Nghiên cứu so sánh pháp luật về quản lý chỉ dẫn địa lý tại một số quốc gia trên thế giới và đề xuất cho Việt Nam

26. NGHIÊN CỨU SO SÁNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ  
TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ ĐỀ XUẤT CHO VIỆT NAM  
THE GEOGRAPHICAL INDICATIONS MANAGEMENT PROVIDED IN  
INTELLECTUAL PROPERTY LAWS OF SOME COUNTRIES:  
A COMPARATIVE PERSPECTIVE AND RECOMMENDATIONS FOR VIETNAM  
Đỗ Thị Ánh Hồng1  
Trần Thị Thu Hà2  
TÓM TẮT: Việc xây dựng thƣơng hiệu cho các loại sản phẩm gắn với chỉ dẫn địa lý  
(CDĐL) đã và đang mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho mỗi địa phƣơng có CDĐL đó. Tuy  
nhiên, một trong những vấn đề hiện nay là làm sao có thể quản lý hiệu quả các CDĐL tại  
địa phƣơng dƣới góc độ pháp lý và thực tiễn. Bài viết dƣới đây nghiên cứu quy định pháp  
luật về quản lý CDĐL tại Pháp và Australia (đại diện cho các truyền thống pháp luật tiêu  
biểu trên thế giới) dƣới góc độ so sánh luật, tìm ra những điểm tƣơng đồng và khác biệt so  
với pháp luật Việt Nam về quản lý CDĐL và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật  
trong quản lý CDĐL trên thực tế ở Việt Nam hiện nay.  
Từ khóa: chỉ dẫn địa lý, quản lý CDĐL, pháp luật về quản lý CDĐL  
ABSTRACT: Branding for products associated with geographical indications (GIs)  
has been brought great economic benefits to each locality whose geographical indications.  
However, one of the current problems is how to manage GIs effectively in the locality from  
legal and practical perspectives. This essay researches the legal provisions on management  
of GIs of France and Australia (legal systems belonging to typical legal traditions) in  
comparative law, indicates the similarities and differences with Vietnam's management of  
GIs legal system and proposes solutions to improve the law on management of GIs in  
Vietnam.  
Keywords: Geographical Indications (GIs), management of Geographical  
Indications, legal provisions on management of Geographical Indications  
1 ThS., Trƣờng Đại học Luật Hà Nội; Email: [email protected]  
2 Chuyên viên pháp chế., Công ty Cổ phần Đầu tƣ CIC; Email: tranha1102.hlu@gmail.com  
338  
1. Đặt vấn đề  
Hiện nay, CDĐL đã và đang đóng góp rất lớn vào công cuộc khẳng định giá trị hàng hóa  
Việt Nam nói chung và hàng nông sản Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, một trong những vấn  
đề trăn trở nhất hiện nay chính là quy định về quản lý CDĐL ở nƣớc ta còn tồn tại những  
bất cập. Vì vậy, việc học hỏi kinh nghiệm về quản lý CDĐL của một số quốc gia phát triển  
trên thế giới là vô cùng cần thiết, một mặt giúp chúng ta khắc phục đƣợc những hạn chế,  
yếu kém trong công tác quản lý; mặt khác cũng thúc đẩy việc đƣa sản phẩm mang CDĐL từ  
Việt Nam ra thế giới, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc.  
2. Những vấn đề chung về chỉ dẫn địa lý và quản lý chỉ dẫn địa lý  
2.1. Khái niệm chỉ dẫn địa lý  
CDĐL là một trong ba thuật ngữ liên quan đến chỉ dẫn nguồn gốc địa lý đƣợc luật pháp  
quốc tế thừa nhận. Trong đó, khái niệm “chỉ dẫn địa lý” đƣợc nhắc đến lần đầu tiên tại  
khoản 1 Điều 22 Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thƣơng mại của quyền sở hữu trí  
tuệ (TRIPs) là những chỉ dẫn về hàng hoá bắt nguồn từ lãnh thổ của một Thành viên hoặc từ  
khu vực hay địa phƣơng thuộc lãnh thổ đó, có chất lƣợng, uy tín hoặc đặc tính nhất định chủ  
yếu do xuất xứ địa lý quyết định. Nhƣ vậy, sản phẩm mang CDĐL phải có chất lƣợng, uy  
tín hoặc đặc tính mà các tính chất này chủ yếu xuất phát từ xuất xứ địa lý quyết định. Đó  
cũng là những điều kiện để một sản phẩm đƣợc bảo hộ dƣới dạng CDĐL.  
