Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến hoạt động lập pháp
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ
ĐẾN HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP1
Trương Hồ Hải*
Đặng Viết Đạt**
* PGS. TS. Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
** TS. Học viện Chính trị Khu vực IV.
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thức tư (the Fourth Industrial
Revolution) đã và đang tác động đến mọi khía cạnh của đời sống xã hội;
trong đó, có những tác động tích cực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội, nhưng cũng có những tác động tiêu cực cản trở sự phát triển bền
vững của đất nước. Vì thế, Việt Nam cần phải chủ động, tích cực đổi mới
hoạt động lập pháp nhằm đáp ứng yêu cầu quản trị nhà nước; trong đó,
cần đổi mới tư duy lập pháp, phương thức lập pháp và tiếp tục hoàn thiện
các nội dung pháp luật phù hợp với yêu cầu mới hiện nay.
Từ khóa: Cách mạng công nghiệp
lần thứ tư, hoạt động lập pháp
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 15/12/2020
: 12/01/2021
: 13/01/2021
Article Infomation:
Abstract:
The Fourth Industrial Revolution has been providing impacts to every
aspect of the social life; in which, there are positive effects to promote
socio-economic developments, but also negative effects to hinder the
sustainable development of the country. Therefore, Vietnam needs to
proactively and actively reform its legislative activities to meet the
requirements of state governance; in which, it is necessary to renew
the legislative thoughts, the legislative method and continue to further
improve the laws in accordance with the new conditions.
K e y w o r d s : A r t i f i c i a l
intelligence, application of AI in
diagnosis.
Article History:
Received
Edited
: 15 Dec. 2020
: 12 Jan. 2021
: 13 Jan. 2021
Approved
1. Tư duy lập pháp trong bối cảnh cách
mạng công nghiệp lần thứ tư1
vật (IoT), mạng xã hội, điện toán đám mây,
di động, phân tích dữ liệu lớn (S.M.A.C),
công nghệ nano (CNNN), sinh học, vật liệu
mới, v.v.. với đặc trưng là sự kết hợp các
công nghệ giúp xóa nhòa ranh giới giữa các
lĩnh vực vật lý, số hóa và sinh học. CMCN
4.0 đã và đang tác động đến các khía cạnh
của đời sống xã hội trên các phạm vi và
mức độ khác nhau, trong đó tạo ra cả thời
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ
tư (CMCN 4.0) bắt đầu vào đầu thế kỷ 21,
trên nền tảng của CMCN 3.0, được hình
thành trên sự cải tiến của cuộc cách mạng
số, với những công nghệ mới như in 3D,
robot, trí tuệ nhân tạo, Internet kết nối vạn
1 Bài viết có sử dụng kết quả nghiên cứu của Đề tài cấp bộ năm 2020 “Những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt
ra đối với hoạt động lập pháp trong điều kiện cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” do TS. Phí Thị Thanh
Tâm làm chủ nhiệm.
20
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
2. Phương thức lập pháp trong bối
CMCN 4.0
cơ và thách thức đối với các quốc gia. Cuộc
cách mạng này sẽ tạo ra động lực mới để
thúc đẩy mạnh mẽ nền kinh tế nhiều quốc
gia, vùng lãnh thổ chuyển sang nền kinh tế
tri thức, sang xã hội “thông minh”. Sự giao
thoa và hội tụ các lĩnh vực công nghệ cao sẽ
xóa mờ dần ranh giới giữa các khâu/công
đoạn, quy trình sản xuất, đặc biệt là các
khâu thiết kế, gia công, lắp ráp và chế tạo ra
sản phẩm, từ đó sản xuất sẽ đạt trình độ rất
cao, tối ưu hóa cao, làm cho lợi ích kinh tế
ngày càng trở nên rõ ràng hơn. Bên cạnh đó,
CMCN 4.0 sẽ phân cực lực lượng lao động,
nguy cơ thất nghiệp gia tăng không chỉ của
người nghèo và ở nước nghèo.
Trước sự tác động nhanh chóng, toàn
diện, không theo tuần tự của CMCN 4.0,
phương thức lập pháp cần phải có sự đổi
mới, cụ thể là:
Thứ nhất, hoạt động lập pháp phải tập
trung ban hành các quy phạm pháp luật có
đủ khả năng kiểm soát các rủi ro có thể xảy
ra trong tương lai.
