Đặc điểm của hợp đồng thiết kế - Cung cấp thiết bị, công nghệ và thi công xây dựng công trình (EPC) - Nhìn từ góc độ pháp lý

ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG THIẾT KẾ - CUNG CẤP THIẾT BỊ,...  
CÔNG NGHỆ VÀ THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH (EPC) -  
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ PHÁP LÝ  
ĐẶNG HOÀNG MAI*  
Hợp đồng EPC nhìn từ góc độ pháp lý có nhiều điểm khác biệt so với hợp đồng xây dựng  
truyền thống. Chính vì vậy, việc điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ hợp đồng này cũng đặt  
ra những yêu cầu riêng, đặc biệt là các quy định liên quan đến quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm  
của các bên trong giao kết, quản lý và thực hiện hợp đồng EPC; nhằm phát huy được những ưu  
thế của mô hình hợp đồng này trong việc triển khai thực hiện dự án đầu tư xây dựng.  
Từ khoá: Hợp đồng EPC, đặc điểm pháp lý, quy định pháp luật.  
Ngày nhận bài: 20/9/2020; Biên tập xong: 22/9/2020; Duyệt đăng: 22/9/2020.  
From legal perspective, Engineering - Procurement - Construction (EPC) Contract  
is different from traditional ones. Therefore, legal adjustment for this contractual  
relationship also sets its own requirements, especially the provisions related to parties’  
rights, obligations and responsibilities in contract management and performance to  
bring into play the advantages of this contract in the implementation of construction  
investment projects.  
Keywords: EPC contract, legal characteristics, legal regulations.  
PC là các chữ viết tắt của cụm là Design - Bid - Build). Việc thực hiện dự  
từ tiếng Anh: Engineering - án theo mô hình EPC đem lại nhiều lợi  
E
Procurement - Construction ích cho chủ đầu tư như tập trung một đầu  
(Thiết kế - Cung cấp thiết bị công nghệ - mối chịu trách nhiệm thực hiện dự án;  
Thi công xây dựng). Khái niệm này được kiểm soát chi phí và tiến độ thực hiện dự  
hiểu là trong cùng một gói thầu, một hợp án tốt hơn, cũng như giúp cho việc cung  
đồng, nhà thầu được giao thực hiện cả cấp tài chính được dễ dàng hơn; tốc độ  
ba nội dung công việc: Tư vấn thiết kế, hoàn thành dự án nhanh hơn và tăng hiệu  
cung cấp thiết bị, công nghệ và thi công quả thực hiện dự án.  
xây dựng công trình. EPC là một hình  
Thuật ngữ EPC có nguồn gốc từ những  
thức cụ thể của phương thức thực hiện dự  
án mới: Giao cho cùng một nhà thầu vừa  
thiết kế, vừa thi công xây dựng (được gọi  
là phương thức Thiết kế - Xây dựng, tiếng  
Anh là Design - Build); khác với phương  
thức thực hiện dự án truyền thống: Chủ  
đầu tư thiết kế xong mới lựa chọn nhà  
thầu thi công (được gọi là phương thức  
Thiết kế - Đấu thầu - Xây dựng, tiếng Anh  
hợp đồng xây dựng các toà nhà và tổ hợp  
công nghiệp trong ngành công nghiệp  
dầu khí ở Mỹ1. Hiện tại, thuật ngữ này  
được sử dụng trên phạm vi quốc tế. Tuy  
nhiên, chưa có một định nghĩa chính thức  
* Thạc sĩ, Giảng viên chính Trường Đại học Xây  
dựng  
1ꢀ Joseph A.Huse, Understanding and Negotiating Turnkey  
and EPC Contracts, p.5, Sweet and Maxwell, 2002  
Số chuyên đề 03 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 109  
ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG THIẾT KẾ - CUNG CẤP THIẾT BỊ,...  