Tƣơng tự với quan điểm về CDĐL đƣợc quy định trong Hiệp định TRIPs, Tổ chức Sở  
hữu trí tuệ thế giới (WIPO) cũng đƣa ra định nghĩa nhƣ sau: “CDĐL là dấu hiệu được sử  
dụng trên các sản phẩm có nguồn gốc địa lý cụ thể và có chất lượng hoặc danh tiếng do  
nguồn gốc đó mang lại…”3. Theo WIPO, mỗi sản phẩm mang CDĐL là một “di sản” đƣợc  
kết tinh dựa trên các điều kiện môi trƣờng độc đáo và truyền thống địa phƣơng từ các xuất  
xứ địa lý cụ thể của chúng. Những yếu tố này làm cho mỗi CDĐL có sự khác biệt và đều ẩn  
chứa những “câu chuyện” về quá trình sản sinh ra các CDĐL đó. Nhƣ vậy, CDĐL còn  
mang ý nghĩa gìn giữ những bản sắc văn hóa vùng miền rất đặc trƣng và cần tiếp tục đƣợc  
phát huy trên thực tế.  
3 WIPO, Geographical Indications, https://www.wipo.int/geo_indications/en/, truy cập ngày 22/08/2021.  
339  
Đặc biệt, là một trong những quốc gia thành viên của WIPO và WTO, Việt Nam cũng đã  
có những quy định về CDĐL. Theo khoản 22 Điều 4, Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi,  
bổ sung năm 2009 và 2019), “CDĐL là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu  
vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể”. Nhƣ vậy, với cách định nghĩa trên,  
Việt Nam cũng đã nhấn mạnh đƣợc yếu tố đặc trƣng về nguồn gốc địa lý của sản phẩm  
mang CDĐL. Tuy nhiên, so với cách định nghĩa của Hiệp định TRIPs hay WIPO, Việt Nam  
không mang các yếu tố của CDĐL vào định nghĩa mà quy định riêng thành điều kiện để  
CDĐL đƣợc bảo hộ theo quy định tại Điều 79 Luật Sở hữu trí tuệ. Theo đó, CDĐL đƣợc  
bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: (i) Sản phẩm mang CDĐL có nguồn gốc địa lý từ  
khu vực, địa phƣơng, vùng lãnh thổ hoặc nƣớc tƣơng ứng với CDĐL; (ii) Sản phẩm mang  
CDĐL có danh tiếng, chất lƣợng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa  
phƣơng, vùng lãnh thổ hoặc nƣớc tƣơng ứng với CDĐL đó quyết định. Nhƣ vậy, một  
CDĐL muốn đƣợc bảo hộ tại Việt Nam cần đáp ứng đồng thời cả điều kiện về nguồn gốc  
địa lý và điều kiện về danh tiếng, chất lƣợng hoặc đặc tính tƣơng ứng với nguồn gốc địa lý  
mà CDĐL đó mang lại.  
2.2. Quản lý chỉ dẫn địa lý  
Quản lý là một khái niệm có nội hàm rộng và đƣợc hiểu là sự tác động liên tục có tổ  
chức, định hƣớng, mục đích và kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tƣợng quản lý để chỉ  
đạo, điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con ngƣời nhằm duy trì tính ổn định và  
phát triển của đối tƣợng quản lý theo những mục tiêu đã đề ra. Trên cơ sở định nghĩa về  
quản lý nói chung, có thể khái quát quản lý CDĐL là hoạt động của các cơ quan, tổ chức có  
thẩm quyền nhằm tổ chức và kiểm soát việc sử dụng CDĐL có hiệu quả4. Hoạt động quản  
lý CDĐL đƣợc thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau nhƣ cơ quan nhà nƣớc hay tổ chức  
nghề nghiệp (Hội, Hiệp hội),… tại địa phƣơng nơi có CDĐL. Theo quy định tại khoản 4  
Điều 121 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, Nhà nƣớc trực tiếp thực hiện quyền quản lý CDĐL  
hoặc trao quyền quản lý CDĐL cho tổ chức đại diện quyền lợi của tất cả các tổ chức, cá  
nhân đƣợc trao quyền sử dụng CDĐL.  
Nội dung của quản lý CDĐL (theo nghĩa rộng) có thể bao gồm việc xây dựng, tổ chức  
thực hiện các chính sách bảo hộ, sử dụng và quản lý CDĐL; quản lý hoạt động sản xuất các  
4 Phạm Thanh Tuấn (2007), Đăng ký, quản lý và sử dụng chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trƣờng  
Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 15.  
340  
sản phẩm mang CDĐL; trao quyền sử dụng và trực tiếp quản lý hoặc trao quyền quản lý cho  
tổ chức đại diện quyền lợi của tất cả các tổ chức, cá nhân đƣợc trao quyền sử dụng CDĐL;  
kiểm tra, giám sát việc duy trì các đặc tính của CDĐL; đăng ký bảo hộ CDĐL ra nƣớc  
ngoài;… nhằm phát huy hiệu quả CDĐL, góp phần nâng cao đời sống kinh tế - xã hội cho  
ngƣời dân tại các địa phƣơng. Nhƣ vậy, theo nghĩa rộng, nội dung quản lý CDĐL bao gồm  
hầu hết các hoạt động quản lý hành chính nhà nƣớc của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền liên  
quan đến CDĐL. Tuy nhiên, theo nghĩa hẹp, nội dung quản lý CDĐL là cơ chế đảm bảo khả  
năng truy xuất nguồn gốc địa lý của sản phẩm và đảm bảo tính đặc thù của sản phẩm thông  
qua quy trình kiểm soát chặt chẽ về chất lƣợng sản phẩm5 hay thực chất chính là hoạt động  
của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc duy trì các điều kiện bảo hộ CDĐL theo quy  
định pháp luật.  
