Quy định của bộ luật lao động năm 2019 và bộ luật dân sự năm 2015 về hợp đồng

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019  
VÀ BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 VỀ HỢP ĐỒNG  
Nguyễn Văn Hợi*  
Nguyễn Tài Tuấn Anh**  
*TS. Phó trưởng Bộ môn Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội  
**ThS. Bộ môn Luật Dân sự, trường Đại học Luật Hà Nội  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Hợp đꢀng, Bꢂ luật Dân  
sự năm 2015, Bꢂ luật Lao đꢂng  
năm 2019.  
Chế định hợp đꢀng là chế định quan trọng trong hệ thꢁng pháp luật tư,  
được ghi nhận bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, trong  
đó có Bꢂ luật Dân sự và Bꢂ luật Lao đꢂng. Trong phạm vi bài viết này,  
các tác giả trình bày, phân tích các quy định của Bꢂ luật Lao đꢂng năm  
2019 và Bꢂ luật Dân sự năm 2015 về hợp đꢀng, trong đó chỉ ra những  
bất cập và đề xuất kiến nghị hoàn thiện.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 08/4/2021  
: 18/5/2021  
: 20/5/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Provisions on contract are an important ones in the private legal system,  
being recognized in different legal documents, including the Civil Code  
and the Labor Code. Within the scope of this article, the authors provide  
discussions and analysis of the provisions of the Labor Code of 2019  
and the Civil Code of 2015 on contracts, in which the authors also  
point out a number of shortcomings and recommendations for further  
improvements.  
Keywords: Contract; the Civil  
Code of 2015; the Labor Code  
of 2019.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 08 Apr. 2021  
: 18 May 2021  
: 20 May 2021  
Approved  
1. Quy định về giao kết hợp đồng  
Về cơ bản, các nguyên tắc giao kết hợp  
đꢀng lao đꢂng trong BLLĐ cũng có sự  
tương đꢀng với các nguyên tắc giao kết hợp  
đꢀng trong BLDS. Tuy nhiên, điểm không  
thꢁng nhất của hai Bꢂ luật này liên quan  
đến nguyên tắc giao kết hợp đꢀng chính là  
việc ghi nhận “nguyên tắc tự do giao kết  
hợp đꢀng”. Trong BLDS năm 2015, nguyên  
tắc tự do giao kết hợp đꢀng được thể hiện  
ở chỗ: “Mọi cam kết, thỏa thuận không vi  
phạm điều cấm của luật, không trái đạo  
đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các  
1.1. Quy định về nguyên tắc giao kết  
hợp đồng  
Trong Bꢂ luật Dân sự (BLDS) năm  
2015, các nguyên tắc giao kết hợp đꢀng  
không được ghi nhận riêng. Các nguyên tắc  
cơ bản của pháp luật dân sự tại Điều 3 được  
áp dụng cho việc xác lập, thực hiện và chấm  
dứt mọi quan hệ pháp luật dân sự, trong đó  
bao gꢀm cả việc giao kết hợp đꢀng. Tuy  
nhiên, trong Bꢂ luật Lao đꢂng (BLLĐ) năm  
2019, nguyên tắc giao kết hợp đꢀng được  
quy định cụ thể tại Điều 15.  
38  
Số 14(438) - T7/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
bên và phải được chủ thể khác tôn trọng”1.  
Theo quy định này, quyền tự do giao kết  
hợp đꢀng của các bên chỉ bị giới hạn bởi  
điều cấm của luật. Tức là chỉ có văn bản  
luật mới có thể ghi nhận quy định hạn chế  
quyền tự do của các bên. Văn bản dưới luật  
không được ghi nhận quy định hạn chế  
quyền tự do. Song, trong BLLĐ năm 2019,  
nguyên tắc tự do giao kết hợp đꢀng lại được  
ghi nhận theo hướng: “Tự do giao kết hợp  
đồng lao động nhưng không được trái pháp  
luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức  
xã hội”. Quy định này cho thấy quyền tự do  
giao kết hợp đꢀng không chỉ bị giới hạn bởi  
quy định của văn bản luật mà còn có thể bị  
giới hạn bởi văn bản dưới luật và thỏa ước  
lao đꢂng tập thể.  
kết hợp đꢀng của BLLĐ năm 2019 không  
phù hợp với Hiến pháp nên cꢃn phải sꢄa đổi  
theo hướng chỉ ghi nhận quyền tự do giao  
kết hợp đꢀng bị hạn chế theo quy định của  
văn bản luật.  
