Áp dụng các tiêu chuẩn kiểm dịch động - Thực vật theo WTO và kiến nghị cho Việt Nam
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
ÁP DỤNG CÁC TIÊU CHUẨN KIỂM DỊCH ĐỘNG - THỰC VẬT
THEO WTO VÀ KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
Lê Minh Nhựt*
Lê Thị Thanh Bình**
*ThS. Giảng viên Đại học Luật TP.HCM
**ThS. Giảng viên Đại học Tài chính - Kế toán
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Việt Nam ngày càng hội nhập sâu, rộng vào thị trường quốc tế trong đó
có thị trường nhập khẩu động - thực vật. Điều này tạo ra nhiều thuận
lợi nhưng cũng không ít khó khăn cho Việt Nam; đặc biệt Việt Nam
phải đối mặt với lượng động - thực vật nhập khẩu không đảm bảo chất
lượng, có nguy cơ lây lan dịch, bệnh. Trong phạm vi bài viết này, các
tác giả trình bày, phân tích các quy định của Tổ chức Thương mại thế
giới (WTO) và thực tiễn áp dụng cũng như tranh chấp xoay quanh việc
các quốc gia đặt ra các tiêu chuẩn kiểm soát động - thực vật nhập khẩu,
và kiến nghị các biện pháp nhằm giúp Việt Nam xây dựng và áp dụng
các tiêu chuẩn quốc gia cao hơn nhưng phù hợp với quy định của WTO.
Từ khóa: SPS, kiểm dịch động
vật, kiểm dịch thực vật, WTO.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 18/12/2020
: 08/01/2021
: 12/01/2021
Article Infomation:
Abstract:
Vietnam is been in deep and wide integration into the international
market, including the import market for flora and fauna. This has been
providing with several advantages but also giving many difficulties for
Vietnam, especially while Vietnam has to face with the quantity of un-
derqualified imported flora and fauna which are at risk of spreading epi-
demics and diseases. Under this article, the authors provide discussions
and analysis of the rules of the World Trade Organization (WTO) and its
application practices as well as disputes over countries setting standards
to control imported flora and fauna. Since then, the authors also propose
measures for Vietnam to develop and apply national standards that are
higher than international standards and appropriate with the WTO rules.
Keywords: SPS, animal
quarantine, phytosanitary, WTO
Article History:
Received
Edited
: 18 Dec. 2020
: 08 Jan. 2021
: 12 Jan. 2021
Approved
1. Đặt vấn đề
số quốc gia nhất định, đặt điều kiện, tiêu
chuẩn cao để hạn chế hàng hóa nước ngoài
Hiện nay, nhu cầu nhập khẩu thực phẩm
vào thị trường Việt Nam có xu hướng ngày
càng tăng. Tuy nhiên, thực trạng này cũng
kéo theo nguy cơ từ động - thực vật được
nhập khẩu. Đứng trước vấn đề này, chính
phủ các nước đã và đang phải rà soát, thậm
chí ban hành các quy định hạn chế thương
mại như cấm nhập khẩu thực phẩm từ một
thâm nhập vào thị trường nội địa… Vậy các
biện pháp này có phù hợp với quy định của
WTO không hay khi nào thì quốc gia thành
viên WTO có thể áp dụng các biện pháp hạn
chế nhập khẩu động - thực vật.
Trong khuôn khổ của WTO tồn tại Hiệp
định về việc áp dụng các biện pháp kiểm
16
Số 06(430) - T3/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
dịch động thực vật (Hiệp định SPS)1 nhằm
đảm bảo an toàn thực phẩm với người tiêu
dùng, ngăn chặn sự lây lan dịch, bệnh ở
động - thực vật, đồng thời Hiệp định SPS
cũng hướng đến hạn chế khả năng lạm dụng
các biện pháp kiểm dịch động thực vật của
quốc gia thành viên nhằm mục đích bảo hộ
thương mại. Với vai trò là một thành viên,
Việt Nam cam kết tuân thủ các yêu cầu của
Hiệp định SPS khi gia nhập WTO mà không
yêu cầu bất kỳ thời gian chuyển tiếp nào2.
Hiệp định SPS cho phép mỗi thành viên
được quyền tự chủ ban hành các quy định
về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm
nhập khẩu nhưng Việt Nam có thể phải đối
mặt với khả năng phản đối của quốc gia
thành viên khác đối với các biện pháp kiểm
soát động - thực vật nhập khẩu trên cơ sở
không tuân thủ các quy định của WTO. Do
đó, việc nghiên cứu tiêu chuẩn, khuyến nghị
quốc tế và xây dựng, áp dụng các tiêu chuẩn
kiểm dịch động - thực vật phù hợp với quy
định của WTO (đặc biệt là Hiệp định SPS)
là rất quan trọng.
tiêu chuẩn về tính cần thiết để bảo vệ sức
khỏe con người và động, thực vật.
Các tiêu chuẩn quốc tế cần được tuân
thủ theo Hiệp định SPS được quy định tại
Điều 3, phụ lục A của Hiệp định SPS. Các
tiêu chuẩn, hướng dẫn và khuyến nghị quốc
tế được chia thành các lĩnh vực sau: Trong
lĩnh vực an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn quốc
tế được quy định là các tiêu chuẩn, khuyến
nghị và hướng dẫn do Ủy ban An toàn thực
phẩm (CODEX) xây dựng trong lĩnh vực
phụ gia thực phẩm, thuốc thú y, dư lượng
thuốc trừ sâu, tạp chất, phương pháp phân
tích và lấy mẫu, các mã số và hướng dẫn về
thực hành vệ sinh.
Trong lĩnh vực sức khỏe động vật, tiêu
chuẩn quốc tế là các tiêu chuẩn, hướng
dẫn và khuyến nghị do Văn phòng Kiểm
dịch động vật quốc tế (OIE) xây dựng nên.
Trong lĩnh vực thực vật, tiêu chuẩn quốc
tế được quy định là các tiêu chuẩn, hướng
dẫn và khuyến nghị được xây dựng bởi Ban
Thư ký Công ước Bảo vệ thực vật quốc tế
hợp tác cùng các tổ chức khu vực hoạt động
trong khuôn khổ Công ước Bảo vệ thực vật
quốc tế (IPPC). Như vậy, có thể thấy, các
tiêu chuẩn quốc tế chính là các tiêu chuẩn
do các tổ chức quốc tế CODEX, OIE và
IPPC ban hành.
