Hoàn thiện các quy định của pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT  
VỀ KIỂM SOÁT TÀI SẢN, THU NHẬP  
Hà Quang Thanh*  
*TS. Quyền Giám đốc Phân viện Học viện Hành chính Quốc gia tại TP. Hồ Chí Minh.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Công khai, minh bạch,  
kiểm soát tài sản và thu nhập.  
Hiện nay, việc công khai, minh bạch tài sản, thu nhập của người có nghĩa  
vụ kê khai đang là một vấn đề thu hút sự quan tâm của dư luận trong quá  
trình thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng do cơ chế công khai, minh  
bạch tài sản, thu nhập chưa phát huy hiệu quả. Trong phạm vi bài viết  
này, tác giả phân tích các quy định của pháp luật về kiểm soát tài sản, thu  
nhập, chỉ ra bất cập, hạn chế và đề xuất giải pháp hoàn thiện.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 10/7/2021  
: 12/8/2021  
: 14/8/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
The disclosure, transparency of the assets and income of those who are  
legally subject to the declare are a discussable issue once those who  
are subject to the declaration under the Law on Anti-Corruption but  
unwilling to publicize and disclose their assets and incomes due to the  
publication and transparency mechanism of assets and incomes have not  
provided its efficiency and effectiveness. Within the scope of this article,  
the author provides an analysis of the legal provisions on asset and  
income control, also gives out inadequacies, limitations and proposes a  
number of recommendations for further improvements.  
Keywords:  
Disclosure;  
transparency; assets and income  
control.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 10 Jul. 2021  
: 12 Aug. 2021  
: 14 Aug. 2021  
Approved  
1. Các quy định của pháp luật về kiểm  
soát tài sản, thu nhập  
thu nhập, biến động về tài sản, thu nhập,  
nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm  
của người có nghĩa vụ kê khai nhằm phòng  
ngừa tham nhũng, phục vụ công tác cán bộ,  
kịp thời phát hiện tham nhũng, ngăn chặn  
hành vi tẩu tán tài sản tham nhũng, thu hồi  
tài sản tham nhũng”.  
Kiểm soát tài sản, thu nhập là một trong  
những thành phần quan trọng trong xây  
dựng các giải pháp tổng thể phòng, chống  
tham nhũng. Đây là nhóm các biện pháp  
quan trọng, trong đó bao gồm các biện pháp  
phòng ngừa tham nhũng như: kê khai, công  
khai bản kê khai tài sản, thu nhập; trách  
nhiệm giải trình, nghĩa vụ giải trình nguồn  
gốc tài sản tăng thêm, nộp lại quà tặng,  
Năm 2018, Quốc hội ban hành Luật  
Phòng, chống tham nhũng. Một trong những  
nội dung quan trọng của Luật là vấn đề kiểm  
soát tài sản, thu nhập. Để hướng dẫn thi  
hành Luật Phòng, chống tham nhũng, ngày  
30/10/2020, Chính phủ ban hành Nghị định  
số 130/2020/NĐ-CP (Nghị định số 130)  
quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của  
người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan,  
tổ chức, đơn vị. Theo đó, khoản 1 Điều 3  
Nghị định số 130 định nghĩa: “Kiểm soát  
tài sản, thu nhập là hoạt động do cơ quan  
kiểm soát tài sản, thu nhập thực hiện theo  
quy định của pháp luật để biết rõ tài sản,  
44  
Số 16(440) - T8/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
trả lương qua tài khoản, hạn chế sử dụng  
tiền mặt, đánh thuế thu nhập cá nhân đến  
các chế tài áp dụng đối với các trường hợp  
vi phạm như: xử lý hành chính, kỷ luật,  
hình sự, dân sự đối với tài sản không chứng  
minh được nguồn gốc hợp pháp1. Bên cạnh  
đó, kiểm soát tài sản, thu nhập của người có  
chức vụ, quyền hạn còn là một trong những  
công cụ quan trọng góp phần tăng cường  
tính minh bạch của bộ máy nhà nước, sự  
liêm chính của cán bộ, công chức, người có  
chức vụ, quyền hạn; đồng thời, qua đó cũng  
giúp cơ quan quản lý nhà nước giám sát,  
phòng ngừa các hành vi sai trái của cán bộ,  
công chức, ngăn chặn, làm giảm thiểu nguy  
cơ làm giàu bất chính... Nếu biện pháp này  
được thực hiện đồng bộ với các biện pháp  
phòng ngừa tham nhũng khác.  