3. Pháp luật về quản lý chỉ dẫn địa lý tại một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam  
dƣới góc độ so sánh  
3.1. Pháp luật về quản lý chỉ dẫn địa lý tại Pháp  
Pháp là quốc gia đầu tiên tại châu Âu phát triển hệ thống pháp luật bảo hộ CDĐL với sự  
ra đời của các quy định chung về CDĐL từ những năm 19056. Theo quy định, CDĐL của  
Pháp đƣợc hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: Chỉ dẫn nguồn gốc đƣợc bảo hộ (Protected  
Designations of Origin – PDO), Tên gọi xuất xứ đƣợc bảo hộ (Controlled Appellation of  
Origin – AOC), CDĐL đƣợc bảo hộ (Protected Geographical Indications – PGI) cho các  
loại hàng hóa nói chung và CDĐL cho sản phẩm rƣợu nói riêng7. Ngoài ra, Pháp cũng quy  
định trƣờng hợp bảo hộ đối với sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp trong Bộ luật  
Sở hữu trí tuệ của mình. Theo quy định về quản lý CDĐL tại Pháp, có ba cấp độ quản lý  
bao gồm: Tự quản lý, Quản lý nội bộ và Quản lý ngoại vi.  
Đối với cấp độ Tự quản lý: Đây là hoạt động quản lý bởi chính các hộ sản xuất trong  
cùng khu vực có CDĐL. Trên cơ sở những tiêu chuẩn đƣợc xây dựng cho CDĐL, các hộ  
sản xuất tự quản lý lẫn nhau trong quá trình tạo ra sản phẩm mang CDĐL, bảo đảm cho  
5
Lê Thị Thu Hà, Quản lý chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam nhìn từ góc độ kinh nghiệm của Cộng hoà Pháp,  
cua-cong-hoa-phap/1399.html, truy cập ngày 23/8/2021.  
6 Irina Kireeva, Wang Xiaobing (2011), European Legislation on Protection of Geographical Indications – Overview of  
the EU Member States‟ Legal Framework for Protection of Geographical Indications, European Union, p.38.  
7
Aurélia  
Marie,  
France:  
INPI  
approves  
three  
new  
geographical  
indications,  
cập ngày 29/09/2021.  
341  
không chỉ danh tiếng chung của CDĐL mà còn cho cả danh tiếng của các cơ sở sản xuất  
này, tạo lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm so với chính các sản phẩm cùng loại trong khu vực.  
Việc tự quản lý còn nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi cơ sở sản xuất đối với sản  
phẩm của mình; đồng thời giảm bớt gánh nặng quản lý cho các cơ quan nhà nƣớc.  
Đối với cấp độ Quản lý nội bộ: Hoạt động quản lý đƣợc thực hiện bởi Tổ chức tập thể  
của các nhà sản xuất tại địa phƣơng, gọi chung là Tổ chức Bảo hộ và Quản lý (Organisme  
de Défense et de Gestion – ODG). Tổ chức này có nhiệm vụ: tiến hành kiểm tra về nguồn  
gốc nguyên liệu; định hƣớng, kiểm tra, giám sát về sản xuất, chế biến và chất lƣợng sản  
phẩm; xác nhận cho sản phẩm mang CDĐL đƣợc bảo hộ; giám sát việc tuân thủ các quy  
định trong sản xuất, chế biến; kiểm soát việc chuyển nhƣợng quyền sử dụng giữa hộ sản  
xuất và hộ chế biến, hộ thƣơng mại, báo cáo định kỳ các thông tin của CDĐL cho cơ quan  
quản lý CDĐL cấp trên8. Ở Pháp, các tổ chức tập thể sản xuất, các hiệp hội nghề nghiệp rất  
phát triển và đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì, phát huy các giá trị của CDĐL;  
đồng thời cũng phối hợp cùng với các cơ quan nhà nƣớc tiến hành quản lý CDĐL tại địa  
phƣơng mình.  
Đối với cấp độ Quản lý ngoại vi: Đây là cấp độ tập trung vào khâu lƣu thông và khai  
thác thƣơng mại các sản phẩm mang CDĐL. Trong đó, Viện Quốc gia về xuất xứ và chất  
lƣợng (Institut National De L‟origine Et De La Qualité – INAO), một cơ quan trực thuộc Bộ  
Nông nghiệp Pháp đóng vai trò đầu mối, có chức năng quản lý bên ngoài đối với tất cả các  
CDĐL, trao quyền sử dụng và quyết định khả năng sử dụng CDĐL. Bên cạnh đó, Viện Sở  
hữu công nghiệp Pháp (Institut National de la Propriété Industrielle – INPI) cũng tiến hành  
quản lý CDĐL thông qua việc phát triển các CDĐL ra nƣớc ngoài (tổ chức triển lãm thƣơng  
mại, quảng bá quốc tế,…)9. Ngoài ra, một số cơ quan khác nhƣ Bộ Nông nghiệp, Cục Hải  
quan, Cục quản lý cạnh tranh, tiêu dùng và chống gian lận thƣơng mại,… có trách nhiệm  
phối hợp với các cơ quan trên trong hoạt động quản lý CDĐL.  