Điều 3.2 Hiệp định SPS: “Các biện pháp
vệ sinh động - thực vật tuân thủ các tiêu
chuẩn, hướng dẫn và khuyến nghị quốc tế
sẽ được cho là cần thiết để bảo vệ cuộc
sống hoặc sức khỏe con người, động vật,
thực vật và được coi là phù hợp với các điều
khoản liên quan của Hiệp định này và của
GATT 1994”. Theo quy định của điều luật
này, chỉ cần quốc gia thành viên “tuân thủ”
theo tiêu chuẩn quốc tế thì được xem như
đã phù hợp với quy định của WTO, đáp ứng
1
Hiện nay, việc áp dụng các tiêu chuẩn
quốc tế để xây dựng và ban hành tiêu
chuẩn quốc gia về kiểm dịch động, thực
vật còn gây tranh cãi đối với trường hợp
quốc gia thành viên WTO áp dụng tiêu
chuẩn quốc gia cao hơn tiêu chuẩn quốc
tế nêu trên.
truy cập ngày 02/3/2020.
2 WTO document, WT/ACC/VNM/48, 27/10/2006, đoạn 327. Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên
150 của WTO vào ngày 11/01/2007, http://www.wto.org/english/thewto_e/countries_e/vietnam_e.htm, truy
cập ngày 26/7/2020.
Số 06(430) - T3/2021
17
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
2. Áp dụng tiêu chuẩn, khuyến nghị cao
hơn tiêu chuẩn, khuyến nghị quốc tế
như là chất tăng trưởng và tạo ra dư lượng
không gây hại cho sức khỏe của con người3.
Đối với hai loại Hormones hỗn hợp là
zeranol và trenbolone, theo báo cáo JECFA
1998 (CODEX dựa trên báo cáo này),
hai loại Hormones này có thể có tác dụng
gây hại cho cơ thể con người nên CODEX
đã thiết lập tiêu chuẩn cho chúng4. Riêng
đối với MGA, CODEX chưa có quy định
về tiêu chuẩn đối với Hormones này. Tuy
nhiên, EC quy định tiêu chuẩn đối với tất
cả 5 loại Hormones Codex đã có quy định
ở trên là không, nghĩa là không cho phép sự
có mặt của dư lượng này trong tất cả các sản
phẩm từ thịt (No residue level). Như vậy,
liệu quy định của EC có được xem xét là
phù hợp với Điều 3.1 Hiệp định SPS.
Điều 3.1 Hiệp định SPS quy định về
trường hợp “dựa trên” tiêu chuẩn quốc tế -
mức độ bảo vệ tương đương với tiêu chuẩn
quốc tế. Tương tự, Điều 3.2 Hiệp định
SPS quy định về trường hợp “tuân thủ” -
sử dụng chính các tiêu chuẩn quốc tế làm
tiêu chuẩn quốc gia và Điều 3.3 quy định
trường hợp áp dụng tiêu chuẩn cao hơn tiêu
chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, việc xây dựng và
áp dụng tiêu chuẩn quốc gia về kiểm dịch
động, thực vật “dựa trên”, “tuân thủ” tiêu
chuẩn quốc tế lại không được giải thích rõ
ràng ngay trong Hiệp định SPS. Điều này
dẫn đến, khi các quốc gia thành viên WTO
áp dụng tiêu chuẩn quốc gia về kiểm dịch
động, thực vật cao hơn tiêu chuẩn quốc tế
thì tranh chấp xảy ra.
Trong Vụ việc trên, giải thích về Điều 3.1
Hiệp định SPS, Ban Hội thẩm (Panel) cho
rằng một biện pháp được xem là “dựa trên”
một tiêu chuẩn quốc tế nghĩa là phải có cùng
mức độ bảo vệ với tiêu chuẩn quốc tế (in
conformity with international standards),
không nhất thiết phải giống hệt tiêu chuẩn
quốc tế. Đối với 5 loại Hormones được đề
cập, mức độ bảo vệ chính là dư lượng thuốc
được cho phép dung nạp vào cơ thể con
người và có mặt trong một thực phẩm cụ thể
(ADI) và mức dư lượng thuốc còn tồn đọng
lại trong sản phẩm thịt sau khi đã giết mổ
(MRL)5. Ban Hội thẩm giải thích rằng, tuy
Điều 3.1 Hiệp định SPS không định nghĩa
rõ ràng từ “dựa trên” nhưng có thể hiểu mức
độ bảo vệ của Điều 3.1 giống với mức độ
quy định tại Điều 3.2 (“tuân thủ”- giống hệt
tiêu chuẩn quốc tế). Do đó, nếu tiêu chuẩn
của một quốc gia thành viên phản ánh mức
Trong Vụ EC- Hormones, nguyên đơn là
Canada kiện bị đơn là EC vì việc ra chỉ thị
số 81/602/EEC cấm sử dụng các sản phẩm
từ động vật có chứa các loại Hormones
như: Trenbolone, Zeranol, Melengestrone
Acetate (MGA), Oestradiol-17, Progesterol,
Testosterone.TạiCanada, cácloạihormones
này đều được sử dụng trong chăn nuôi, trừ
MGA. Do đó, lệnh cấm của EC ảnh hưởng
nghiêm trọng tới việc xuất khẩu thịt lợn
sang nước này.
Đối với các loại Hormones trong vụ
tranh chấp này, CODEX cho rằng đối với
3 loại Hormones tự nhiên là Oestradiol-17,
Progesterol, Testosterone, việc thiết lập tiêu
chuẩn ADI (Acceptable daily intake) và
MRL (Maximum Residue Limit) là không
cần thiết vì việc sử dụng những chất này
3 WT/DS 48/ Panel/R, Đoạn 2.21
4 WT/DS 48/ Panel/R, Đoạn 2.25
5 WT/DS 48/ R/CAN, Đoạn 8.75
18
Số 06(430) - T3/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
độ bảo vệ khác với tiêu chuẩn quốc tế,
không thể xem xét quốc gia ấy “dựa trên”
tiêu chuẩn quốc tế theo Điều 3.16. Như vậy,
có thể thấy Ban Hội thẩm khẳng định “dựa
trên” nghĩa là đạt được cùng mức độ bảo
vệ với tiêu chuẩn quốc tế7. Ban Hội thẩm
sau đó kết luận EC đã không “dựa trên” tiêu
chuẩn quốc tế theo Điều 3.1 vì đã áp dụng
một mức độ bảo vệ khác so với tiêu chuẩn
của CODEX.
