Hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự liên quan đến tội phạm mua bán người và những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự đối với tội phạm mua bán người giữa Việt Nam với nước ngoài
HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ LIÊN QUAN ĐẾN...
TỘI PHẠM MUA BÁN NGƯỜI VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN YÊU CẦU TƯƠNG TRỢ
TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI PHẠM MUA BÁN NGƯỜI
GIỮA VIỆT NAM VỚI NƯỚC NGOÀI
VŨ THỊ HẢI YẾN*
Trong những năm gần đây, tội phạm xuyên quốc gia nói chung và tội phạm mua bán
người nói riêng có nhiều diễn biến phức tạp. Trong bối cảnh đó, hoạt động tương trợ tư
pháp giữa các quốc gia là một đòi hỏi khách quan trong quá trình toàn cầu hoá. Trong
phạm vi bài viết này, tác giả đánh giá thực trạng hoạt động tương trợ tư pháp về hình
sự liên quan đến tội phạm mua bán người của Việt Nam hiện nay và đưa ra một số kiến
nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự liên quan đến
tội phạm về mua bán người trong thời gian tới.
Từ khóa: Tương trợ tư pháp về hình sự, tội phạm mua bán người, Viện kiểm sát nhân
dân, Luật tương trợ tư pháp năm 2007.
Ngày nhận bài: 04/6/2021; Biên tập xong: 10/6/2021; Duyệt đăng: 10/6/2021
In recent years, transnational crimes and human trafficking crimes in particular
have had many complicated developments. In that context, mutual legal assistance
between countries is an objective requirement in the globalization process. Within
the scope of this article, the author assesses the current activities of mutual legal
assistance in criminal maꢀers related to human trafficking in Viet Nam, and shares
some recommendations.
Keywords: Criminal mutual legal assistance, human trafficking crimes, the People
Procuracy, Law on Legal assistance on 2007.
rong những năm gần đây, tội
Tình hình tội phạm mua bán người ở
phạm mua bán người ngày càng nước ta cũng diễn biến hết sức phức tạp,
có xu hướng gia tăng, diễn biến có chiều hướng gia tăng cả số vụ cũng như
T
phức tạp, trở thành vấn nạn trên toàn cầu, tính chất nghiêm trọng về phương thức và
nhiều quốc gia đã phải nâng cấp báo động thủ đoạn phạm tội. Ở Việt Nam, thủ đoạn
tình trạng này. Trước đây, tội phạm mua bán của bọn tội phạm là lợi dụng những phụ
người chỉ có buôn bán phụ nữ, nay đã xuất nữ trẻ tuổi ở vùng sâu, vùng xa, có hoàn
hiện tình trạng mua bán cả nam giới với mục cảnh khó khăn, hạn chế về hiểu biết pháp
đích mua bán để lấy tạng. Theo ước tính của luật, hoặc do sinh con ngoài ý muốn, lợi
Liên Hợp Quốc, mỗi năm trên thế giới có dụng sự nhẹ dạ, mất cảnh giác của các
khoảng 800.000 đến 1.000.000 người bị mua nữ sinh; của một số người có nhu cầu đi
bán, tương đương khoảng gần 3.000 người lao động nước ngoài hoặc tìm việc làm;
bị mua bán trong 01 ngày với lợi nhuận thu lợi dụng kẽ hở trong công tác quản lý nhà
được vào khoảng 150 tỷ USD/năm1.
nước để môi giới hôn nhân, nhận con nuôi
1ꢀ
Tham khảo tại Trang: Baoquocte.vn số ra ngày
28/10/2019 – Báo điện tử Thế giới và Việt Nam của * Thạc sĩ, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế và Tương trợ
Bộ Ngoại giao.
tư pháp về hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
128 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 02 - 2021
VŨ THỊ HẢI YẾN
có yếu tố nước ngoài nhằm dụ dỗ, lừa gạt mua bán người và kiểm soát nạn nhân
rồi bán nạn nhân ra nước ngoài hoặc đưa bằng cách hạn chế cho họ truy cập mạng
vào các tụ điểm trong nước ép làm gái mại xã hội, mạo danh họ phát tán thông tin sai
dâm hoặc cưỡng bức lao động. Các đối lệch trên mạng xã hội.
tượng phạm tội hình thành nhiều đường
Nhiệm vụ phòng, chống mua bán người
dây băng nhóm liên tỉnh, xuyên biên giới,
đòi hỏi phải có sự hợp tác chặt chẽ giữa
xuyên quốc gia lừa bán phụ nữ ép tham
các quốc gia trong khu vực và trên toàn
gia hoạt động mại dâm, bán làm vợ, đẻ
thế giới. Thời gian qua, Việt Nam đã có
thuê, lừa bán nội tạng.
