Hoàn thiện các quy định của pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ KIỂM SOÁT TÀI SẢN, THU NHẬP
Hà Quang Thanh*
*TS. Quyền Giám đốc Phân viện Học viện Hành chính Quốc gia tại TP. Hồ Chí Minh.
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Từ khóa: Công khai, minh bạch,
kiểm soát tài sản và thu nhập.
Hiện nay, việc công khai, minh bạch tài sản, thu nhập của người có nghĩa
vụ kê khai đang là một vấn đề thu hút sự quan tâm của dư luận trong quá
trình thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng do cơ chế công khai, minh
bạch tài sản, thu nhập chưa phát huy hiệu quả. Trong phạm vi bài viết
này, tác giả phân tích các quy định của pháp luật về kiểm soát tài sản, thu
nhập, chỉ ra bất cập, hạn chế và đề xuất giải pháp hoàn thiện.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 10/7/2021
: 12/8/2021
: 14/8/2021
Article Infomation:
Abstract:
The disclosure, transparency of the assets and income of those who are
legally subject to the declare are a discussable issue once those who
are subject to the declaration under the Law on Anti-Corruption but
unwilling to publicize and disclose their assets and incomes due to the
publication and transparency mechanism of assets and incomes have not
provided its efficiency and effectiveness. Within the scope of this article,
the author provides an analysis of the legal provisions on asset and
income control, also gives out inadequacies, limitations and proposes a
number of recommendations for further improvements.
Keywords:
Disclosure;
transparency; assets and income
control.
Article History:
Received
Edited
: 10 Jul. 2021
: 12 Aug. 2021
: 14 Aug. 2021
Approved
1. Các quy định của pháp luật về kiểm
soát tài sản, thu nhập
thu nhập, biến động về tài sản, thu nhập,
nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm
của người có nghĩa vụ kê khai nhằm phòng
ngừa tham nhũng, phục vụ công tác cán bộ,
kịp thời phát hiện tham nhũng, ngăn chặn
hành vi tẩu tán tài sản tham nhũng, thu hồi
tài sản tham nhũng”.
Kiểm soát tài sản, thu nhập là một trong
những thành phần quan trọng trong xây
dựng các giải pháp tổng thể phòng, chống
tham nhũng. Đây là nhóm các biện pháp
quan trọng, trong đó bao gồm các biện pháp
phòng ngừa tham nhũng như: kê khai, công
khai bản kê khai tài sản, thu nhập; trách
nhiệm giải trình, nghĩa vụ giải trình nguồn
gốc tài sản tăng thêm, nộp lại quà tặng,
Năm 2018, Quốc hội ban hành Luật
Phòng, chống tham nhũng. Một trong những
nội dung quan trọng của Luật là vấn đề kiểm
soát tài sản, thu nhập. Để hướng dẫn thi
hành Luật Phòng, chống tham nhũng, ngày
30/10/2020, Chính phủ ban hành Nghị định
số 130/2020/NĐ-CP (Nghị định số 130)
quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của
người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan,
tổ chức, đơn vị. Theo đó, khoản 1 Điều 3
Nghị định số 130 định nghĩa: “Kiểm soát
tài sản, thu nhập là hoạt động do cơ quan
kiểm soát tài sản, thu nhập thực hiện theo
quy định của pháp luật để biết rõ tài sản,
44
Số 16(440) - T8/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
trả lương qua tài khoản, hạn chế sử dụng
tiền mặt, đánh thuế thu nhập cá nhân đến
các chế tài áp dụng đối với các trường hợp
vi phạm như: xử lý hành chính, kỷ luật,
hình sự, dân sự đối với tài sản không chứng
minh được nguồn gốc hợp pháp1. Bên cạnh
đó, kiểm soát tài sản, thu nhập của người có
chức vụ, quyền hạn còn là một trong những
công cụ quan trọng góp phần tăng cường
tính minh bạch của bộ máy nhà nước, sự
liêm chính của cán bộ, công chức, người có
chức vụ, quyền hạn; đồng thời, qua đó cũng
giúp cơ quan quản lý nhà nước giám sát,
phòng ngừa các hành vi sai trái của cán bộ,
công chức, ngăn chặn, làm giảm thiểu nguy
cơ làm giàu bất chính... Nếu biện pháp này
được thực hiện đồng bộ với các biện pháp
phòng ngừa tham nhũng khác.