IPPC đưa ra mang tính tham khảo, Điều 3.1
hướng đến tạo mặt bằng chung cho các tiêu
chuẩn vệ sinh, kiểm dịch do các thành viên
ban hành, nhưng không bắt buộc áp dụng
tiêu chuẩn có mức bảo vệ giống hệt tiêu
chuẩn quốc tế mà chỉ cần có mức độ bảo
vệ tương đương, và trong vụ kiện này, cần
phải đưa ra sự so sánh giữa tiêu chuẩn quốc
tế và quy định của EC về 5 Hormones trong
vụ tranh chấp. Cơ quan Phúc thẩm kết luận
rằng, để áp dụng Điều 3.1, một thành viên
có thể thiết lập tiêu chuẩn dựa trên một số
yếu tố của tiêu chuẩn quốc tế mà không nhất
thiết phải áp dụng tiêu chuẩn có mức bảo vệ
bằng tiêu chuẩn quốc tế9 như kết luận của
Ban Hội thẩm.
Cơ quan phúc thẩm (Appellate Body -
AB) trong vụ kiện này giải thích rằng, một
tiêu chuẩn “dựa trên” khi nó được thiết lập,
xây dựng trên nền tảng của một tiêu chuẩn
khác và Cơ quan phúc thẩm không đồng ý
với sự giải thích của Ban Hội thẩm rằng,
Điều 3.1 và Điều 3.2 Hiệp định SPS được
giải thích như nhau, nghĩa là phải có cùng
mức độ bảo vệ như tiêu chuẩn quốc tế. Cơ
quan phúc thẩm cho rằng, nếu giải thích như
cách của Ban Hội thẩm, Hiệp định SPS sẽ
xem việc tuân theo tất cả tiêu chuẩn, hướng
dẫn và khuyến nghị quốc tế là ràng buộc đối
với các thành viên, điều này không phải mục
đích của quy định về hài hòa hóa (cơ quan
phúc thẩm trích mục đích nêu tại Điều 3.1:
“Để hài hòa các biện pháp vệ sinh động -
thực vật trên cơ sở chung nhất có thể được”,
và lời mở đầu của hiệp định “Mong muốn
tiếp tục sử dụng các biện pháp vệ sinh động -
thực vật hài hòa giữa các thành viên trên
cơ sở các tiêu chuẩn, hướng dẫn và khuyến
nghị quốc tế do các tổ chức quốc tế có liên
quan xây dựng”8). Cơ quan phúc thẩm chỉ
ra rằng, những tiêu chuẩn do CODEX, OIE,
Như vậy, có thể thấy rằng, Điều 3.1 Hiệp
định SPS không bắt buộc các thành viên áp
dụng tiêu chuẩn quốc tế (giống hoàn toàn)
mà có thể sử dụng tiêu chuẩn của quốc gia
mình hoặc tiêu chuẩn khác có mức độ bảo
vệ tương đương với tiêu chuẩn quốc tế.
Quy định này của Hiệp định SPS là một
quy định khá mở, hướng tới mục tiêu hài
hòa hóa các tiêu chuẩn vệ sinh động thực
vật nhưng không tạo áp lực quá lớn cho các
thành viên khi áp dụng vì mỗi quốc gia có
một điều kiện, hoàn cảnh khác nhau và có
thể áp dụng những tiêu chuẩn khác trước
khi tham gia vào WTO. Do đó, với mục tiêu
hài hòa mà không tuyệt đối áp dụng các tiêu
chuẩn vệ sinh động thực vật, WTO đã cho
ra đời quy định về việc thành viên có thể
“dựa trên” các tiêu chuẩn quốc tế để ban
hành tiêu chuẩn cho quốc gia mình.
6 WT/DS 48/ R/CAN, Đoạn 8.75
7 WT/DS 48/ R/CAN, Đoạn 8.73
8 WT/DS 26/ AB/R, Đoạn 165. Xem toàn văn phán quyết tại: https://docs.wto.org/dol2fe/Pages/FE_Search/
FE_S_S006.aspx?DataSource=Cat&query=@Symbol=WT/DS26/AB/R&Language=English&Contex-
t=ScriptedSearches&languageUIChanged=true, truy cập ngày 18/8/2020.
9 WT/DS 26/ AB/R, Đoạn 171.
Số 06(430) - T3/2021
19
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Tuy nhiên, việc ban hành các tiêu chuẩn
động - thực vật cao hơn cũng gây ra một
số khó khăn cho thành viên khác của WTO
trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn nội bộ
quá cao của quốc gia này. Đồng thời, tạo
ra rào cản thương mại làm cho mục đích
hài hòa hóa theo Điều 3 của Hiệp định SPS
không đạt được. WTO vẫn cho phép quốc
gia thành viên được ban hành tiêu chuẩn
cao hơn vì xét cho cùng, mỗi quốc gia sẽ
có quyền tự chủ riêng biệt, hệ thống quản
lý hành chính của mỗi quốc gia là khác
nhau nên cần có quá trình kiểm tra riêng…
Ví dụ, tại Mỹ, hệ thống quản lý thức ăn và
thuốc có chu trình riêng và yêu cầu về dữ
liệu riêng mà không sử dụng chu trình đánh
giá khoa học của CODEX. Điều này không
phải là do chu trình của CODEX không đủ
uy tín, mà do sự không tương hợp giữa dữ
liệu được sử dụng bởi Mỹ và CODEX10.