1.2. Quy định về nghĩa vụ cung cấp  
thông tin  
Trên thực tế, để thực hiện tꢁt hợp đꢀng  
thì khâu quyết định lại chính là khâu đàm  
phán hay còn gọi là giai đoạn tiền hợp đꢀng.  
Sự trung thực trong cung cấp thông tin, sự  
thiện chí trong hoạt đꢂng cảnh báo rủi ro...  
sẽ quyết định đến tính hợp lý, tính phù hợp  
và hiệu quả cho hợp đꢀng được giao kết sau  
này3. Do đó, nghĩa vụ cung cấp thông tin  
khi giao kết hợp đꢀng là mꢂt trong những  
nghĩa vụ quan trọng ở giai đoạn tiền hợp  
đꢀng - giai đoạn rất dễ có sự gian lận và lạm  
dụng ở mọi góc đꢂ4.  
Theo các tác giả, quy định về nguyên tắc  
tự do giao kết hợp đꢀng trong BLDS năm  
2015 phù hợp với quy định của Hiến pháp  
về hạn chế quyền con người, quyền công  
dân (bao gꢀm cả quyền tự do giao kết hợp  
đꢀng). Theo quy định của Hiến pháp năm  
2013: “Quyền con người, quyền công dân  
chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật  
trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc  
phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn  
xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng  
đồng”2. Theo quy định này, các quyền con  
người, quyền công dân (bao gꢀm cả quyền  
tự do giao kết hợp đꢀng) chỉ bị hạn chế theo  
quy định của văn bản luật. Trong trường  
hợp này, quy định về nguyên tắc tự do giao  
Trong BLDS và BLLĐ, nghĩa vụ cung  
cấp thông tin là nghĩa vụ mà các bên thực  
hiện trước khi quyết định giao kết hợp đꢀng  
với nhau. Tuy nhiên, việc quy định về nghĩa  
vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đꢀng  
trong hai bꢂ luật này không thꢁng nhất. Theo  
quy định của BLDS năm 2015, “trường hợp  
một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc  
chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia  
thì phải thông báo cho bên kia biết”5. Theo  
quy định này, nếu có thông tin ảnh hưởng  
đến việc giao kết hợp đꢀng thì bắt buꢂc các  
bên phải cung cấp thông tin cho nhau trong  
1 Khoản 2 Điều 3 BLDS năm 2015.  
2 Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013.  
3 Kiều Thị Thùy Linh (2015), Nghĩa vụ tiền hợp đồng và điều chỉnh hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi trong bối  
cảnh sửa đổi Bộ luật Dân sự, Tạp chí luật học, sꢁ đặc biệt - góp ý hoàn thiện Dự thảo BLDS (sửa đổi), tr.111-122.  
4 Lê Trường Sơn (2015), Giai đoạn tiền hợp đồng trong pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường  
Đại học Luật Thành phꢁ Hꢀ Chí Minh, tr.5.  
5 Khoản 1 Điều 387 BLDS năm 2015.  
Số 14(438) - T7/2021  
39  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
1.3. Quy định về chủ thể ký kết  
hợp đồng  
mọi trường hợp, bất kể các bên có yêu cꢃu  
hay không. Trong khi đó, theo quy định của  
BLLĐ năm 2019, việc cung cấp thông tin  
khi giao kết hợp đꢀng chỉ đặt ra khi bên kia  
có yêu cꢃu6.  
Theo quy định của BLDS năm 2015,  
hꢂ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức không có  
tư cách pháp nhân không được coi là chủ  
thể đꢂc lập của quan hệ pháp luật dân sự  
nên không thiết lập cơ chế đại diện của  
các tổ chức này. Tuy nhiên, theo quy định  
của điểm c khoản 3 Điều 18 BLLĐ năm  
2019, người đại diện của hꢂ gia đình, tổ  
hợp tác, tổ chức khác không có tư cách  
pháp nhân hoặc người được ủy quyền  
theo quy định của pháp luật có thẩm  
quyền giao kết hợp đꢀng lao đꢂng. Quy  
định này hoàn toàn mâu thuẫn với BLDS  
năm 2015. Sự mâu thuẫn này làm mất đi  
vai trò là “luật chung điều chỉnh các quan  
hệ dân sự”8 của BLDS.  