Nhƣ vậy, có thể thấy, quy định về hoạt động quản lý CDĐL ở Pháp tuân theo các cấp độ  
chặt chẽ và các quy chế nghiêm ngặt của Liên minh châu Âu, bảo đảm cho sản phẩm mang  
CDĐL ở mỗi khu vực đạt đúng tiêu chuẩn về chất lƣợng đã đề ra. Chẳng hạn, Quy chế số  
8
Barbara Pick, Delphine Marie-Vivien (2021), Representativeness in Geographical Indications: A Comparison  
between the State-Driven and Producer-Driven Systems in Vietnam and France, Sustainability 2021, 13, 5056, p.5.  
9
INPI – French National Institute of Industrial Property, https://french-tech-central.com/en/service-public/inpi-french-  
national-institute-of-industrial-property/, truy cập ngày 30/09/2021.  
342  
110/2008 của Nghị viện và Hội đồng châu Âu liên quan đến các tiêu chuẩn chung về CDĐL  
của các loại đồ uống có cồn quy định rất cụ thể về định nghĩa, mô tả đặc điểm, chất lƣợng,  
quy cách đóng gói và hoạt động quản lý các CDĐL liên quan đến các loại đồ uống có cồn.  
3.2. Pháp luật về quản lý chỉ dẫn địa lý tại Australia  
Tƣơng tự nhƣ một số quốc gia, quy định về quản lý CDĐL của Australia cũng thông qua  
nhiều cấp độ quản lý khác nhau gồm: các nhóm sản xuất trong khu vực có CDĐL tự quản lý  
lẫn nhau; các hiệp hội nghề nghiệp thực hiện quản lý CDĐL; cơ quan nhà nƣớc có thẩm  
quyền quản lý ở cấp vĩ mô liên quan tới bảo vệ quyền của các nhà sản xuất trong khu vực có  
CDĐL và chống cạnh tranh không lành mạnh10. Nhƣ vậy, các cấp độ quản lý của Australia  
đƣợc quy định khá chặt chẽ, vừa phát huy đƣợc tinh thần chủ động, trách nhiệm của từng  
nhà sản xuất, vừa phân tách rõ ràng các nội dung quản lý đối với từng cơ quan, tổ chức quản  
lý ở các cấp độ khác nhau. Theo quy định, Cục Sở hữu trí tuệ Australia (IP Australia) là cơ  
quan quản lý CDĐL phối hợp với Ủy ban Quản lý Cạnh tranh và Bảo vệ ngƣời tiêu dùng  
Australia (Australian Competition and Consumer Commission – ACCC).  
Theo quy định của Đạo luật Nhãn hiệu của Australia (Trade Marks Act), CDĐL chủ yếu  
đƣợc bảo hộ thông qua hệ thống nhãn hiệu chứng nhận (Certification Trade Mark System).  
Đối với việc đăng ký bảo hộ một nhãn hiệu chứng nhận thông thƣờng, các cơ quan có thẩm  
quyền sẽ căn cứ vào chất lƣợng, đặc tính và phƣơng pháp sản xuất của sản phẩm để quyết  
định có cấp nhãn hiệu chứng nhận cho sản phẩm đó hay không. Trong trƣờng hợp sản phẩm  
đó gắn với CDĐL, yếu tố về nguồn gốc đƣợc đặt ra và ACCC sẽ xây dựng những quy chế  
riêng cho việc bảo hộ, sử dụng và quản lý CDĐL đó. Chẳng hạn, CDĐL “The Australian  
Wild Abalone” cho sản phẩm bào ngƣ đƣợc bảo hộ dƣới dạng nhãn hiệu chứng nhận có bộ  
quy tắc về việc sử dụng và quản lý riêng đƣợc ACCC ban hành vào năm 2015. Theo đó, tổ  
chức quản lý CDĐL này đƣợc giao cho Hiệp hội Bào ngƣ Australia phối hợp cùng với Tập  
đoàn Nghiên cứu và Phát triển nghề cá11 cùng nhau sử dụng và quản lý CDĐL tại địa  
phƣơng với mục đích quảng bá, thúc đẩy sự phát triển của các sản phẩm mang CDĐL đến  
với ngƣời tiêu dùng trong nƣớc và nƣớc ngoài.  
10  
marks/types-trade-marks/certification-trade-mark/geographical, truy cập ngày 26/8/2021.  