Làn sóng toàn cầu hoá mạnh mẽ được
“tiếp sức thêm” của cuộc CMCN 4.0 đã và
đang đưa loài người bước vào kỷ nguyên số
và ranh giới giữa thế giới thực và thế giới
ảo bị xoá mờ. Kết quả của quá trình này sẽ
thúc đẩy thế giới ngày càng hội nhập sâu
rộng và gắn kết chặt chẽ hơn thành mạng
lưới toàn cầu, bên cạnh những lợi ích đem
lại từ quá trình này, thì đây cũng tiềm ẩn
những rủi ro có tính chất liên hoàn theo
“hiệu ứng domino” và loài người sẽ phải
đối mặt với những rủi ro của trí tuệ nhân
tạo và robot nếu không kiểm soát chặt chẽ
và lạm dụng nó quá mức, vì theo Stephen
Hawking và các cộng sự “Nếu như tác
động ngắn hạn của trí tuệ nhân tạo phụ
thuộc vào người kiểm soát, thì tác động
lâu dài của nó phụ thuộc vào việc chúng ta
có thể kiểm soát nó được hay không. Tất
cả chúng ta cần tự hỏi mình có thể làm gì
để nâng cao cơ hội gặt hái lợi ích và giảm
thiểu rủi ro”2.
Trước bối cảnh này, hoạt động lập
pháp của mỗi quốc gia, đặc biệt là các quốc
gia đang phát triển cần phải có sự đổi mới,
đặc biệt là đổi mới về tư duy pháp lý theo
hướng thay đổi mạnh mẽ từ chỗ thụ động,
“chạy theo” sự việc, hiện tượng xã hội và
quan hệ xã hội sang chủ động, đón đầu và
định hướng cho quan hệ xã hội.
Tốc độ toàn cầu hoá và phát triển khoa
học và công nghệ như hiện nay đã làm cho
nhiều khía cạnh của đời sống xã hội thay
đổi theo “cấp số nhân” và không theo thứ tự
tuần tự như trước mà có những bước nhảy
vọt. Chính vì thế, để quản trị tốt quốc gia
và quản lý phát triển xã hội trong thời đại
hiện nay, hệ thống pháp luật phải được hoàn
thiện liên tục, nhanh chóng. Cho nên, việc
đổi mới tư duy pháp lý và công nghệ lập
pháp là điều bắt buộc để hệ thống pháp luật
quốc gia đi trước, đón đầu, đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững.
Thực tế này đặt ra cho pháp luật mỗi
quốc gia phải thực sự đáp ứng yêu cầu là
công cụ, là “khuôn thước” tổ chức xã hội
chứ không phải thực hiện duy nhất nhiệm
2. Dẫn theo Klaus Schwab, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Bộ ngoại giao dịch và hiệu đính), Nxb. Thế
giới, Thái Hà books, tr. 169.
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
21
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
vụ xử lý cái đã xảy ra trong thực tiễn. Pháp
luật quốc gia là công cụ hữu hiệu để giải
quyết hàng loạt vấn đề mới đặt ra cho quản
trị quốc gia và quản lý phát triển xã hội trong
bối cảnh hội nhập quốc tế và CMCN 4.0, đó
là: (1) Bất bình đẳng xã hội trong bối cảnh
CMCN 4.0; (2) Bảo đảm an ninh quốc gia,
an toàn xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc
tế và CMCN 4.0; (3) Mối quan hệ xã hội bị
thay đổi trong bối cảnh CMCN 4.0, trong
tương lại gần, các mối quan hệ xã hội cần
được pháp luật điều chỉnh không chỉ quan
hệ giữa cá nhân con người với nhau, quan
hệ giữa các nhân con người với pháp nhân
mà còn có mối quan hệ giữa con người với
người nhân tạo – robot sinh học.
pháp luật quốc tế gần gũi hơn và thân thiện
hơn. Chính điều đó đã và đang đặt ra đối
với mỗi quốc gia trong quá trình hoàn thiện
hệ thống pháp luật quốc gia nhằm đáp ứng
yêu cầu hội nhập quốc tế và thích ứng với
CMCN 4.0.