Theo quy định của Luật Phòng, chống
tham nhũng năm 2018, người có nghĩa vụ
kê khai phải kê khai tài sản, thu nhập và mọi
biến động về tài sản, thu nhập của mình, của
vợ hoặc chồng, con chưa thành niên một
cách trung thực. Đối tượng có nghĩa vụ kê
khai là cán bộ, công chức; người giữ chức
vụ từ phó trưởng phòng và tương đương
trở lên công tác tại đơn vị sự nghiệp công
lập, doanh nghiệp nhà nước, người được cử
làm đại diện phần vốn nhà nước tại doanh
nghiệp; người ứng cử đại biểu Quốc hội,
người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
Đồng thời, Luật Phòng, chống tham nhũng
cũng quy định người có nghĩa vụ kê khai
lần đầu bao gồm cả sĩ quan Công an nhân
dân, sĩ quan Quân đội nhân dân, quân nhân
chuyên nghiệp.
chức, một số viên chức sự nghiệp và cả sĩ
quan, quân nhân chuyên nghiệp với mục
đích chủ yếu là để xác định được nguồn gốc
của tài sản, thu nhập; tạo cơ sở để so sánh,
đối chiếu tài sản, thu nhập của những người
kê khai khi có sự biến động trong năm,
nhằm phòng ngừa tham nhũng và phục vụ
cho công tác cán bộ.
Trên cơ sở kế thừa Luật Phòng, chống
tham nhũng 2005, Luật Phòng, chống tham
nhũng năm 2018 quy định chi tiết hơn về tài
sản, thu nhập phải kê khai2. Theo đó, ngoài
phải kê khai các loại tài sản, thu nhập như
quy định trước đây như: nhà, quyền sử dụng
đất; kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá
mà mỗi tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng trở
lên; tài sản, tài khoản ở nước ngoài, người
thuộc đối tượng kê khai còn phải kê khai
thêm công trình xây dựng và tài sản khác
gắn liền với đất, nhà ở, đồng thời, phải kê
khai cả tổng thu nhập giữa 02 lần kê khai.
Một điểm mới cơ bản của Luật Phòng,
chống tham nhũng năm 2018 là phương thức
và thời điểm kê khai tài sản, thu nhập. Để
phù hợp với việc mở rộng đối tượng có nghĩa
vụ kê khai tài sản, thu nhập và giảm đầu mối
các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập,
Luật quy định các phương thức kê khai áp
dụng cho từng đối tượng kê khai khác nhau,
gồm: kê khai lần đầu, kê khai bổ sung, kê
khai hằng năm và kê khai phục vụ công tác
cán bộ3. Việc kê khai lần đầu được áp dụng
đối với người đang giữ chức vụ hoặc có vị
trí công tác thuộc đối tượng có nghĩa vụ kê
khai, nhằm hình thành đồng bộ cơ sở dữ liệu,
thông tin về tài sản, thu nhập của họ kể từ
thời điểm Luật có hiệu lực để phục vụ cho
việc kiểm soát tài sản, thu nhập.
Như vậy, so với Luật Phòng, chống tham
nhũng năm 2005, Luật Phòng, chống tham
nhũng năm 2018 đã mở rộng đối tượng có
nghĩa vụ kê khai đến tất cả cán bộ, công
Việc kê khai phục vụ công tác cán bộ áp
dụng đối với cán bộ, công chức, một số viên
1 Hoàng Nam Hải, “Bất cập trong quy định và thực hiện việc kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền
hạn theo Luật Phòng, chống tham nhũng”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 19, năm 2015.
2 Điều 35 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018
3 Điều 36 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018
Số 16(440) - T8/2021
45
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
chức hoặc người ở vị trí công tác khác khi
được tiếp nhận, tuyển dụng vào làm việc tại
cơ quan, tổ chức, đơn vị trong khu vực nhà
nước. Hình thức kê khai này được thực hiện
trong quá trình hình thành hồ sơ quản lý cán
bộ. Những năm công tác tiếp theo, họ không
phải kê khai tài sản, thu nhập hằng năm nếu
không có căn cứ phát sinh. Kê khai hằng
năm và kê khai bổ sung phục vụ cho việc
kiểm soát tài sản, thu nhập. Kê khai hằng
năm áp dụng đối với những người giữ chức
vụ phó trưởng phòng trở lên; người làm
công tác tổ chức cán bộ, quản lý tài chính
công, tài sản công, đầu tư công hoặc trực
tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ
quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác…4. Kê
khai bổ sung áp dụng đối với người có biến
động tăng về tài sản, thu nhập trong năm có
giá trị từ 300 triệu đồng trở lên.
