Sử dụng mô hình thái độ đa thuộc tính trong kinh doanh bán lẻ

HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
SỬ DỤNG MÔ HÌNH THÁI ĐỘ ĐA THUỘC TÍNH TRONG KINH DOANH  
BÁN LẺ  
USING THE MULTIATTRIBUTE ATTITUDE MODEL IN RETAILING  
ThS. Lê Đức Tiến  
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng  
TÓM TẮT  
Mô hình thái độ đa thuộc tính là một cách đánh giá các thuộc tính của nhà bán lẻ dưới góc nhìn của người  
tiêu dùng được cấu thành bởi hai chỉ số chủ yếu: (1) niềm tin hiệu suất về các lợi ích mà nhà bán lẻ cung cấp  
và (2) hệ số quan trọng của từng yếu tố lợi ích đối với người tiêu dùng. Mô hình này được sử dụng trong hoạt  
động kinh doanh bán lẻ nhằm tìm ra các yếu tố tác động đến các lựa chọn của người tiêu dùng, trên cơ sở đó  
nhà bán lẻ có những giải pháp marketing bán lẻ phù hợp nhằm tăng cơ hội được lựa chọn bởi người tiêu  
dùng.  
Từ khoá: Mô hình thái độ đa thuộc tính; niềm tin hiệu suất; hệ số quan trọng; kinh doanh bán lẻ; hành vi  
người tiêu dùng; mô hình của Fishbein.  
ABSTRACT  
The multiattribute attitude model is used to evaluate retailers' characteristics or attributes under a  
consumer's perspective which contains two major factors: (1) the beliefs about performance on relevant  
attributes and (2) the importance weights of those attributes to the customers. This model is often used in  
retailing to find out the benefits that influence customers’ decisions and in proposing retail mix strategies to  
win customers’ choice.  
Keywords: Multiattribute attitude model; performance belief; importance weights; retailing; consumer  
behaviour; Fishbein's model.  
tiêu dùng sử dụng thông tin họ thu thập được  
để đánh giá và lựa chọn nhà bán lẻ, kênh mua  
hàng và sản phẩm như thế nào (Bettman,  
Capon, & Lutz, 1975; Levy & Weitz, 2012).  
Nắm bắt thấu đáo và cụ thể các yếu tố của mô  
hình này giúp cho nhà quản trị bán lẻ sở hữu  
một mô thức cho việc phát triển chiến lược bán  
lẻ một cách khoa học và hiệu quả.  
1. Đặt vấn đề  
Người tiêu dùng vốn là đối tượng của mọi  
nghiên cứu nhằm đề xuất các giải pháp  
marketing phù hợp. Việc nghiên cứu người tiêu  
dùng đã được triển khai qua nhiều mô hình và  
phương thức, cũng như có đã rất nhiều trường  
phái lý thuyết đề xuất để lý giải về người tiêu  
dùng như lý thuyết nhận thức hoặc lý thuyết  
hành vi (Pickton and Broderick 2001, được dẫn  
trong Egan 2007). Một số lý thuyết hành vi phổ  
biến đã coi người tiêu dùng như là "hộp đen"  
với nhận định rằng những gì diễn ra trong tâm  
trí của họ là vô cùng phức tạp và không thể dự  
báo được. Tuy nhiên, tìm hiểu một cách cụ thể  
và rõ ràng về nhận thức và hành vi của người  
tiêu dùng vẫn mang tính quyết định đối với  
việc xây dựng và thiết kế bất kỳ phối thức  
marketing nào trong kinh doanh bán lẻ. Mô  
hình thái độ đa thuộc tính dựa trên công thức  
được Fishbein phát triển từ năm 1963 cung cấp  
một cách thức hữu hiệu để đánh giá việc người  
2. Giới thiệu về mô hình thái độ đa thuộc  
tính của người tiêu dùng  
Mô hình thái độ đa thuộc dựa trên quan  
điểm rằng người tiêu dùng nhìn nhận một nhà  
bán lẻ, một sản phẩm hoặc một kênh bán hàng  
như tập hợp các thuộc tính hoặc đặc tính. Mô  
hình này được thiết kế nhằm dự báo đánh giá  
của người tiêu dùng về một sản phẩm, một nhà  
bán lẻ hoặc một kênh bán hàng dựa trên cơ sở  
của (1) hiệu năng của nó trên những thuộc tính  
tương quan, được gọi là niềm tin hiệu suất và  
(2) tầm quan trọng của những thuộc tính này  
413  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
đối với người tiêu dùng, được gọi là hệ số quan  
trọng.  