3. Nội dung điều chỉnh của pháp luật
trong bối cảnh CMCN 4.0
CMCN 4.0 đã và đang làm thay đổi
cả không gian và thời gian trong các quan
hệ xã hội, điều này thể hiện ở chỗ: (1) Sự
hợp nhất các công nghệ, làm mờ đi ranh
giới giữa các các lĩnh vực vật lý, kỹ thuật
số và sinh học; (2) Sự tác động mạnh mẽ
của khoa học và công nghệ làm các quan
hệ xã hội thay đổi không theo tuần tự mà
có những bước nhảy vượt bậc theo cấp số
nhân; (3) Quan hệ giữa người với người
máy (robot) và giữa người máy với người
máy được hình thành và ngày một phổ biến
v.v.. Những điều này đòi hỏi các quốc gia
phải nâng cao năng lực quản trị công và
hoàn thiện pháp luật. Trong các lĩnh vực
chịu sự tác động lớn của CMCN 4.0, lĩnh
vực pháp luật chịu tác động rất lớn và phải
đối mặt với những thách thức sau đây:
Thứ hai, cần chú trọng đến việc đánh
giá một cách hiệu quả, thực chất tác động
các quy phạm pháp luật đối với xã hội trong
các dự luật. Trong quá trình lập pháp, việc
nghiên cứu kỹ lưỡng và đánh giá toàn diện
những tác động của các quy phạm pháp luật
đối với các quan hệ xã hội, đối với từng
nhóm chủ thể pháp luật sẽ bảo đảm tính khả
thi của các quy định của dự án luật; đặc biệt
trong điều kiện CMCN 4.0, các quan hệ xã
hội luôn có chiều hướng thay đổi một cách
nhanh chóng.
Thứ nhất, sự thay đổi về không gian
của các quan hệ pháp luật: Xuất hiện và
ngày càng phổ biến các giao dịch “phi biên
giới”, thậm chí “phi chủ thể”. Chủ thể thực
hiện các hoạt động truyền thông, quảng
cáo; các hành vi, hoạt động thương mại, các
giao dịch dân sự, v.v.. không bó hẹp trong
phạm vi lãnh thổ quốc gia và một chủ thể
pháp lý thông thường3. Chính vì thế, phạm
Thứ ba, tăng cường hợp tác quốc tế và
kế thừa, nội luật hoá các quy phạm pháp
luật quốc tế. Xu thế toàn cầu và CMCN
4.0 đã tạo ra sự tương tác và giao lưu giữa
các quốc gia với nhau, thế giời dường như
“phẳng hơn” so với trước đây, điều đó làm
cho mối quan hệ giữa pháp luật quốc gia và
3. PGS. TS. Nguyễn Thị Quyế Anh - PGS. TS. Ngô Huy Cương (Đồng chủ biên), Cách mạng công nghiệp
lần thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với cải cách pháp luật Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2018, tr. 67-68.
22
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
vi điều chỉnh của pháp luật phải đủ lớn để
định hướng các quan hệ xã hội trong trạng
thái biến đổi nhanh chóng. Đây là một trong
những áp lực lớn đối với hoạt động lập pháp
ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các
nước đang trong quá trình chuyển đổi như
Việt Nam. Thực tế ở Việt Nam trong thời
gian qua cho thấy, số lượng văn bản được
đưa ra sửa đổi, bổ sung, thay thế nhiều hơn
số lượng văn bản ban hành mới, dù các quan
hệ xã hội mà pháp luật điều chỉnh không
có nhiều thay đổi. Cũng vì văn bản ở trung
ương sửa đổi, quy định mới nên hàng loạt
văn bản quy phạm pháp luật mà địa phương
ban hành cũng phải sửa đổi theo4. Điều này
cho thấy, “công nghệ” lập pháp hiện nay
của nước ta chưa đáp ứng được sự phát triển
nhanh chóng của đời sống xã hội trong bối
cảnh CMCN 4.0.
pháp luật là cá nhân hoặc pháp nhân (nghĩa
là các chủ thể này thuộc về xã hội con người
tự nhiên); trong bối cảnh CMCN 4.0, robot
ngày một phổ biến và dần trở thành một chủ
thể chính tham gia các quan hệ xã hội. Đặc
biệt, năm 2017, lần đầu tiên trên thế giới,
loài người chứng kiến robot được traoquyền
công dân – robot Sophia được trao quyền
công dân tại Saudi Arabia6, điều này đã mở
ra một khía cạnh pháp lý mới, đó là robot
được trao quyền công dân để có thể tham
gia vào các quan hệ xã hội với con người,
điều này sẽ xác lập quyền và nghĩa vụ giữa
robot với con người, giữa robot với robot.
