Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước ở Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện
Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước
ở Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện1
Nguyễn Thị Bảo Nga(*)
Tóm tắt: Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường
nước ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những tồn tại, bất cập, bài viết đề xuất một số kiến nghị
nhằm hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước nói riêng và pháp luật
về kiểm soát ô nhiễm môi trường nói chung trong thời gian tới.
Từ khóa: Ô nhiễm môi trường, Ô nhiễm môi trường nước, Kiểm soát ô nhiễm môi trường
Abstract: The article analyzes the current status of the law on water pollution control in
Vietnam and proposes recommendations for improvement of the law in particular and the
law on environmental pollution control in general in the coming time.
Keywords: Environmental Pollution, Water Pollution, Environmental Pollution Control
1. Đặt vấn đề1(*)2
rõ những tồn tại, bất cập cơ bản, từ đó đưa
Nước là cội nguồn của sự sống. Do vậy, ra một số kiến nghị và hướng nghiên cứu
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, kiểm về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường
soát ô nhiễm môi trường nước là nhiệm vụ nước trong giai đoạn sắp tới, nhất là phù
có tầm chiến lược và hàng đầu. Môi trường hợp với bối cảnh và nhu cầu sửa đổi Luật
nước bị ô nhiễm có thể hủy hoại mọi thứ Bảo vệ môi trường năm 2014.
liên quan, thậm chí hủy hoại cả sự sống. 2. Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô
Giữ nguồn nước sạch được coi là chính nhiễm môi trường nước ở Việt Nam hiện
sách quốc gia mang tính nền tảng trong nay: một số vấn đề đặt ra
công tác bảo vệ môi trường. Bài viết tập
Ở Việt Nam hiện nay, pháp luật về
trung làm rõ thực trạng pháp luật về phòng kiểm soát ô nhiễm môi trường nước không
ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm được quy định trong một đạo luật cụ thể
môi trường nước ở Việt Nam hiện nay, chỉ nào, mà được đề cập tản mạn ở nhiều văn
bản quy phạm pháp luật khác nhau như
Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012,
1
Một phần nội dung nghiên cứu của bài viết thuộc
Luật Hình sự năm 2015, Luật Thủy sản
năm 2017, các nghị định, thông tư…, đặc
biệt được quy định nhiều nhất trong hai bộ
luật là Luật Tài nguyên nước năm 2012,
Luật Bảo vệ môi trường năm 2014. Các
văn bản này quy định khá cụ thể về trách
Nhiệm vụ khoa học cấp Bộ năm 2018-2019 “Pháp
luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường ở Việt Nam
hiện nay” do TS. Bùi Đức Hiển làm chủ nhiệm,
Viện Nhà nước và Pháp luật chủ trì.
(*) ThS., Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam;
Email: [email protected]
Thông tin Khoa học xã hội, số 12.2019
34
nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể trong
Hiện nay, để phòng ngừa và kiểm soát
phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử ô nhiễm môi trường nước, Việt Nam đang
lý ô nhiễm môi trường nước. Tuy nhiên, áp dụng hai loại quy chuẩn: quy chuẩn kỹ
thực tiễn kiểm soát ô nhiễm môi trường thuật về chất lượng nước xung quanh và
nước những năm qua cho thấy các quy quy chuẩn về nước thải. Tuy nhiên, việc xây
định trong pháp luật Việt Nam về vấn đề dựng và áp dụng các quy chuẩn kỹ thuật,
này còn nhiều lỗ hổng.
tiêu chuẩn môi trường nước ở Việt Nam
Về phòng ngừa ô nhiễm môi trường cũng còn nhiều bất cập2. Riêng với các quy
nước
định về tiêu chuẩn và quy chuẩn nước thải,
Ô nhiễm môi trường có thể được hạn có thể thấy khi xây dựng các quy định về
chế hoặc không xảy ra nếu được phòng quy chuẩn nước thải, khía cạnh kiểm soát
ngừa tốt. Hầu hết các văn bản hướng dẫn, ô nhiễm môi trường nước ít được cân nhắc;
các quy định về kiểm soát ô nhiễm môi nhà làm luật không xem xét đến khả năng
trường nước ở Việt Nam đều nhấn mạnh công nghệ xử lý nước thải thực tế có đáp
nguyên tắc lấy phòng ngừa là chính. Tuy ứng được các tiêu chuẩn, quy chuẩn đề ra
nhiên, công tác phòng ngừa ô nhiễm môi hay không, và có thực sự phù hợp với thực
trường nước ở Việt Nam hiện nay vẫn còn tiễn hay không3. Hơn nữa, các quy định về
nhiều hạn chế do gặp nhiều vướng mắc từ quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện nay còn tách rời
phía các quy định pháp luật.