kiếm việc mua hàng tạp hóa. Cô cân nhắc 3 lựa  
chọn: (1) một siêu thị lớn nằm ở ngoại thành,  
(2) một cửa hàng tạp hóa nằm ở khu vực cô  
sinh sống, hoặc (3) một trang web bán hàng  
trực tuyến. Nhận thức của cô về những nhà bán  
lẻ này được thể hiện trong bảng 1 dưới đây:  
2.1. Niềm tin hiệu suất  
Để hiểu mô hình này, hãy hình dung quyết  
định lựa chọn cửa hàng của một nữ nhân viên  
văn phòng còn trẻ chưa có gia đình đang tìm  
Bảng 1. Niềm tin hiệu suất của khách hàng về các cửa hàng bán lẻ hàng tạp hóa  
*10 = Rất tốt; 1 = Rất kém  
Người tiêu dùng tự đánh giá những thông  
10, trong đó điểm 10 nghĩa là nhà bán lẻ thực  
hiện rất tốt công việc cung cấp các lợi ích và  
điểm 1 là ngược lại. Trong ví dụ này, không có  
nhà bán lẻ nào chiếm ưu thế về hiệu năng cho  
tất cả lợi ích. Siêu thị nhận điểm cao về yếu tố  
phổ hàng nhưng thấp về tính tiện lợi. Cửa hàng  
tạp hóa chiếm ưu thế về giá nhưng sự phong  
phú về hàng hóa là điểm yếu. Trang web trực  
tuyến mang đến sự tiện lợi cao nhất nhưng nó  
lại bất lợi về tính kinh tế đối với người tiêu  
dùng.  
tin khách quan về mỗi nhà bán lẻ trong phần A  
của bảng 1 và tạo nên một ấn tượng về các lợi  
ích mà mỗi nhà bán lẻ mang lại. Phần B của  
bảng 1 chỉ ra niềm tin của cô ta về các lợi ích  
này và thông số này sẽ được gọi là niềm tin  
hiệu suất của cửa hàng. Chú ý rằng một số lợi  
ích kết hợp với những thuộc tính khách quan.  
Ví dụ, lợi ích thuận tiện thể hiện qua thời gian  
mua sắm ít và việc thanh toán nhanh cũng như  
sự dễ dàng trong tìm kiếm sản phẩm. Giá cả  
các mặt hàng và chi phí giao hàng ảnh hưởng  
đến niềm tin của khách hàng nữ này về hiệu  
quả kinh tế của việc mua sắm tại nhiều địa  
điểm bán lẻ khác nhau.  
2.2. Hệ số quan trọng  
Nữ nhân viên văn phòng trong ví dụ trên  
đã đánh giá tổng quan về mỗi lựa chọn trên cơ  
sở tầm quan trọng của các lợi ích mà mỗi nhà  
bán lẻ cung cấp. Tầm quan trọng đối với mỗi  
lợi ích có thể được đánh giá bằng thang điểm  
Mức độ đánh giá lợi ích mà mỗi nhà bán lẻ  
mang lại được đánh giá trên một thang điểm  
414  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
10, với điểm 10 chỉ ra rằng lợi ích này rất quan  
về tầm quan trọng đối với mỗi lợi ích mà nhà  
bán lẻ mang đến. Nhưng nói chung là người  
tiêu dùng có thể khác nhau về các yếu tố niềm  
tin của họ về hiệu suất của nhà bán lẻ cũng như  
tầm quan trọng của nó.  
trọng đối với cô và điểm 1 chỉ ra lợi ích này rất  
kém quan trọng. Sử dụng thang đánh giá này,  
tầm quan trọng của các lợi ích mà các nhà bán  
lẻ mang lại đối với cô gái trẻ và đối với một  
cặp vợ chồng có 4 đứa con được chỉ ra trong  
bảng 2 (ở dưới), cùng với việc thảo luận về  
niềm tin hiệu suất của từng lợi ích. Chú ý rằng  
cô gái trẻ độc thân sẽ đánh giá sự tiện lợi và sự  
sẵn sàng của sản phẩm cao hơn so với tính kinh  
tế và phổ hàng phong phú. Nhưng đối với cặp  
vợ chồng nhiều con thì tính kinh tế rất quan  
trọng, trong khi đó sự tiện lợi và thông tin về  
sản phẩm không cần thiết mấy.  