Thứ tư, sự thay đổi về nội dung quan
hệ pháp luật: với sự phát triển mạnh mẽ của
công nghệ IoT (Internet of Things), trong
xã hội xuất hiện nhiều quan hệ xã hội mới
như giao dịch tiền ảo, đánh bạc trực tuyến,
khủng bố, lừa đảo, bắt nạt trên mạng…
Thứ hai, sự thay đổi về thời gian của các
quan hệ pháp luật: Trong thời đại CMCN
4.0, cách tính thời gian làm việc, nghỉ ngơi
không còn phù hợp; cách xác định thời
điểm có hiệu lực của các giao dịch dân sự
cũng cần được thay đổi5. Thực tế cho thấy,
thông qua sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
và truyền thông như dịch vụ E-Banking của
các ngân hàng, các giao dịch dân sự có thể
thực hiện 24/7, v.v..
Những thách thức nêu trên đòi hỏi nội
dung điều chỉnh của pháp luật không chỉ
giới hạn ở các đối tượng truyền thống, mà
phải mở rộng sang các lĩnh vực như: tiền
ảo; các ứng dụng từ blockchain; tài sản ảo;
không gian giao dịch trên môi trường ảo;
mối quan hệ giữa cá nhân, pháp nhân với
người nhân tạo - robot sinh học, v.v... Thực
tiễn những năm gần đây cho thấy, hệ thống
pháp luật của nước ta chưa tạo được khung
pháp lý đây đủ cho hoạt động quản lý các
giao dịch trên môi trường ảo. Trường hợp
Thứ ba, sự thay đổi về chủ thể của các
quan hệ pháp luật: Nếu như trong pháp luật
truyền thống, chủ thể tham gia các quan hệ
4. Phạm Văn Chung, Nhiều luật “chết yểu”, vì sao?, https://nld.com.vn/dien-dan/nhieu-luat-chet-yeu-vi-
sao-20150418215138697.htm, ngày 18/04/2015.
5. PGS. TS. Nguyễn Thị Quyế Anh – PGS. TS. Ngô Huy Cương (Đồng chủ biên), Cách mạng công nghiệp
lần thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với cải cách pháp luật Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2018, tr. 69-70.
6. Kim Tuyến, Lần đầu tiên một robot được trao quyền công dân, http://vneconomy.vn/lan-dau-tien-mot-
robot-duoc-trao-quyen-cong-dan-20171027104306234.htm, ngày 27/10/2017.
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
23
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Uber7, Grab8 là những minh chứng rõ nét cho
nhận định này. Điều này đặt ra yêu cầu cấp
bách là Việt Nam cần phải đẩy mạnh việc
hoàn thiện hệ thống pháp luật cả về nội dung,
phạm vi điều chỉnh và xác định rõ không
gian và thời gian điều chỉnh nhằm phù hợp
với sự thay đổi các quan hệ xã hội trong bối
cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
động trong nước. Trong quá trình tiến tới thời
điểm “dân số vàng”, khoảng 25 năm qua, tổng
số lao động Việt Nam đã tăng thêm khoảng 22
triệu người, từ mức 75 triệu (năm 1995) lên
97 triệu (năm 2020)9. Điều này là lợi thế khi
nhiều nước phát triển đang suy giảm nguồn
lao động, nhưng lại là điểm yếu khi máy móc
làm thay con người. Bên cạnh đó, Việt Nam
đang dồn nỗ lực để thoát khỏi “bẫy” thu nhập
trung bình, chứ chưa có nhiều nguồn lực để
đối phó như các nước đã phát triển. Điều đó
cũng có nghĩa, lợi thế nguồn nhân lực lớn hiện
nay rất có thể lại trở thành lực cản của quá
trình phát triển trong tương lai, nếu tác động
tiêu cực của cuộc cách mạng công nghiệp lần
thứ tư không được chủ động hóa giải. Trong
khi đó, đối với ngành Công nghệ thông tin tại
Việt Nam, ước tính mỗi năm, nhu cầu tuyển
dụng vẫn tăng đều đặn gần 50%, trong khi
thực tế với 500.000 ứng viên công nghệ thông
tin ra trường chỉ có 8% đáp ứng được nhu cầu
này. Thực tế này cho thấy, chất lượng nguồn
lao động có kỹ thuật hiện đang trở thành đòi
hỏi bức thiết.
