Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (Phần 2)

PHẦN 4  
TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ NGOÀI HỢP ĐỒNG  
Chương 7  
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM  
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG  
1. KHÁI NIỆM, ĐIỀU KIỆN VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CỦA TRÁCH  
NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG  
1.1. Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài  
hợp đồng  
Điều 604 Bộ luật dân sự 2005 quy định: Người nào có lỗi cố ý  
hoặc vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,  
uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm  
phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác  
mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.  
Như vậy, cơ sở của trách nhiệm bồi thường là những quy định của  
pháp luật (quy định những hậu quả pháp lý ngoài mong muốn của các  
chủ thể) không có sự thỏa thuận trước của các bên và chỉ phát sinh khi  
đảm bảo các điều kiện luật định.  
Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:  
- Một là, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một  
loại trách nhiệm pháp lý, nhưng nó không phải là hình phạt như trong  
Luật Hình sự hoặc các chế tài của Luật Hành chính mà là nghĩa vụ của  
người có nghĩa vụ nhằm khắc phục những thiệt hại xảy ra. Luật Hình sự  
quy định bồi thường thiệt hại là biện pháp tư pháp.  
- Hai là, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được áp  
dụng trong trường hợp giữa các bên (bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại)  
137  
không có quan hệ nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc việc gây ra thiệt hại  
không liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng (như hai bên  
ký hợp đồng vận chuyển hành khách, nhưng gây thiệt hại tính mạng, sức  
khỏe cho hành khách trên xe).  
- Ba là, trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì  
các quyền và nghĩa vụ của các bên do pháp luật quy định.  
1.2. Các điều kiện của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng  
Theo quy định tại điều 604 Bộ luật dân sự 2005 về nguyên tắc  
chung thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh  
khi có đầy đủ các yếu tố sau đây:  
1.2.1. Phải có thiệt hại xảy ra  
Thiệt hại là sự mất mát hoặc giảm sút những lợi ích vật chất hoặc  
tinh thần được pháp luật bảo vệ. Thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường  
thiệt hại ngoài hợp đồng phải là thiệt hại thực tế về tài sản hoặc tổn thất  
về tinh thần dẫn đến thiệt hại về tài sản có thể tính được bao gồm:  
1.2.1.1. Thiệt hại về vật chất  
- Những chi phí phải bỏ ra (chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế,  
khắc phục thiệt hại) như viện phí trong trường hợp sức khỏe bị xâm hại,  
mai táng phí cho người chết,…  
- Những hư hỏng, mất mát về tài sản như chi phí sửa chữa tài sản,  
mua tài sản mới để bồi thường cho người bị thiệt hại,…  
- Thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút như thu nhập bị mất do bị  
thiệt hại,…  
1.2.1.2. Thiệt hại tinh thần (tổn thất tinh thần)  
Đời sống tinh thần là một phạm trù rất rộng, bao gồm nhiều vấn đề  
và chỉ tồn tại đối với xã hội loài người như góa bụa, mồ côi, xấu hổ,... Về  
nguyên tắc, không thể tính được bằng tiền như trao đổi ngang giá và  
không thể phục hồi được. Với mục đích an ủi, động viên đối với người bị  
thiệt hại tinh thần, đồng thời răn đe ngăn chặn đối với những người có  
hành vi trái pháp luật, Bộ luật dân sự 1995 không quy định cụ thể mức  
138  
bồi thường mà tùy theo từng trường hợp Tòa án xem xét quyết định nếu  
có yêu cầu. Bộ luật dân sự 2005 quy định nếu các bên không thỏa thuận  
được thì Tòa án quyết định theo mức sau:  
- Thiệt hại về sức khỏe thì mức bồi thường thiệt hại tinh thần do  
các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không  
được vượt quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định vào thời  
điểm bồi thường.  
- Thiệt hại về tính mạng thì mức bồi thường thiệt hại tinh thần do  
các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không  
được vượt quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định vào thời  
điểm bồi thường.  
- Thiệt hại về danh dự, nhân phẩm thì mức bồi thường thiệt hại tinh  
thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa  
không được vượt quá 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định vào  
thời điểm bồi thường.  
Khi xác định thiệt hại là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi  
thường thiệt hại ngoài hợp đồng chúng ta cần chú ý như sau :  
Thứ nhất, thiệt hại phải được tính toán một cách cụ thể, rõ ràng, chi  
tiết để làm cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp  
đồng có phát sinh hay không, cũng là cơ sở để ấn định mức bồi thường.  
Thứ hai, thiệt hại phải đánh giá một cách khách quan, thiện chí.  
Thứ ba, thiệt hại do người khác gây ra có thể là trực tiếp hoặc  
gián tiếp.  