Ngoài ra, Luật Phòng, chống tham nhũng
năm 2018 và Nghị định số 130 cũng đã quy
định cụ thể về biện pháp kiểm soát tài sản, thu
nhập cũng như biện pháp xử lý vi phạm quy
định về kiểm soát tài sản, thu nhập. Bên cạnh
đó, pháp luật về phòng, chống tham nhũng
quy định về kiểm soát thu nhập, tài sản của
người có chức vụ, quyền hạn với tư cách là
pháp luật chuyên ngành phải có sự thống nhất
với hệ thống với các hệ thống pháp luật khác
như pháp luật hình sự, dân sự, pháp luật về
tố tụng tư pháp, pháp luật về tổ chức và hoạt
động của các cơ quan bảo vệ pháp luật5.
chức vụ từ Giám đốc sở và tương đương trở
lên công tác tại Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương,
đơn vị sự nghiệp công lập, cơ quan, tổ chức
do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập,
doanh nghiệp nhà nước; người có nghĩa vụ kê
khai tài sản, thu nhập thuộc thẩm quyền quản
lý của mình; Thanh tra tỉnh kiểm soát tài sản,
thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai công
tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp
nhà nước thuộc thẩm quyền quản lý của chính
quyền địa phương; Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ kiểm soát tài sản,
thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai công
tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp
nhà nước thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ,
cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
Cơ quan giúp Ủy ban thường vụ Quốc hội về
công tác đại biểu kiểm soát tài sản, thu nhập
của đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách
và người có nghĩa vụ kê khai khác thuộc thẩm
quyền quản lý cán bộ của Ủy ban thường vụ
Quốc hội; Văn phòng Quốc hội kiểm soát tài
sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai
công tác tại cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ
Quốc hội, Văn phòng Quốc hội; Văn phòng
Chủ tịch nước kiểm soát tài sản, thu nhập của
người có nghĩa vụ kê khai công tác tại Văn
phòng Chủ tịch nước; Tòa án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm
toán nhà nước kiểm soát tài sản, thu nhập của
người có nghĩa vụ kê khai công tác tại Tòa án
nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm toán
nhà nước; Cơ quan có thẩm quyền của Đảng
Cộng sản Việt Nam, cơ quan trung ương của
các tổ chức chính trị - xã hội kiểm soát tài sản,
thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai công
tác trong hệ thống cơ quan, tổ chức đó.
2. Bất cập trong các quy định của pháp
luật về kiểm soát tài sản, thu nhập
Thứ nhất, quy định về cơ quan kiểm soát
tài sản, tham nhũng.
Điều 30 Luật Phòng, chống tham nhũng
năm 2018 quy định về các cơ quan kiểm soát
tài sản, thu nhập. Theo đó, Thanh tra Chính
phủ kiểm soát tài sản, thu nhập của người giữ
Trong bộ máy nhà nước hiện nay, có
những người vừa giữ chức vụ trong bộ máy
4 Điều 10 Nghị định số 130/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập của người
có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.
5 Nguyễn Văn Kim, “Quyết liệt trong chỉ đạo nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng,
lãng phí”, Tạp chí Thanh tra, số 12, năm 2020.
46
Số 16(440) - T8/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
chính quyền địa phương, vừa giữ chức vụ
trong tổ chức Đảng. Ví dụ, Chủ tịch Hội
đồng nhân dân huyện, đồng thời là Bí thư
huyện ủy. Nếu theo quy định của Luật
Phòng, chống tham nhũng thì Thanh tra
tỉnh và Cơ quan có thẩm quyền của Đảng
đều chịu trách nhiệm kiểm soát tài sản, thu
nhập của người này; vì vậy, có thể dẫn đến
sự chồng chéo, trùng lặp trong công tác
kiểm soát tài sản, thu nhập. Tương tự như
vậy đối với những người giữ chức vụ quan
trọng trong tổ chức chính trị - xã hội thuộc
diện quản lý của tổ chức Đảng theo phân
cấp quản lý cán bộ của Đảng.