Theo quy định của Luật Phòng, chống  
tham nhũng năm 2018, người có nghĩa vụ  
kê khai phải kê khai tài sản, thu nhập và mọi  
biến động về tài sản, thu nhập của mình, của  
vợ hoặc chồng, con chưa thành niên một  
cách trung thực. Đối tượng có nghĩa vụ kê  
khai là cán bộ, công chức; người giữ chức  
vụ từ phó trưởng phòng và tương đương  
trở lên công tác tại đơn vị sự nghiệp công  
lập, doanh nghiệp nhà nước, người được cử  
làm đại diện phần vốn nhà nước tại doanh  
nghiệp; người ứng cử đại biểu Quốc hội,  
người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.  
Đồng thời, Luật Phòng, chống tham nhũng  
cũng quy định người có nghĩa vụ kê khai  
lần đầu bao gồm cả sĩ quan Công an nhân  
dân, sĩ quan Quân đội nhân dân, quân nhân  
chuyên nghiệp.  
chức, một số viên chức sự nghiệp và cả sĩ  
quan, quân nhân chuyên nghiệp với mục  
đích chủ yếu là để xác định được nguồn gốc  
của tài sản, thu nhập; tạo cơ sở để so sánh,  
đối chiếu tài sản, thu nhập của những người  
kê khai khi có sự biến động trong năm,  
nhằm phòng ngừa tham nhũng và phục vụ  
cho công tác cán bộ.  
Trên cơ sở kế thừa Luật Phòng, chống  
tham nhũng 2005, Luật Phòng, chống tham  
nhũng năm 2018 quy định chi tiết hơn về tài  
sản, thu nhập phải kê khai2. Theo đó, ngoài  
phải kê khai các loại tài sản, thu nhập như  
quy định trước đây như: nhà, quyền sử dụng  
đất; kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá  
mà mỗi tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng trở  
lên; tài sản, tài khoản ở nước ngoài, người  
thuộc đối tượng kê khai còn phải kê khai  
thêm công trình xây dựng và tài sản khác  
gắn liền với đất, nhà ở, đồng thời, phải kê  
khai cả tổng thu nhập giữa 02 lần kê khai.  
Một điểm mới cơ bản của Luật Phòng,  
chống tham nhũng năm 2018 là phương thức  
và thời điểm kê khai tài sản, thu nhập. Để  
phù hợp với việc mở rộng đối tượng có nghĩa  
vụ kê khai tài sản, thu nhập và giảm đầu mối  
các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập,  
Luật quy định các phương thức kê khai áp  
dụng cho từng đối tượng kê khai khác nhau,  
gồm: kê khai lần đầu, kê khai bổ sung, kê  
khai hằng năm và kê khai phục vụ công tác  
cán bộ3. Việc kê khai lần đầu được áp dụng  
đối với người đang giữ chức vụ hoặc có vị  
trí công tác thuộc đối tượng có nghĩa vụ kê  
khai, nhằm hình thành đồng bộ cơ sở dữ liệu,  
thông tin về tài sản, thu nhập của họ kể từ  
thời điểm Luật có hiệu lực để phục vụ cho  
việc kiểm soát tài sản, thu nhập.  