1.2.2. Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật  
Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được  
thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy  
định của pháp luật. Hành động hay không hành động đều là xử sự của  
con người, có ý chí và được lý trí kiểm soát xâm phạm những quan hệ  
được pháp luật bảo vệ. Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp  
139  
đồng thì hành vi gây thiệt hại phải là hành vi trái pháp luật, xâm phạm  
các khách thể được pháp luật bảo vệ như tính mạng, sức khỏe, tài sản,  
danh dự, nhân phẩm. Như vậy, hành vi trái pháp luật có thể là vi phạm  
hình sự, vi phạm pháp luật dân sự hoặc vi phạm các quy tắc quản lý hành  
chính,... Đối với những trường hợp mặc dù gây thiệt hại thực tế nhưng  
hành vi gây thiệt hại không trái pháp luật thì người gây thiệt hại không  
phải bồi thường như gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết, phòng vệ chính  
đáng (Điều 613, Điều 614). Khi xem xét hành vi của người gây thiệt hại  
có trái pháp luật hay không cần phải căn cứ vào pháp luật nói chung và  
các quy định của pháp luật dân sự nói riêng.  
1.2.3. Phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại  
Người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi  
họ có lỗi. Điều 604 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Người nào do lỗi cố ý  
hoặc vô ý gây thiệt hại thì phải bồi thường”.  
Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối hành vi của mình và hậu  
quả do hành vi mang lại. Do vậy, theo quy định tại khoản 2, Điều 308,  
Bộ luật dân sự 2005 quy định lỗi được biểu hiện dưới hai hình thức: cố ý  
gây thiệt hại và vô ý gây thiệt hại.  
Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi  
của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong  
muốn hoặc không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.  
Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành  
vi của mình có khả năng gây thiệt hại mặc dù phải biết hoặc có thể biết  
trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng  
gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn  
chặn được.  
Cần chú ý là đối với trường hợp pháp luật có quy định việc bồi  
thường thiệt hại cả khi không có lỗi thì trách nhiệm bồi thường của người  
gây thiệt hại trong trường hợp này được thực hiện theo quy định của văn  
bản quy phạm pháp luật đó.  
Lỗi trong trách nhiệm dân sự trong một số trường hợp có thể được  
140  
suy đoán bởi lẽ hành vi gây thiệt hại trái pháp luật nên người thực hiện  
hành vi đó bị suy đoán là có lỗi. Nếu những người gây thiệt hại chứng  
minh được mình không có lỗi thì không phải chịu trách nhiệm bồi thường  
(trừ trường hợp pháp luật có quy định khác). Nếu người giám hộ chứng  
minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài  
sản của mình để bồi thường.  
1.2.4. Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái  
pháp luật  
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi  
thiệt hại xảy ra là do chính kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật. Đây  
là mối quan hệ của sự vận động nội tại và nguyên nhân luôn phải diễn ra  
trước kết quả trong một thời gian nhất định. Tuy nhiên, trong thực tế một  
thiệt hại xảy ra có thể do một nguyên nhân nhưng cũng có thể do nhiều  
nguyên nhân khác nhau, nếu chưa xác định được hành vi trái pháp luật  
làm nguyên nhân gây ra thiệt hại thì chưa buộc người có hành vi đó phải  
bồi thường.  
Khi xác định nguyên nhân gây ra thiệt hại cần xác định nguyên  
nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp,... và phân biệt nguyên nhân với  
điều kiện để làm cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường. Chẳng hạn, vào  
lúc trời mưa lái xe A để toàn bộ hành khách ngồi trên xe xuống phà do  
trục trặc nên toàn bộ xe và hành khách trên xe rơi xuống sông bị thiệt hại,  
còn nhân viên bến phà trực hôm đó thấy trời mưa bỏ vị trí vào trong  
phòng ngủ trưa (cần xem xét các nguyên nhân gây ra thiệt hại).  
1.3. Các nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng  
Theo Nghị quyết 03/ NQ-HĐTP-TANDTC ngày 08 tháng 07 năm  
2005, khi giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng  
cần phải thực hiện đúng nguyên tắc bồi thường thiệt hại quy định tại  
Điều 605 Bộ luật dân sự. Cần phải tôn trọng thỏa thuận của các bên về  
mức bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường, nếu  
thỏa thuận đó không trái pháp luật, đạo đức xã hội.  
Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được thì khi giải quyết  
tranh chấp về bồi thường thiệt ngoài hợp đồng cần chú ý:  
141  
Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ có nghĩa là khi có yêu cầu  
giải quyết bồi thường thiệt hại do tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự,  
nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm phải căn cứ vào các điều luật tương ứng  
của Bộ luật dân sự quy định trong trường hợp cụ thể đó thiệt hại bao gồm  
những khoản nào và thiệt hại đã xảy ra là bao nhiêu, mức độ lỗi của các  
bên để buộc người gây thiệt hại phải bồi thường các khoản thiệt hại  
tương xứng đó. Đây là nguyên tắc quan trọng của trách nhiệm bồi thường  
thiệt hại ngoài hợp đồng. Việc bồi thường toàn bộ nhằm khôi phục lại  
tình trạng ban đầu của người bị thiệt hại, đồng thời bồi thường kịp thời để  
khắc phục nhanh những thiệt hại đã xảy ra.  
Thiệt hại có thể được bồi thường kịp thời để nhanh chóng khắc  
phục những hậu quả xấu. Rất nhiều trường hợp do không bồi thường kịp  
thời để lại cho nạn nhân những hậu quả xấu như di chứng, tai biến thậm  
chí tử vong, Tòa án phải giải quyết nhanh chóng yêu cầu đòi bồi thường  
thiệt hại trong thời hạn luật định. Trong trường hợp cần thiết có thể phải  
áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của  
pháp luật tố tụng để giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự.  
Người gây thiệt hại chỉ có thể được giảm mức bồi thường khi có đủ  
hai điều kiện sau đây:  
- Thứ nhất, lỗi vô ý mà gây thiệt hại.  
- Thứ hai, thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt  
và lâu dài của người gây thiệt hại, có nghĩa là thiệt hại xảy ra mà họ có  
trách nhiệm bồi thường so với hoàn cảnh kinh tế trước mắt của họ cũng  
như về lâu dài họ không thể có khả năng bồi thường được toàn bộ hoặc  
phần lớn thiệt hại đó.  
Khi mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp với thực tế, có  
nghĩa là do có sự thay đổi về tình hình kinh tế, xã hội, sự biến động về  
giá cả mà mức bồi thường đang thực hiện không còn phù hợp trong điều  
kiện đó hoặc do có sự thay đổi về tình trạng thương tật, khả năng lao  
động của người bị thiệt hại cho nên mức bồi thường thiệt hại không còn  
phù hợp với sự thay đổi đó hoặc do có sự thay đổi về khả năng kinh tế  
của ngưòi gây thiệt hại,…  
142  
1.4. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân  
Trong thực tế người gây thiệt hại có thể là bất kỳ cá nhân nào  
(người đủ 18 tuổi, người mắc bệnh tâm thần, người chưa đủ 18 tuổi,...)  
nhưng không phải người nào cũng đủ khả năng bồi thường. Điều 606 của  
Bộ luật dân sự 2005 phân biệt năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt  
hại dựa vào lứa tuổi, năng lực hành vi và khả năng kinh tế của họ như  
sau:  
Người từ đủ 18 tuổi có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của  
mình gây thiệt hại cho người khác thì phải tự bồi thường. Người gây thiệt  
hại là bị đơn dân sự, trừ khi họ mất năng lực hành vi dân sự.  
Người dưới 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha mẹ thì cha mẹ phải bồi  
thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha mẹ không đủ để bồi thường  
mà con có tài sản riêng thì phải bồi thường phần còn thiếu (trừ trường  
hợp quy định tại Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2005). Trong trường hợp  
này thì cha, mẹ của người gây thiệt hại là bị đơn dân sự.  
Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi  
thường bằng tài sản của mình, nếu tài sản của người đó không đủ thì cha  
mẹ phải bồi thường phần còn thiếu. Trong trường hợp này thì người gây  
thiệt hại là bị dân sự và cha, mẹ của người gây thiệt hại là người có  
quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan.  
Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây  
thiệt hại mà có cá nhân, tổ chức giám hộ thì cá nhân, tổ chức đó được  
dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường. Nếu người được  
giám hộ không có hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ  
phải bồi thường bằng tài sản của mình, trừ trường hợp người giám hộ  
chứng minh mình không có lỗi trong giám hộ thì không phải lấy tài sản  
của mình để bồi thường. Trong trường hợp này thì cá nhân, tổ chức giám  
hộ là bị đơn dân sự.  
1.5. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại  
Theo quy định tại mục 6 Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08  
tháng 07 năm 2006 quy định việc xác định thời hiệu khởi kiện yêu cầu  
bồi thường thiệt hại được thực hiện như sau:  
143  
Đối với những trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát  
sinh kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2005 (ngày Bộ luật tố tụng dân sự có  
hiệu lực), thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là hai năm,  
kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể  
khác bị xâm phạm (theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật  
Tố tụng dân sự năm 2010) là hai năm kể từ thời điểm biết được quyền và  
lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.  