4. Pháp luật về lao động trong bối cảnh
CMCN 4.0
CMCN 4.0 đang ở giai đoạn đầu, giai
đoạn chiến lược bản lề cho các nước đang
phát triển tiến đến để theo kịp với xu hướng
thế giới. Tuy nhiên, những yếu tố mà các nước
đang phát triển như Việt Nam coi là ưu thế
như lực lượng lao động thủ công trẻ, chi phí
thấp sẽ không còn ưu thế mạnh nữa, thậm chí
bị đe dọa nghiêm trọng. Theo ước tính của Tổ
chức Lao động Quốc tế (ILO) có đến 86% lao
động cho các ngành dệt may và giày dép của
Việt Nam có nguy cơ cao mất việc làm dưới
tác động của những đột phá về công nghệ do
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nguy
cơ này có thể chuyển thành con số thiệt hại
không hề nhỏ khi các ngành như dệt may, giày
dép đã tạo ra số lượng lớn việc làm cho lao
Ngoài ra, CMCN 4.0 mang đến những
cơ hội đột phá về năng suất, phát triển nhân
lực công nghệ cao, nhưng chính điều này cũng
7. Dựa trên quy định tại các khoản 1, 2, 3 Điều 3 Nghị định số 86/2014/NĐ-CP ngày 10/9/2014 của Chính phủ về kinh
đoanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, khó đưa ra được căn cứ thuyết phục để chứng minh hoạt động kinh
doanh của Uber taxi là hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, vì theo Nghị định này, kinh doanh vận tải bằng xe ô
tô gồm kinh doanh vận tải thu tiền trực tiếp và kinh doanh vận tải không thu tiền trực tiếp. Theo đó: “Kinh doanh vận
tải thu tiền trực tiếp là hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, trong đó đơn vị kinh doanh vận tải cung cấp dịch vụ
vận tải và thu cước phi vận tải trực tiếp từ khách hàng” (khoản 2 Điều 3); “kinh doanh vận tải không thu tiền trực tiếp
là hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, trong đó, đơn vị kinh doanh vừa thực hiện công đoạn vận tải, vừa thực
hiện ít nhất một công đoạn khác trong quá trình từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ và thu cước phí vận tải
thông qua doanh thu từ sản phẩm hoặc dịch vụ đó” (khoản 3 Điều 3). Hiện nay, hai hình thức thanh toán được Uber sử
dụng là thanh toán bằng thẻ tín dụng và thanh toán bằng tiền mặt. Do thói quen thanh toán, đa số người sử dụng Việt
Nam ưa thích hình thức thanh toán bằng tiền mặt. Với cách thức này, chính tài xế mới là người cung cấp dịch vụ vận
tải và thu tiền cước phí vận tải trực tiếp từ khách hàng. Với hình thức thanh toán bằng thẻ, Uber chỉ thu hộ tiền cước
phí vận tải cho tài xế thông qua hệ thống thanh toán điện tử. Uber taxi không thu cước phí vận tải trực tiếp từ khách
hàng và cũng không thực hiện những công đoạn khác bên cạnh công đoạn vận tải. Vì vậy, hoạt động của Uber taxi
chưa thoả mãn những đặc điểm của hoạt động kinh doanh vận tải bằng ô tô.
8. Phương Dung, Truy thu 53,3 tỷ đồng thuế của Uber: Cục thuế TP HCM lúng túng, xin lãnh đạo ‘cứu viện’, https://
vietnambiz.vn/truy-thu-533-ty-dong-thue-cua-uber-cuc-thue-tp-hcm-lung-tung-xin-lanh-dao-cuu-vien-62908.htm,
ngày 20/07/2018.