2.3. Đánh giá các nhà bán lẻ  
Kết quả của các nghiên cứu về khách hàng  
đã chỉ ra rằng sự đánh giá chung của khách  
hàng về một lựa chọn (trong tình huống này là  
về 3 nhà bán lẻ) có liên quan đến tổng điểm  
niềm tin hiệu suất nhân với hệ số quan trọng  
của nhân tố lợi ích tương ứng. Vì thế, có thể  
tính toán mức đánh giá tổng quan của nữ nhân  
viên trẻ độc thân hay là mức điểm cụ thể cho  
từng điểm bán lẻ (trường hợp này là mức điểm  
của siêu thị) như sau:  
Hệ số quan trọng của các lợi ích mà các  
nhà bán lẻ cung cấp là khác nhau đối với từng  
đối tượng người tiêu dùng và còn có thể khác  
nhau đối với mỗi lần mua sắm. Ví dụ như cặp  
vợ chồng với 4 đứa con có thể nhấn mạnh tính  
kinh tế của những chuyến mua sắm thường  
xuyên, định kỳ nhưng họ sẽ lại quan tâm đến  
tính tiện lợi khi đi mua hàng bất thường, đột  
xuất.  
4 x 8  
= 32  
= 40  
= 50  
= 36  
10 x 4  
5 x 10  
9 x 4  
158  
Trong bảng 2, cô gái trẻ độc thân và cặp vợ  
chồng có cùng các yếu tố niềm tin về hiệu suất  
của mỗi nhà bán lẻ, nhưng họ có sự khác nhau  
Bảng 2. Đánh giá chung của khách hàng về các cửa hàng bán lẻ hàng tạp hóa  
*10 = Rất quan trọng; 1 = Rất ít quan trọng  
Bảng 2 chỉ ra các mức điểm đánh giá  
chung đối với 3 nhà bán lẻ (siêu thị, cửa hàng  
tạp hóa, trang web trực tuyến) của 2 đối tượng  
khách hàng: nữ nhân viên văn phòng và cặp vợ  
chồng nhiều con. Đối với cô gái trẻ độc thân,  
trang web bán lẻ trực tuyến có số điểm cao  
nhất là 236, và vì thế đây là sự đánh giá tốt  
nhất. Cô sẽ lựa chọn nhà bán lẻ này cho hầu  
hết các hoạt động mua sắm tạp phẩm của mình.  
Trong khi đó thì cửa hàng tạp hóa lại có tổng  
điểm cao nhất đối với cặp vợ chồng (192) và vì  
thế họ sẽ mua sắm hàng tạp phẩm cho gia đình  
mình ở đó hàng tuần.  
415  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Khi khách hàng chọn lựa một nhà bán lẻ,  
c. Đánh giá của khách hàng về hiệu năng  
của mỗi nhà bán lẻ trên các thuộc tính lợi ích  
(niềm tin hiệu suất)  
họ thực ra không nhất thiết phải trải qua một  
quá trình liệt kê các đặc tính lợi ích của cửa  
hàng, đánh giá hiệu suất của nhà bán lẻ dựa  
trên các đặc tính này, xác định tầm quan trọng  
của từng thuộc tính, tính toán tổng điểm của  
từng cửa hàng, và rồi sau đó viếng thăm cửa  
hàng có số điểm cao nhất. Mô hình thái độ đa  
thuộc tính này không phản ảnh quy trình ra  
quyết định thực tế của khách hàng nhưng nó  
được sử dụng để dự báo sự đánh giá của họ về  
các phương án khác nhau và lựa chọn cuối  
cùng của chính họ. Ngoài ra, mô hình này còn  
cung cấp thông tin hữu ích cho việc thiết kế  
các cung ứng của nhà bán lẻ. Ví dụ, nếu siêu  
thị gia tăng mức đánh giá hiệu suất về tính kinh  
tế (có thể bằng việc tăng cường các đợt giảm  
giá, khuyến mại hoặc hỗ trợ tín dụng khách  
hàng,...), thì lúc này tổng điểm của siêu thị sẽ  
là 194 hoặc là 204 (tương ứng với mức điểm  
của chỉ tiêu hiệu suất kinh tế là 9 hoặc 10) và  
chắc chắn các khách hàng như cặp vợ chồng sẽ  
chuyển sang mua sắm ở siêu thị nhiều hơn.  
d. Mức độ quan trọng mà khách hàng gán  
cho các thuộc tính (hệ số quan trọng)  
Với những thông tin này, nhà bán lẻ có thể  
sử dụng để xây dựng mô hình đánh giá đa  
thuộc tính như đã trình bày ở trên và từ đó phát  
triển nhiều cách tiếp cận để ảnh hưởng đến  
khách hàng mua sắm tại cửa hàng của họ hay  
trên trang web.  