Các tác giả cho rằng, quy định của BLLĐ  
năm 2019 không phù hợp với nguyên tắc  
thiện chí, trung thực trong giao kết hợp  
đꢀng. Bởi vì, “nguyên tắc trung thực, thiện  
chí vừa là nguyên tắc chi phꢁi trực tiếp đến  
sự ra đời nghĩa vụ tiền hợp đꢀng, vừa chi  
phꢁi đến việc xác định nꢂi dung của nghĩa  
vụ này”7. Sự chi phꢁi này thể hiện ở chỗ,  
các bên buꢂc phải tuân thủ các nguyên tắc  
đã được ghi nhận mà không thể thỏa thuận  
để loại bỏ nguyên tắc. Các ngoại lệ của  
nguyên tắc luật định chỉ có thể bị loại bỏ  
với quy định của văn bản luật mà không thể  
loại bỏ bởi sự thỏa thuận của các bên. Hơn  
nữa, Điều 15 BLLĐ năm 2019 không ghi  
nhận bất cứ ngoại lệ nào đꢁi với nguyên tắc  
thiện chí, trung thực. Như vậy, quy định về  
nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp  
đꢀng lao đꢂng tại Điều 16 BLLĐ năm 2019  
không chỉ mâu thuẫn với quy định về nghĩa  
vụ cung cấp thông tin trong BLDS mà còn  
mâu thuẫn với chính quy định về nguyên  
tắc giao kết hợp đꢀng được ghi nhận tại  
Điều 15 Bꢂ luật này. Để khắc phục sự mâu  
thuẫn này, cꢃn sꢄa đổi quy định của Điều  
16 BLLĐ năm 2019 theo hướng ghi nhận  
nghĩa vụ cung cấp thông tin là nghĩa vụ bắt  
buꢂc đꢁi với các bên nếu thông tin của các  
bên có thể ảnh hưởng đến việc giao kết hợp  
đꢀng bất kể có yêu cꢃu hay không.  
Các tác giả cho rằng, cꢃn khắc phục mâu  
thuẫn này theo mꢂt trong hai hướng sau:  
(i) Sꢄa đổi BLDS năm 2015 theo hướng  
ghi nhận các trường hợp ngoại lệ cho phép  
hꢂ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức không có tư  
cách pháp nhân được tham gia giao dịch với  
tư cách đꢂc lập. Hoặc,  
(ii) Sꢄa đổi điểm c khoản 3 Điều 18  
BLLĐ năm 2019 theo hướng ghi nhận  
các thành viên của hꢂ gia đình, tổ hợp  
tác, tổ chức không có tư cách pháp nhân  
là chủ thể ký kết hợp đꢀng trong trường  
hợp hꢂ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức  
không có tư cách pháp nhân tham gia  
hợp đꢀng lao đꢂng.  
6 Xem Điều 16 BLLĐ năm 2015.  
7 Kiều Thị Thùy Linh (2015), Nghĩa vụ tiền hợp đồng và điều chỉnh hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi trong  
bối cảnh sửa đổi Bộ luật Dân sự, Tạp chí luật học, sꢁ đặc biệt - góp ý hoàn thiện Dự thảo BLDS (sửa đổi),  
tr.111-122.  
8 Khoản 1 Điều 4 BLDS năm 2015.  
40  
Số 14(438) - T7/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
2. Quy định về nội dung của hợp đồng  
chỉ là yếu tꢁ “cá biệt hóa hợp đꢀng”. Vì vậy,  
việc xác định các thông tin liên quan đến  
chủ thể giao kết hợp đꢀng thuꢂc nꢂi dung  
của hợp đꢀng là không phù hợp.  
Theo quy định của Điều 398 BLDS năm  
2015, nꢂi dung của hợp đꢀng là các điều  
khoản, có thể bao gꢀm các điều khoản như:  
đꢁi tượng của hợp đꢀng; sꢁ lượng, chất  
lượng; giá, phương thức thanh toán; thời  
hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp  
đꢀng;... Ngoài ra, các bên trong hợp đꢀng  
không bắt buꢂc phải thỏa thuận về tất cả các  
điều khoản thường có trong mꢂt hợp đꢀng,  
mà có thể lựa chọn thỏa thuận hoặc không  
thỏa thuận về những điều khoản không thực  
sự thiết yếu9. Ví dụ, khi giao kết hợp đꢀng  
vay, các bên có thể thỏa thuận hoặc không  
cꢃn thỏa thuận điều khoản về lãi suất.  