nhiều nỗ lực trong việc giáo dục, tuyên
Tội phạm mua bán người chủ yếu là
đưa người ra nước ngoài (chiếm khoảng
gần 90%), tập trung chủ yếu qua các tuyến
biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với
Trung Quốc chiếm trên 75%, sang Lào và
Campuchia chiếm khoảng 11%, còn lại là
mua bán người sang một số nước khác như
Thái Lan, Malaysia, Nga2… Tội phạm mua
bán người biến các nạn nhân trở thành đối
tượng của cưỡng bức lao động trong các
ngành như: Xây dựng, ngư nghiệp, nông
nghiệp, khai thác mỏ, công nghiệp hàng
hải…, chủ yếu ở Đài Loan, Malaysia, Hàn
Quốc, Nhật Bản; một số vùng ở châu Âu
và Vương quốc Anh với mức độ ít hơn;
hoặc bóc lột tình dục trước khi nạn nhân
đến được đích cuối cùng; nhiều người bị
lừa gạt về các cơ hội lao động và sau đó bị
bán cho các nhà thổ ở vùng biên giới. Một
số phụ nữ Việt Nam ra nước ngoài để kết
hôn theo môi giới quốc tế hoặc làm việc
trong các nhà hàng, cơ sở massage, quán
bar, karaoke, đã trở thành nô lệ giúp việc
gia đình hoặc nô lệ tình dục3. Gần đây,
tội phạm mua bán người ngày càng tích
cực sử dụng mạng Internet, các trang web
chơi game và đặc biệt là mạng xã hội để
dụ dỗ các nạn nhân, lan rộng hoạt động
truyền, phổ biến pháp luật, hoàn thiện
hệ thống pháp luật trong nước, tham gia
tích cực và có trách nhiệm vào các diễn
đàn hợp tác quốc tế đa phương, song
phương về đấu tranh phòng, chống tội
phạm mua bán người; tăng cường hợp
tác với các tổ chức quốc tế như: Tổ chức
di cư quốc tế (IOM), Cao uỷ Liên Hợp
Quốc về người tị nạn (UNHRC), Văn
phòng Liên Hợp Quốc về phòng chống
ma tuý và tội phạm (UNODC), Tổ chức
phụ nữ Liên Hợp Quốc (UN Women)...
và các tổ chức phi chính phủ như: Quỹ
toàn cầu nhằm chấm dứt tình trạng nô
lệ hiện đại (GFEMS), Tổ chức tầm nhìn
thế giới (World Vision) nhằm tranh thủ
sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật, tài chính trong
các hoạt động nâng cao năng lực phòng,
chống mua bán người của Việt Nam.
Do tội phạm mua bán người chủ yếu
là đưa người ra nước ngoài nên đa số các
vụ án xảy ra đều ít nhiều liên quan đến
yếu tố nước ngoài và phải thực hiện các
yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự
nhằm thu thập thông tin, chứng cứ hay
thực hiện các thủ tục tố tụng bên ngoài
lãnh thổ Việt Nam. Tương trợ tư pháp về
hình sự là một kênh chính thức và hiệu
quả để được hỗ trợ làm rõ các đối tượng
đồng phạm ở nước ngoài và tình trạng
của nạn nhân, qua đó chứng minh cho
hành vi phạm tội của các đối tượng trong
2ꢀ Theo Báo cáo tổng kết 09 năm thi hành Luật Phòng,
chống mua bán người năm 2011 của Bộ Công an.
3ꢀ Theo Báo cáo thường niên về tình hình mua bán
người năm 2020 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đối với
Việt Nam.
Số chuyên đề 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 129
HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ LIÊN QUAN ĐẾN...
nước. Thực tiễn cho thấy, hoạt động này người giám định, người đang chấp hành
đã góp phần giải quyết triệt để các vụ án án phạt tù tại nước ngoài ở Việt Nam
liên quan đến loại tội phạm này, tuy nhiên
vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức
và chưa đảm bảo tính kịp thời so với đòi
hỏi của thực tiễn và yêu cầu của quy định
pháp luật tố tụng hình sự.
(Điều 496); Xử lý tài sản do phạm tội mà
có (Điều 502).
Quy định về Cơ quan Trung ương về
tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam:
Theo quy định tại Điều 64 Luật tương
trợ tư pháp năm 2007, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao (VKSNDTC) có trách
1. Cơ sở pháp lý liên quan đến hoạt
động tương trợ tư pháp về hình sự
Pháp luật tương trợ tư pháp về hình nhiệm “Tiếp nhận, chuyển giao, theo dõi,
sự Việt Nam được xây dựng dựa trên các đôn đốc việc thực hiện ủy thác tư pháp
quy định của pháp luật trong nước và các
điều ước quốc tế có liên quan, cụ thể là:
về hình sự; xem xét, quyết định việc thực
hiện và yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân
và Cơ quan điều tra có thẩm quyền thực
hiện ủy thác tư pháp về hình sự; từ chối
hoặc hoãn thực hiện ủy thác tư pháp về
hình sự theo thẩm quyền”. Theo đó, Vụ
Hợp tác quốc tế và Tương trợ tư pháp
về hình sự, VKSNDTC là đơn vị tham
mưu cho Viện trưởng VKSNDTC thực
hiện chức năng Cơ quan Trung ương về
tương trợ tư pháp hình sự.