được thừa nhận đối với hợp đồng EPC. định về hợp đồng xây dựng – Chương  
Theo cách hiểu thông thường, hợp đồng  
EPC là loại hợp đồng mà trong đó một  
nhà thầu được coi là tổng thầu chịu trách  
nhiệm về thiết kế (Engineering), cung cấp  
thiết bị công nghệ (Procurement) và thi  
công xây dựng công trình (Construction)  
trong một tổ hợp các nhà thầu. Với hợp  
đồng EPC, tổng thầu sẽ chịu trách nhiệm  
hoàn thành dự án và chủ đầu tư chỉ cần  
”nhận chìa khoá” để bắt đầu sử dụng  
công trình. Vì thế, trong nhiều trường  
hợp, hợp đồng EPC cũng được gọi là hợp  
đồng Chìa khoá trao tay (Turnkey). Việc  
sử dụng hợp đồng EPC/Turnkey trong  
các dự án xây dựng hiện nay, đặc biệt là  
trong các dự án hạ tầng, đã trở thành phổ  
biến với các chủ đầu tư và định chế tài  
chính. Theo thống kê, ở Mỹ, việc sử dụng  
hợp đồng EPC/Turnkey cho các dự án xây  
dựng đã tăng từ 18 tỷ USD (giữa những  
năm 80) lên 69 tỷ USD (giữa những năm  
12: Hợp đồng cho dự án xây dựng, bao  
gồm 18 Điều (từ Điều 269 đến Điều 287).  
Trong đó, có nêu định nghĩa về hợp đồng  
xây dựng; yêu cầu về hình thức giao kết  
hợp đồng xây dựng là bằng văn bản; yêu  
cầu về quy trình lựa chọn nhà thầu phải  
công khai, công bằng và minh bạch; quy  
định về nội dung của hợp đồng; quy định  
về giám sát hợp đồng và quyền giám sát  
hợp đồng của chủ đầu tư; các quy định về  
trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Tuy  
nhiên, không có sự phân loại rõ ràng về  
các loại hợp đồng xây dựng cụ thể trong  
hai đạo luật này. Quan hệ hợp đồng EPC  
được điều chỉnh cụ thể thông qua mẫu  
hợp đồng do Bộ ban hành, được hiểu là  
hợp đồng mà trong đó nhà thầu sẽ đảm  
nhiệm các công việc thiết kế, mua sắm,  
xây dựng và chạy thử theo thoả thuận  
trong hợp đồng và chịu trách nhiệm đối  
với chất lượng, an toàn, thời hạn và chi  
phí của dự án. Hợp đồng chìa khoá trao  
tay là dạng mở rộng của EPC. Ở Trung  
90) và hiện nay đang chiếm khoảng 25%  
2
1
ngành công nghiệp xây dựng của Mỹ .  
Hợp đồng EPC là một dạng hợp đồng  
được ghi nhận phổ biến trong quy định  
pháp luật của nhiều quốc gia. Tại Trung  
Quốc, quan hệ hợp đồng xây dựng nói  
chung và quan hệ hợp đồng EPC nói riêng  
được điều chỉnh trực tiếp bởi Luật Xây  
dựng (ban hành ngày 01/11/1997) và Luật  
Quốc, EPC/Turnkey chủ yếu được sử  
4
3
dụng trong các dự án dầu khí .  
ỞẤn Độ, hợp đồng xây dựng cũng như  
các loại hợp đồng khác phải tuân thủ quy  
định của Luật Hợp đồng (Indian Contract  
Act ban hành năm 1872) mà không có quy  
định riêng dành cho hợp đồng xây dựng.  
Hợp đồng của Trung Quốc (ban hành  
3
Luật này được ban hành chủ yếu dựa  
2
ngày 01/10/1993) . Luật Hợp đồng của  
5
4
trên hệ thống thông luật Anh . Trong Bản  
Trung Quốc dành một chương riêng quy  
”Mẫu thoả thuận Thiết kế - Cung cấp thiết  
2 Joseph A.Huse, Sđd  
3ꢀ Construction Law of The People’s Republic of China, 4ꢀ K.W. Chau. Isabelle Y.S. Chan, Weisheng Lu.  
1997, Chapter III – Leꢁing and Undertaking a Chris Webster, Proceedings of the 21st International  
Contract for a Construction Project, Article 15-29; Symposium on Advance of Construction Management  
Contract Law of The People’s Republic of China, 1993, and Real Estate, p. 1366, 120.2.1, Springer, 2018  
Chapter XVI – Contracts for Construction Projects, 5ꢀ ICLG.com, India: Construction and Engineering  
Article 269-287.  
Law 2019, 1.4.  
110 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
ĐẶNG HOÀNG MAI  
bị công nghệ - Thi công xây dựng” của dầu, khai thác mỏ và điện năng. Theo đó,  
một nhà thầu được thuê bởi doanh nghiệp  
dự án có trách nhiệm thực hiện toàn bộ dự  
án trên cơ sở chìa khoá trao tay. Tức là nhà  
thầu phải quản lý toàn bộ các công việc  
thiết kế, mua sắm, thi công xây dựng, bao  
Chính phủ Ấn Độ năm 2017, phần tổng  
quan đã nhận định rằng, các dự án đầu tư  
công xây dựng cơ sở hạ tầng của Ấn Độ  
cần phải tiếp nhận một mô hình hợp đồng  
mới là hợp đồng EPC để có được sự đảm  
bảo chắc chắn về tiến độ và chi phí của dự  
gồm cả việc quản lý và thực hiện của các  
9
4
nhà thầu phụ .  