một quốc gia thành viên của WTO hoàn
toàn có cơ sở pháp lý để ban hành và áp
dụng các tiêu chuẩn quốc gia về động thực
vật cao hơn tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên,
quy định này cũng cho thấy, để áp dụng tiêu
chuẩn cao hơn thì quốc gia thành viên phải
tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện: (i) có
chứng minh khoa học hoặc (ii) do mức bảo
vệ động - thực vật mà một Thành viên coi là
phù hợp theo các quy định liên quan của các
khoản từ 1 đến 8 của Điều 5 - đánh giá rủi
ro và xác định mức độ bảo vệ động thực vật
phù hợp của Hiệp định SPS. Câu hỏi đặt ra
là: Làm thế nào để biết một biện pháp SPS
cao hơn tiêu chuẩn quốc tế nhưng dựa trên
các bằng chứng khoa học? Vấn đề này được
xem xét qua hai phép thử: (1) phân tích rủi
ro là dùng phương pháp khoa học để xác
định sự tồn tại rủi ro hoặc khả năng xảy ra
rủi ro của hàng hóa đối với con người, động
thực vật; (2) kiểm soát rủi ro là lựa chọn
chính sách bảo vệ con người, động thực vật
khỏi rủi ro và biện pháp SPS tương ứng trên
cơ sở kết quả phân tích rủi ro và hoàn cảnh
xã hội cụ thể, ví dụ thói quen hay khả năng
tự bảo vệ của người tiêu dùng.
Điều 3.3 Hiệp định SPS đã được ban
hành như một cách thức giải quyết sự mâu
thuẫn nói trên. Theo đó, Điều 3.3 quy định:
“Các Thành viên có thể áp dụng hay duy trì
các biện pháp vệ sinh động - thực vật cao
hơn các biện pháp dựa trên các tiêu chuẩn,
hướng dẫn và khuyến nghị quốc tế có liên
quan, nếu có chứng minh khoa học, hoặc do
mức bảo vệ động - thực vật mà một Thành
viên coi là phù hợp theo các quy định liên
quan của các khoản từ 1 đến 8 của Điều 5.
Mặc dù vậy, tất cả các biện pháp dẫn đến
mức bảo hộ bảo vệ động - thực vật khác
với các biện pháp dựa trên các tiêu chuẩn,
hướng dẫn hay khuyến nghị quốc tế đều
không trái với bất kỳ điều khoản nào khác
của Hiệp định này”. Theo quy định này,
Trên thực tế, nếu một biện pháp SPS
được hậu thuẫn bởi một lý thuyết khoa học
đáng tin cậy thì xem như thỏa mãn yêu cầu
này. Ngoài ra, nếu biện pháp đó được áp
dụng để bảo vệ sức khỏe, cuộc sống của con
người, động thực vật khỏi các nguy cơ/mối
nguy hiểm càng cao thì càng có nhiều khả
năng được thừa nhận là “có đủ bằng chứng
khoa học” (dù trên thực tế, giả thiết khoa
học liên quan chưa hẳn đã thật chắc chắn)11.
Trong trường hợp xảy ra tranh chấp, để
10 Humberto Zúniga Schroder, “Equivalence and Mutual Recognition of Standards in WTO Law”, Kluwer Law
International, 2011, p.35.
11 VCCI, Các biện pháp kiểm dịch động thực vật SPS – Các hiệp định và nguyên tắc của WTO, http://trungtam-
wto.vn/upload/files/wto/4-cac-hiep-dinh-co-ban/1-7_vesinhvakiemdich.pdf, truy cập ngày 08/8/2020.
20
Số 06(430) - T3/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
chứng minh là tiêu chuẩn cao của quốc gia
thành viên có cơ sở khoa học và được chấp
nhận sẽ phải dựa vào sự xem xét, quyết định
của cơ quan giải quyết tranh chấp. Khi đó,
các bên liên quan ngoài việc cung cấp bằng
chứng khoa học đầy đủ thì còn phải chứng
minh được bằng chứng khoa học ấy được
đưa ra dựa trên đánh giá rủi ro.
thể kết luận là không có quan hệ hợp lý
giữa biện pháp SPS và việc đánh giá rủi ro,
đặc biệt là rủi ro liên quan đến tính mạng.
Khi tiến hành xác định mối quan hệ trên,
AB đồng tình với Ban Hội thẩm rằng, đa
số những nghiên cứu khoa học mà EU đề
cập liên quan đến 05 loại hormone đều dẫn
đến kết luận là việc sử dụng hormone không
nguy hiểm nếu các hormone được sử dụng
phù hợp với quy cách thú y. Ở đây, Ban Hội
thẩm đã loại bỏ các nguy hiểm do việc lạm
dụng hormone vì không tuân thủ quy cách
thú y ra khỏi phạm vi xem xét vì cho rằng,
đánh giá rủi ro liên quan đến việc sử dụng
hormone khác với quản lý rủi ro liên quan
đến việc kiểm soát sao cho hormone không
bị lạm dụng và việc sử dụng đúng với quy
cách thú y. AB thống nhất với Ban Hội thẩm
rằng, EU đã chỉ ra, tình hình hiện tại đòi
hỏi việc quản lý hormone phù hợp với quy
cách nhưng không đánh giá những tác hại
của việc không tuân theo các quy tắc này.
Vì vậy, AB tuyên bố EU đã không tiến hành
đánh giá rủi ro phù hợp với Điều 5.1, 5.2 và
đã không cung cấp được kết quả đánh giá
rủi ro nào để làm cơ sở một cách hợp lý cho
các chỉ thị của mình. Vì thế, biện pháp của
EU không phù hợp với Điều 5.1 cũng như
Điều 5.3 của Hiệp định SPS.