khả năng tiếp nhận của nguồn nước và tách
Ví dụ như trong công tác quy hoạch, rời việc xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng
Luật Quy hoạch quy định: việc quy hoạch
tài nguyên nước phải đảm bảo tính thứ bậc
trong hệ thống quy hoạch quốc gia , nhưng
quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch tài
2
Ở Việt Nam hiện nay có Quy chuẩn kỹ thuật quốc
1
gia về chất lượng nước mặt (QCVN 08-MT:2015/
BTNMT), Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất
nguyên nước quốc gia thì chưa được phê
duyệt. Bên cạnh đó, trong thực tế nhiều
trường hợp quy hoạch tài nguyên nước
mới chỉ dừng lại ở việc lập quy hoạch tài
nguyên nước tổng thể và chiến lược trong
lĩnh vực quản lý và bảo vệ môi trường nước
mà chưa có sự cân nhắc, xem xét đến các
lĩnh vực môi trường khác, đến hệ sinh thái
và phát triển bền vững, vì vậy, dẫn đến
nhiều trường hợp các dự án thủy điện khi
vận hành các hồ chứa đã tác động tiêu cực
đến người dân như tạo nguy cơ lũ, gây thiếu
nước vào mùa khô và tình trạng tranh chấp
nước ở các vùng thượng, hạ lưu các dòng
sông (sông Hồng - Thái Bình, Vu Gia - Thu
Bồn…) (Đào Trọng Tứ, 2019).
lượng nước ngầm (QCVN 09-MT:2015/BTNMT),
Quy chuẩn kỹ thuật nước thải chăn nuôi (QCVN 62-
MT:2016/BTNMT).
Nhiều ngưỡng quy định trong các quy chuẩn của
Việt Nam đang cao hơn, chặt chẽ hơn so với một số
nước trên thế giới, ví dụ như Hàn Quốc, dẫn đến khó
thực thi trong thực tiễn.
Ví dụ với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng
nước mặt, ngưỡng quy định đối với nước sử dụng
cho mục đích sinh hoạt ở Việt Nam có 36 thông số
kiểm soát chất lượng, trong khi Hàn Quốc quy định
30 thông số. Còn với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
về chất lượng nước ngầm, Việt Nam quy định 32
thông số, trong khi Hàn Quốc quy định 19 thông số.
3
Ví dụ như để xử lý nước thải chăn nuôi nhằm đạt
Quy chuẩn kỹ thuật nước thải chăn nuôi (QCVN 62-
MT:2016/BTNMT) đòi hỏi chi phí xử lý môi trường
rất lớn, điều này đang gây nhiều khó khăn cho các
chủ trang trại, doanh nghiệp nhất là các hộ chăn nuôi
nhỏ lẻ; họ cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tận
dụng nước thải chăn nuôi đã qua xử lý làm phân bón
hữu cơ thay thế phân bón vô cơ, giúp tăng thu nhập.
1 Khoản 3 Điều 4 Luật Quy hoạch năm 2017.
Pháp luật về kiểm soát…
35
nước. Các cơ quan sẽ chỉ lưu ý tới việc thực đều có các quy định chung về việc phát
hiện xả thải theo quy chuẩn, nhưng khi mọi hiện và ngăn chặn các hành vi gây ô nhiễm
nguồn xả không được quản lý thì tổng lượng môi trường nước thông qua các hoạt động
nước thải dễ dàng vượt quá khả năng tiếp quan trắc, cấp phép phát thải, thanh tra,
nhận của nguồn nước, dẫn đến nguồn nước kiểm tra… Nhưng nhiều vụ việc ô nhiễm
bị ô nhiễm. Ví dụ như ô nhiễm môi trường môi trường nước nghiêm trọng xảy ra ở Việt
nước ở đảo Cát Bà (Hải Phòng) do việc phát Nam thời gian qua như vụ Công ty Vedan
triển nuôi cá lồng bè (một phần thức ăn cho xả chất thải ra sông Thị Vải (phát hiện năm
cá bị dư thừa), do nước thải sinh hoạt của 2008), Công ty Formosa xả thải ra biển
các lao động di cư đến và các hàng quán (năm 2016) và mới đây nhất là vụ nguồn
xả thẳng xuống biển, cộng thêm dầu từ các nước của Nhà máy Nước Sông Đà bị nhiễm
tàu bè. Các chỉ số chất lượng nước và các dầu thải (tháng 10/2019)… cho thấy công
chỉ số đa dạng loài đều cho thấy chất lượng tác phát hiện và ngăn chặn ô nhiễm còn
nước và chất lượng hệ sinh thái cũng như nhiều thiếu sót và lỗ hổng từ phía pháp luật.