Như vậy, so với Luật Phòng, chống tham  
nhũng năm 2005, Luật Phòng, chống tham  
nhũng năm 2018 đã mở rộng đối tượng có  
nghĩa vụ kê khai đến tất cả cán bộ, công  
Việc kê khai phục vụ công tác cán bộ áp  
dụng đối với cán bộ, công chức, một số viên  
1 Hoàng Nam Hải, “Bất cập trong quy định và thực hiện việc kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền  
hạn theo Luật Phòng, chống tham nhũng”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 19, năm 2015.  
2 Điều 35 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018  
3 Điều 36 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018  
Số 16(440) - T8/2021  
45  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
chức hoặc người ở vị trí công tác khác khi  
được tiếp nhận, tuyển dụng vào làm việc tại  
cơ quan, tổ chức, đơn vị trong khu vực nhà  
nước. Hình thức kê khai này được thực hiện  
trong quá trình hình thành hồ sơ quản lý cán  
bộ. Những năm công tác tiếp theo, họ không  
phải kê khai tài sản, thu nhập hằng năm nếu  
không có căn cứ phát sinh. Kê khai hằng  
năm và kê khai bổ sung phục vụ cho việc  
kiểm soát tài sản, thu nhập. Kê khai hằng  
năm áp dụng đối với những người giữ chức  
vụ phó trưởng phòng trở lên; người làm  
công tác tổ chức cán bộ, quản lý tài chính  
công, tài sản công, đầu tư công hoặc trực  
tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ  
quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác…4. Kê  
khai bổ sung áp dụng đối với người có biến  
động tăng về tài sản, thu nhập trong năm có  
giá trị từ 300 triệu đồng trở lên.  
Ngoài ra, Luật Phòng, chống tham nhũng  
năm 2018 và Nghị định số 130 cũng đã quy  
định cụ thể về biện pháp kiểm soát tài sản, thu  
nhập cũng như biện pháp xử lý vi phạm quy  
định về kiểm soát tài sản, thu nhập. Bên cạnh  
đó, pháp luật về phòng, chống tham nhũng  
quy định về kiểm soát thu nhập, tài sản của  
người có chức vụ, quyền hạn với tư cách là  
pháp luật chuyên ngành phải có sự thống nhất  
với hệ thống với các hệ thống pháp luật khác  
như pháp luật hình sự, dân sự, pháp luật về  
tố tụng tư pháp, pháp luật về tổ chức và hoạt  
động của các cơ quan bảo vệ pháp luật5.  
chức vụ từ Giám đốc sở và tương đương trở  
lên công tác tại Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan  
thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương,  
đơn vị sự nghiệp công lập, cơ quan, tổ chức  
do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập,  
doanh nghiệp nhà nước; người có nghĩa vụ kê  
khai tài sản, thu nhập thuộc thẩm quyền quản  
lý của mình; Thanh tra tỉnh kiểm soát tài sản,  
thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai công  
tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp  
nhà nước thuộc thẩm quyền quản lý của chính  
quyền địa phương; Bộ, cơ quan ngang Bộ,  
cơ quan thuộc Chính phủ kiểm soát tài sản,  
thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai công  
tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp  
nhà nước thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ,  
cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;  
Cơ quan giúp Ủy ban thường vụ Quốc hội về  
công tác đại biểu kiểm soát tài sản, thu nhập  
của đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách  
và người có nghĩa vụ kê khai khác thuộc thẩm  
quyền quản lý cán bộ của Ủy ban thường vụ  
Quốc hội; Văn phòng Quốc hội kiểm soát tài  
sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai  
công tác tại cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ  
Quốc hội, Văn phòng Quốc hội; Văn phòng  
Chủ tịch nước kiểm soát tài sản, thu nhập của  
người có nghĩa vụ kê khai công tác tại Văn  
phòng Chủ tịch nước; Tòa án nhân dân tối  
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm  
toán nhà nước kiểm soát tài sản, thu nhập của  
người có nghĩa vụ kê khai công tác tại Tòa án  
nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm toán  
nhà nước; Cơ quan có thẩm quyền của Đảng  
Cộng sản Việt Nam, cơ quan trung ương của  
các tổ chức chính trị - xã hội kiểm soát tài sản,  
thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai công  
tác trong hệ thống cơ quan, tổ chức đó.  