3.1. Lọt vào danh sách lựa chọn cuối cùng  
của người tiêu dùng  
Nhà bán lẻ cần phải được lọt vào danh sách  
lựa chọn cuối cùng của người tiêu dùng, là  
danh sách các nhà bán lẻ mà người tiêu dùng  
đánh giá trước khi quyết định lựa chọn để đến  
viếng thăm, mua sắm. Để được lọt vào danh  
sách này, nhà bán lẻ cần phát triển các chương  
trình để gia tăng khả năng nhận thức và tạo ấn  
tượng mạnh mẽ đối với khách hàng để được họ  
nhớ đến khi họ sắp sửa đi mua sắm. Các  
chương trình này có thể được phát triển thông  
qua các quyết định về truyền thông và địa  
điểm. Ví dụ, nhà bán lẻ có thể tìm cách để  
được nằm lên hàng đầu trang web khi người  
tiêu dùng sử dụng bộ máy tìm kiếm (SEO -  
Search Engine Optimization). Họ cũng có thể  
tiến hành triển khai các chương trình quảng cáo  
và sự kiện truyền thông thương hiệu trên diện  
rộng nhằm thu hút sự chú ý của khách hàng.  
Nhà bán lẻ cũng có thể tận dụng lợi thế về địa  
điểm để quảng bá một cách thường xuyên hình  
ảnh của mình qua các phương tiện quảng cáo  
ngoài trời (OOH - Out of Home). Họ cũng có  
thể sử dụng chính cửa hàng của mình để quảng  
bá như cách Starbuck đã đặt nhiều điểm bán tại  
cùng một khu vực để khách hàng bị bao vây  
một cách triệt để bởi tên của cửa hiệu khi họ  
lưu thông qua khu vực này.  
3. Ý nghĩa ứng dụng của mô hình  
Trong phần này, mục đích là làm thế nào  
một nhà bán lẻ có thể sử dụng các kết quả của  
mô hình thái độ đa thuộc tính để đưa ra các  
quyết định khích lệ khách hàng đến mua sắm  
tại cửa hàng nhiều hơn. Trước hết, mô hình chỉ  
ra những thông tin mà khách hàng sử dụng để  
quyết định nhà bán lẻ nào được viếng thăm và  
kênh mua hàng nào được sử dụng. Thứ hai, nó  
chỉ ra chiến thuật mà nhà bán lẻ có thể thực thi  
để tạo ảnh hưởng đến các lựa chọn của người  
tiêu dùng về cửa hàng, kênh mua sắm, và mặt  
hàng mua.  
Để phát triển một chương trình nhằm thu  
hút khách hàng dựa trên mô hình đánh giá đa  
thuộc tính này, nhà bán lẻ cần nghiên cứu về  
thị trường và người tiêu dùng để xác định và  
thu thập được những thông tin sau:  
Sau khi đảm bảo rằng đã lọt vào danh sách  
cân nhắc lựa chọn của khách hàng, một nhà  
bán lẻ có thể sử dụng 4 phương pháp sau để gia  
tăng cơ hội được khách hàng lựa chọn ghé  
thăm:  
a. Các nhà bán lẻ mà khách hàng đang cân  
nhắc  
b. Đặc tính hoặc lợi ích mà khách hàng có  
thể cân nhắc khi đánh giá và lựa chọn một nhà  
bán lẻ  
1. Gia tăng niềm tin về hiệu suất cửa hàng  
416  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
2. Giảm niềm tin hiệu suất của các cửa hàng  
những người hiện đang mua sắm chủ yếu qua  
đối thủ có cùng trong danh sách lựa chọn  
Internet.  