cảnh quan đảo Cát Bà đã xuống cấp nghiêm
trọng (Trung tâm Nghiên cứu Môi trường liệu quan trắc môi trường để đối chiếu. Tuy
và Cộng đồng, 2018: 81). nhiên, cho đến nay Việt Nam vẫn chưa có hệ
Để phát hiện ô nhiễm cần có các số
Ngay cả với quy định về lập kế hoạch thống thống kê đầy đủ về chất lượng nước
quản lý môi trường của các chủ dự án, sau khi nên chưa có cơ sở để khẳng định được chất
báo cáo đánh giá tác động môi trường được lượng nước. Các số liệu quan trắc hiện nay
phê duyệt thì việc lập kế hoạch phải dựa vào cũng chưa hệ thống, chỉ mang tính cục bộ,
chương trình quản lý và giám sát môi trường thời vụ. Ví dụ điển hình như chất lượng nước
đã đề xuất trong nội dung báo cáo, quy định hồ Tây. Khi hiện tượng cá chết hàng loạt xảy
1
này cũng chưa hợp lý . Bởi lẽ quá trình đánh ra vào tháng 6/2016, các chỉ số chất lượng
giá tác động môi trường hiện nay chỉ nhắc tới nước hồ Tây được nhiều cơ quan chức năng
việc giám sát môi trường trong quá trình thi đưa ra đều là các chỉ số khi sự cố xảy ra,
công xây dựng công trình mà không có việc không có sự so sánh với chỉ số của các thời
giám sát trong giai đoạn vận hành. Trong khi điểm hay các năm trước đó (Nhóm phóng
đó, đánh giá tác động môi trường mang tính viên, 2016). Tương tự như vậy đối với vụ ô
dự báo, đề xuất, nhưng thực tiễn thực hiện nhiễm biển miền Trung, ô nhiễm sông Thị
lại có nhiều đổi khác. Việc giám sát dựa vào Vải. Hay với vụ việc nước cấp cho Nhà máy
đánh giá tác động môi trường, vì vậy, từ nội Nước Sông Đà, có thể thấy chất lượng nước
hàm đã mang tính rủi ro cao.
Về phát hiện và ngăn chặn các hành vi quan trắc nguồn nước đầu vào với một số chỉ
gây ô nhiễm môi trường nước tiêu về độ đục, độ PH, nhiệt độ, còn những
đầu vào không được kiểm soát, nhà máy chỉ
Trong Luật Tài Nguyên nước năm chất khác như thuốc bảo vệ thực vật, thuốc
2012, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, trừ sâu… không có quan trắc (Xuân Long,
2019). Muốn kiểm soát ô nhiễm môi trường
nước hiệu quả, đòi hỏi hệ thống số liệu về
chất lượng nước phải chính xác. Hệ thống số
liệu này cũng nhằm giúp cho công tác nghiên
cứu khoa học, đào tạo, phát triển kinh tế,
1
Điều 10 Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày
29/05/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về
đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động
môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường.