2. Bất cập trong các quy định của pháp  
luật về kiểm soát tài sản, thu nhập  
Thứ nhất, quy định về cơ quan kiểm soát  
tài sản, tham nhũng.  
Điều 30 Luật Phòng, chống tham nhũng  
năm 2018 quy định về các cơ quan kiểm soát  
tài sản, thu nhập. Theo đó, Thanh tra Chính  
phủ kiểm soát tài sản, thu nhập của người giữ  
Trong bộ máy nhà nước hiện nay, có  
những người vừa giữ chức vụ trong bộ máy  
4 Điều 10 Nghị định số 130/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập của người  
có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.  
5 Nguyễn Văn Kim, “Quyết liệt trong chỉ đạo nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng,  
lãng phí”, Tạp chí Thanh tra, số 12, năm 2020.  
46  
Số 16(440) - T8/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
chính quyền địa phương, vừa giữ chức vụ  
trong tổ chức Đảng. Ví dụ, Chủ tịch Hội  
đồng nhân dân huyện, đồng thời là Bí thư  
huyện ủy. Nếu theo quy định của Luật  
Phòng, chống tham nhũng thì Thanh tra  
tỉnh và Cơ quan có thẩm quyền của Đảng  
đều chịu trách nhiệm kiểm soát tài sản, thu  
nhập của người này; vì vậy, có thể dẫn đến  
sự chồng chéo, trùng lặp trong công tác  
kiểm soát tài sản, thu nhập. Tương tự như  
vậy đối với những người giữ chức vụ quan  
trọng trong tổ chức chính trị - xã hội thuộc  
diện quản lý của tổ chức Đảng theo phân  
cấp quản lý cán bộ của Đảng.  
Bên cạnh đó, các quy định hiện hành  
chưa xác định rõ cán bộ tương đương Giám  
đốc sở tại Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan  
thuộc Chính phủ, đơn vị sự nghiệp công  
lập, cơ quan, tổ chức do Thủ tướng Chính  
phủ quyết định thành lập, doanh nghiệp  
nhà nước. Nếu xác định theo hệ số phụ cấp  
chức vụ lãnh đạo là 0,9 như Giám đốc sở ở  
địa phương thì chưa bảo đảm căn cứ pháp  
lý chặt chẽ và không làm rõ được đối với  
những vị trí lãnh đạo, quản lý trong doanh  
nghiệp nhà nước. Điều này có thể dẫn đến  
một bộ phận người có nghĩa vụ kê khai  
không biết do Thanh tra Chính phủ hay do  
Bộ, ngành, Thanh tra tỉnh kiểm soát. Mặt  
khác, những người phải kê khai tài sản, thu  
nhập trong đơn vị sự nghiệp do Thủ tướng  
Chính phủ thành lập nhưng đơn vị đó không  
thuộc các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan  
thuộc Chính phủ thì chỉ những người giữ  
chức vụ tương đương Giám đốc sở trở lên  
mới chịu sự kiểm soát của Thanh tra Chính  
phủ, những người khác không rõ cơ quan  
nào kiểm soát (Ví dụ các trường đại học  
thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học  
Quốc gia TP. Hồ Chí Minh…).  