Đánh giá rủi ro là một bước quan trọng
để một quốc gia thành viên của WTO có thể
đưa ra tiêu chuẩn kiểm dịch vệ sinh động -
thực vật của mình, nhất là trong trường hợp
đặt ra tiêu chuẩn cao hơn tiêu chuẩn quốc
tế. Tuy nhiên, trên thực tế, việc đánh giá rủi
ro để được xem là phù hợp với Điều 5.1 và
Điều 3.3 của Hiệp định SPS không hề dễ
dàng. Trong vụ tranh chấp Cộng đồng châu
Âu - Các biện pháp liên quan đến thịt và
sản phẩm từ thịt (hormones)12, về mối quan
hệ giữa biện pháp SPS và việc đánh giá rủi
ro, Ban Hội thẩm đã đánh giá hai yếu tố: (i)
các kết luận khoa học được dùng làm cơ sở
cho biện pháp SPS và (ii) các kết luận khoa
học rút ra từ quá trình đánh giá rủi ro, sau
đó xem xét xem (i) có tương đồng với (ii)
hay không. Từ đó, Ban Hội thẩm kết luận
rằng (i) và (ii) không tương đồng cho nên
biện pháp của EU đã không dựa trên cơ sở
đánh giá khoa học. AB thống nhất với Ban
Hội thẩm nhưng AB nhấn mạnh rằng đánh
giá rủi ro có thể đưa ra cả ý kiến của đa số
cũng như những ý kiến trái chiều của các
chuyên gia. AB ghi nhận trong đa số trường
hợp, chính phủ của Thành viên sẽ dựa vào
ý kiến của đa số để đưa ra biện pháp cho
mình. Nhưng cũng có khi, một Thành viên
ngay tình đưa ra biện pháp của mình dựa
trên ý kiến trái chiều của thiểu số các nhà
khoa học có uy tín. Trường hợp này không
Ngoài ra, khi tiến hành xác định rủi ro
theo Điều 5.1 Hiệp định SPS, cần xác định
được mối quan hệ nhân quả giữa rủi ro và
thiệt hại. Trong vụ Cộng đồng châu Âu -
Hormone, Ban Hội thẩm đã cho rằng, EU
đã không thể xác định được rủi ro liên quan
đến ung thư từ tồn dư hormone trong thịt bò
mà chỉ xác định được thịt bò chứa hormone
có thể gây ra ung thư. Ban Hội thẩm yêu
cầu cần phân tích được hậu quả của tồn dư
12 Trần Thị Thùy Dương, Trần Thị Thu Thảo, Tìm hiểu Luật WTO qua một số vụ kiện về Các biện pháp kiểm
dịch động - thực vật, Nxb. Hồng Đức, tr. 5-9.
Số 06(430) - T3/2021
21
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
hormone trong thịt bò, nhưng AB lại cho
rằng, đánh giá rủi ro theo Hiệp định SPS
không nhất thiết phải chứng minh hậu quả
thực tế của một chất mà chỉ cần chứng minh
được khả năng gây ra hậu quả của chất đó.
Theo đó, EU chỉ cần chứng minh được khả
năng tồn dư hormone trong thịt bò gây ra
ung thư, không cần xác định chính tồn dư
đó gây ra ung thư vì một chất tồn dư chưa
chắc tách ra đã gây nguy hiểm cho sức khỏe
nhưng kết hợp nhiều chất khác trong thịt
bò có thể gây ra ung thư nguy hiểm13. Như
vậy, hậu quả đến từ rủi ro, chỉ cần đánh giá
được khả năng gây ra hậu quả đó của rủi ro
là có thể đáp ứng được yêu cầu của Hiệp
định SPS.
trọng. Trong vụ kiện này, Ban Hội thẩm cho
rằng, Hiệp định SPS quy định gánh nặng
dẫn chứng thuộc về bên áp dụng biện pháp
SPS; AB lại xác định rằng, gánh nặng dẫn
chứng phải được chia sẻ như sau: trước hết,
bên đi kiện cần đưa ra chứng cứ và luận
điểm pháp lý đủ để chứng minh rằng EU vi
phạm các Điều 3.1, Điều 3.3, Điều 5.1 và
Điều 5.5; sau đó, bên bị kiện mới đưa ra dẫn
chứng để bác bỏ các cáo buộc của bên đi
kiện14. Cách giải thích luật của AB rõ ràng
là có lợi hơn cho bên bị kiện.
3. Thực trạng áp dụng tiêu chuẩn động -
thực vật tại Việt Nam
Hiện nay, hệ thống pháp luật Việt Nam
có khá nhiều luật cùng quy định về vấn đề
nhập khẩu thực phẩm như Luật An toàn
thực phẩm, Luật Hải quan, Luật Chất lượng
hàng hóa - sản phẩm, Nghị định số 15/2018/
NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ
thay thế Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày
24/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật An toàn thực
phẩm… Bên cạnh đó, Luật về Tiêu chuẩn
và quy chuẩn kỹ thuật quy định về hệ thống
các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt
Nam nói chung và ngành thực phẩm nói
riêng. Hệ thống tiêu chuẩn Việt Nam gồm
tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) và tiêu chuẩn
cơ sở (TCCS) là những quy định về đặc
tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý nhằm phân
loại và đánh giá sản phẩm, hàng hóa, dịch
vụ, quá trình, môi trường… Hệ thống Quy
chuẩn kỹ thuật gồm Quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia (QCVN) và Quy chuẩn kỹ thuật địa
phương (QCĐP) là những quy định về giới
hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu về mặt
Về mặt chứng minh, theo nguyên tắc
chung giải quyết tranh chấp của WTO, bên
đi kiện sẽ phải đưa ra bằng chứng ban đầu
về việc vi phạm, sau đó bên bị kiện phải
đưa ra bằng chứng để bác bỏ luận điểm của
bên đi kiện. Vậy trong tranh chấp liên quan
đến biện pháp kiểm dịch động - thực vật cao
hơn tiêu chuẩn, khuyến nghị quốc tế, ai phải
chịu trách nhiệm dẫn chứng? Liệu nguyên
tắc chung có được áp dụng? Xét trong
trường hợp của vụ kiện Cộng đồng châu Âu -
Hormone nêu trên, bên bị kiện (Hoa Kỳ,
Canada) phải đưa ra chứng cứ chứng minh
biện pháp SPS của EU không có cơ sở khoa
học hay EU có nghĩa vụ chứng minh mình
có chứng cứ khoa học để áp dụng biện pháp
SPS? Nhìn chung, việc tìm ra các chứng cứ
khoa học về vấn đề này vô cùng phức tạp
và khó khăn, tốn kém nhiều chi phí và thời
gian. Vì thế, việc xác định phương pháp
phân bổ gánh nặng dẫn chứng vô cùng quan
13
name=Q:/WT/DS/320ABR.pdf&Open=True, truy cập ngày 08/8/2020.