11  
Abalone Coucil Australia Ltd (2015), Rules on the Use and Administration of the Australian Wild Abalone (AWA)  
Certification  
Trademark,  
cập ngày  
26/8/2021.  
truy  
343  
Ngoài ra, đối với các sản phẩm rƣợu và nho, Australia thực hiện việc bảo hộ và quản lý  
riêng thông qua hệ thống bảo hộ đặc biệt “Sui Generis” theo quy định của Đạo luật về thẩm  
quyền quản lý sản phẩm nho và rƣợu vang của Australia (Australian Grape and Wine  
Authority Act). Theo đó, Cơ quan quản lý sản phẩm nho và rƣợu vang Australia là cơ quan  
do Chính phủ thành lập, có vai trò điều phối hoặc tài trợ cho các chƣơng trình phát triển về  
nho và rƣợu vang, kiểm soát chất lƣợng của các sản phẩm rƣợu mang CDĐL, xúc tiến  
thƣơng mại cho các CDĐL về rƣợu trong và ngoài nƣớc. Tƣơng tự nhƣ các CDĐL đối với  
những sản phẩm khác, các CDĐL về rƣợu cũng đƣợc ban hành quy chế quản lý riêng.  
Chẳng hạn nhƣ CDĐL “Hilltops” cho sản phẩm rƣợu vùng Cootamundra, New South Wales  
có quy chế riêng do Hiệp hội Vƣờn nho Hilltops xây dựng năm 2006.  
3.3. Pháp luật về quản lý chỉ dẫn địa lý tại Việt Nam  
Khoản 4 Điều 121 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định Nhà nƣớc là chủ sở hữu và  
cũng là chủ thể có quyền quản lý CDĐL hoặc trao quyền quản lý CDĐL cho tổ chức đại  
diện quyền lợi của tất cả các tổ chức, cá nhân đƣợc trao quyền sử dụng CDĐL. Theo đó, Ủy  
ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng (UBND cấp tỉnh) tại nơi  
có khu vực địa lý tƣơng ứng với CDĐL có trách nhiệm quản lý CDĐL thuộc địa phƣơng, kể  
cả địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc đặc sản địa phƣơng12. Trong trƣờng hợp CDĐL  
thuộc nhiều địa phƣơng thì một trong những UBND cấp tỉnh sẽ là đại diện của các UBND  
cấp tỉnh nơi có khu vực địa lý tƣơng ứng với CDĐL. UBND cấp tỉnh cũng có thể trao quyền  
quản lý cho các cơ quan, tổ chức khác (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Khoa  
học và Công nghệ (Sở KH&CN), Chi cục tiêu chuẩn và Đo lƣờng chất lƣợng,…) hoặc  
UBND cấp dƣới (nhƣ UBND cấp huyện, UBND cấp xã)) nếu CDĐL thuộc phạm vi của một  
địa phƣơng.  
Về nội dung quản lý CDĐL, cơ quan, tổ chức quản lý CDĐL có quyền cho phép ngƣời  
khác sử dụng CDĐL (bao gồm các hoạt động nhƣ: (i) Gắn CDĐL đƣợc bảo hộ lên hàng  
hoá, bao bì hàng hoá, phƣơng tiện kinh doanh, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh  
doanh; (ii) Lƣu thông, chào bán, quảng cáo nhằm để bán, tàng trữ để bán hàng hoá có mang  
CDĐL đƣợc bảo hộ; (iii) Nhập khẩu hàng hoá có mang CDĐL đƣợc bảo hộ) và/hoặc ngăn  
12  
Xem thêm khoản 1 Điều 1 Nghị định số 122/2010/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ  
sung một số điều của Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và  
hƣớng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp.  
344  
cấm ngƣời khác sử dụng CDĐL đó theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam. “Ngƣời  
khác” theo quy định của luật là chủ thể không đủ điều kiện sử dụng CDĐL nhƣ: không ở  
trong vùng CDĐL, sản phẩm mang CDĐL không đáp ứng các tiêu chuẩn, đặc tính nhƣ đã  
đƣợc quy định, không đƣợc sự cho phép của cơ quan quản lý CDĐL,… Nhƣ vậy, nội dung  
pháp luật về quản lý CDĐL tại Việt Nam chủ yếu tập trung tới khía cạnh khai thác, sử dụng  
và bảo vệ quyền đối với CDĐL của cơ quan quản lý.  