án. Và hình thức giá trong mẫu hợp đồng  
6
1
này được quy định là giá trọn gói .  
Ở Việt Nam hiện nay, về cơ bản đã hình  
thành khung pháp lý điều chỉnh hoạt động  
xây dựng nói chung, trong đó có quan hệ  
hợp đồng xây dựng, thông qua hệ thống  
các văn bản quy phạm pháp luật chuyên  
ngành là Luật Xây dựng và các văn bản  
hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng. Theo  
đó, hợp đồng xây dựng được hiểu là hợp  
đồng dân sự được thỏa thuận bằng văn  
bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu  
Tại Nhật Bản, quan hệ hợp đồng xây  
dựng được điều chỉnh bởi quy định của  
Bộ luật dân sự (Civil Code ban hành năm  
1896 và sửa đổi bổ sung năm 2006) và  
Luật Kinh doanh xây dựng (Construction  
Business Act ban hành năm 1949 và sửa  
đổi bổ sung năm 2008). Theo quy định của  
Nhật Bản, việc đầu tư cơ sở hạ tầng và các  
nhà máy điện chủ yếu dựa trên hình thức  
đối tác công tư. Các nhà tài trợ dự án luôn  
yêu cầu một hợp đồng xây dựng với ngày  
hoàn thành xác định và chi phí trọn gói.  
Để thoả mãn yêu cầu này, các thoả thuận  
để thực hiện một phần hay toàn bộ công  
10  
5
việc trong hoạt động đầu tư xây dựng . Về  
hợp đồng EPC, tại Nghị định số 37/2015/  
NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy  
định chi tiết về hợp đồng xây dựng đã quy  
định: Hợp đồng thiết kế - cung cấp thiết bị  
công nghệ và thi công xây dựng công trình  
(tiếng Anh là Engineering - Procurement –  
Construction, viết tắt là EPC) là hợp đồng  
để thực hiện các công việc từ thiết kế, cung  
cấp thiết bị công nghệ đến thi công xây  
dựng công trình, hạng mục công trình; hợp  
đồng tổng thầu EPC là hợp đồng thiết kế -  
cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây  
dựng tất cả các công trình của một dự án  
hợp đồng thường được thiết lập dưới  
7
2
hình thức EPC/Turnkey .  
Ở Anh, Luật Tái thiết và Xây dựng  
(Housing Grants, Construction and  
Regeneration Act) ban hành năm 1996  
và được sửa đổi bổ sung vào 10/2011 là  
khung pháp lý áp dụng cho tất cả các  
8
3
hợp đồng xây dựng . Trong đó, hợp đồng  
EPC/ Turnkey là dạng hợp đồng được các  
doanh nghiệp dự án sử dụng phổ biến  
11  
6
trong các dự án PPP thuộc các lĩnh vực hoá đầu tư xây dựng .  
6ꢀ Government of India, Engineering – Procurement and 9ꢀ Julio Cesar Bueno, tlđd, P.231.  
Construction of Civil Works, Model Agreement, 2018.  
Julio Cesar Bueno, The Projects and Construction ngày 18/6/2014  
10 Xem Điều 138 – Luật Xây dựng số 50/2014/QH13  
7ꢀ  
Review, Law Business Research Ltd, p.134, 2019.  
11ꢀ Xem điểm g, khoản 1, Điều 3 Nghị định 37/2015/  
8ꢀ ICLG, The International Comparative Legal Guide to: NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định  
Construciton and Engineering Law 2018, 5th edition, p.49. chi tiết về hợp đồng xây dựng  
Số chuyên đề 03 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 111  
ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG THIẾT KẾ - CUNG CẤP THIẾT BỊ,...  