Các tác giả cho rằng, cꢃn phải sꢄa đổi  
các quy định về nꢂi dung của hợp đꢀng  
trong BLLĐ năm 2019 theo hướng lược bỏ  
quy định về thông tin của các bên giao kết  
hợp đꢀng ra khỏi quy định về nꢂi dung của  
hợp đꢀng.  
3. Quy định về hiệu lực của hợp đồng  
Khoản 1 Điều 401 BLDS năm 2015 quy  
định: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp  
có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường  
hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan  
có quy định khác”. Trong khi đó, Điều 23  
BLLĐ năm 2019 quy định: “Hợp đồng lao  
động có hiệu lực kể từ ngày hai bên giao kết,  
trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận hoặc  
pháp luật có quy định khác”. Đꢁi chiếu hai  
quy định này có thể nhận thấy mꢂt sꢁ nꢂi  
dung không thꢁng nhất trong quy định về  
hiệu lực của hợp đꢀng như sau:  
Theo quy định của BLLĐ năm 2019, các  
bên giao kết hợp đꢀng bắt buꢂc phải thỏa  
thuận về rất nhiều loại điều khoản khác  
nhau như công việc, thời hạn, mức lương,  
hình thức trả lương, thời hạn trả lương, thời  
giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi,... đặc biệt,  
bao gꢀm cả các thông tin liên quan đến các  
bên giao kết hợp đꢀng10.  
Trong khoa học pháp lý hiện nay, nꢂi  
dung của hợp đꢀng được hiểu là tổng hợp  
các điều khoản trong hợp đꢀng do các bên  
thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định11.  
Theo đó, nꢂi dung của hợp đꢀng chỉ là mꢂt  
trong các bꢂ phận cấu thành hợp đꢀng.  
Ngoài nꢂi dung sẽ có các bꢂ phận khác  
như tên gọi và trích yếu, thời điểm và địa  
điểm giao kết hợp đꢀng, chủ thể giao kết  
hợp đꢀng,... Do đó, về lý luận thì các thông  
tin liên quan đến các bên giao kết hợp đꢀng  
không thuꢂc nꢂi dung của hợp đꢀng mà đây  
(i) Mặc dù cả hai bꢂ luật đều đưa ra quy  
định về cách xác định thời điểm hợp đꢀng  
có hiệu lực gắn với việc giao kết hợp đꢀng,  
song BLDS ghi nhận hợp đꢀng được giao  
kết hợp pháp có hiệu lực từ “thời điểm giao  
kết”. Tuy nhiên, BLLĐ không xác định theo  
thời điểm giao kết mà xác định theo “ngày  
giao kết”. Rõ ràng, “thời điểm giao kết” và  
“ngày giao kết” là hai thuật ngữ pháp lý  
khác nhau về ý nghĩa. Thời điểm giao kết  
hợp đꢀng thường là thời điểm các bên thỏa  
9 Xem thêm khoản 1 Điều 398 BLDS năm 2015.  
10 Xem điểm a, b khoản 1 Điều 21 BLLĐ năm 2019.  
11 Nguyễn Văn Cừ & Trꢃn Thị Huệ (đꢀng chủ biên), Bình luận khoa học BLDS năm 2015 của nước Cộng hòa  
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nꢂi năm 2017, tr.600.  
Số 14(438) - T7/2021  
41  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
thuận xong nꢂi dung của hợp đꢀng, tức là  
thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời  
chấp nhận hợp lệ của bên được đề nghị12.  
Thời điểm này thường xác định bằng đơn  
vị đo lường cụ thể là giờ, phút. Trong khi  
đó, ngày giao kết hợp đꢀng được hiểu là  
mꢂt khoảng thời gian kéo dài 24 giờ. Song  
thực chất, việc các bên đạt được đꢀng thuận  
và tiến hành ký hợp đꢀng cũng chỉ diễn ra  
trong mꢂt thời điểm cụ thể trong ngày. Do  
đó, nếu xác định hiệu lực của hợp đꢀng theo  
ngày giao kết thì sẽ không có căn cứ để xác  
định thời điểm bắt đꢃu thời hạn của hợp  
đꢀng là thời điểm nào trong ngày giao kết.  