Ngoài ra, nội dung quản lý CDĐL còn đƣợc quy định cụ thể theo các quy chế riêng đối  
với từng CDĐL tại mỗi địa phƣơng. Chẳng hạn, Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang đã ban  
hành Quyết định số 1401/QĐ-UBND ngày 25 tháng 06 năm 2014 về việc ban hành Quy chế  
quản lý và sử dụng CDĐL “Phú Quốc” cho sản phẩm nƣớc mắm. Theo đó, Quy chế quy  
định cơ quan, tổ chức quản lý CDĐL “Phú Quốc” cho sản phẩm nƣớc mắm bao gồm: Sở  
KH&CN tỉnh Kiên Giang, Ban Kiểm soát nƣớc mắm Phú Quốc và Hội Nƣớc mắm Phú  
Quốc. Trong đó, Hội Nƣớc mắm Phú Quốc là Hội nghề nghiệp tập hợp đông đảo các cá  
nhân, tổ chức khác trong cùng khu vực địa lý tự nguyện hợp tác và liên kết với nhau thực  
hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, bảo tồn và phát triển nghề nƣớc mắm truyền thống  
đã đƣợc bảo hộ dƣới dạng CDĐL13. Bên cạnh đó, Quy chế cũng quy định về các đặc tính  
chung của sản phẩm mang CDĐL; các yêu cầu cụ thể về quá trình sản xuất sản phẩm; các  
nguyên tắc quản lý; nội dung, kế hoạch quản lý; quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức  
sử dụng CDĐL cũng nhƣ quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức quản lý. Nhƣ vậy,  
pháp luật về quản lý CDĐL tại Việt Nam không chỉ bó hẹp trong quy định của luật mà khá  
linh hoạt trong việc xây dựng các quy chế quản lý riêng cho từng CDĐL cụ thể tƣơng tự  
nhƣ nhiều quốc gia trên thế giới.  
3.4. Bình luận về những điểm tương đồng và khác biệt của pháp luật về quản lý chỉ dẫn  
địa lý ở Việt Nam và một số quốc gia  
Những điểm tương đồng  
Trên cơ sở phân tích quy định của Pháp, Australia và Việt Nam về quản lý CDĐL, có  
thể thấy, điểm tƣơng đồng lớn nhất giữa các quốc gia này chính là đều rất quan tâm, chú  
trọng tới hoạt động quản lý CDĐL và đều ban hành ra các quy chế riêng biệt áp dụng cho  
từng CDĐL. Điều này là vô cùng hợp lý và cần thiết bởi mỗi CDĐL có nguồn gốc khác  
13  
Lƣơng Thanh Hải (2014), Sổ tay hướng dẫn quản lý và sử dụng chỉ dẫn địa lý Phú Quốc cho sản phẩm nước mắm,  
Công ty TNHH in và thƣơng mại Mê Linh, Hà Nội, tr.1.  
345  
nhau với những đặc tính riêng biệt nên nếu chỉ căn cứ chung vào quy định của luật thì sẽ rất  
khó cho các cơ quan quản lý trong việc xác định, đánh giá, quản lý từng CDĐL. Việc ban  
hành quy chế riêng và trao quyền cho các cơ quan, tổ chức ở địa phƣơng nơi có CDĐL làm  
tăng tính chủ động cũng nhƣ nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức đó  
trong việc sử dụng và quản lý CDĐL. Chẳng hạn, Pháp tuân thủ các quy chế chung của EU  
về quản lý CDĐL; Australia có Quy chế quản lý và sử dụng CDĐL “The Australian Wild  
Abalone” cho sản phẩm bào ngƣ, CDĐL “Hilltops” cho sản phẩm rƣợu vùng Cootamundra,  
New South Wales,…; Việt Nam có Quy chế quản lý và sử dụng CDĐL “Phú Quốc” cho sản  
phẩm nƣớc mắm, Quy chế phối hợp quản lý và sử dụng CDĐL “Ngọc Linh” cho sản phẩm  
sâm củ, Quy chế quản lý và sử dụng CDĐL “Huế” cho sản phẩm tinh dầu tràm,…  
Những điểm khác biệt  
Bên cạnh điểm tƣơng đồng trong việc ban hành quy chế riêng cho từng CDĐL, Pháp,  
Australia và Việt Nam cũng có những khác biệt trong quy định về quản lý CDĐL, cụ thể:  
Thứ nhất, về cấp độ và mức độ quản lý: Pháp và Australia là những nƣớc phát triển, đã  
xây dựng đƣợc một mô hình quản lý CDĐL rất chặt chẽ và hiệu quả, bao gồm ba cấp độ (tự  
quản lý, quản lý nội bộ, quản lý ngoại vi) quy định trong luật sở hữu trí tuệ của quốc gia  
mình. Trong khi đó, ở Việt Nam, pháp luật về sở hữu trí tuệ nói chung và CDĐL nói riêng  
còn khá non trẻ; các tổ chức nghề nghiệp ở Việt Nam cũng chƣa phát triển nên cấp độ quản  
lý chƣa đƣợc xây dựng rõ ràng nhƣ Pháp hay Australia và mức độ quản lý cũng không khắt  
khe nhƣ các quốc gia này. Chẳng hạn nhƣ Quy chế phối hợp quản lý và sử dụng CDĐL  
“Ngọc Linh” cho sản phẩm sâm củ của UBND tỉnh Kon Tum và tỉnh Quảng Nam chƣa xây  
dựng đƣợc thành các cấp độ quản lý cụ thể nhƣ các Pháp hay Australia, từ đó mà mức độ  
quản lý CDĐL này sẽ không chặt chẽ và kém hiệu quả trên thực tế.  