14 WT/DS26/AB/R, đoạn 109. Xem toàn văn phán quyết tại: https://docs.wto.org/dol2fe/Pages/SS/directdoc.
aspx?filename=q:/WT/DS/26ABR-00.pdf&Open=True, truy cập ngày 09/8/2020.
22
Số 06(430) - T3/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
quản lý mà sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ,
quá trình, môi trường và các đối tượng khác
trong hoạt động kinh tế - xã hội phải tuân
thủ để bảo đảm an toàn, vệ sinh, sức khỏe
con người; bảo vệ động vật, thực vật, môi
trường…15 Hệ thống quy chuẩn kỹ thuật do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
và mang tính bắt buộc. Hệ thống QCVN do
các bộ quản lý chuyên ngành gồm Bộ Y tế,
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và
Bộ Công thương xây dựng theo Luật An
toàn thực phẩm. Hiện nay, thực phẩm nhập
khẩu vào Việt Nam cũng phải đáp ứng được
các yêu cầu được hệ thống các tiêu chuẩn,
quy chuẩn kỹ thuật quy định. Vì vậy, để
đánh giá mức độ hài hòa hóa của các tiêu
chuẩn nhập khẩu thực phẩm tại Việt Nam
so với luật WTO thì chúng ta cần xem xét
mức độ hài hòa của hệ thống tiêu chuẩn,
quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam so với quy
định của các tổ chức quốc tế.
tiêu chuẩn này hơn nữa, Việt Nam hướng
đến áp dụng quy định tại Điều 3.2 Hiệp định
SPS, nghĩa là sử dụng chính các tiêu chuẩn
quốc tế để làm tiêu chuẩn vệ sinh động thực
vật của mình.
Trong lĩnh vực nông sản và thực phẩm,
hiện nay có khoảng 1700 TCVN và trong đó
có khoảng 68 % được xây dựng dựa trên cơ
sở chấp nhận tiêu chuẩn quốc tế (dựa trên
tiêu chuẩn quốc tế). Về hệ thống QCVN,
theo thống kê của tổng cục đo lường chất
lượng, số lượng QCVN tính đến năm 2015
được ban hành nhằm đảm bảo an toàn thực
phẩm là 89, trong đó Bộ Y tế ban hành 52
QCVN và Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn ban hành 37 QCVN. Bộ Công
thương tuy chưa ban hành QCVN nhưng
đã ban hành một số thông tư để quản lý an
toàn thực phẩm như Thông tư số 28/2013/
TT- BCT ngày 06/11/2013 quy định về
kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm18.
Xét về việc tuân thủ Điều 3 Hiệp định SPS
về hài hòa hóa các tiêu chuẩn vệ sinh -
kiểm dịch, Việt Nam được cho là quốc gia
không có nguy cơ vi phạm quy định này
của Hiệp định SPS. Trong Nghị định thư
gia nhập WTO, Việt Nam đồng ý áp dụng
các biện pháp vệ sinh kiểm dịch mà không
thông qua một giai đoạn chuyển tiếp nào vì
các tiêu chuẩn quốc gia của Việt Nam đều
thấp hơn hoặc bằng tiêu chuẩn quốc tế vào
thời điểm gia nhập19. Báo cáo của ban công
Báo cáo của Ban công tác về việc Việt
Nam gia nhập WTO ghi nhận cam kết của
Việt Nam rằng các tiêu chuẩn SPS hiện
nay của Việt Nam được “dựa trên” các tiêu
chuẩn CODEX, IPPC và OIE nhưng nhìn
chung có mức bảo hộ thấp hơn để thích ứng
với các điều kiện sản suất ở nước ta16. Tuy
nhiên, mục tiêu của Việt Nam là sử dụng
chính các tiêu chuẩn quốc tế17. Nói cách
khác, tiêu chuẩn vệ sinh động thực vật hiện
nay của Việt Nam còn thấp nên để nâng cao
15 Điều 3, Điều 26, Điều 10 Luật Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.
16 Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO, đoạn 324. Xem toàn văn tại: https://trungtam-
wto.vn/upload/files/wto/7-/25-van-kien/01.%20Bao%20cao%20cua%20Ban%20Cong%20tac.pdf, truy cập
ngày 09/8/2020.
17 USAID, The Government of Vietnam’s implementation of the WTO agreement on the application of Sanitary
and Phytosanitary measure, US, p.12, 2007.
18 Hội thảo “Người tiêu dùng, tiêu chuẩn & an toàn thực phẩm tại Việt Nam”, Kiên Giang ngày 29-30/8/2016.
19
USAID, The Government of Vietnam’s implementation of the WTO agreement on the application of
Sanitary and Phytosanitary measure, US, 2007, page 18.
Số 06(430) - T3/2021
23
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
tác về việc Việt Nam gia nhập WTO (WT/
ACC/VNM/48) tại đoạn 328 ghi nhận các
tiêu chuẩn SPS của Việt Nam được dựa trên
các tiêu chuẩn của Codex, IPPC và OIE
nhưng có thể có mức độ bảo hộ thấp hơn do
điều kiện sản xuất tại Việt Nam. Như vậy,
khi mới gia nhập WTO, Việt Nam đang sử
dụng biện pháp “dựa trên” các tiêu chuẩn
quốc tế, và mục tiêu của Việt Nam là sử
dụng chính các tiêu chuẩn quốc tế (Điều
3.2), nghĩa là nâng cao tiêu chuẩn quốc gia
để đảm bảo an toàn về mặt sức khỏe con
người và động vật. Theo Quyết định số
147/2008/QĐ-TTg ngày 17/11/2008 của
Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế
hoạch hành động quốc gia đẩy nhanh thực
hiện cam kết đối với hiệp định về vệ sinh an
toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật
đáp ứng nghĩa vụ thành viên WTO, phần
giải pháp đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ
của WTO đã khẳng định cần Xây dựng
và hài hòa các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn
thực phẩm và kiểm dịch động thực vật của
Việt Nam với tiêu chuẩn của CODEX, OIE
và IPPC.