Thông tin Khoa học xã hội, số 12.2019
36
chăm sóc sức khỏe, phát triển nông nghiệp, lý môi trường các cấp, dẫn đến phiền hà
công nghiệp, ngư nghiệp, du lịch… liên quan cho doanh nghiệp. Hơn nữa, chức năng của
đến môi trường nước được thuận lợi.
thanh tra môi trường và cảnh sát môi trường
Pháp luật môi trường hiện hành sử dụng cũng còn nhiều bất cập. Thanh tra môi
côngcụcấpphépphátthảiđểngănchặnnước trường là cơ quan chuyên sâu về vi phạm
thải đổ ra quá mức vào nguồn tiếp nhận. Tuy môi trường nhưng không có quyền điều tra
nhiên, hiện nay có nhiều cơ quan khác nhau và đấu tranh vi phạm. Trong khi đó, cảnh sát
đảm nhiệm việc cấp phép khiến các cơ quan môi trường lại ít hiểu biết chuyên sâu về môi
này không thể nắm được thông tin đầy đủ trường cũng như mức độ nguy hại của các
về cấp phép xả thải của nhau, gây khó khăn vi phạm về môi trường hơn so với thanh tra
cho công tác quản lý1. Hay việc cấp phép môi trường. Điểm yếu lớn nhất trong công
phát thải dựa vào công nghệ được nêu trong tác thanh tra, kiểm tra là nguồn lực thực thi.
báo cáo đánh giá tác động môi trường đang Số lượng các chủ nguồn thải trên phạm vi cả
là điểm yếu lớn nhất của hệ thống cấp giấy nước rất lớn, nhưng số lượng các cơ sở được
phép xả thải hiện nay. Đánh giá tác động môi thanh tra, kiểm tra hằng năm còn hết sức hạn
trường chỉ mang tính nghiên cứu, đề xuất, chế. Tại các Sở Tài nguyên và Môi trường
chưa phản ánh khả năng thực thi. Vì vậy, cũng chỉ có từ 2-4 cán bộ làm công tác thanh
việc dựa vào đánh giá tác động môi trường tra bảo vệ môi trường, lại kiêm nhiệm giải
để cấp phép xả thải, tự thân đã làm giấy phép quyết khiếu nại về đất đai nên khó có thể
mang tính dự báo. Các quy chuẩn trong giấy đáp ứng các yêu cầu thanh tra, kiểm tra các
phép có thể không tương ứng với công nghệ vi phạm môi trường trên địa bàn.
và không bao hàm hết các ô nhiễm cần phải
khống chế (trường hợp giấy phép xả thải cho vi gây ô nhiễm môi trường nước từ phía cơ
Formosa là một ví dụ). quan công quyền, thực tiễn cho thấy cộng
Ngoài cơ chế phát hiện, ngăn chặn hành
Hiện nay, Luật Tài nguyên nước năm đồng có vai trò quan trọng trong nỗ lực tổ
2012, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014,… chức, giáo dục và giải quyết các vấn đề
đều quy định các hoạt động sử dụng nước môi trường, nhất là trong hoạt động giám
phải được thanh tra, kiểm tra. Mặc dù vậy, sát chất lượng nước2. Tuy nhiên, pháp luật
các quy định về công tác kiểm tra, thanh tra môi trường hiện hành vẫn chưa đánh giá và
còn chung chung, chưa cụ thể, còn chồng quy định đầy đủ cơ chế khuyến khích, thúc
chéo và thiếu hiệu quả, đây là nguyên đẩy sự tham gia của cộng đồng trong hỗ trợ
nhân lớn khiến cho tình trạng ô nhiễm môi kỹ thuật, giám sát kiểm soát ô nhiễm môi
trường nước vẫn tiếp diễn với nhiều vụ việc trường nước.
nghiêm trọng. Hoạt động thanh tra, kiểm tra
các doanh nghiệp còn chồng chéo giữa lực
Về xử lý ô nhiễm môi trường nước
Theo quy định của pháp luật, xử lý ô
lượng cảnh sát môi trường và cơ quan quản nhiễm môi trường nước là trách nhiệm của
các chủ nguồn thải, cơ quan nhà nước, chủ
1
Hiện nay, việc cấp giấy phép xả thải vào hệ thống
nước tự nhiên do Bộ Tài nguyên và Môi trường
và các Sở Tài nguyên và Môi trường đảm nhiệm,
2
Nhờ cộng đồng lên tiếng mà các vụ việc ô nhiễm
còn cấp giấy phép xả thải vào hệ thống tưới tiêu do nghiêm trọng như Vedan, Formosa đã nhanh chóng
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các Sở được phát hiện, khắc phục kịp thời (Xem thêm: Bùi
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đảm nhiệm.
Đức Hiển, 2017).