1.1. Quy định của pháp luật trong nước
Hoạt động tương trợ tư pháp về hình
sự được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật
tương trợ tư pháp năm 2007 và Bộ luật tố
tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015.
Điều 17 Luật tương trợ tư pháp năm
2007 quy định: Phạm vi tương trợ tư
pháp được áp dụng cho cả yêu cầu tương
trợ của Việt Nam gửi nước ngoài và của
nước ngoài gửi Việt Nam, bao gồm: Tống
đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến
các vụ việc hình sự; triệu tập người làm
chứng, người giám định; thu thập, cung
cấp chứng cứ; truy cứu trách nhiệm hình
sự; trao đổi thông tin; các yêu cầu tương
trợ tư pháp khác về hình sự.
Điều 493 BLTTHS năm 2015 quy định
cụ thể hơn vai trò của VKSNDTC trong
hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự,
theo đó: Viện kiểm sát nhân dân tối cao là
Cơ quan Trung ương của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong lĩnh vực
tương trợ tư pháp về hình sự và các hoạt
động hợp tác quốc tế khác.
Ngoài ra, theo quy định tại Phần thứ
tám BLTTHS năm 2015 về hợp tác quốc
tế trong tố tụng hình sự (từ Điều 491 đến
Điều 508), tương trợ tư pháp còn bao
gồm: Việc tiến hành tố tụng của người
có thẩm quyền của Việt Nam ở nước
ngoài và người có thẩm quyền của nước
ngoài ở Việt Nam (Điều 495); Sự có mặt
của người làm chứng, người giám định,
người đang chấp hành án phạt tù tại Việt
1.2. Quy định của các điều ước quốc tế
Bên cạnh các quy định pháp luật trong
nước, những điều ước quốc tế đa phương,
song phương là hợp phần quan trọng
của khung pháp lý điều chỉnh hoạt động
tương trợ tư pháp hình sự giữa Việt Nam
với nước ngoài. Việt Nam đã ký kết và
tham gia nhiều điều ước quốc tế về tương
trợ tư pháp hình sự hoặc có các điều khoản
Nam ở nước ngoài; người làm chứng, về tương trợ tư pháp hình sự.
130 Khoa học Kiểm sát Số chuyên đề 02 - 2021
VŨ THỊ HẢI YẾN
Việt Nam là thành viên của Công ước kết; từ đó tạo điều kiện thuận lợi trong việc
quốc tế của Liên Hợp Quốc về phòng, thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp
chống ma tuý, Công ước của Liên Hợp về hình sự của nhau. Trong thời gian tới,
Quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên với nhiệm vụ được pháp luật quy định,
quốc gia (UNTOC) và Nghị định thư của
Liên Hợp Quốc về phòng ngừa, trừng
trị, trấn áp tội mua bán người, đặc biệt là
phụ nữ và trẻ em (năm 2021), Công ước
ASEAN về phòng, chống mua bán người
(năm 2015), Công ước của Liên Hợp Quốc
về chống tham nhũng (UNCAC), Hiệp
định Tương trợ tư pháp về hình sự giữa
các nước ASEAN (năm 2004). Các Công
ước đa phương UNCAC và UNTOC đều
khuyến nghị các quốc gia thành viên dành
cho nhau sự tương trợ tối đa trong hoạt
động tương trợ tư pháp về hình sự và điều
này cũng đã được ghi nhận trong nhiều
Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự
song phương mà Việt Nam đã ký kết.
VKSNDTC tiếp tục thúc đẩy các hoạt động
đàm phán, ký kết các Hiệp định tương trợ
tư pháp về hình sự với nước ngoài, nhất
là các nước có quan hệ hợp tác hữu nghị
truyền thống, đối tác chiến lược, các quốc
gia láng giềng trong khu vực và các nước
có đông cộng đồng người Việt đang sinh
sống, học tập và làm việc.