Đối với những trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát  
sinh trước ngày 01 tháng 01 năm 2005, thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu  
bồi thường thiệt hại là hai năm, kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2005.  
2. XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI  
Xác định thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp  
đồng có ý nghĩa rất quan trọng vì đây là cơ sở để cơ quan nhà nước có  
thẩm quyền quyết định mức bồi thường. Thiệt hại đây là một trong  
những vấn đề cốt lõi của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp  
đồng. Tuy nhiên, xác định thiệt hại còn có ý nghĩa quan trọng trong việc  
ấn định mức bồi thường.  
2.1. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm  
Theo quy định Điều 163 Bộ luật dân sự 2005, tài sản bao gồm vật,  
tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Điều 608 Bộ luật dân sự 2005  
quy định trong trường hợp tài sản bị xâm phạm thì người xâm phạm bồi  
thường các khoản sau:  
Trường hợp tài sản bị mất, bị huỷ hoại: Trường hợp này tài sản  
không còn nữa, việc xác định thiệt hại căn cứ vào giá trị tài sản cùng  
loại(trên cơ sở khấu hao giá trị sử dụng của tài sản đó). Tuy nhiên, việc  
xác định này chỉ có tính tương đối. Chẳng hạn, A làm mất chiếc xe môtô  
của B, B đã sử dụng 3 năm. Giá thị trường xe môtô cùng loại là 30 triệu  
đồng, mức khấu hao trung bình sử dụng 3 năm là 25%, nên xác định thiệt  
hại là 22,5 triệu đồng.  
Tài sản bị hư hỏng: Tài sản bị hư hỏng ta hình dung ngay là tài sản  
không còn nguyên hiện trạng như ban đầu vì vậy để khắc phục hậu quả  
144  
đó cần bỏ ra một tiền phí để sửa chữa, thay thế. Việc sửa chữa hay thay  
thế đảm bảo nguyên trạng như thời điểm trước khi gây thiệt hại. Vật thay  
thế phải đồng bộ với tài sản bị hư hỏng.  
Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản: Bất kỳ tài sản  
nào cũng có lợi ích gắn liền vì vậy, khi xâm phạm đến tài sản mà tài sản  
có chứa đựng những lợi ích sử dụng và khai thác tài sản thì gây thiệt hại  
phải bồi thường. Tuy nhiên, cần chú ý đến lợi ích phải có thực không  
mang tính chất suy đoán. Ví dụ: Anh A đến doanh nghiệp M chuyên cho  
thuê xe tự lái, thuê một xe ôtô 4 chỗ ngồi với giá mỗi ngày 600.000 đồng.  
Trong quá trình điều khiển A không làm chủ tốc độ và gây tai nạn, xe A  
thuê phải sửa chữa mất một tháng. Trong trường hợp trên doanh nghiệp  
ngoài việc yêu cầu A bồi thường tài sản hư hỏng phải sửa chữa, doanh  
nghiệp còn có quyền yêu cầu bồi thường lợi ích gắn liền với việc sử  
dụng, khai thác tài sản (theo mức độ trung bình của thời gian trước đó).  
Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại: Đối  
với một số trường hợp người bị thiệt hại đã bỏ ra chi phí để ngăn chặn,  
hạn chế và khắc phục và không cho nó phát sinh thì người gây thiệt hại  
phải bồi thường. Ví dụ: Thuê xe cần cẩu để trục, vớt phương tiện  
bị chìm,..  
2.2. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm  
a. Chi phí hợp lý cho việc cứu chưa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe  
và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm:  
Tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y  
tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang,  
chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu,… theo  
chỉ định của bác sĩ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi  
dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sĩ;  
các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các  
chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng  
chống và khắc phục thẩm mỹ để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng  
của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại nếu có. Trong  
một số trường hợp người bị xâm phạm sức khoẻ cần thiết phải đi nước  
145  
ngoài để điều trị thì khi giải quyết toà án có thể trưng cầu giám định để  
xác định thiệt hại và chi phí điều trị cho hợp lý.  
b. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giám sút của người bị thiệt hại.  
Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực  
tế, nhưng do sức khỏe bị xâm phạm họ phải đi điều trị và sau đó khoản  
thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút thì họ được bồi thường  
khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.  
Thu nhập thực tế của người bị thiệt hại được xác định như sau:  
- Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu  
nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao  
động thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi  
người đó bị xâm phạm sức khỏe nhân với thời gian điều trị để xác định  
khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.  
- Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại có việc  
làm và hàng tháng có thu nhập thực tế nhưng mức thu nhập của các tháng  
khác nhau, thì lấy mức thu nhập bình quân của 6 tháng liền kề (nếu chưa  
đủ 6 tháng thì tất cả các tháng) trước khi sức khỏe bị xâm phạm nhân với  
thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị  
thiệt hại.  
- Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu  
nhập thực tế, nhưng không ổn định và không thể xác định được, thì áp  
dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại nhân với thời gian  
điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.  
- Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại chưa làm  
việc và chưa có thu nhập thực tế thì không được bồi thường theo quy  
định tại điểm b khoản 1 Điều 609 Bộ luật dân sự.  
Xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị  
thiệt hại được thực hiện như sau:  
- Bước một: Xác định thu nhập thực tế của người bị thiệt hại trong  
thời gian điều trị có hay không, nếu có thì tổng thu nhập là bao nhiêu.  
- Bước hai: Lấy tổng thu nhập thực tế mà người bị thiệt hại có được  
146  
trong thời gian điều trị so sánh với thu nhập thực tế tương ứng được xác  
định. Nếu không có khoản thu nhập thực tế nào của người bị thiệt hại  
trong thời gian điều trị thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị mất,  
nếu thấp hơn thì thì khoản chênh lệch đó là thu nhập thực tế của người bị  
thiệt hại bị giảm sút, nếu cân bằng thì thu nhập thực tế của người bị thiệt  
hại không bị mất.  
Ví dụ về thu nhập bị mất: Anh A làm nghề sửa xe máy tự do. Thu  
nhập thực tế của A trước khi sức khỏe bị xâm phạm là ổn định, trung  
bình mỗi tháng là một triệu đồng. Do sức khỏe bị xâm phạm, A phải điều  
trị nên không có khoản thu nhập nào trong trường hợp này thu nhập thực  
tế của A bị mất.  
Ví dụ về thu nhập bị giảm sút: B làm công nhân cho một công ty  
trách nhiệm hữu hạn, thu nhập thực tế trước khi sức khỏe bị xâm phạm là  
ổn định, trung bình mỗi tháng là 600.000 đồng. Do sức khỏe bị xâm  
phạm, B phải điều trị và trong thời gian điều trị công ty trả cho B 50%  
tiền lương là 300.000 đồng. Trong trường hợp này thu nhập thực tế của  
B mỗi tháng giảm sút 300.000 đồng.  
Ví dụ về thu nhập không thay đổi: Anh C là công chức có thu nhập  
hàng tháng ổn định 500.000 ngàn đồng. Do sức khỏe bị xâm phạm, C  
phải điều trị và trong thời gian điều trị cơ quan vẫn trả đủ các khoản thu  
nhập cho C, trong trường hợp này thu nhập thực tế của C không bị mất.  
Thực tế việc xác định này chỉ mang tính chất tuơng đối dựa trên cơ  
sở “thu nhập thường xuyên ổn định” còn đối với một số ngành nghề đặc  
thù thì người bị thiệt hại luôn bị thiệt thòi, chẳng hạn như ca sĩ, nghệ sĩ  
múa, nghệ nhân,…hay được mời tham gia các công việc có thu nhập  
thậm chí rất cao.  
- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm  
sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.  
Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời  
gian điều trị bao gồm: tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung  
bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí (nếu có) cho một trong  
147  
những người chăm sóc cho người bị thiệt hại trong thời gian điều trị do  
cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ sở y tế.  
Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại  
trong thời gian điêu trị được xác định như sau:  
- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có thu nhập thực tế ổn định  
từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động thì căn cứ  
vào mức lương, tiên công của tháng liền kề trước khi ngưòi đó phải đi  
chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định  
khoản thu nhập thực tế bị mất.  
- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng  
có thu nhập ổn định nhưng có mức thu nhập khác nhau thì lấy mức thu  
nhập trung bình của 6 tháng liên kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả  
các tháng) trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân  
với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.  
- Nếu người chăm sóc không có việc làm hoặc có tháng làm việc có  
tháng không và do đó không có thu nhập ổn định thì được hưởng tiền  
công chăm sóc bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc  
người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú.  
- Nếu trong thời gian chăm sóc người bị thiệt hại, người chăm sóc  
vẫn được cơ quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao  
động theo quy định của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội thì họ không  
bị mất thu nhập thực tế và do đó không được bồi thường.  
Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng  
lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại  
không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai  
chân, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có  
thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn tù 81% trở  
lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị  
thiệt hại.  
- Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại bao gồm: chi  
phí hợp lý hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị người thiệt hại và chi  
phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại.  