kê khai. Tuy nhiên, theo quy định về phương  
thức kê khai, có thể có trường hợp cán bộ  
sau khi kê khai lần đầu thì nhiều năm sau,  
thậm chí là hàng chục năm sau mới phát  
sinh việc kê khai tài sản lần thứ 2. Ví dụ,  
một người là công chức ngạch chuyên viên  
sẽ phải kê khai lần đầu khi được bổ nhiệm  
vào ngạch, nhưng sau đó không thuộc diện  
phải kê khai hàng năm, kê khai bổ sung sẽ  
không phải kê khai tài sản, thu nhập; nếu  
như nhiều năm sau người đó được làm quy  
trình bổ nhiệm phó trưởng phòng thì sẽ phải  
kê khai tài sản, thu nhập phục vụ công tác  
cán bộ và khi đó, việc kê khai tổng thu nhập  
giữa 2 lần kê khai sẽ có một khoảng trống  
thời gian. Điều này không bảo đảm cho việc  
theo dõi chính xác thu nhập của người có  
nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập.  
Thứ ba, việc lựa chọn người được xác  
minh ngẫu nhiên.  
Theo quy định của Nghị định số 130, cơ  
quan kiểm soát tài sản, thu nhập tổ chức lựa  
chọn ngẫu nhiên người được xác minh bằng  
hình thức bốc thăm hoặc sử dụng phần mềm  
máy tính. Số cơ quan, tổ chức, đơn vị được  
tiến hành xác minh tối thiểu bằng 20% số cơ  
quan, tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền kiểm  
soát của mình và số lượng người được lựa  
chọn để xác minh ngẫu nhiên phải bảo đảm  
tối thiểu 10% số người có nghĩa vụ kê khai  
hàng năm tại mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị.  
Nhiều địa phương có số lượng người  
thuộc diện phải xác minh ngẫu nhiên rất lớn.  
Ví dụ, Thành phố Hà Nội có tối thiểu 400  
người thuộc diện phải xác minh ngẫu nhiên  
nên số người phải xác minh hàng năm sẽ  
gây quá tải cho cơ quan kiểm soát tài sản,  
thu nhập trong bối cảnh hạn hẹp về tổ chức,  
biên chế, nguồn lực, đồng thời vẫn phải đảm  
nhiệm đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ khác.  
Mặt khác, quy định này có thể làm cho việc  
xác minh bị kéo dài hoặc trở nên hình thức,  
kém hiệu quả, không đáp ứng được yêu cầu  
của công tác kiểm soát tài sản, thu nhập.  
Thứ hai, về tài sản, thu nhập phải kê khai.  
Điều 35 Luật Phòng, chống tham nhũng  
năm 2018 quy định, người có nghĩa vụ kê  
khai phải kê khai tổng thu nhập giữa 02 lần  
Số 16(440) - T8/2021  
47  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Thứ tư, về chế độ thông tin, báo cáo  
công tác kiểm soát tài sản, thu nhập và xây  
dựng cơ sở dữ liệu quốc gia kiểm soát tài  
sản, thu nhập.  
cụ thể xác định cán bộ tương đương Giám  
đốc sở, các chức danh tương đương trong  
doanh nghiệp nhà nước. Về lâu dài, phải  
xây dựng quy định cụ thể theo chức vụ, vị  
trí việc làm để xác định đối tượng tương  
đương Giám đốc sở.  
Các quy định hiện nay về kiểm soát tài  
sản, thu nhập đều không đề cập đến cơ chế  
thông tin, báo cáo việc thực hiện công tác  
kiểm soát tài sản, thu nhập. Điều này có thể  
gây khó khăn cho các cơ quan, tổ chức, đơn  
vị ngay khi xây dựng kế hoạch, phân công  
trách nhiệm tổ chức thực hiện. Việc chậm  
hướng dẫn các tiêu chí báo cáo cũng có thể  
gây khó khăn cho việc thực hiện sau này vì  
số lượng người kê khai tài sản, thu nhập là  
rất lớn, đòi hỏi phải có sự theo dõi, quản lý  
chặt chẽ ngay từ đầu để đáp ứng các tiêu chí  
thống kê, tổng hợp khi sơ kết, tổng kết.  