2. Tình hình hoạt động tương trợ tư
pháp về hình sự liên quan đến tội phạm
mua bán người
2.1. Công tác tiếp nhận, giải quyết yêu
cầu của cơ quan tiến hành tố tụng trong
nước đề nghị nước ngoài hỗ trợ thực hiện
Theo số liệu thống kê của Vụ Hợp tác
quốc tế và Tương trợ tư pháp về hình sự,
VKSNDTC, trong giai đoạn từ năm 2016
đến năm 2020, thông qua công tác thực
hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động
tương trợ tư pháp đã tiếp nhận, giải quyết
67 yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự
liên quan đến tội phạm mua bán người
của các cơ quan tiến hành tố tụng trong
nước gửi cho cơ quan có thẩm quyền nước
ngoài đề nghị thực hiện, chiếm khoảng
hơn 10% trong tổng số yêu cầu đi trong
giai đoạn này; trong đó có 32 yêu cầu liên
quan đến hành vi tổ chức/môi giới đưa
người ra nước ngoài trái phép, 35 yêu cầu
liên quan đến hành vi mua bán người, bao
gồm cả hành vi mua bán trẻ em dưới 16
tuổi. Địa phương có cơ quan tiến hành
tố tụng lập nhiều yêu cầu loại này là các
tỉnh có chung đường biên giới với Trung
Quốc, Campuchia, các tỉnh miền tây Nam
Bộ và một số tỉnh như: Bắc Ninh, Bắc
Giang, Thanh Hóa, Nghệ An, Ninh Bình...
Việt Nam hiện đã ký kết 14 Hiệp định
tương trợ tư pháp về hình sự với các nước,
trong đó có 09 Hiệp định tương trợ tư
pháp điều chỉnh đa lĩnh vực gồm dân sự,
hình sự, hôn nhân gia đình và lao động4
(đây là các hiệp định đã ký ở giai đoạn
trước những năm 2000) và 14 Hiệp định
tương trợ tư pháp điều chỉnh riêng về lĩnh
vực tương trợ tư pháp hình sự5.
Những điều ước quốc tế này là cơ sở
pháp lý trực tiếp, có ràng buộc về nghĩa vụ,
bao gồm những điều khoản cụ thể, đầy đủ,
hài hòa hóa pháp luật tương trợ tư pháp
về hình sự giữa Việt Nam với các nước ký
4ꢀ Gồm: Hiệp định ký với Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Tiệp Khắc (hiện là Cộng hòa Séc và Cộng hòa
Slovakia kế thừa), Bulgaria, Ba Lan, Liên bang Nga,
Trung Quốc, Ukraina, Mông Cổ, Belarus, Cộng hòa
Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.
5ꢀ Gồm: Hiệp định ký với Hàn Quốc, Ấn Độ, Vương
quốcAnh và BắcAi-len, Algeria, Indonesia, Australia,
Tây Ban Nha, Hungary, Pháp, Kazakhstan, Cuba,
Mô-dăm-bích, Campuchia và Lào.
Số chuyên đề 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 131
HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ LIÊN QUAN ĐẾN...
Các yêu cầu đề nghị nước ngoài thực hiện Nam để giải quyết vụ án mua bán người
chủ yếu nhằm thu thập thông tin nhân tại Malaysia. VKSNDTC đã quan tâm thực
hiện tốt công tác thực hành quyền công tố
và kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp
trong quá trình tiếp nhận, kiểm tra, thẩm
định yêu cầu đến của nước ngoài và việc
thực hiện tương trợ của các cơ quan tiến
hành tố tụng trong nước. Việc thực hiện
tương trợ về phía Việt Nam cơ bản đáp
ứng về thời hạn, kết quả, thủ tục theo yêu
cầu của phía nước ngoài, góp phần đấu
tranh phòng, chống có hiệu quả tội phạm
về mua bán người, đồng thời khẳng định
những nỗ lực của Việt Nam trong hợp tác
quốc tế đấu tranh với loại tội phạm này.
Ngoài ra, kết quả thực hiện tương trợ
cho nước ngoài còn góp phần bảo vệ tốt
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Việt Nam ở nước ngoài, các trường hợp
là nạn nhân của tội phạm mua bán người.
thân và tiền án, tiền sự, thu thập chứng cứ
(lấy lời khai, cung cấp thông tin, tài liệu,
đồ vật), tống đạt giấy tờ. Các yêu cầu liên
quan đến tội phạm mua bán người đa số
gửi cơ quan có thẩm quyền Trung Quốc
đề nghị thực hiện; một số yêu cầu gửi đi
các nước Lào, Campuchia, Singapore, Úc,
Malaysia...
Số liệu thống kê cho thấy, nhiều đơn
vị thực hành quyền công tố và kiểm sát
điều tra đã thực hiện tốt công tác thực
hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động
tương trợ tư pháp, kịp thời phối hợp với
Cơ quan điều tra cùng cấp trong việc lập,
gửi yêu cầu tương trợ tư pháp về hình
sự đề nghị nước ngoài thực hiện phục
vụ quá trình giải quyết các vụ án về mua
bán người. Kết quả thực hiện tương trợ
của nước ngoài đã giúp cho việc điều tra,
truy tố, xét xử các vụ án về mua bán người
của các cơ quan tiến hành tố tụng được
thực hiện theo đúng quy định của pháp
luật, góp phần tích cực trong công tác đấu
tranh phòng, chống loại tội phạm này.