3. Gia tăng hệ số quan trọng của khách hàng  
3.3. Giảm lòng tin hiệu suất của khách hàng  
đối với cửa hàng đối thủ  
4. Bổ sung thêm thuộc tính lợi ích mới cho  
cửa hàng  
Cách tiếp cận khác để thay đổi cách đánh  
giá là cố gắng tác động nhằm làm giảm lòng tin  
hiệu suất của khách hàng đối với cửa hàng đối  
thủ. Cách tiếp cận này có thể là vi phạm pháp  
luật về cạnh tranh và thường là ít hiệu quả bởi  
việc nói xấu hay xuyên tạc đối thủ thường sẽ  
mang lại hiệu quả ngược lại và dù sao thì  
khách hàng cũng thường không tin nhiều vào  
những bình luận tiêu cực của cửa hàng này đối  
với cửa hàng khác. Một số nhà bán lẻ có thể sử  
dụng cách thức này bằng việc quảng cáo so  
sánh hoặc nhấn mạnh vào điểm yếu của đối thủ  
về giá, chất lượng sản phẩm hay dịch vụ khách  
hàng,... nhưng thường là bị phản đối. Các diễn  
đàn mạng cũng có thể giúp người tiêu dùng có  
cái nhìn đầy đủ hơn về các nhà bán lẻ nhưng rõ  
ràng việc quá tập trung vào điểm yếu của  
người khác có thể khiến nhà bán lẻ mất tập  
trung vào việc hoàn thiện chính mình.  
3.2. Thay đổi niềm tin hiệu suất  
Cách tiếp cận đầu tiên liên quan đến việc  
thay đổi niềm tin của khách hàng đến hiệu suất  
của nhà bán lẻ bằng việc gia tăng mức điểm  
đánh giá nhà bán lẻ trên một thuộc tính lợi ích.  
Ví dụ, siêu thị trong ví dụ nói trên muốn gia  
tăng tổng số điểm của họ bằng việc gia tăng  
mức điểm đánh giá trên 3 thuộc tính lợi ích còn  
lại (riêng thuộc tính về sự phong phú hàng hóa  
thì siêu thị đã đạt mức điểm tối đa là 10). Như  
vậy, siêu thị có thể gia tăng mức điểm đánh giá  
của nó trên thuộc tính lợi ích về hiệu quả kinh  
tế cho khách hàng bằng việc hạ thấp giá bán và  
tăng cường khuyến mãi; trên thuộc tính tiện lợi  
bằng cách sắp xếp, trưng bày hàng hóa một  
cách khoa học nhất, tăng cường các bảng hiệu,  
thông tin chỉ dẫn bên trong cửa hàng để khách  
hàng tìm kiếm hàng hóa dễ dàng hơn, bổ sung  
thêm các quầy thanh toán hoặc thiết bị tự thanh  
toán cho khách hàng để giảm thời gian chờ đợi  
thanh toán; trên thuộc tính về sự sẵn có của  
thông tin sản phẩm bằng cách cung cấp các  
brochure cho khách hàng, tổ chức các quầy hỗ  
trợ thông tin và chăm sóc khách hàng, trang bị  
các màn hình led hiển thị thông tin hoặc các  
máy quét tự động tra cứu thông tin về sản  
phẩm lắp đặt ở những vị trí dễ thấy trong siêu  
thị hoặc phân công các nhân viên bán hàng  
được huấn luyện và trang bị đầy đủ kiến thức  
về hàng hóa theo dõi, phụ trách các quầy hàng  
nhằm sẵn sàng và kịp thời hỗ trợ khách hàng.  
3.4. Thay đổi hệ số quan trọng  
Thay đổi tầm quan trọng của một thuộc  
tính lợi ích nào đó của nhà bán lẻ đối với khách  
hàng là một cách tiếp cận khác nhằm ảnh  
hưởng đến quyết định lựa chọn cửa hàng của  
khách hàng. Một nhà bán lẻ sẽ muốn gia tăng  
tầm quan trọng của khách hàng đối với một  
thuộc tính lợi ích mà họ có ưu thế vượt trội  
cũng như là sẽ muốn giảm tầm quan trọng của  
khách hàng trên một thuộc tính lợi ích khác mà  
họ ít có ưu thế.  
Ví dụ, nếu trang web trực tuyến trong bảng  
2 muốn thu hút cặp vợ chồng nhiều con mua  
sắm thì nó cần gia tăng mức quan trọng về tính  
tiện lợi đối với họ. Tuy nhiên, để thay đổi hệ số  
quan trọng sẽ khó hơn rất nhiều so với thay đổi  
niềm tin hiệu suất, bởi vì hệ số quan trọng phản  
ảnh giá trị cá nhân của khách hàng. Cặp vợ  
chồng nọ với sự bận bịu về con cái sẽ ít có điều  
kiện truy cập vào Internet cũng như một khi họ  
phải chịu áp lực kinh tế lớn lao trong việc duy  
trì một gia đình đông con thì điều này cũng sẽ  
khiến cho họ có thể bỏ qua yếu tố tiện lợi để  
Bởi vì có thể rất tốn kém nếu nhà bán lẻ  
muốn gia tăng hiệu suất trên tất cả các thuộc  
tính nên nhà bán lẻ nên tập trung đầu tư vào  
những thuộc tính nào quan trọng nhất với  
khách hàng mục tiêu của họ. Đồng thời, có thể  
thấy rằng, một sự thay đổi về niềm tin hiệu suất  
của một thuộc tính quan trọng sẽ dẫn đến một  
sự thay đổi lớn trong tổng điểm đánh giá chung  
của khách hàng. Trong ví dụ trên, siêu thị nên  
cố gắng gia tăng mức độ tiện lợi nếu nó muốn  
thu hút nhiều hơn các phụ nữ trẻ và độc thân là  
417  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
theo đuổi yếu tố tiết kiệm và hiệu quả trong chi  
tiêu, mua sắm.  