Luật Phòng, chống tham nhũng năm  
2018 quy định cơ sở dữ liệu quốc gia về  
kiểm soát tài sản, thu nhập được xây dựng  
và quản lý tập trung tại Thanh tra Chính  
phủ. Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm  
xây dựng, quản lý, khai thác và bảo vệ cơ  
sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu  
nhập trong phạm vi cả nước. Các cơ quan  
kiểm soát tài sản, thu nhập khác cũng có  
trách nhiệm xây dựng, quản lý, khai thác và  
bảo vệ cơ sở dữ liệu về kiểm soat tài sản,  
thu nhập trong phạm vi quản lý của mình.  
Quy định nêu trên yêu cầu các cơ quan  
kiểm soát tài sản, thu nhập đều phải xây dựng  
cơ sở dữ liệu về kiểm soát tài sản, thu nhập.  
Vấn đề đặt ra ở đây là, nếu mỗi cơ quan kiểm  
soát tài sản, thu nhập lại xây dựng một phần  
mềm quản lý cơ sở dữ liệu khác nhau thì rất  
tốn kém và không hiệu quả.  
Thứ hai, Chính phủ cần quy định cụ thể  
những người đang giữ vị trí công tác theo  
khoản 1, 2 và 3 Điều 34 Luật Phòng, chống  
tham nhũng tại thời điểm Nghị định số 130  
có hiệu lực thi hành phải thực hiện việc kê  
khai tài sản, thu nhập lần đầu. Việc kê khai  
hàng năm, kê khai bổ sung sẽ thực hiện vào  
cuối năm 2021 bảo đảm hoàn thành trước  
ngày 31/12/2021 theo đúng quy định của  
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.  
Trường hợp phải kê khai tài sản, thu nhập  
để phục vụ công tác cán bộ mà người đó  
chưa kê khai tài sản, thu nhập lần đầu theo  
quy định của Luật thì thực hiện việc kê khai  
tài sản, thu nhập lần đầu và sử dụng bản kê  
khai đó để phục vụ công tác cán bộ.  
Thứ ba, sửa đổi Điều 33 Luật Phòng,  
chống tham nhũng năm 2018 theo hướng  
quy định người có nghĩa vụ kê khai có trách  
nhiệm theo dõi, cập nhật thu nhập hàng  
năm của cá nhân, vợ hoặc chồng và con  
chưa thành niên. Đây cũng là việc cần phải  
làm hàng năm để giúp người có nghĩa vụ kê  
khai xác định chính xác mình có thuộc diện  
phải kê khai bổ sung hàng năm hay không.  
Thứ tư, Chính phủ cần sớm ban hành  
quy định về cơ sở dữ liệu quốc gia kiểm  
soát tài sản, thu nhập theo hướng xây dựng  
hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia tập trung,  
thống nhất, bảo đảm sự quản lý chặt chẽ,  
đồng thời có sự phối hợp, chia sẻ thông tin,  
dữ liệu giữa các cơ quan kiểm soát tài sản,  
thu nhập theo thẩm quyền. Hệ thống này  
cũng có thể tích hợp phần mềm để tổ chức  
việc lựa chọn ngẫu nhiên người được xác  
minh theo kế hoạch hàng năm và thực hiện  
chế độ thông tin, báo cáo về công tác kiểm  
3. Kiến nghị  
Để bảo đảm hiệu quả của việc tổ chức thi  
hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018,  
tác giả kiến nghị một số giải pháp sau đây:  
Thứ nhất, trên cơ sở khoản 2 Điều 1 Nghị  
định số 130, Thanh tra Chính phủ cần khẩn  
trương phối hợp với cơ quan chức năng để  
trình cấp có thẩm quyền ban hành quy định  
soát tài sản, thu nhập  
48  
Số 16(440) - T8/2021  
pdf 5 trang Thùy Anh 10960 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện các quy định của pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoan_thien_cac_quy_dinh_cua_phap_luat_ve_kiem_soat_tai_san_t.pdf