3. Mộtsốkhókhăn, vướngmắc, nguyên
nhân trong công tác thực hành quyền
công tố và kiểm sát hoạt động tương
trợ tư pháp đối với các vụ án về mua
bán người
3.1. Khó khăn, vướng mắc
2.2. Công tác tiếp nhận, giải quyết yêu
cầu tương trợ tư pháp hình sự của cơ quan
tiến hành tố tụng nước ngoài đề nghị Việt
Nam thực hiện liên quan đến tội phạm
mua bán người
Mặc dù hợp tác quốc tế về phòng,
chống mua bán người nói chung và tương
trợ tư pháp liên quan đến tội phạm này nói
riêng trong những năm qua đã đạt được
những kết quả nhất định nhưng thực tế
vẫn còn nhiều hạn chế, vướng mắc, đó là:
Trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm
2020, có 09 yêu cầu tương trợ liên quan
đến tội phạm mua bán người của cơ quan
có thẩm quyền nước ngoài gửi Việt Nam
đề nghị hỗ trợ thực hiện, trong đó có 04
yêu cầu liên quan đến hành vi vượt biên
trái phép/tổ chức nhập cảnh trái phép; 04
- Thứ nhất, kết quả tương trợ chưa đảm
bảo tính kịp thời. Tội phạm mua bán người
chủ yếu là tội phạm ẩn, rất ít trường hợp
bị bắt quả tang nên khi người bị hại trốn
được về và có đơn tố cáo thì đối tượng
phạm tội mới bị phát hiện, điều tra, truy
yêu cầu về hành vi mua bán người và 01 tố, chủ yếu là án truy xét nên rất khó điều
yêu cầu của Malaysia đề nghị hỗ trợ triệu tra. Một số trường hợp xác định được
tập người làm chứng là công dân Việt người phạm tội nhưng không xác định
132 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 02 - 2021
VŨ THỊ HẢI YẾN
được nạn nhân (do nạn nhân vẫn đang ở độ giải quyết các vụ án hình sự của các cơ
nước ngoài nên không lấy được lời khai),
dẫn đến một số vụ án phải tạm đình chỉ,
đình chỉ liên quan đến nước ngoài hoặc
kéo dài thời gian giải quyết. Hầu hết các
vụ án mua bán người có yếu tố nước ngoài
nên việc thu thập chứng cứ ở nước ngoài
gặp nhiều khó khăn, thậm chí nhiều vụ
không thu thập được hoặc vi phạm thời
hạn giải quyết vụ án dẫn đến vụ án không
được xử lý một cách triệt để, toàn diện,
nhất là không xử lý được các đối tượng
là người nước ngoài và người Việt Nam
sinh sống ở nước ngoài. Trong khi đó, việc
thực hiện các yêu cầu xác minh, điều tra,
thu thập chứng cứ do các cơ quan chức
năng có thẩm quyền hai bên biên giới theo
nguyên tắc có đi có lại, thậm chí sử dụng
mối quan hệ ở địa phương thường nhanh
hơn, thuận lợi hơn nhưng những tài liệu,
thông tin có được bằng kênh này theo
quy định của pháp luật thì không được sử
dụng làm chứng cứ.
quan tiến hành tố tụng Việt Nam.
Đối với các vụ án mua bán người có
bị can, bị cáo là người nước ngoài, việc
lập yêu cầu tương trợ đề nghị nước ngoài
cung cấp thông tin nhân thân và tiền án,
tiền sự là bắt buộc để lập lý lịch bị can
và làm căn cứ xác định các tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy
nhiên, nhiều trường hợp, cơ quan lập yêu
cầu không nêu rõ lý do, mục đích của việc
thu thập những thông tin này hoặc không
có thông tin về địa chỉ, từ đó dẫn đến việc
nước được yêu cầu không thể cung cấp
thông tin về nhân thân của cá nhân do
được bảo mật theo pháp luật nước đó nếu
bên yêu cầu không nêu ra được lý do, mục
đích của việc thu thập.
- Thứ ba, kênh liên hệ. Một số cơ quan
tiến hành tố tụng vẫn còn lúng túng trong
cách thức gửi yêu cầu tương trợ cho nước
ngoài; không gửi yêu cầu tương trợ qua
Cơ quan Trung ương về tương trợ tư pháp
hình sự theo quy định của pháp luật mà
gửi tới các cơ quan khác như: Văn phòng
Interpol Việt Nam, Sở Ngoại vụ, Cục
Lãnh sự, Đại sứ quán hoặc Cơ quan lãnh
sự nước ngoài hoặc gửi trực tiếp đến các
cơ quan tiến hành tố tụng nước ngoài. Do
đó, nhiều trường hợp yêu cầu tương trợ bị
nước ngoài trả lại, không thực hiện hoặc
có thực hiện nhưng không bảo đảm giá trị
pháp lý của kết quả tương trợ. Trong khi
đó, VKSNDTC không nắm được thông tin
để phối hợp, liên hệ đôn đốc thực hiện.