Bên cạnh đó, các quy định hiện hành
chưa xác định rõ cán bộ tương đương Giám
đốc sở tại Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ, đơn vị sự nghiệp công
lập, cơ quan, tổ chức do Thủ tướng Chính
phủ quyết định thành lập, doanh nghiệp
nhà nước. Nếu xác định theo hệ số phụ cấp
chức vụ lãnh đạo là 0,9 như Giám đốc sở ở
địa phương thì chưa bảo đảm căn cứ pháp
lý chặt chẽ và không làm rõ được đối với
những vị trí lãnh đạo, quản lý trong doanh
nghiệp nhà nước. Điều này có thể dẫn đến
một bộ phận người có nghĩa vụ kê khai
không biết do Thanh tra Chính phủ hay do
Bộ, ngành, Thanh tra tỉnh kiểm soát. Mặt
khác, những người phải kê khai tài sản, thu
nhập trong đơn vị sự nghiệp do Thủ tướng
Chính phủ thành lập nhưng đơn vị đó không
thuộc các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ thì chỉ những người giữ
chức vụ tương đương Giám đốc sở trở lên
mới chịu sự kiểm soát của Thanh tra Chính
phủ, những người khác không rõ cơ quan
nào kiểm soát (Ví dụ các trường đại học
thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học
Quốc gia TP. Hồ Chí Minh…).
kê khai. Tuy nhiên, theo quy định về phương
thức kê khai, có thể có trường hợp cán bộ
sau khi kê khai lần đầu thì nhiều năm sau,
thậm chí là hàng chục năm sau mới phát
sinh việc kê khai tài sản lần thứ 2. Ví dụ,
một người là công chức ngạch chuyên viên
sẽ phải kê khai lần đầu khi được bổ nhiệm
vào ngạch, nhưng sau đó không thuộc diện
phải kê khai hàng năm, kê khai bổ sung sẽ
không phải kê khai tài sản, thu nhập; nếu
như nhiều năm sau người đó được làm quy
trình bổ nhiệm phó trưởng phòng thì sẽ phải
kê khai tài sản, thu nhập phục vụ công tác
cán bộ và khi đó, việc kê khai tổng thu nhập
giữa 2 lần kê khai sẽ có một khoảng trống
thời gian. Điều này không bảo đảm cho việc
theo dõi chính xác thu nhập của người có
nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập.
Thứ ba, việc lựa chọn người được xác
minh ngẫu nhiên.
Theo quy định của Nghị định số 130, cơ
quan kiểm soát tài sản, thu nhập tổ chức lựa
chọn ngẫu nhiên người được xác minh bằng
hình thức bốc thăm hoặc sử dụng phần mềm
máy tính. Số cơ quan, tổ chức, đơn vị được
tiến hành xác minh tối thiểu bằng 20% số cơ
quan, tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền kiểm
soát của mình và số lượng người được lựa
chọn để xác minh ngẫu nhiên phải bảo đảm
tối thiểu 10% số người có nghĩa vụ kê khai
hàng năm tại mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Nhiều địa phương có số lượng người
thuộc diện phải xác minh ngẫu nhiên rất lớn.
Ví dụ, Thành phố Hà Nội có tối thiểu 400
người thuộc diện phải xác minh ngẫu nhiên
nên số người phải xác minh hàng năm sẽ
gây quá tải cho cơ quan kiểm soát tài sản,
thu nhập trong bối cảnh hạn hẹp về tổ chức,
biên chế, nguồn lực, đồng thời vẫn phải đảm
nhiệm đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ khác.
Mặt khác, quy định này có thể làm cho việc
xác minh bị kéo dài hoặc trở nên hình thức,
kém hiệu quả, không đáp ứng được yêu cầu
của công tác kiểm soát tài sản, thu nhập.
Thứ hai, về tài sản, thu nhập phải kê khai.
Điều 35 Luật Phòng, chống tham nhũng
năm 2018 quy định, người có nghĩa vụ kê
khai phải kê khai tổng thu nhập giữa 02 lần
Số 16(440) - T8/2021
47
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
Thứ tư, về chế độ thông tin, báo cáo
công tác kiểm soát tài sản, thu nhập và xây
dựng cơ sở dữ liệu quốc gia kiểm soát tài
sản, thu nhập.
cụ thể xác định cán bộ tương đương Giám
đốc sở, các chức danh tương đương trong
doanh nghiệp nhà nước. Về lâu dài, phải
xây dựng quy định cụ thể theo chức vụ, vị
trí việc làm để xác định đối tượng tương
đương Giám đốc sở.