Nhìn từ góc độ pháp lý, hợp đồng EPC sẻ rủi ro một cách “cân bằng” giữa các  
có các đặc điểm cơ bản để nhận diện là:  
bên tham gia hợp đồng trong hợp đồng  
xây dựng truyền thống, đối với một hợp  
đồng EPC trọn gói, cán cân rủi ro và  
trách nhiệm bị nghiêng về phía tổng thầu  
EPC. Có thể nói, với một hợp đồng EPC  
trọn gói, gần như tất cả các rủi ro của việc  
thực hiện dự án đã được chuyển sang cho  
tổng thầu EPC. Chủ đầu tư dự án EPC  
sẵn sàng chi trả nhiều hơn để có được  
sự đảm bảo chắc chắn từ phía tổng thầu  
EPC về việc sẽ nhận được công trình đáp  
ứng những yêu cầu của mình được đặt ra  
trong hợp đồng với giới hạn thời gian và  
chi phí thực hiện dự kiến. Thông thường,  
đối với hợp đồng Thiết kế - Xây dựng nói  
chung và EPC nói riêng, giá hợp đồng  
sẽ được xác định cố định vào thời điểm  
không muộn hơn giai đoạn giữa của việc  
thiết kế - khi mà phạm vi công việc đã  
được xác định12.  
Thứ nhất, về tính chất, hợp đồng EPC  
là một dạng hợp đồng hỗn hợp vừa thiết  
kế, vừa thi công và mua sắm. Đặc điểm  
này của hợp đồng EPC xuất phát từ đối  
tượng của hợp đồng EPC hoàn toàn khác  
biệt so với hợp đồng xây dựng truyền  
thống. Nếu như trong hợp đồng xây  
dựng truyền thống, đối tượng của hợp  
đồng chỉ là một loại hoạt động/một sản  
phẩm xây dựng riêng biệt tương ứng với  
một loại công việc trong quá trình xây  
dựng công trình (Ví dụ như hợp đồng  
tư vấn thiết kế, hợp đồng thi công xây  
dựng)... thì đối với hợp đồng EPC, đối  
tượng của hợp đồng là toàn bộ quá trình  
tạo lập nên công trình xây dựng; bắt đầu  
từ khâu thiết kế, cho đến khâu mua sắm  
trang thiết bị, công nghệ, thi công xây  
dựng và lắp đặt vận hành công trình. Do  
đó, có cả tính chất của hợp đồng cung ứng  
dịch vụ và hợp đồng mua bán trong một  
hợp đồng EPC. Giới nghiên cứu quốc tế  
gọi hợp đồng EPC là một dạng hợp đồng  
hỗn hợp (Mix contract).  
Tính chất trách nhiệm của tổng thầu  
trong hợp đồng EPC là phải hoàn thành  
công trình đáp ứng yêu cầu của chủ đầu  
tư đã đề ra trong hợp đồng (Fitness for  
purpose). Với hợp đồng EPC/Turnkey,  
trách nhiệm về thiết kế và thi công đều  
do tổng thầu đảm nhiệm với những  
chuẩn mực thực hiện (Standard of  
performance) khắt khe hơn. Chuẩn mực  
thực hiện được áp dụng sẽ được quy  
định bởi hợp đồng, hoặc trong trường  
hợp thiếu những điều khoản quy định  
cụ thể, thì được áp dụng theo luật tương  
ứng. Theo Điều kiện hợp đồng cho các  
dự án EPC/Turnkey của Hiệp hội quốc tế  
Thứ hai, hợp đồng EPC là loại hợp đồng  
mang nội dung kỹ thuật chuyên ngành  
rất rõ rệt. Chính vì vậy, quan hệ hợp đồng  
EPC, ngoài việc chịu sự điều chỉnh của các  
quy định pháp luật chung như Bộ luật dân  
sự, Luật thương mại...; còn chịu sự điều  
chỉnh rất quan trọng của hệ thống quy  
định pháp luật chuyên ngành đó là Luật  
Xây dựng và các văn bản hướng dẫn thi  
hành; cũng như các quy định pháp luật có  
liên quan khác, đặc biệt là Luật Đấu thầu.  
Thứ ba, đặc điểm quan trọng nhất là  
tính chất trách nhiệm của các bên trong  
1ꢀ2 Julio Cesar Bueno, The Projects and Construction  
Review, 6th edition, p.41, Law Business Research,  
hợp đồng EPC. Khác với nguyên tắc chia July 2016  
112 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
ĐẶNG HOÀNG MAI  
15  
3
các kỹ sư tư vấn (FIDIC), tiêu chuẩn này tế cũng như pháp lý những rủi ro này .  
là “sự phù hợp với mục đích” (“fitness  
for purpose”). Theo luật án lệ của Anh,  
tổng thầu EPC/Turnkey cũng có trách  
nhiệm pháp lý nghiêm ngặt là phải bàn  
Về phía chủ đầu tư, so với một hợp  
đồng xây dựng truyền thống, trách nhiệm  
của chủ đầu tư đối với việc thực hiện hợp  
đồng đã giảm xuống một cách đáng kể.  