- Thứ hai, hồ sơ yêu cầu tương trợ chưa đáp
ứng đúng yêu cầu. Chất lượng hồ sơ yêu cầu
do nhiều cơ quan tiến hành tố tụng trong
nước lập, gửi nước ngoài còn hạn chế,
thiếu thông tin, tài liệu cần thiết, thông
tin cá nhân người có liên quan không đầy
đủ, không kèm theo bản dịch sang tiếng
của nước được yêu cầu hoặc có bản dịch
nhưng không bảo đảm chất lượng. Do đó,
số lượng hồ sơ phải hướng dẫn lặp lại còn
nhiều, dẫn đến kéo dài thời gian đề nghị
phía nước ngoài thực hiện tương trợ. Bên
cạnh đó, phía nước ngoài yêu cầu phải
đáp ứng đủ các điều kiện về mặt pháp lý
theo quy định của pháp luật nước được
yêu cầu. Quá trình trao đổi để bổ sung các
thông tin, tài liệu theo đề nghị của nước
ngoài cũng thường mất nhiều thời gian,
ảnh hưởng không nhỏ đến thời hạn, tiến
3.2. Nguyên nhân
Những khó khăn, vướng mắc nêu trên
là do một số nguyên nhân chính sau đây:
- Nguyên nhân khách quan:
+ Khác biệt về hệ thống pháp luật:
Số chuyên đề 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 133
HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ LIÊN QUAN ĐẾN...
bán người để phục vụ kết hôn bất hợp
pháp với người bản địa nên các yêu cầu
của Việt Nam liên quan đến các tội này
sẽ bị phía Trung Quốc từ chối thực hiện.
Hoặc theo quy định của pháp luật Hàn
Quốc, hành vi vi phạm chế độ một vợ một
chồng không được coi là tội phạm hình sự
mà chỉ là vấn đề dân sự giữa các bên nên
các yêu cầu của Việt Nam liên quan đến
các tội mua bán người vì mục đích này
cũng sẽ bị Hàn Quốc từ chối thực hiện với
lý do không cấu thành tội phạm theo quy
định của phía nước bạn.
Ngoài việc lập, gửi yêu cầu tương trợ
bảo đảm chất lượng, phù hợp với quy
định của pháp luật trong nước và điều
ước quốc tế có liên quan, việc thực hiện
tương trợ có hiệu quả còn phụ thuộc
nhiều vào thực tiễn thực thi pháp luật
của các nước. Trong nhiều trường hợp,
các cơ quan tố tụng lập yêu cầu tương
trợ không thể đáp ứng được đòi hỏi của
nước được yêu cầu về điều kiện, chuẩn
mực pháp lý để việc tương trợ có thể
thực hiện. Bên cạnh đó, yêu cầu tương
trợ gửi đi phải đảm bảo nguyên tắc tội
phạm kép. Đây là một nguyên tắc cơ bản
được cộng đồng quốc tế thừa nhận và
tuân thủ trong hoạt động tương trợ tư
pháp về hình sự. Qua theo dõi các yêu
cầu tương trợ tư pháp hình sự mà Việt
Nam gửi đi nước ngoài thời gian qua có
thể thấy, một số quốc gia vẫn áp dụng
đầy đủ nguyên tắc tội phạm kép đối với
các yêu cầu tương trợ.
+ Tương trợ tư pháp được thực hiện
không có thời hạn: Pháp luật tương trợ tư
pháp và thông lệ quốc tế không quy định
thời hạn thực hiện tương trợ. Vì vậy, kể
cả trường hợp yêu cầu tương trợ của Việt
Nam gửi cho nước ngoài thực hiện theo
nghĩa vụ ràng buộc bởi các điều ước quốc
tế thì việc có kết quả tương trợ trong thời
hạn mong muốn vẫn còn gặp khó khăn.
Việc có kết quả tương trợ sớm hay muộn
hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí hợp tác
của phía nước ngoài đối với ta. Thời gian
gửi yêu cầu và nhận kết quả thực hiện
cũng như thời gian mà cơ quan có thẩm
quyền của phía nước ngoài tiếp nhận, xử
lý, thực hiện nội dung yêu cầu tương trợ
cũng thường kéo dài. Đặc biệt là khi đại
dịch COVID-19 bùng phát ở nhiều quốc
gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam,
dịch vụ bưu chính quốc tế không đáp ứng
chỉ tiêu về mặt thời gian, các cơ quan tư
pháp nước ngoài cũng mất nhiều thời
gian hơn để xử lý yêu cầu tương trợ của
Việt Nam do ảnh hưởng của việc giãn
cách xã hội.