Thứ hai, về chủ thể quản lý: So với Pháp và Australia quy định cụ thể về chủ thể quản lý  
CDĐL phù hợp với các cấp độ quản lý khác nhau thì Việt Nam, theo quy định tại khoản 4  
Điều 121 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, Nhà nƣớc trực tiếp thực hiện quyền quản lý CDĐL  
hoặc trao quyền quản lý CDĐL cho tổ chức đại diện quyền lợi của tất cả các tổ chức, cá  
nhân đƣợc trao quyền sử dụng CDĐL. Quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số  
122/2010/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều  
của Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi  
346  
tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp cũng  
quy định: “UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiến hành nộp đơn đăng ký và  
tổ chức quản lý CDĐL cho các đặc sản của địa phương và cấp phép để đăng ký nhãn hiệu  
chứng nhận đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương”.  
Nhƣ vậy, chủ thể quản lý CDĐL tại Việt Nam vẫn còn quy định khá chung chung về thẩm  
quyền cũng nhƣ sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức này chƣa đƣợc đặt ra đã dẫn tới  
nhiều khó khăn, hạn chế trong thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật về quản lý CDĐL.  
4. Những đề xuất cho Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật về quản lý chỉ dẫn địa  
lý  
Trên cơ sở nghiên cứu so sánh với pháp luật của Pháp (một quốc gia tiêu biểu cho  
Truyền thống Civil Law) và Australia (một quốc gia tiêu biểu cho Truyền thống Common  
Law), có thể rút ra một số đề xuất góp phần hoàn thiện pháp luật về quản lý chỉ dẫn địa lý  
tại Việt Nam nhƣ sau:  
Thứ nhất, Việt Nam cần quy định cụ thể về cấp độ quản lý CDĐL và tiến hành quản lý  
toàn diện. Về nội dung này, Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm của Pháp và Australia.  
Đối với mỗi CDĐL, chúng ta cần phải ban hành một quy chế về bảo đảm chất lƣợng cũng  
nhƣ thiết lập một mô hình quản lý cụ thể đối với CDĐL đó. Việc quản lý CDĐL không chỉ  
bảo đảm thực hiện ở khâu sản xuất, chế biến, kiểm soát nguyên liệu đầu vào, kiểm định chất  
lƣợng sản phẩm,… mà còn phải đƣợc quản lý cả ở khâu tiêu thụ, phân phối và quảng bá sản  
phẩm. Tức là chúng ta không chỉ dừng lại ở hoạt động tự quản lý và quản lý nội bộ mà còn  
cần phải đẩy mạnh quản lý ngoại vi tƣơng tự nhƣ cách thức quản lý của Pháp và Australia.  
Điều này giúp cho các sản phẩm mang CDĐL không chỉ bảo đảm đƣợc những đặc tính, chất  
lƣợng nhƣ mô tả mà còn giảm thiểu và ngăn chặn kịp thời những hành vi xâm phạm quyền  
sở hữu trí tuệ.  
Thứ hai, Việt Nam cần quy định cụ thể về các cơ quan quản lý CDĐL và hoàn thiện nội  
dung về quản lý CDĐL. Nhƣ đã phân tích, cơ quan quản lý CDĐL của Việt Nam là UBND  
cấp tỉnh và cơ quan này có thể ủy quyền cho các cơ quan, tổ chức đủ điều kiện theo quy  
định thực hiện quản lý CDĐL. Tuy nhiên, pháp luật mới chỉ dừng lại ở việc quy định trách  
nhiệm, quyền hạn cho UBND cấp tỉnh mà chƣa có quy định cụ thể cho những cơ quan tổ  
chức đƣợc UBND cấp tỉnh trao quyền. Do đó, học tập kinh nghiệm của Pháp và Australia,  
347  
Việt Nam cần ban hành văn bản riêng để làm kim chỉ nam cho công tác quản lý CDĐL, góp  
phần vào việc thống nhất sự quản lý từ trung ƣơng đến địa phƣơng, và giữa các địa phƣơng  
với nhau trong hoạt động này. Bên cạnh đó, nội dung của quản lý CDĐL cũng phải ghi nhận  
cụ thể, rõ ràng để các cơ quan, tổ chức quản lý có thể tách bạch đƣợc quyền hạn và trách  
nhiệm của mình trong hoạt động quản lý. Đồng thời, cần quy định thêm về tính độc lập và  
trách nhiệm của các tổ chức quản lý tại nơi có CDĐL nhằm nâng cao năng lực của các tổ  
chức đó cũng nhƣ hiệu quả trong quản lý CDĐL tại địa phƣơng mình.  