Điều này có thể dẫn đến hệ quả là ngày đꢃu  
tiên của thời hạn sẽ không được tính vào  
thời hạn mà ngày tiếp theo mới là ngày bắt  
đꢃu tính thời hạn13 trừ khi các bên có thỏa  
thuận khác.  
Các tác giả cho rằng, quy định của BLDS  
là phù hợp hơn so với quy định của BLLĐ.  
Bởi vì, việc thỏa thuận xác định thời điểm  
có hiệu lực của hợp đꢀng là quyền của các  
bên giao kết hợp đꢀng. Đây chính là năng  
lực pháp luật của các bên chủ thể14. Để  
khắc phục bất cập này, cꢃn sꢄa đổi Điều 23  
BLLĐ năm 2019 theo hướng chỉ ghi nhận  
văn bản luật mới có thể quy định về thời  
điểm có hiệu lực của hợp đꢀng lao đꢂng.  
4. Quy định về hợp đồng vô hiệu  
Thứ nhất, về căn cứ xác định hợp đꢀng  
vô hiệu.  
Theo quy định của BLLĐ năm 2019, hợp  
đꢀng lao đꢂng bị vô hiệu trong trường hợp  
nꢂi dung của hợp đꢀng vi phạm pháp luật,  
người giao kết hợp đꢀng lao đꢂng không  
đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc  
giao kết hợp đꢀng15. Trong khi đó, theo quy  
định của BLDS năm 2015, nꢂi dung của  
hợp đꢀng vi phạm điều cấm của luật mới bị  
vô hiệu mà không phải vi phạm điều cấm  
của pháp luật16. Hơn nữa, việc giao kết hợp  
đꢀng không đúng thẩm quyền không phải  
là căn cứ làm cho hợp đꢀng vô hiệu. Đꢀng  
thời, cũng theo BLDS thì việc giao kết hợp  
đꢀng mà vi phạm nguyên tắc giao kết cũng  
chưa chắc dẫn đến hợp đꢀng vô hiệu bởi vì  
nó còn phụ thuꢂc vào ý chí của mꢂt trong  
các bên giao kết hợp đꢀng hoặc của người  
thứ ba. Ví dụ, hợp đꢀng được giao kết mà  
vi phạm sự tự nguyện nhưng bên bị vi phạm  
không yêu cꢃu Tòa án tuyên bꢁ vô hiệu hoặc  
(ii) Mꢂt trong các cách xác định thời  
điểm có hiệu lực của hợp đꢀng đó là dựa  
vào thời điểm được ghi nhận trong các văn  
bản pháp luật. Theo quy định của BLDS,  
hợp đꢀng được giao kết hợp pháp có thể  
phát sinh hiệu lực ở thời điểm luật liên quan  
có quy định. Tức là chỉ có văn bản luật mới  
có thể quy định về thời điểm có hiệu lực của  
mꢂt hợp đꢀng nào đó. Tuy nhiên, theo quy  
định của BLLĐ, hợp đꢀng lao đꢂng có thể  
phát sinh hiệu lực ở thời điểm pháp luật có  
quy định khác. Tức là văn bản luật và văn  
bản dưới luật đều có thể quy định về thời  
điểm có hiệu lực của hợp đꢀng lao đꢂng.  
12 Nguyễn Văn Cừ & Trꢃn Thị Huệ (đꢀng chủ biên), Bình luận khoa học BLDS năm 2015 của nước Cộng hòa  
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nꢂi năm 2017, tr.607.  
13 Xem thêm Điều 147 BLDS năm 2015.  
14 Xem thêm Điều 16 BLDS năm 2015.  
15 Xem Điều 49 BLLĐ năm 2019.  
16 Xem Điều 22 BLDS năm 2015.  
42  
Số 14(438) - T7/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
đã hết thời hiệu yêu cꢃu tuyên bꢁ vô hiệu thì  
hợp đꢀng vẫn có hiệu lực17.  
vô hiệu toàn bộ do ký sai thẩm quyền thì  
hai bên ký lại”19. Như vậy, hậu quả của hợp  
đꢀng vô hiệu theo quy định của hai bꢂ luật  
cũng không thꢁng nhất với nhau.  
