purpose” với
chủ đầu tư. Trong một nghiên cứu của
mình, một nhóm tác giả đã đúc kết một
trong bốn nhân tố cơ bản cho sự thành
công của một dự án EPC, đó là tổng
thầu EPC phải hiểu rõ về giới hạn trách
nhiệm và những rủi ro mà mình phải
14
2
gánh chịu . Việc tổng thầu EPC không
nhận thức, đánh giá được một cách chính
xác, rõ ràng các rủi ro đối với mình trong
một dự án cụ thể mà vẫn ký vào hợp
đồng chính là một trong những rủi ro
lớn nhất cho sự thành công của dự án.
Howard M. Steinberg – tác giả của một
trong những cuốn sách “kinh điển” về
EPC – Understanding and Negotiating EPC
Contracts đã khẳng định: Không một dự
án xây dựng nào có thể thành công nếu
thiếu đi sự hiểu biết rõ ràng về các rủi ro
có liên quan và sự phân bổ về mặt thực
Với tính chất trách nhiệm này của các
bên đòi hỏi quy định pháp luật về hợp
đồng EPC một mặt cần phải đủ chặt
chẽ và bao quát để kiểm soát, ràng buộc
được trách nhiệm cuối cùng của nhà
thầu là hoàn thành dự án đáp ứng yêu
cầu của chủ đầu tư; nhưng mặt khác lại
phải đủ độ thông thoáng, linh hoạt để
13
Joseph A.Huse, Understanding and Negotiating
Turnkey and EPC Contracts, p.19, Sweet and Maxwell,
2002
14ꢀ Jan Picha, Ales Tomek, Harry Lowiꢁ, Application
EPC contract in international power projects, 15,16HowardM.Steinberg,UnderstandingandNegotiating
Procedia Engineering 123 (2015) 397-404, Crative EPC Contracts, Volume 1: The Project Sponsor’s
Construction Conference 2015
Perspective, p. 48, Routledge, 2017
Số chuyên đề 03 - 2020
Khoa học Kiểm sát 113
ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG THIẾT KẾ - CUNG CẤP THIẾT BỊ,...
nhà thầu thực hiện trách nhiệm của mình
Tóm lại, chính các đặc điểm của hợp
mà không bị sự can thiệp, kiểm soát quá đồng EPC nhìn từ góc độ pháp lý đã đặt
nhiều của chủ đầu tư như đối với hợp ra các yêu cầu điều chỉnh pháp luật đối
đồng xây dựng truyền thống. Đồng thời, với quan hệ hợp đồng EPC cũng như
với tính chất trách nhiệm này có thể thấy vận dụng mô hình hợp đồng này trong
được yêu cầu của việc trao đổi thông tin triển khai thực hiện dự án đầu tư xây
thường xuyên, xử lý thông tin kịp thời dựng như:
giữa các bên nhằm hạn chế đến mức tối
Một là, cần xác định ranh giới rõ ràng
đa khả năng phát sinh xung đột, tranh
về phạm vi điều chỉnh của các luật khác
chấp được đặt ra cao hơn so với hợp
nhau điều chỉnh quan hệ hợp đồng EPC,
đồng xây dựng truyền thống. Vì với một
tránh sự chồng chéo, không thống nhất
hợp đồng EPC, chủ đầu tư không còn
gây khó khăn cho các bên khi áp dụng mô
trực tiếp kiểm soát và chứng nhận các
hình hợp đồng này.
hoạt động của nhà thầu nên để duy trì sự
Hai là, cần định rõ phạm vi áp dụng của
hợp đồng EPC phù hợp với các khuyến
kiểm soát của chủ đầu tư đối với dự án
mà không được can thiệp trực tiếp vào
nghị của FIDIC cũng như điều kiện thực
hoạt động của nhà thầu thì cách tốt nhất
tế của mỗi dự án. Mặc dù, việc thực hiện
chính là quy định trách nhiệm trao đổi,
dự án theo mô hình EPC mang lại nhiều
xử lý thông tin kịp thời giữa các bên có
lợi ích cho chủ đầu tư nhưng để tận dụng
liên quan trong quá trình thực hiện hợp
được những ưu thế của EPC thì đòi hỏi
đồng là trách nhiệm pháp lý quan trọng
dự án phải đáp ứng những điều kiện phù
của mỗi bên xuyên suốt quá trình thực
hợp để áp dụng.
hiện hợp đồng.
Ba là, cần thiết lập một quy chế pháp
lý đồng bộ điều chỉnh quan hệ hợp đồng
Cũng từ tính chất trách nhiệm này
của các bên trong hợp đồng EPC/Turnkey
EPC. Vì việc thực hiện dự án theo mô hình
mà FIDIC đã đưa ra khuyến nghị về các
EPC đòi hỏi sự điều chỉnh pháp luật hoàn
trường hợp không thích hợp để áp dụng
toàn khác biệt so với mô hình hợp đồng
xây dựng truyền thống, đặc biệt là các
quy định liên quan đến quyền, nghĩa vụ
và trách nhiệm của các bên đối với việc
giao kết, quản lý và thực hiện hợp đồng
EPC./.
17
1
mô hình hợp đồng này .
17 Xem FIDIC, Conditions of Contract for EPC/Turnkey
Projects, First Editon 1999, Introductory Note to First
Editon. Mẫu hợp đồng EPC/Turnkey không phù
hợp để áp dụng trong các trường hợp:
+ Nếu không có đủ thời gian hoặc thông tin để
các nhà dự thầu nghiên cứu và kiểm tra “Các yêu
cầu của chủ đầu tư” hoặc để họ thực hiện các
công việc thiết kế, nghiên cứu đánh giá rủi ro và
lập dự toán giá chào trong giai đoạn chuẩn bị hồ
sơ chào thầu EPC.
+ Nếu chủ đầu tư dự định giám sát chặt chẽ hoặc
kiểm soát công việc của nhà thầu, hoặc thẩm tra,
phê duyệt hầu hết các bản vẽ thiết kế thi công.
+ Nếu giá trị mỗi đợt thanh toán trong thời gian
thực hiện hợp đồng cần phải được người có thẩm
quyền hoặc một bên trung gian xác định.
+ Nếu công trình sẽ bao gồm công việc đáng kể
dưới mặt đất hoặc công việc ở các khu vực khác
mà các nhà dự thầu không thể kiểm tra được.
114 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 03 - 2020
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm của hợp đồng thiết kế - Cung cấp thiết bị, công nghệ và thi công xây dựng công trình (EPC) - Nhìn từ góc độ pháp lý", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
dac_diem_cua_hop_dong_thiet_ke_cung_cap_thiet_bi_cong_nghe_v.pdf