đề được quan tâm hàng đầu khi một quốc gia
nhập khẩu bất cứ một thực phẩm nào vì điều
này ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của người
dân khi tiêu thụ thực phẩm nhập khẩu. Việt
Nam, với mục tiêu nâng tiêu chuẩn quốc
gia bằng tiêu chuẩn quốc tế trong WTO, đã
cho ra đời TCVN 6711:2010 về giới hạn dư
lượng tối đa thuốc thú y trong thực phẩm
cho thịt gia súc; tiêu chuẩn này hoàn toàn
tương đương với tiêu chuẩn CODEX CAC/
MRL 2-2009. Tuy nhiên, vào tháng 7/2017
CODEX đã cập nhật lại bộ tiêu chuẩn này
(CAC/MRL 2-2017) bằng cách nâng cao
một số tiêu chuẩn đã có sẵn và thêm vào các
quy định mới. Do đó, Việt Nam hiện vẫn
đang áp dụng tiêu chuẩn khác (thấp hơn)
so với CODEX vì chưa cập nhật theo CAC/
MRL 2-201721.
4. Một số kiến nghị
Để có thể giải quyết tình trạng thực phẩm
thiếu an toàn nghiêm trọng, đảm bảo quyền
lợi cho người tiêu dùng trong nước và lợi
ích cho các doanh nghiệp bằng cách thống
nhất bộ tiêu chuẩn đối với thực phẩm nhập
khẩu, xuất khẩu và nội địa, Việt Nam cần
nâng tiêu chuẩn của mình cao hơn so với
các tiêu chuẩn quốc tế. Để thực hiện việc
này, các tác giả cho rằng, Việt Nam cần thực
hiện giải pháp sau:
Tuy nhiên, cho đến nay, mục tiêu này của
Việt Nam vẫn chưa được hoàn thành. Một
số tiêu chuẩn về vệ sinh - kiểm dịch của Việt
Nam vẫn thấp hơn so với các tiêu chuẩn của
các tổ chức quốc tế. Theo ước tính, chỉ có
khoảng 70% tiêu chuẩn của Việt Nam là hài
hòa so với tiêu chuẩn Codex20. Ví dụ, vấn
đề mức dư lượng thuốc trừ sâu trong nông
nghiệp (MRL) luôn là một trong những vấn
Thứ nhất, khi thực hiện việc đánh giá rủi
ro, để quá trình này được hiệu quả, cần phải
đầu tư hệ thống phòng thí nghiệm đầy đủ
và chất lượng, có thể mang lại những kết
20 Tại hội nghị lần thứ 45 của Ủy ban Tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế (gọi tắt là Ủy ban Codex) được tổ chức
tại Hà Nội do Việt Nam và Hoa Kỳ đăng cai chủ trì, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long đã nhấn mạnh
“Những năm qua, Việt Nam đang thực hiện một cách có trách nhiệm trong việc hài hòa hóa các tiêu chuẩn, quy
chuẩn về thực phẩm, với khoảng 70% các tiêu chuẩn thực phẩm của Việt Nam phù hợp với các tiêu chuẩn của
Codex”. Nguồn: Anninhthudo.vn, 70% tiêu chuẩn thực phẩm của Việt Nam phù hợp tiêu chuẩn Codex, https://
anninhthudo.vn/chinh-tri-xa-hoi/70-tieu-chuan-thuc-pham-cua-viet-nam-phu-hop-tieu-chuan-codex/523963.
antd, truy cập ngày 03/10/2020.
21 Nguồn: CAC/ MRL 2-2017 và TCVN 6711: 2010.
24
Số 06(430) - T3/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
quả nghiên cứu có tính chính xác cao. Theo
ý kiến của FAO/WHO thì các phòng thí
nghiệm là yếu tố quan trọng trong việc kiểm
soát thực phẩm, việc xây dựng chúng đòi
hỏi vốn đầu tư cao và cũng rất tốn kém để có
thể duy trì hoạt động. Do đó, cần có sự quy
hoạch một cách thận trọng, số lượng và nơi
đặt các phòng thí nghiệm cũng phải được
xác định theo mục tiêu và khối lượng công
việc thí nghiệm, cần bố trí đầy đủ các phòng
để có thể thực hiện thí nghiệm đối với hầu
hết các loại thực phẩm. Đồng thời, không
nhất thiết các phòng thí nghiệm phải nằm
dưới sự kiểm soát của một cơ quan trung
ương, mà có thể phân cho chính quyền các
địa phương, các tỉnh để kiểm soát. Phòng
thí nghiệm cũng cần có các thành phần phù
hợp để có thể thực hiện tốt những phân tích
vật lý, hóa học, sinh học... việc làm các thí
nghiệm cũng không nên được làm đơn giản
bằng tay mà cần có máy móc tinh vi để có
thể cho ra kết quả chính xác nhất22.
mang tính thuyết phục cao. Để có thể thực
hiện được điều này, cần có một lực lượng
các nhà khoa học trình độ cao, vừa có thể
sử dụng máy móc và cơ sở vật chất ở phòng
thí nghiệm để tiến hành phân tích khoa học,
đưa ra giải thích cho những số liệu khoa học
vừa có thể đưa những thí nghiệm đó ra thực
tế để đối chứng với điều kiện, hoàn cảnh của
quốc gia và cho ra kết luận chính xác nhất,
đồng thời cũng chính những người này sẽ
giúp quốc gia đưa những kết luận khoa học
đó ra ứng dụng thành các phương pháp SPS
của mình, đào tạo, huấn luyện cho từng địa
phương thực hiện áp dụng tiêu chuẩn mới.
Thứ ba, Việt Nam vẫn còn là một quốc
gia đang phát triển, chưa có nhiều kinh
nghiệm nên cần có sự hợp tác, học hỏi kinh
nghiệm từ những quốc gia khác. Đối với
các vụ kiện trong khuôn khổ WTO, Việt
Nam có thể tham gia với tư cách của bên
thứ ba để xem xét cách thức xét xử của Ban
Hội thẩm và cơ quan phúc thẩm, từ đó rút ra
kinh nghiệm để tránh trường hợp vi phạm
luật WTO một khi nâng biện pháp bảo vệ
của mình cao hơn tiêu chuẩn quốc tế. Bên
cạnh đó, việc ký kết những hiệp định song
phương hay đa phương để nhận được sự
trợ giúp về mặt kỹ thuật và khoa học từ các
quốc gia ký kết hoặc các tổ chức quốc tế
cũng là điều cần thiết, từ kiến thức và kỹ
năng được truyền đạt từ chuyên gia đến từ
các quốc gia này, Việt Nam vừa có thể nâng
cao trình độ của đội ngũ làm khoa học của
mình, giúp cho việc đánh giá rủi ro được
hiệu quả hơn, vừa có thể tăng cường hợp
tác quốc tế.