148  
- Chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt  
hại được tính bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc  
người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú. Về nguyên tắc,  
chỉ tính bồi thường thiệt hại cho một người chăm sóc người bị thiệt hai  
do mất khả năng lao động.  
2.3. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm  
Trong trường hợp tính mạng bị xâm phạm thì phải bồi thường các  
khoản sau:  
- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc người bị  
thiệt hại trước khi chết.  
Chi phí hợp lý cho việc mại táng bao gồm: các khoản tiền mua  
quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương,  
nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi phí khác phục vụ cho việc chôn  
cất hoặc hoả táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu  
cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ, thuê  
thầy cúng hoặc cúng bái linh đình,...  
Khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có  
nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết.  
- Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị  
thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi tính mạng bị xâm phạm  
người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Những  
người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản  
tiền cấp dưỡng tương ứng đó. Đối với những người mà người bị thiệt hại  
đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị  
xâm phạm tính mạng, thì những người này được bồi thường khoản tiền  
cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người  
phải bồi thường và nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường.  
Thời điểm cấp dưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị  
xâm phạm.  
Đối tượng được bồi thương khoản tiền cấp dưỡng bao gồm:  
- Vợ hoặc chồng không có khả năng lao động, không có tài sản để  
149  
tự nuôi mình và được chồng hoặc vợ là người bị thiệt hại đang thực hiện  
nghĩa vụ nuôi dưỡng;  
- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả  
năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình là cha, mẹ là người bị  
thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;  
- Vợ hoặc chồng sau khi ly hôn đang được bên kia (chồng hoặc vợ  
trước khi ly hôn) là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;  
- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng  
lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha hoặc mẹ không trực  
tiếp nuôi dưỡng là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;  
- Em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã  
thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình  
trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao  
động không có tài sản để cấp dưỡng cho con được anh, chị đã thành niên  
không sống chung với em là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ  
cấp dưỡng;  
- Anh, chị không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi  
mình mà em đã thành niên không sống chung với anh, chị là người bị  
thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;  
- Cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng  
lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không còn người khác cấp  
dưỡng mà ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu là người  
bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;  
- Ông bà nội, ông bà ngoại không có khả năng lao động, không có  
tài sản để tự nuôi mình và không có ngưòi khác cấp dưỡng mà cháu đã  
thành niên không chung sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại là  
người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.  
Thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do sức khỏe, tính mạng bị  
xâm phạm.  
Trong mọi trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng  
lao động, thì người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền bồi thường cho  
150  
đến khi chết.  
Đối với việc cấp dưỡng chấm dứt khi thuộc một trong các trường  
hợp quy định tại Điều 61 Luật Hôn nhân và gia đình.  
2.4. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm  
Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm gồm có thiệt  
hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm; thiệt hại do  
danh dự, uy tín của tổ chức bị xâm phạm.  
a. Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại bao gồm: chi phí  
cần thiết cho việc thu hồi ấn phẩm có nội dung xúc phạm danh dự, nhân  
phẩm, uy tín của người bị thiệt hại; chi phí cho việc thu thập tài liệu,  
chứng cứ chứng minh danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm; tiền tàu  
xe đi lại, thuê nhà trọ (nếu có) theo giá trung bình ở địa phương nơi thực  
hiện việc chi phí để yêu cầu cơ quan chức năng xác minh sự việc, cải  
chính trên các phương tiện thông tin đại chúng; chi phí tổ chức xin lỗi,  
cải chính công khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị thiệt hại  
và các chi phí thực tế, khắc phục thiệt hại (nếu có).  
b. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.  
- Nếu trước khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, người bị  
xâm phạm phải thực hiện những công việc để hạn chế, khắc phục thiệt  
hại, nên khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ  
được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.  
- Việc xác định thu nhập thục tế của người bị xâm phạm và việc  
xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị xâm phạm  
được thực hiện theo như trường hợp sức khỏe bị xâm phạm.  
2.5. Thiệt hại tinh thần (tổn thất tinh thần)  
Trong trường hợp tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm uy tín  
bị xâm phạm thì người gây thiệt hại còn phải bồi thường một khoản tiền  
để bù đắp tinh thần nhằm mục đích an ủi, động viên tạo điều kiện thêm  
để họ khắc phục khó khăn làm dịu bớt nỗi đau cho người thân và bản  
thân người bị thiệt hại.  
151  
a. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm  
được bồi thường cho chính người bị thiệt hại.  