Về cơ bản, trách nhiệm quan trọng hàng  
đầu của chủ đầu tư là kiểm tra, giám sát  
hoạt động của tổng thầu EPC trong quá  
trình thực hiện dự án; một mặt đảm bảo  
kiểm soát được quá trình thực hiện hợp  
đồng của nhà thầu nhưng mặt khác lại  
không được can thiệp trực tiếp vào quá  
trình đó như đối với hợp đồng xây dựng  
truyền thống. Chủ đầu tư khi đặt bút ký  
vào hợp đồng EPC cần phải hiểu rất rõ  
ràng rằng, bất kỳ sự can thiệp nào của  
mình vào quá trình thực hiện dự án của  
nhà thầu với cách thức như đối với hợp  
đồng xây dựng truyền thống, đều có thể  
phải trả giá bằng việc làm chậm tiến độ,  
gia tăng chi phí của dự án, cũng tức là làm  
”tê liệt” thế mạnh của EPC đối với việc  
thực hiện dự án. Theo tác giả Howard  
M.Steinberg, điểm chính yếu nhất đối  
với một hợp đồng EPC, không gì hơn  
đó chính là chủ đầu tư không được can  
thiệp quá nhiều vào quá trình thực hiện  
hợp đồng của tổng thầu16.  
giao công trình phù hợp với mục đích  
13  
1
đặt ra trong hợp đồng .  
Chính vì vậy, khi ký kết hợp đồng  
EPC, một trong những vấn đề cốt lõi đó là  
tổng thầu EPC phải xác định và đánh giá  
được rủi ro, cả về mặt kỹ thuật và pháp  
lý của dự án để nhận trách nhiệm ở mức  
độ cao nhất là “fitness for purpose” với  
chủ đầu tư. Trong một nghiên cứu của  
mình, một nhóm tác giả đã đúc kết một  
trong bốn nhân tố cơ bản cho sự thành  
công của một dự án EPC, đó là tổng  
thầu EPC phải hiểu rõ về giới hạn trách  
nhiệm và những rủi ro mà mình phải  
14  
2
gánh chịu . Việc tổng thầu EPC không  
nhận thức, đánh giá được một cách chính  
xác, rõ ràng các rủi ro đối với mình trong  
một dự án cụ thể mà vẫn ký vào hợp  
đồng chính là một trong những rủi ro  
lớn nhất cho sự thành công của dự án.  
Howard M. Steinberg – tác giả của một  
trong những cuốn sách “kinh điển” về  
EPC – Understanding and Negotiating EPC  
Contracts đã khẳng định: Không một dự  
án xây dựng nào có thể thành công nếu  
thiếu đi sự hiểu biết rõ ràng về các rủi ro  
có liên quan và sự phân bổ về mặt thực  
Với tính chất trách nhiệm này của các  
bên đòi hỏi quy định pháp luật về hợp  
đồng EPC một mặt cần phải đủ chặt  
chẽ và bao quát để kiểm soát, ràng buộc  
được trách nhiệm cuối cùng của nhà  
thầu là hoàn thành dự án đáp ứng yêu  
cầu của chủ đầu tư; nhưng mặt khác lại  
phải đủ độ thông thoáng, linh hoạt để  
13  
Joseph A.Huse, Understanding and Negotiating  
Turnkey and EPC Contracts, p.19, Sweet and Maxwell,  
2002  
14ꢀ Jan Picha, Ales Tomek, Harry Lowiꢁ, Application  
EPC contract in international power projects, 15,16HowardM.Steinberg,UnderstandingandNegotiating  
Procedia Engineering 123 (2015) 397-404, Crative EPC Contracts, Volume 1: The Project Sponsor’s  
Construction Conference 2015  
Perspective, p. 48, Routledge, 2017  
Số chuyên đề 03 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 113  
ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG THIẾT KẾ - CUNG CẤP THIẾT BỊ,...  