dùng mà được sử dụng bởi chính nhà bán lẻ.  
Mô hình này cho phép nhà bán lẻ hiểu biết tốt  
hơn về người tiêu dùng, đề xuất các chiến lược  
và phối thức marketing tương ứng để thỏa mãn  
người tiêu dùng và dành phần thắng trong việc  
thu hút họ đến với cửa hàng của mình. Mô hình  
này có thể được phát triển tích hợp trong hệ  
thống quản trị quan hệ khách hàng để nhà bán  
lẻ phát hiện ra các yếu tố quan trọng tác động  
đến lựa chọn của người tiêu dùng, đồng thời có  
thể điều chỉnh các tiêu thức hoặc thuộc tính cần  
thiết của cửa hàng cũng như tác động đến các  
khía cạnh khác của khách hàng nhằm biến  
khách hàng trở nên phù hợp với cửa hàng, hoặc  
biến cửa hàng trở thành lựa chọn tốt nhất đối  
với khách hàng. Ngoài ra, mô hình này cũng có  
thể sử dụng một cách linh hoạt hơn để mô tả  
việc khách hàng đánh giá và lựa chọn kênh  
mua hàng như thế nào (cửa hàng, Internet hoặc  
là catalog) hoặc đánh giá những mặt hàng có  
thể mua từ nhà bán lẻ./.  
3.5. Bổ sung một thuộc tính lợi ích mới  
Cuối cùng, nhà bán lẻ có thể nghiên cứu để  
tìm cách bổ sung một thuộc tính lợi ích mới  
vào tập hợp những lợi ích mà khách hàng có  
thể xem xét khi lựa chọn nhà bán lẻ. Ví dụ, một  
siêu thị có thể bố trí những khu vực sân chơi  
miễn phí dành cho cho trẻ em trong khi bố mẹ  
đang đi mua sắm, hoặc bán những mặt hàng  
thủ công được sản xuất bởi những người tàn  
tật, những mặt hàng có chứng nhận sản xuất  
thân thiện với môi trường hoặc theo quy tắc  
thương mại công bằng để chiếm lấy thiện cảm  
từ những khách hàng quan tâm đến từ thiện,  
môi trường hoặc an sinh xã hội. Việc bổ sung  
lợi ích mới thường tỏ ra có hiệu quả bởi nó sẽ  
dễ dàng trong việc thay đổi mức đánh giá của  
khách hàng đối với lợi ích mới so với lợi ích  
cũ.  
4. Kết luận  
Mô hình thái độ đa thuộc tính không phải  
là một công cụ đươc sử dụng bởi người tiêu  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Bettman J., Capon N., & Lutz R. (1975), Multiattribute Measurement Models and  
Multiattribute Attitute Theory: A Test of Construct Validity, Journal of Consumer Research,  
Vol.1  
[2] Egan J. (2007), Marketing Communications, Thomson Learning  
[3] Levy M. & Weitz, B. (2012), Retailing Management, McGraw-Hill/Irwin  
[4] Neger M. (2011), Measuring Consumer's Attitute towards Internet Services: A Study on  
Selected Firms in Bangladesh, ASA University Review, Vol. 5 No. 1  
[5] Tabassum A. & Rahman T. (2012), Differences in Consumer Attitude towards Selective Fast  
Food Restaurants in Bangladesh: An Implication of Multiattribute Attitude Model, World  
Review of Business Research, Vol. 2. No. 3  
418  
pdf 6 trang Thùy Anh 17740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sử dụng mô hình thái độ đa thuộc tính trong kinh doanh bán lẻ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_dung_mo_hinh_thai_do_da_thuoc_tinh_trong_kinh_doanh_ban_l.pdf