Pháp luật về kiểm soát…
37
thể có thẩm quyền. Ngoài việc phải khắc nhiên, trên thực tế, các biện pháp này ít khi
phục ô nhiễm, phục hồi hiện trạng môi được áp dụng, và ít được các cơ quan quản
trường nước, các chủ thể có hành vi vi lý nhà nước chú trọng.
phạm pháp luật môi trường có thể phải chịu
Về phía các chủ thể có nguồn gây ô
trách nhiệm pháp lý khác nhau như trách nhiễm: Rất ít các chủ thể đáp ứng đúng
nhiệm hành chính, hình sự, dân sự, kỷ luật. và đủ các trách nhiệm được pháp luật quy
Tuy nhiên, trên thực tế, việc khắc phục định. Nguyên nhân lớn nhất không phải là
ô nhiễm vẫn chưa thực sự hiệu quả và là thiếu kinh phí hoạt động, muốn tối đa hóa
nguy cơ lớn gây nên suy thoái nguồn tài lợi ích kinh doanh hay thiếu ý thức bảo
nguyên nước. Pháp luật còn thiếu các quy vệ môi trường, mà là do cơ chế xử phạt ô
định về cơ chế phối hợp giữa các địa phương nhiễm môi trường ở Việt Nam còn nhân
trong việc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi nhượng và thiếu tính răn đe. Các quy định
trường dẫn đến tình trạng rối rắm, không về tội phạm môi trường đã có hiệu lực trong
xác định được quyền và nghĩa vụ cụ thể. gần 10 năm qua nhưng không có nhiều vụ
Hơn nữa, Việt Nam cũng chưa có nguồn quỹ gây ô nhiễm môi trường bị truy cứu trách
chủ động khắc phục ô nhiễm, phục hồi tình nhiệm hình sự mặc dù gây ra hậu quả đặc
trạng ban đầu của nguồn nước trước khi có biệt nghiêm trọng, vì pháp luật chưa có quy
quyết định buộc chủ thể phải bồi thường và định hoặc không đủ căn cứ để khởi tố hình
khắc phục hậu quả (Pháp luật hiện nay mới sự2. Một trong những nguyên nhân của tình
có quy định ký quỹ phục hồi môi trường đối trạng này là việc định lượng hậu quả của
với hoạt động khai thác khoáng sản1). Trong các hành vi tội phạm môi trường không đơn
khi đó, các cơ quan có thẩm quyền xử lý lại giản và thiếu sự chặt chẽ. Đến nay, vẫn chưa
hiếm khi có quyết định buộc doanh nghiệp có các phương pháp tính toán thiệt hại một
truy nộp khoản phí bảo vệ môi trường và cách khoa học và được chấp nhận rộng rãi.
khắc phục hậu quả. Vụ việc xả thải gây ô Bởi về mặt kỹ thuật, thiệt hại môi trường
nhiễm của Công ty Vedan cho thấy, số tiền khó có thể tính toán cụ thể do hậu quả gây
thu được từ biện pháp truy thu và yêu cầu ra có thể liên quan đến nhiều đối tượng ở
khắc phục hậu quả cao hơn nhiều so với nhiều mức độ khác nhau (con người, môi
số tiền thu được từ xử phạt vi phạm hành trường), ở nhiều thời điểm khác nhau (hiện
chính, cụ thể: xử phạt vi phạm hành chính tại, tương lai), ở các khía cạnh khác nhau
hơn 267,5 triệu đồng, tiền phí bảo vệ môi (sức khỏe, thu nhập, tinh thần,..), cũng như
trường bị truy thu đối với lượng nước thải do thiếu căn cứ khoa học để tính toán chính
đã xả trái phép là 127 tỷ đồng; buộc công ty xác các yếu tố như khả năng phục hồi của
đầu tư 33 triệu USD để nâng cấp công nghệ môi trường, thiệt hại của thế hệ tương lai.
đảm bảo nước thải phải đạt quy chuẩn môi
trường (Đan Hà, Anh Phương, 2008). Tuy
2
Điển hình là các vụ việc gây ô nhiễm môi trường
nước đặc biệt nghiêm trọng như vụ Công ty Vedan
xả nước thải trực tiếp xuống sông Thị Vải, vụ Công
1 Điều 38 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Nghị ty sửa chữa tàu biển Hyundai - Vinashin xả chất thải
định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 và Nghị rắn độc hại không qua xử lý ra môi trường ở Khánh
định 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính Hòa (phát hiện năm 2008), vụ Nhà máy Miwon xả
phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về cải thiện nước thải chưa xử lý ra sông Hồng (phát hiện năm
chất lượng môi trường.