Ví dụ, theo quy định của Hiệp định
tương trợ tư pháp về các vấn đề dân
sự, hình sự năm 1998 giữa Việt Nam và
Trung Quốc, VKSNDTC Trung Quốc là
cơ quan đầu mối tiếp nhận, xử lý các yêu
cầu tương trợ của Việt Nam. Điều này có
nghĩa là khi tiếp nhận các yêu cầu tương
trợ của Việt Nam, phía Trung Quốc sẽ
nghiên cứu thẩm định hồ sơ yêu cầu, nếu
xét thấy hành vi trong yêu cầu không cấu
thành tội phạm theo quy định pháp luật
Trung Quốc thì VKSNDTC Trung Quốc
sẽ có công hàm yêu cầu Việt Nam bổ sung
thông tin để chứng minh hành vi đó cũng
cấu thành tội phạm theo quy định của
pháp luật Trung Quốc. Pháp luật Trung
Quốc chỉ coi mua bán người làm nô lệ tình
dục, cưỡng bức lao động để lấy bộ phận
cơ thể là tội phạm, chưa công nhận mua
+ Khung pháp lý về tương trợ tư pháp
hình sự chưa hoàn thiện: Luật tương trợ
tư pháp năm 2007 là cơ sở pháp lý của
134 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 02 - 2021
VŨ THỊ HẢI YẾN
hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự Cơ quan Trung ương, cơ quan tố tụng
lập yêu cầu, cơ quan đại diện ngoại giao
của Việt Nam trong quá trình lập, gửi,
trao đổi thông tin, liên hệ đôn đốc giải
quyết yêu cầu chưa thực sự thống nhất;
từ đó phát sinh thêm khó khăn, vướng
mắc, ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt
động tương trợ.
trong 10 năm qua. Tuy nhiên, thực tiễn thi
hành cho thấy Luật này đã bộc lộ nhiều
hạn chế, bất cập. Luật điều chỉnh cả 04
lĩnh vực là tương trợ tư pháp về dân sự,
hình sự, dẫn độ và chuyển giao người
đang chấp hành hình phạt tù. Đây đều là
những lĩnh vực có tính chuyên ngành cao,
có phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng,
nguyên tắc, trình tự, thủ tục áp dụng khác
nhau nhưng lại quy định trong cùng một
văn bản luật là chưa thực sự hợp lý. Kết
cấu Luật như vậy làm hạn chế tính cụ thể,
đầy đủ và có hệ thống của các quy định
về tương trợ tư pháp hình sự và chưa thực
sự tương thích với các Hiệp định tương
trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam với
nước ngoài.
4. Giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu
quả hoạt động tương trợ tư pháp về hình
sự liên quan đến tội phạm về mua bán
người
Trong thời gian tới, dự báo tình hình
mua bán người tiếp tục diễn biến phức
tạp và có xu hướng ngày càng gia tăng,
do vậy các yêu cầu tương trợ tư pháp liên
quan đến tội phạm này cũng sẽ ngày càng
nhiều. Để nâng cao hiệu quả giải quyết
các yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự
nói chung và tội phạm liên quan đến mua
bán người nói riêng, cần tập trung triển
khai một số giải pháp trọng tâm sau:
+ Khác biệt về ngôn ngữ: Do yêu cầu
tương trợ phải được dịch ra ngôn ngữ
nước ngoài nên chất lượng lập, gửi, thực
hiện yêu cầu cũng gặp nhiều ảnh hưởng;
nhiều địa phương không sẵn có các đơn
vị dịch thuật chuyên ngành; việc biên dịch
tài liệu bằng các thứ tiếng không phổ biến
- Một là, tăng cường công tác tuyên
truyền, phổ biến pháp luật tương trợ tư
pháp về hình sự trong đội ngũ Điều tra
như: Séc, Ba Lan, Lào, Campuchia... còn viên, Kiểm sát viên để nâng cao nhận thức
về ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác
này. Trong đó, quán triệt và thực hiện tốt
các quy định về tương trợ tư pháp hình sự
trong Luật tương trợ tư pháp năm 2007,
BLTTHS năm 2015 và các văn bản hướng
dẫn thi hành; các Hiệp định tương trợ tư
pháp về hình sự giữa Việt Nam với nước
ngoài; các điều ước quốc tế đa phương có
điều khoản tương trợ tư pháp về hình sự,
đặc biệt là Công ước về chống tội phạm có
tổ chức xuyên quốc gia năm 2000. Đây đều
là các điều ước quốc tế đa phương có thể
viện dẫn để lập yêu cầu tương trợ tư pháp
về hình sự đối với tội mua bán người để
gặp nhiều khó khăn.