Các tác giả cho rằng, quy định của BLLĐ  
năm 2019 là chưa hợp lý; bởi vì, các bên  
giao kết hợp đꢀng được quyền thỏa thuận  
về các nꢂi dung của hợp đꢀng. Quyền thỏa  
thuận nꢂi dung của hợp đꢀng là mꢂt trong  
các quyền năng được luật trao cho chủ thể  
và chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của  
luật. Văn bản dưới luật không thể quy định  
hạn chế hoặc tước bỏ quyền đã được văn  
bản luật ghi nhận. Ngoài ra, BLLĐ năm  
2019 quy định trường hợp hợp đꢀng lao  
đꢂng vô hiệu nếu vi phạm nguyên tắc (trong  
đó có nguyên tắc trung thực, tự nguyện)  
cũng không hợp lý. Bởi vì, việc mꢂt bên  
chủ thể bị lừa đꢁi, đe dọa, nhꢃm lẫn khi giao  
kết hợp đꢀng thường chỉ ảnh hưởng đến  
quyền và lợi ích hợp pháp của chính bản  
thân họ. Do đó, việc bảo vệ quyền và lợi ích  
hợp pháp trước hết phụ thuꢂc vào ý chí của  
chính bản thân người lao đꢂng.  
Các tác giả cho rằng, quy định của BLDS  
là phù hợp hơn; bởi lẽ, về bản chất, hợp đꢀng  
đã bị tuyên bꢁ vô hiệu thể hiện sự vô thừa  
nhận của pháp luật đꢁi với nꢂi dung mà các  
bên đã thỏa thuận. Trường hợp các bên vẫn  
muꢁn xác lập hợp đꢀng với nhau thì phải xác  
lập mꢂt thỏa thuận mới phù hợp với quy định  
của pháp luật. Cách xꢄ lý hợp đꢀng vô hiệu  
của BLLĐ đang mang tính áp đặt lên ý chí  
của các bên trong hợp đꢀng. Rõ ràng, việc xꢄ  
lý theo hướng áp đặt này là không phù hợp  
với thực tiễn. Quy định này cũng đang thể  
hiện sự mâu thuẫn với Điều 49 BLLĐ năm  
2019 về hợp đꢀng lao đꢂng vô hiệu. Cụ thể,  
Điều 49 mặc định xác định hợp đꢀng lao đꢂng  
luôn vô hiệu nếu rơi vào mꢂt trong các trường  
hợp đã được ghi nhận, mà không cho các bên  
thể hiện ý chí chấp nhận sự nhꢃm lẫn, lừa dꢁi,  
đe dọa để hợp đꢀng có hiệu lực thì Điều 51 lại  
buꢂc các bên phải sꢄa đổi các nꢂi dung bị vô  
hiệu cho phù hợp với thỏa ước lao đꢂng tập  
thể hoặc quy định của pháp luật.  
Thứ hai, về xꢄ lý hậu quả của hợp đꢀng  
vô hiệu.  
Theo quy định của BLDS năm 2015, hợp  
đꢀng vô hiệu “không làm phát sinh, thay  
đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của  
các bên kể từ thời điểm xác lập, các bên  
khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả  
cho nhau những gì đã nhận, ...”18. Trong  
khi đó, BLLĐ năm 2019 lại quy định: “Khi  
hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng  
phần thì hai bên tiến hành sửa đổi, bổ sung  
phần của hợp đồng lao động bị tuyên bố vô  
hiệu. Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố  
Để khắc phục bất cập nêu trên, các tác  
giả cho rằng, cꢃn sꢄa đổi Điều 49, Điều 51  
BLLĐ năm 2019 theo hướng: tôn trọng ý  
chí của chủ thể trong việc chấp nhận các  
trường hợp bị nhꢃm lẫn, bị lừa đꢁi, bị đe  
dọa, ... khi giao kết hợp đꢀng để hợp đꢀng  
không bị vô hiệu; không buꢂc các bên sꢄa  
đổi, bổ sung phꢃn của hợp đꢀng lao đꢂng bị  
tuyên bꢁ vô hiệu hoặc ký lại hợp đꢀng do ký  
sai thẩm quyền  
17 Xem các Điều 126, 127, 132 BLDS năm 2015.  
18 Xem Điều 131 BLDS năm 2015.  
19 Xem Điều 51 BLLĐ năm 2019.  
Số 14(438) - T7/2021  
43  
pdf 6 trang Thùy Anh 11220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quy định của bộ luật lao động năm 2019 và bộ luật dân sự năm 2015 về hợp đồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquy_dinh_cua_bo_luat_lao_dong_nam_2019_va_bo_luat_dan_su_nam.pdf