Trong mọi trường hợp, khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt  
hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Việc xác  
định mức độ tổn thất về tinh thần cần căn cứ vào sự ảnh hưởng đến nghề  
nghiệp, thẩm mỹ, giao tiếp xã hội, sinh hoạt gia đình và cá nhân,… Mức  
bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại  
trước hết do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được, thì mức bồi  
thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại phải  
căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 30 tháng  
lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết  
bồi thường.  
b. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm  
Nguời được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trong  
trường hợp này là những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất  
của người bị thiệt hại bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con  
đẻ, con nuôi của người bị thiệt hại  
Trường hợp không có những người nêu trên thì người được nhận  
khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là người mà người bị thiệt hại đã  
trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại.  
Trong mọi trường hợp, khi tính mạng bị xâm phạm, những người  
thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất hoặc người mà người bị thiệt hại  
đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt  
hại (sau đây gọi chung là người thân thích) của người bị thiệt hại được  
bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Việc xác định mức độ  
tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào địa vị của người bị thiệt hại trong  
gia đình, mối quan hệ trong cuộc sống giữa người bị thiệt hại và những  
người thân thích của người bị thiệt hại,…  
Mức bồi thường chung khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần  
trước hết do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được, thì mức bồi  
thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho tất cả những người  
152  
thân thích của người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh  
thần, số lượng người thân thích của họ, nhưng tối đa không quá 60 tháng  
lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết  
bồi thường.  
c. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do danh dự, nhân phẩm,  
uy tín bị xâm phạm.  
Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy  
tín bị xâm phạm được bồi thường cho chính người bị xâm phạm.  
Trong mọi trường hợp khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm  
phạm, người bị xâm phạm được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về  
tinh thần. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào  
hình thức xâm phạm (bằng lời nói hay đăng trên báo viết hay báo  
hình…), hành vi xâm phạm, mức độ lan truyền thông tin xúc phạm,..  
Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho ngưòi bị  
xâm phạm trước hết do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được,  
thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào  
mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 10 tháng lương tối  
thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.  
3. TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI VÀ TRÁCH NHIỆM RIÊNG RẼ  
3.1. Trách nhiệm liên đới  
Nghĩa vụ phát sinh do hành vi trái pháp luật làm phát sinh trách  
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, trong trách nhiệm  
bồi thường có thể bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại chỉ bao gồm một  
chủ thể (A đánh B gây thương tích), nhưng cũng có nhiều trường hợp bên  
gây thiệt hại hoặc bên bị thiệt hại gồm nhiều chủ thể khác nhau (A rủ C  
đánh B gây thương tích).  
Trách nhiệm liên đới là trách do nhiều người phải thực hiện và  
người có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa  
vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.  
Cơ sở phát sinh trách nhiệm liên đới do thỏa thuận của các bên  
153  
hoặc do pháp luật quy định. Bộ luật dân sự 2005 quy định những trường  
hợp phát sinh nghĩa vụ dân sự liên đới:  
Khoản 2 Điều 110 quy định: “Nếu tài sản chung của hộ gia đình  
không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của hộ thì các thành viên phải  
liên đới chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng của mình”, Điều 616  
“Trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó  
phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường  
của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ  
lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi  
thường thiệt hại theo phần bằng nhau” và các Điều 117 khoản 2, Điều  
618 Bộ luật dân sự năm 2005,...  
Mục đích của trách nhiệm liên đới buộc những người có nghĩa vụ  
phải cùng nhau gánh vác toàn bộ nghĩa vụ dân sự để đảm bảo lợi ích cho  
bên có quyền được trọn vẹn kể cả khi có một hoặc một số người có nghĩa  
vụ không có khả năng thực hiện.  
Việc thực hiện nghĩa vụ liên đới bao gồm các nội dung sau:  
- Trong trường hợp một người có nghĩa vụ liên đới đã thực hiện  
toàn bộ nghĩa vụ đối với bên có quyền thì nghĩa vụ dân sự chấm dứt kể  
cả có một hoặc một số người chưa thực hiện, phát sinh nghĩa vụ hoàn lại  
giữa những người có nghĩa vụ liên đới khác. Nếu một hoặc một số người  
có nghĩa vụ liên đới đã thực hiện xong phần nghĩa vụ liên đới đối với  
mình, còn một số người có nghĩa vụ khác chưa thực hiện thì nghĩa vụ dân  
sự liên đới chưa chấm dứt.  
- Trong trường hợp người có quyền đã chỉ định một trong số những  
người có nghĩa vụ dân sự liên đới thực hiện toàn bộ nghĩa vụ dân sự,  
nhưng sau đó lại miễn cho người đó, thì những người còn lại cũng được  
miễn thực hiện nghĩa vụ; nếu chỉ miễn việc thực hiện cho một số người  
thì những người còn lại vẫn phải liên đới thực hiện phần nghĩa vụ  
của mình.  