- Nguyên nhân chủ quan:
+ Đối với các cơ quan tiến hành tố
tụng: Nhận thức của một bộ phận cán bộ
về ý nghĩa, tầm quan trọng của hoạt động
hợp tác quốc tế nói chung và hoạt động
tương trợ tư pháp hình sự nói riêng còn
chưa đầy đủ, chưa nắm vững về chuyên
môn, nghiệp vụ và quy định pháp luật
liên quan; từ đó ảnh hưởng nhiều đến
chất lượng, hiệu quả của quá trình lập,
gửi, thực hiện yêu cầu.
+ Cơ chế phối hợp liên ngành: Do
thiếu cơ sở pháp lý, cơ chế phối hợp giữa đề nghị nước ngoài thực hiện; xây dựng
Số chuyên đề 02 - 2021 Khoa học Kiểm sát 135
HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ LIÊN QUAN ĐẾN...
quy trình riêng về lập, gửi yêu cầu tương đó có BLTTHS năm 2015 (Phần hợp tác
trợ tư pháp về hình sự liên quan đến tội
phạm mua bán người.
quốc tế trong tố tụng hình sự); từ đó góp
phần hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt
động tương trợ tư pháp về hình sự của
Việt Nam.
- Hai là, tăng cường công tác phối hợp
liên ngành, đặc biệt tăng tính chủ động và
kịp thời trong công tác phối hợp giữa Cơ
quan điều tra và Viện kiểm sát, giữa hai
cơ quan này với Vụ Hợp tác quốc tế và
Tương trợ tư pháp về hình sự, VKSNDTC
trong việc lập, gửi yêu cầu tương trợ cho
nước ngoài; giữa Cơ quan Trung ương về
tương trợ tư pháp hình sự của Việt Nam
và nước ngoài nhằm bảo đảm hiệu quả
quá trình liên hệ, đôn đốc thực hiện, có
kết quả tương trợ.
- Năm là, tiếp tục kiện toàn bộ máy
làm công tác tương trợ tư pháp; thường
xuyên tổ chức các chương trình đào tạo,
bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn
nghiệp vụ, ngoại ngữ cho cán bộ làm công
tác tương trợ tư pháp; tăng cường các
điều kiện đảm bảo về cơ sở vật chất nhằm
phục vụ tốt hơn cho hoạt động tương trợ
tư pháp.
- Sáu là, tăng cường đàm phán, ký kết
và thực hiện có hiệu quả các hiệp định
tương trợ tư pháp về hình sự, các điều
ước quốc tế đa phương, các thoả thuận
quốc tế về phòng, chống mua bán người;
đồng thời tích cực tham gia các các diễn
đàn hợp tác quốc tế song phương, đa
phương, hơp tác với các cơ quan Liên
Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế. Thông
qua việc hợp tác này sẽ giúp tiếp cận
và chia sẻ thông tin về công tác phòng,
chống mua bán người trên thế giới, đồng
thời tranh thủ nguồn lực hỗ trợ kỹ thuật
tiến bộ của các nước./.
- Ba là, tiếp tục nâng cao chất lượng
lập hồ sơ yêu cầu gửi nước ngoài đề nghị
thực hiện. Đối với yêu cầu tương trợ đề
nghị cung cấp thông tin lý lịch và tiền án,
tiền sự của bị can, bị cáo, cần trình bày rõ
lý do, mục đích của nội dung tương trợ
này để nước được yêu cầu có cơ sở thực
hiện. Đối với các yêu cầu gửi Trung Quốc,
các thông tin trong văn bản yêu cầu phải
đầy đủ, chính xác và được dịch sang tiếng
Trung giản thể, đặc biệt là thông tin về tên
và địa chỉ của cá nhân, tổ chức liên quan
đến việc thực hiện tương trợ; cần gửi theo
văn bản yêu cầu các tài liệu bằng tiếng
Trung thể hiện danh tính của cá nhân, tổ
chức đó để tạo điều kiện cho các cơ quan
có thẩm quyền của Trung Quốc thực hiện
tương trợ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
2. Bộ luật hình sự năm 2015;
3. Luật Tương trợ tư pháp năm 2007;
- Bốn là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống
pháp luật trong nước về tương trợ tư
pháp. Trước mắt, cần tập trung nghiên
cứu xây dựng Luật tương trợ tư pháp về
hình sự tách khỏi Luật tương trợ tư pháp
năm 2007; xây dựng, ban hành các văn
bản hướng dẫn các đạo luật có liên quan
4. Báo cáo tổng kết 09 năm thi hành
Luật Phòng, chống mua bán người năm
2011 của Bộ Công an;
5. Báo cáo đánh giá thường niên về
tình hình mua bán người năm 2020 của
Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đối với các nước
đến tương trợ tư pháp về hình sự, trong và Việt Nam.
136 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 02 - 2021
Bạn đang xem tài liệu "Hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự liên quan đến tội phạm mua bán người và những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự đối với tội phạm mua bán người giữa Việt Nam với nước ngoài", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hoat_dong_tuong_tro_tu_phap_ve_hinh_su_lien_quan_den_toi_pha.pdf