Các quy định hiện nay về kiểm soát tài
sản, thu nhập đều không đề cập đến cơ chế
thông tin, báo cáo việc thực hiện công tác
kiểm soát tài sản, thu nhập. Điều này có thể
gây khó khăn cho các cơ quan, tổ chức, đơn
vị ngay khi xây dựng kế hoạch, phân công
trách nhiệm tổ chức thực hiện. Việc chậm
hướng dẫn các tiêu chí báo cáo cũng có thể
gây khó khăn cho việc thực hiện sau này vì
số lượng người kê khai tài sản, thu nhập là
rất lớn, đòi hỏi phải có sự theo dõi, quản lý
chặt chẽ ngay từ đầu để đáp ứng các tiêu chí
thống kê, tổng hợp khi sơ kết, tổng kết.
Luật Phòng, chống tham nhũng năm
2018 quy định cơ sở dữ liệu quốc gia về
kiểm soát tài sản, thu nhập được xây dựng
và quản lý tập trung tại Thanh tra Chính
phủ. Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm
xây dựng, quản lý, khai thác và bảo vệ cơ
sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu
nhập trong phạm vi cả nước. Các cơ quan
kiểm soát tài sản, thu nhập khác cũng có
trách nhiệm xây dựng, quản lý, khai thác và
bảo vệ cơ sở dữ liệu về kiểm soat tài sản,
thu nhập trong phạm vi quản lý của mình.
Quy định nêu trên yêu cầu các cơ quan
kiểm soát tài sản, thu nhập đều phải xây dựng
cơ sở dữ liệu về kiểm soát tài sản, thu nhập.
Vấn đề đặt ra ở đây là, nếu mỗi cơ quan kiểm
soát tài sản, thu nhập lại xây dựng một phần
mềm quản lý cơ sở dữ liệu khác nhau thì rất
tốn kém và không hiệu quả.
Thứ hai, Chính phủ cần quy định cụ thể
những người đang giữ vị trí công tác theo
khoản 1, 2 và 3 Điều 34 Luật Phòng, chống
tham nhũng tại thời điểm Nghị định số 130
có hiệu lực thi hành phải thực hiện việc kê
khai tài sản, thu nhập lần đầu. Việc kê khai
hàng năm, kê khai bổ sung sẽ thực hiện vào
cuối năm 2021 bảo đảm hoàn thành trước
ngày 31/12/2021 theo đúng quy định của
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.
Trường hợp phải kê khai tài sản, thu nhập
để phục vụ công tác cán bộ mà người đó
chưa kê khai tài sản, thu nhập lần đầu theo
quy định của Luật thì thực hiện việc kê khai
tài sản, thu nhập lần đầu và sử dụng bản kê
khai đó để phục vụ công tác cán bộ.
Thứ ba, sửa đổi Điều 33 Luật Phòng,
chống tham nhũng năm 2018 theo hướng
quy định người có nghĩa vụ kê khai có trách
nhiệm theo dõi, cập nhật thu nhập hàng
năm của cá nhân, vợ hoặc chồng và con
chưa thành niên. Đây cũng là việc cần phải
làm hàng năm để giúp người có nghĩa vụ kê
khai xác định chính xác mình có thuộc diện
phải kê khai bổ sung hàng năm hay không.
Thứ tư, Chính phủ cần sớm ban hành
quy định về cơ sở dữ liệu quốc gia kiểm
soát tài sản, thu nhập theo hướng xây dựng
hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia tập trung,
thống nhất, bảo đảm sự quản lý chặt chẽ,
đồng thời có sự phối hợp, chia sẻ thông tin,
dữ liệu giữa các cơ quan kiểm soát tài sản,
thu nhập theo thẩm quyền. Hệ thống này
cũng có thể tích hợp phần mềm để tổ chức
việc lựa chọn ngẫu nhiên người được xác
minh theo kế hoạch hàng năm và thực hiện
chế độ thông tin, báo cáo về công tác kiểm
3. Kiến nghị
Để bảo đảm hiệu quả của việc tổ chức thi
hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018,
tác giả kiến nghị một số giải pháp sau đây:
Thứ nhất, trên cơ sở khoản 2 Điều 1 Nghị
định số 130, Thanh tra Chính phủ cần khẩn
trương phối hợp với cơ quan chức năng để
trình cấp có thẩm quyền ban hành quy định
soát tài sản, thu nhập
48
Số 16(440) - T8/2021
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện các quy định của pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hoan_thien_cac_quy_dinh_cua_phap_luat_ve_kiem_soat_tai_san_t.pdf