Thứ ba,Việt Nam cần có sự phối hợp linh hoạt, đồng bộ giữa các cơ quan, tổ chức quản  
lý CDĐL, đặc biệt là tăng cường sự tham gia của các tổ chức nghề nghiệp địa phương nơi  
có CDĐL đó. Tính đồng bộ của hoạt động quản lý thể hiện ở chỗ cần có sự phối hợp linh  
hoạt giữa các cơ quan quản lý với nhau. Chẳng hạn nhƣ ở Pháp, bên cạnh INAO đóng vai  
trò đầu mối chỉ đạo thì còn có sự tham gia hỗ trợ của rất nhiều những cơ quan, tổ chức khác  
với mục đích bảo hộ và quản lý hiệu quả nhất các CDĐL của mình. Do đó, Việt Nam cần  
phải tăng cƣờng sự quản lý của các cơ quan từ UBND các cấp, các sở ban ngành cho đến  
những tổ chức nghề nghiệp, các hội, hiệp hội, tổ chức tập thể tại địa phƣơng nơi có CDĐL.  
Đặc biệt, về vấn đề trao quyền quản lý cho các tổ chức ngoài nhà nƣớc (nhƣ hội, hiệp hội, tổ  
chức tập thể,…) tại địa phƣơng, hiện nay ở Việt Nam có rất ít CDĐL mà tổ chức tập thể  
đóng vai trò nòng cốt, chủ đạo trong quá trình xây dựng và quản lý mà vẫn chủ yếu do cơ  
quan nhà nƣớc thực hiện. Điều này không phát huy đƣợc tinh thần chủ động, trách nhiệm và  
tự giác của mỗi cá nhân, tổ chức sản xuất, khiến cho CDĐL của địa phƣơng khó duy trì và  
phát triển. Vì vậy, trƣớc tiên các cơ quan có thẩm quyền cần hỗ trợ tổ chức tập thể, tổ chức  
nghề nghiệp nơi có CDĐL phát triển để đủ năng lực trong quản lý CDĐL, góp phần phát  
triển kinh tế - xã hội địa phƣơng.  
5. Kết luận  
CDĐL đƣợc coi là một trong những công cụ hữu hiệu để phát triển kinh tế - xã hội địa  
phƣơng nói chung và mặt hàng nông sản của địa phƣơng đó nói riêng. Tuy nhiên, pháp luật  
về quản lý CDĐL tại Việt Nam hiện nay còn tồn tại một số bất cập đòi hỏi phải khắc phục  
và hoàn thiện hơn nữa trong tƣơng lai. Để làm đƣợc điều này, chúng ta cần có sự tiếp thu  
kinh nghiệm về quy định và cách thức xây dựng mô hình quản lý CDĐL tại các quốc gia  
trên thế giới, từ đó vận dụng vào tình hình thực tiễn tại Việt Nam để lựa chọn và có những  
348  
bƣớc triển khai hiệu quả hơn trên thực tế, với mục tiêu không chỉ nhằm phát triển kinh tế địa  
phƣơng mà còn đƣa CDĐL của Việt Nam ra thế giới, góp phần khẳng định vị thế quốc gia  
trên trƣờng quốc tế.  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.  
Abalone Council Australia Ltd (2015), Rules on the Use and Administration  
the Australian Wild Abalone (AWA) Certification Trademark,  
of  
ules.pdf;  
2.  
Aurélia Marie, France: INPI approves three new geographical indications,  
3.  
Barbara Pick, Delphine Marie-Vivien (2021), Representativeness in  
Geographical Indications: A Comparison between the State-Driven and Producer-  
Driven Systems in Vietnam and France, Sustainability 2021, 13, 5056, p.5;  
4.  
Lê Thị Thu Hà, Quản lý chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam nhìn từ góc độ kinh nghiệm  
dan-dia-ly-o-viet-nam-nhin-tu-goc-do-kinh-nghiem-cua-cong-hoa-phap/1399.html;  
5.  
Lƣơng Thanh Hải (Chủ biên) (2014), Sổ tay hướng dẫn quản lý và sử dụng  
CDĐL Phú Quốc cho sản phẩm nước mắm, Công ty TNHH in và thƣơng mại Mê Linh,  
Hà Nội.  
6.  
central.com/en/service-public/inpi-french-national-institute-of-industrial-property/;  
7. IP Australia (2019), Geographical Indications,  
INPI – French National Institute of Industrial Property, https://french-tech-  
marks/certification-trade-mark/geographical;  
8.  
Irina Kireeva, Wang Xiaobing (2011), European Legislation on Protection of  
Geographical Indications – Overview of the EU Member States‟ Legal Framework for  
Protection of Geographical Indications, European Union.  
349  
9.  
Phạm Thanh Tuấn (2007), Đăng ký, quản lý và sử dụng CDĐL ở Việt Nam,  
Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.  
10. WIPO, Geographical Indications, https://www.wipo.int/geo_indications/en/.  
350  
pdf 13 trang Thùy Anh 13120 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu so sánh pháp luật về quản lý chỉ dẫn địa lý tại một số quốc gia trên thế giới và đề xuất cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_so_sanh_phap_luat_ve_quan_ly_chi_dan_dia_ly_tai_m.pdf