24
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
đã khiến cho hàng chục nghìn lao động đang
đứng trước nguy cơ mất việc làm dù chưa đến
tuổi nghỉ hưu. Nếu không sớm đưa ra các giải
pháp thì Việt Nam không chỉ trở nên tụt hậu
mà còn phải đối mặt với gánh nặng chính sách
đảm bảo an sinh xã hội cho hàng chục nghìn
lao động trước nguy cơ thất nghiệp. Thách
thức từ CMCN 4.0 về vấn đề lao động cũng
được đề cập nhiều tại cuộc họp trong khuôn
khổ Hội nghị quan chức cao cấp APEC lần
thứ 2. Theo đó, các nền kinh tế APEC không
chỉ riêng Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy
cơ dư thừa lao động ở một số ngành nghề.
Do vậy, liên kết để tạo ra môi trường cho sự
luân chuyển và trao đổi lao động đang là giải
pháp mà các nền kinh tế APEC hướng tới.
Kinh nghiệm của các Chính phủ trong nền
kinh tế APEC là tạo ra môi trường làm sao để
người lao động có thể tiếp cận được, có thể
sống được, hòa nhập được khi mà thế giới trải
qua cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Cùng với những nỗ lực như trên, một điều cực
kỳ quan trọng là Việt Nam không thể không
quan tâm phát triển ngành tự động hóa, đồng
thời đầu tư cho các nhóm nghiên cứu sâu về
các lĩnh vực kỹ thuật số, công nghệ thông tin,
năng lượng và vật liệu mới, công nghệ sinh
học... Xét đến cùng, vấn đề quan trọng là phải
đào tạo, phát huy và sử dụng được nhân tài,
thu hút được nhiều chuyên gia có trình độ cao
tham gia làm việc, sáng tạo.
bảo vệ nhóm yếu thế trong quan hệ lao động,
bảo đảm quyền và nghĩa vụ cơ bản công dân
trong lĩnh vực lao động, việc làm bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế và
các chính sách an sinh xã hội khác; kiến tạo
khung pháp lý lao động hỗ trợ doanh nghiệp
thuận lợi trong quá trình tuyển dụng, sử dụng
lao động để doanh nghiệp phát triển hoạt động
sản xuất kinh doanh và nâng cao năng lực
cạnh tranh doanh nghiệp; (3) Xây dựng khung
pháp lý nhằm cải cách bộ máy quản lý nhà
nước về lao động, thị trường lao động và quan
hệ lao động; bảo đảm và thúc đẩy bình đẳng
giới, không phân biệt đối xử về quyền, nghĩa
vụ, quyền lợi và trách nhiệm giữa nam giới và
nữ giới trong lao động; hỗ trợ xây dựng quan
hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ tại doanh
nghiệp và giảm thiểu các tranh chấp lao động;
(4) Nội luật hóa các tiêu chuẩn lao động quốc
tế, đặc biệt là các tiêu chuẩn lao động quốc tế
cơ bản theo Tuyên bố năm 1998 của Tổ chức
Lao động Quốc tế (ILO) phù hợp với trình
độ, mức độ phát triển kinh tế - xã hội và thể
chế chính trị của Việt Nam, phục vụ quá trình
hội nhập quốc tế của Việt Nam theo tinh thần
Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 5/11/2016
của Hội nghị lần thứ 4, Ban chấp hành Trung
ương Đảng Khóa XII.
Thay cho lời kết:
CMCN 4.0 đã và đang tác động đến mọi
khía cạnh và các cấp độ khác nhau của đời
sống xã hội; trong đó, có những tác động tích
cực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội,
nhưng cũng có những tác động tiêu cực cản
trở sự phát triển bền vững đất nước. Vì thế,
Việt Nam cần phải chủ động, tích cực đổi
mới hoạt động lập pháp nhằm đáp ứng yêu
cầu quản trị nhà nước, trong đó, phải đổi mới
tư duy lập pháp, phương thức lập pháp và
tiếp tục hoàn thiện các nội dung pháp luật
Trước bối cảnh này, Việt Nam cần hoàn
thiện pháp luật về lao động và thị trường lao
động theo hướng: (1) Thể chế hóa quan điểm,
đường lối của Đảng về việc hoàn thiện thể
chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, phát triển việc làm và thị trường lao
động, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao
phù hợp với yêu cầu của cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ tư; (2) Bảo vệ quyền, lợi ích
chính đáng của người lao động, tăng cường
phù hợp với yêu cầu mới hiện nay
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021
25
Bạn đang xem tài liệu "Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến hoạt động lập pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tac_dong_cua_cuoc_cach_mang_cong_nghiep_lan_thu_tu_den_hoat.pdf