2010) đều không bị xử lý hình sự.
Thông tin Khoa học xã hội, số 12.2019
38
3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật
về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước ở
Việt Nam trong thời gian tới
kiểm soát ô nhiễm để giảm lượng chất ô
nhiễm được tạo ra và thải ra; thành lập các
quỹ quản lý chất lượng nước quốc gia/khu
vực nhằm chủ động nguồn tài chính trong
kiểm soát ô nhiễm môi trường nước, bảo trì
các vùng nước, tài trợ hoạt động phục hồi các
khu vực bị ảnh hưởng, trao phần thưởng và
ưu đãi cho các đơn vị xử lý nước thải tốt…
Bốn là, xem xét thành lập riêng một cơ
quan nhằm xét xử nhanh chóng các trường
hợp gây ô nhiễm và đóng vai trò gần giống
như một tòa án trong lĩnh vực ô nhiễm môi
trường. Ngoài ra, các chế tài xử phạt cần
phải sửa đổi theo hướng nghiêm minh hơn
nữa. Đặc biệt, đối với các khoản tiền phạt,
để bù lạm phát và duy trì được chức năng
răn đe của hình phạt, nên có quy định sau
một thời gian nhất định thì mức phạt sẽ
tăng theo tỷ lệ phần trăm…
Năm là, nghiên cứu xây dựng chính
sách tổng thể cho việc áp dụng các thành
tựu của Cách mạng Công nghiệp 4.0 vào
hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường
nước nhằm tránh lãng phí nguồn nhân lực
và vật lực.
Sáu là, nghiên cứu xây dựng chính
sách tinh giản nguồn nhân lực cho công tác
kiểm soát ô nhiễm nguồn nước thông qua
việc phát triển nguồn nhân lực tinh thông.
Cần tính đến sự đồng đều và phân bố nguồn
nhân lực giữa các vùng trong cả nước, đặc
biệt là những vùng xảy ra tình trạng ô nhiễm
môi trường nước.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp
luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước
ở Việt Nam cho thấy có nhiều nguyên nhân
gây ra tình trạng trên. Để kiểm soát ô nhiễm
và phát triển bền vững môi trường quốc gia,
chúng ta cần có chiến lược dài hạn, toàn
diện cho công tác kiểm soát ô nhiễm môi
trường nước, từ xây dựng chính sách, luật
pháp cho tới các chương trình hành động.
Đây cũng được coi là những hướng cần tiếp
tục nghiên cứu trong giai đoạn sắp tới.
Một là, nên nhận thức và thay đổi cách
tiếp cận pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi
trường nước theo hướng tiếp cận đa dạng,
phối hợp và linh hoạt các phương pháp tiếp
cận ngăn ngừa ô nhiễm, quản lý lưu vực
sông, quản lý theo khu vực tài nguyên nước
và quản lý hệ sinh thái1.
Hai là, cần rà soát lại các quy định về
kiểm soát ô nhiễm môi trường nước đang bị
mâu thuẫn, chồng chéo trong các văn bản
quy phạm pháp luật chuyên ngành; sớm
xây dựng một đạo luật riêng về kiểm soát ô
nhiễm môi trường nước để hạn chế được sự
chi phối bởi quá nhiều luật khác nhau.
Ba là, xem xét xây dựng các chính sách
tài chính ưu đãi để hạn chế các hoạt động
gây ô nhiễm từ phía chủ nguồn thải. Ví dụ
như: các chi phí về công nghệ được đơn vị
áp dụng để giảm thiểu chất thải và xử lý chất
thải sẽ được tính là chi phí vận hành doanh
nghiệp và khấu trừ vào tổng thu nhập của
đơn vị; hay phí/lệ phí nước thải sẽ xem xét
đến yếu tố khuyến khích các chủ nguồn thải
đầu tư vào công nghệ sản xuất sạch hơn và
Bảy là, nghiên cứu xây dựng chính sách
thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng và các
bên liên quan vào hoạt động kiểm soát ô
nhiễm môi trường nước, trao cho cộng đồng
quyền được khởi kiện ra tòa án về những vi
phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường nói chung. Đặc biệt cần có các hình
thức khuyến khích, động viên sự tham gia
này và chế tài đối với các hành vi cản trở.