154  
Ví dụ: A và B có nghĩa vụ liên đới phải bồi thường cho ông K 22  
triệu đồng (trong đó mỗi người chịu một nửa). Trong trường hợp này  
ông K yêu cầu A phải bồi thường toàn bộ thiệt hại là 22 triệu, sau đó  
miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho A thì B cũng không phải thực hiện  
nghĩa vụ đối với ông K nữa. Nếu ông K chỉ miễn phần cho B về điều kiện  
kinh tế quá khó khăn thì A vẫn phải thực hiện nghĩa vụ là 11 triệu đồng.  
- Trong trường hợp theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp  
luật mà có nhiều người có quyền liên đới thì mỗi người đều có quyền yêu  
cầu người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ đối với mình. Khi  
người có nghĩa vụ đã thực hiện xong nghĩa vụ liên đới với một trong số  
những người có quyền liên đới thì nghĩa vụ dân sự chấm dứt và phát sinh  
nghĩa vụ dân sự hoàn lại giữa những người có quyền. Chẳng hạn, A và B  
đều có quyền yêu cầu K phải trả 20 triệu đồng, thì A hoặc B đều có  
quyền yêu cầu K phải trả cho mình 20 triệu đồng và K trả cho A hoặc B  
cả 20 triệu đồng đều được. Sau khi K trả song số tiền trên thì phát sinh  
nghĩa vụ hoàn lại giữa A và B.  
3.2. Trách nhiệm riêng rẽ  
Khi nhiều người cùng thực hiện một nghĩa vụ nhưng mỗi người có  
một phần nghĩa vụ nhất định và riêng rẽ với nhau, thì mỗi người chỉ phải  
thực hiện phần nghĩa vụ riêng.  
Bản chất của nghĩa vụ riêng rẽ là không có sự liên quan lẫn nhau  
giữa những người cùng thực hiện nghĩa vụ cũng như trong việc thực hiện  
quyền yêu cầu của người có quyền. Nghĩa vụ được xác định riêng rẽ bởi  
vì người nào thực hiện xong phần nghĩa vụ của mình thì nghĩa vụ của  
người đó đối với người có quyền chấm dứt.  
Ví dụ: Do thù hằn với C nên A đã rủ B đánh C gây thương tích. Sau  
khi đánh C bị ngất A và B bỏ về, đi được một đoạn A nói B về trước rồi  
quay lại lấy chiếc vòng vàng đeo cổ của C. Sau đó A bán chiếc vòng trên  
được 1,8 triệu đồng và chiếm đoạt toàn bộ (B hoàn toàn không biết).  
Trong trường hợp này A và B phải chịu trách nhiệm liên đới bồi  
thường thiệt hại sức khỏe cho C, còn bồi thường tài sản cho của C thì  
đây là trách nhiệm của A.  
155  
Chương 8  
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG MỘT SỐ  
TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ  
1. BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NHÀ  
NƯỚC GÂY RA VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CÓ  
THẨM QUYỀN CỦA CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG GÂY RA  
(Điều 619, Điều 620)  
Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức phải bồi thường thiệt  
hại do cán bộ, công chức của mình gây ra trong khi thi hành công vụ. Cơ  
quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức có trách nhiệm yêu cầu cán bộ,  
công chức phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu  
cán bộ, công chức có lỗi trong khi thi hành công vụ.  
Mặc dù Bộ Luật dân sự đã quy định, thực tế việc bồi thường chủ  
yếu cho người bị oan trong tố tụng hình sự theo Nghị quyết  
388/2003/UBTVQH11 quy định về bồi thường thiệt hại cho người bị oan  
do người thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự. Hiện nay, việc bồi  
thường căn cứ vào Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước  
(TNBTCNN) 2009 và các văn hướng dẫn thi hành.  
Phạm vi và đối tượng được bồi thường:  
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chỉ quy định trách  
nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính và tư  
pháp. Như vậy, các thiệt hại do hoạt động xây dựng pháp luật gây ra chưa  
được Nhà nước bồi thường. Luật còn quy định trách nhiệm bồi thường  
của Nhà nước đối với các thiệt hại gây ra trong quá trình thi hành án dân  
sự và hình sự. Cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, tổn thất về tinh  
thần mà thuộc các trường hợp đã được quy định trong Luật TNBTCNN  
thì Nhà nước bồi thường. Cá nhân, tổ chức được hiểu bao gồm cả cá  
nhân, tổ chức Việt Nam và cá nhân, tổ chức nước ngoài được thành lập  
và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.  
156  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 46 trang Thùy Anh 8421 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_luat_dan_su_viet_nam_phan_2.pdf