Thứ hai, một điều đáng lưu ý khác là,
tất cả những phương pháp trong phòng
thí nghiệm là đáng tin cậy và quan trọng
nhưng không phải luôn luôn thực hiện
đánh giá rủi ro trong phòng thí nghiệm, cần
thiết phải tính đến những yếu tố bên ngoài,
hoàn cảnh thực tế, điều kiện xã hội của đất
nước mà xác định rủi ro vì những phân tích
trong phòng thí nghiệm đôi khi lại không
khớp với điều kiện bên ngoài. Do đó, khi
tiến hành đánh giá rủi ro, ngoài tham khảo
những thí nghiệm cần thiết về rủi ro đó đối
với con người, chúng ta phải đặt chúng vào
hoàn cảnh thực tế như thời tiết, khí hậu,
thể trạng người Việt, điều kiện xã hội của
quốc gia... để rút ra được kết luận cuối cùng
Thứ tư, việc đánh giá rủi ro sẽ là nền
22 FAO, FAO’s stategy for a food chain approach to food safety and quality: A framework Document for the
Development of furture strategic Direction, 2003. Xem toàn văn tại: http://www.fao.org/3/a-y8350e.pdf, truy
cập ngày 12/10/2020.
Số 06(430) - T3/2021
25
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
tảng cần thiết để qua đó, Nhà nước ban ro dựa trên số liệu mượn từ những tổ chức,
hành những phương pháp bảo vệ người tiêu
dùng và tiêu chuẩn kiểm soát an toàn thực
phẩm hoặc kiểm dịch, do đó nó là một nhu
cầu cấp thiết và đòi hỏi một quốc gia nên
có trong thời gian nhanh chóng. Tuy nhiên,
không phải quốc gia nào khi tiến hành cũng
có đủ nguồn lực khoa học hay những kỹ
năng, nguồn dữ liệu trong thời gian ngắn,
Việt Nam cũng vậy, việc đánh giá rủi ro
phải là một tiến trình lâu dài trong khi nhu
cầu sử dụng sản phẩm có chất lượng của
người tiêu dùng là cấp thiết. Do đó, nước ta
có thể sử dụng dữ liệu quốc tế hoặc dữ liệu
từ quốc gia khác khi chưa thực sự tự thực
hiện được. Các tổ chức quốc tế như Codex,
IPPC, OIE khi đưa ra tiêu chuẩn của mình
cũng đã có một nền tảng đánh giá rủi ro chắc
chắn để dựa vào, và dữ liệu của họ cũng
hoàn toàn đáng tin cậy vì được thực hiện và
thu thập bởi những chuyên gia, được chọn
lọc kỹ càng. Những số liệu thu thập từ việc
đánh giá rủi ro của tổ chức quốc tế có thể
được chấp nhận như giá trị khoa học theo
Hiệp định SPS23, Điều 5.1 của hiệp định
này đã quy định rõ ràng việc đánh giá rủi ro
của thành viên “có tính đến kꢀ thuật đánh
giá rủi ro do các tổ chức quốc tế liên quan
xây dựng nên”. Ngoài ra, những quốc gia
có nền tảng khoa học đồ sộ như Mỹ, EU,
Nhật... có phương pháp bảo vệ cao hơn so
với tiêu chuẩn quốc tế nhưng vẫn không vi
phạm luật WTO là do thực hiện đánh giá rủi
ro một cách chuyên nghiệp và có kỹ thuật
cao, thuyết phục. Với tình hình của những
nước đang phát triển như Việt Nam, chúng
quốc gia này. Những số liệu do quốc gia
đưa ra cũng có thể được kiểm tra lại bởi cơ
quan xét xử nhưng đối với những quốc gia
có trình độ khoa học cao thì số liệu khoa
học cũng mang tính chính xác cao. Ngoài
ra, dựa trên những rủi ro có thể nhìn thấy
qua những vấn đề thực tế như tình trạng
thực phẩm nhiễm bẩn, khả năng gây bệnh
của những loại thực phẩm này, Việt Nam
nên đưa ra mức độ bảo vệ mong muốn
trước khi tiến hành đánh giá rủi ro vì mỗi
quốc gia có quyền xác định mức độ bảo vệ
như thế nào là phù hợp trong phạm vi, lãnh
thổ của mình, miễn là có tiến hành đánh giá
rủi ro để mức độ đó “dựa trên”.
Thứ năm, khi ban hành biện pháp bảo
vệ, một yếu tố quan trọng khác cần lưu ý
là tránh tình huống gây ra sự phân biệt đối
xử hoặc hạn chế trá hình đối với thương
mại quốc tế. Để làm được điều này, khi ban
hành mức độ bảo vệ khác nhau đối với các
chất có tính chất tương đương thì cần có sự
giải thích phù hợp với thực tế sử dụng của
chất đó, tác hại của các chất khi đưa vào
tình huống sử dụng khác nhau, cùng là một
chất nhưng hoàn cảnh sử dụng khác lại có
thể áp dụng mức bảo vệ khác. Một trong
những cách giải thích dễ thuyết phục trong
một tình huống là lý do bảo vệ sức khỏe
của con người. Bên cạnh đó, khi ban hành
biện pháp bảo vệ, Việt Nam phải đảm bảo
nó được áp dụng đồng đều cho cả sản phẩm
nhập khẩu, xuất khẩu và nội địa để tránh vi
ta hoàn toàn có thể thực hiện đánh giá rủi phạm nguyên tắc không phân biệt đối xử
23 Food and agriculture organization, world health organization of the United nations, Assuring food safety and
quality: Guidlines for strengthening national food control systems, Joint FAO/WHO Publication, p.11.
26
Số 06(430) - T3/2021
Bạn đang xem tài liệu "Áp dụng các tiêu chuẩn kiểm dịch động - Thực vật theo WTO và kiến nghị cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
ap_dung_cac_tieu_chuan_kiem_dich_dong_thuc_vat_theo_wto_va_k.pdf