1
Quyết định 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 của
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc
gia về tăng trưởng xanh, Điều 1, Mục III: Giải pháp
thực hiện.
Pháp luật về kiểm soát…
39
4. Kết luận
dong-phi-moi-truong-96864.html
Có thể thấy vấn đề ô nhiễm môi trường
nước đã và đang trở thành mối nguy cơ lớn
ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của
nước ta. Trong khi đó, thực trạng chính
sách, pháp luật của Việt Nam về việc quản
lý, bảo vệ chất lượng nước, phòng, chống
và xử lý ô nhiễm môi trường nước chưa đầy
đủ, còn tồn tại nhiều khoảng trống và hiệu
quả thực thi chưa cao. Chúng ta có chú ý
đến phòng ngừa và kiểm soát nguồn gây ô
nhiễm, nhưng thực sự chưa có được cách
tiếp cận phù hợp, còn tồn tại nhiều bất cập.
Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp dài
hạn, toàn diện, từ xây dựng chính sách, luật
pháp cho tới các chương trình hành động…
được hy vọng sẽ là chìa khóa cho bài toán
kiểm soát ô nhiễm môi trường nước ở Việt
Nam trong giai đoạn tới
2. Bùi Đức Hiển (2017), “Pháp luật về sự
tham gia của cộng đồng dân cư trong bảo
vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay”, Tạp
chí Nhà nước và Pháp luật, số 8 (352), tr.
59-66.
3. Xuân Long (2019), Từ vụ nước sạch
Sông Đà: Quá nhiều lỗ hổng an ninh
nuoc-sach-song-da-qua-nhieu-lo-hong
-an-ninh-nguon-nuoc-2019102107575
3749.htm, truy cập ngày 13/11/2019.
4. Nhóm phóng viên (2016), Cá chết ở Hồ
Tây: Do nước nhiễm độc?, Báo Người
trong-nuoc/ca-chet-o-ho-tay-do-nuoc-
nhiem-doc-20161005230435867.htm
5. Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và
Cộng đồng (2018), Báo cáo nghiên cứu
ô nhiễm môi trường nước và sự cần thiết
phải xây dựng pháp luật kiểm soát ô
nhiễm môi trường nước tại Việt Nam, Hà
Nội, tháng 02/2018.
Tài liệu tham khảo
1. Đan Hà, Anh Phương (2008), Kết luận
của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc
Công ty Vedan xả nước thải ô nhiễm ra
môi trường : Vedan phải nộp hơn 127 tỷ
org.vn/ket-luan-cua-bo-tnmt-ve-viec-
cong-ty-vedan-xa-nuoc-thai-o-nhiem-ra-
moi-truong-vedan-phai-nop-hon-127-ty-
6. Đào Trọng Tứ (2019), “Thực trạng về
kiểm soát ô nhiễm môi trường nước
ở Việt Nam”, Bài tham luận Hội thảo
Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi
trường ở Việt Nam hiện nay. Lý luận và
thực tiễn, Hà Nội, ngày 25/4/2019.
(tiếp theo trang 22)
Tổng điều tra doanh nghiệp.
11. Nguyễn Văn Trình (2007), “Năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp đồng
bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Phát
triển kinh tế, số 196, tr. 8-11.
12. Phí Vĩnh Tường, Nguyễn Đình Hòa, Vũ
Hoàng Dương (2015), “Phát triển và tự
do hóa thị trường đất đai”, trong: Đinh
Tuấn Minh, Phạm Thế Anh (chủ biên,
2015), Báo cáo phát triển nền kinh tế thị
trường Việt Nam, Nxb. Tri thức, Hà Nội.
8. Nguyễn Chiến Thắng (chủ biên, 2015),
Phân cấp thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài trong bối cảnh mới, Nxb. Khoa
học xã hội, Hà Nội.
9. Trần Đình Thiên (2014), “Thể chế kinh
tế và doanh nghiệp: Thực trạng vấn đề
và giải pháp”, Tạp chí Nghiên cứu kinh
tế, số 5, tr. 20-28.
10. Tổng cục Thống kê (2017, 2018, 2019),
Bạn đang xem tài liệu "Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước ở Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phap_luat_ve_kiem_soat_o_nhiem_moi_truong_nuoc_o_viet_nam_th.pdf