nhà thầu thực hiện trách nhiệm của mình  
Tóm lại, chính các đặc điểm của hợp  
mà không bị sự can thiệp, kiểm soát quá đồng EPC nhìn từ góc độ pháp lý đã đặt  
nhiều của chủ đầu tư như đối với hợp ra các yêu cầu điều chỉnh pháp luật đối  
đồng xây dựng truyền thống. Đồng thời, với quan hệ hợp đồng EPC cũng như  
với tính chất trách nhiệm này có thể thấy vận dụng mô hình hợp đồng này trong  
được yêu cầu của việc trao đổi thông tin triển khai thực hiện dự án đầu tư xây  
thường xuyên, xử lý thông tin kịp thời dựng như:  
giữa các bên nhằm hạn chế đến mức tối  
Một là, cần xác định ranh giới rõ ràng  
đa khả năng phát sinh xung đột, tranh  
về phạm vi điều chỉnh của các luật khác  
chấp được đặt ra cao hơn so với hợp  
nhau điều chỉnh quan hệ hợp đồng EPC,  
đồng xây dựng truyền thống. Vì với một  
tránh sự chồng chéo, không thống nhất  
hợp đồng EPC, chủ đầu tư không còn  
gây khó khăn cho các bên khi áp dụng mô  
trực tiếp kiểm soát và chứng nhận các  
hình hợp đồng này.  
hoạt động của nhà thầu nên để duy trì sự  
Hai là, cần định rõ phạm vi áp dụng của  
hợp đồng EPC phù hợp với các khuyến  
kiểm soát của chủ đầu tư đối với dự án  
mà không được can thiệp trực tiếp vào  
nghị của FIDIC cũng như điều kiện thực  
hoạt động của nhà thầu thì cách tốt nhất  
tế của mỗi dự án. Mặc dù, việc thực hiện  
chính là quy định trách nhiệm trao đổi,  
dự án theo mô hình EPC mang lại nhiều  
xử lý thông tin kịp thời giữa các bên có  
lợi ích cho chủ đầu tư nhưng để tận dụng  
liên quan trong quá trình thực hiện hợp  
được những ưu thế của EPC thì đòi hỏi  
đồng là trách nhiệm pháp lý quan trọng  
dự án phải đáp ứng những điều kiện phù  
của mỗi bên xuyên suốt quá trình thực  
hợp để áp dụng.  
hiện hợp đồng.  
Ba là, cần thiết lập một quy chế pháp  
lý đồng bộ điều chỉnh quan hệ hợp đồng  
Cũng từ tính chất trách nhiệm này  
của các bên trong hợp đồng EPC/Turnkey  
EPC. Vì việc thực hiện dự án theo mô hình  
mà FIDIC đã đưa ra khuyến nghị về các  
EPC đòi hỏi sự điều chỉnh pháp luật hoàn  
trường hợp không thích hợp để áp dụng  
toàn khác biệt so với mô hình hợp đồng  
xây dựng truyền thống, đặc biệt là các  
quy định liên quan đến quyền, nghĩa vụ  
và trách nhiệm của các bên đối với việc  
giao kết, quản lý và thực hiện hợp đồng  
EPC./.  
17  
1
mô hình hợp đồng này .  
17 Xem FIDIC, Conditions of Contract for EPC/Turnkey  
Projects, First Editon 1999, Introductory Note to First  
Editon. Mẫu hợp đồng EPC/Turnkey không phù  
hợp để áp dụng trong các trường hợp:  
+ Nếu không có đủ thời gian hoặc thông tin để  
các nhà dự thầu nghiên cứu và kiểm tra “Các yêu  
cầu của chủ đầu tư” hoặc để họ thực hiện các  
công việc thiết kế, nghiên cứu đánh giá rủi ro và  
lập dự toán giá chào trong giai đoạn chuẩn bị hồ  
sơ chào thầu EPC.  
+ Nếu chủ đầu tư dự định giám sát chặt chẽ hoặc  
kiểm soát công việc của nhà thầu, hoặc thẩm tra,  
phê duyệt hầu hết các bản vẽ thiết kế thi công.  
+ Nếu giá trị mỗi đợt thanh toán trong thời gian  
thực hiện hợp đồng cần phải được người có thẩm  
quyền hoặc một bên trung gian xác định.  
+ Nếu công trình sẽ bao gồm công việc đáng kể  
dưới mặt đất hoặc công việc ở các khu vực khác  
mà các nhà dự thầu không thể kiểm tra được.  
114 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
pdf 6 trang Thùy Anh 11900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm của hợp đồng thiết kế - Cung cấp thiết bị, công nghệ và thi công xây dựng công trình (EPC) - Nhìn từ góc độ pháp lý", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_cua_hop_dong_thiet_ke_cung_cap_thiet_bi_cong_nghe_v.pdf