Sử dụng án lệ trong giảng dạy luật học
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
SỬ DỤNG ÁN LỆ TRONG GIẢNG DẠY LUẬT HỌC
Phạm Yến Nhi
Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Lịch sử bài báo
Ngày nhận: 20/5/2020; Ngày nhận chỉnh sửa: 07/7/2020; Ngày duyệt đăng: 12/01/2021
Tóm tắt
Mặc dù còn khá mới mẻ ở Việt Nam, án lệ được đưa vào giảng dạy tại các cơ sở đào tạo luật
học trên thế giới từ khá lâu đời. Đặc biệt tại các quốc gia theo hệ thống thông luật, việc nghiên cứu
và phân tích án lệ là cách thức chủ yếu để SV có thể tiếp cận và lĩnh hội hệ thống pháp luật quốc
gia. Việt Nam có hệ thống pháp luật thành văn, và do đó án lệ chỉ được chính thức thừa nhận và trở
thành nguồn học liệu đưa vào giảng dạy trong những năm gần đây. Bài viết được thực hiện nhằm
đánh giá tầm quan trọng của án lệ. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích sự cần thiết sử dụng án lệ trong
giảng dạy luật học và những vấn đề cần quan tâm khi sử dụng phương pháp này.
Từ khóa: Án lệ, đào tạo luật học, phương pháp giảng dạy.
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
THE USE OF CASE LAW IN TEACHING LAWS
Pham Yen Nhi
An Giang University, Viet Nam National University, Ho Chi Minh City
Corresponding author: [email protected]u.vn
Article history
Received: 20/5/2020; Received in revised form: 07/7/2020; Accepted: 12/01/2021
Abstract
Despite being relatively unfamiliar in Vietnam, case law has long been taught in law institutions
around the world. Especially in countries with common law systems, the analysis of case law is the
major method for students to access and master the national legal system. Statute laws are applied in
Vietnam and therefore, case law has only been recently recognized as a source of teaching materials.
This article aims at assessing the importance of case law, thereby analyzing the need of using case
law in teacing laws and other concerns regarding the use of this method.
Keywords: Case law, law training, teaching methods.
62
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 62-68
1. Đặt vấn đề
các bản án, các vụ việc trước đó, hay là những
nguyên tắc không theo luật định được đưa ra từ
các quyết định tư pháp, hay là hệ thống những
nguyên tắc bất thành văn đã được công nhận và
hình thành thông qua các quyết định của Tòa án
(Lê Văn Sua, 2015).
Phương pháp giảng dạy tình huống đã được
áp dụng phổ biến ở các nền giáo dục hiện đại.
Trong giáo dục và đào tạo nghề luật, với tư cách
là một ngành học đòi hỏi phải có sự kết hợp
nhuần nhuyễn giữa lý thuyết và thực hành thì
phương pháp giảng dạy tình huống bằng những
án lệ cụ thể là thật sự cần thiết. Bởi án lệ không
chỉ là kết quả của hoạt động xét xử, giúp người
học hiểu được cách thức Tòa án vận dụng những
Theo từ điển Black’s Law (Henry Campbell
Black, 1990) thì án lệ được hiểu là việc làm luật
của tòa án khi công nhận và áp dụng các quy
tắc mới trong quá trình xét xử; Vụ việc đã được
quy định pháp luật vào giải quyết các tình huống giải quyết làm cơ sở để đưa ra phán quyết cho
những trường hợp có tình tiết hoặc vấn đề tương
tự sau này.
thực tế, mà án lệ là những bản án được chọn lọc
khắc khe từ những vụ việc điển hình và phổ biến,
giúp sinh viên (SV) có cái nhìn thực tế khi tiếp
cận các tình huống pháp lý.
Tại Việt Nam, án lệ được ghi nhận là nguồn
luật trong hệ thống pháp luật từ Nghị quyết
03/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao ngày 28/10/2015 Về Quy trình lựa
chọn, công bố và áp dụng án lệ. Theo Nghị quyết
này, án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa
án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm
phán Toà án nhân dân tối cao lựa chọn và được
Chánh án Toà án nhân dân tối cao công bố là án
lệ để các Toà án nghiên cứu, áp dụng trong xét
xử. (Hội đồng Thẩm phán TANDTC, 2015)
2. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử
dụng án lệ trong đào tạo luật học
2.1. Khái niệm án lệ
Án lệ được coi là sản phẩm đặc trưng của hệ
thống thông luật (Nguyễn Đức Lam, 2012). Tuy
nhiên, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập của thế
giới hiện đại đã làm cho án lệ vượt ra khỏi biên
giới của các quốc gia theo hệ thống thông luật
truyền thống và trở thành nguồn luật của nhiều
hệ thống pháp luật trên thế giới. Đây là nguồn
luật quan trọng được áp dụng để giải quyết các vụ
việc tương tự và là cơ sở để bảo đảm tính thống
nhất trong hoạt động xét xử.
Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau
với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau nhưng nhìn
chung, án lệ có những đặc điểm sau (i) Án lệ do
thẩm phán tạo ra theo những thủ tục nhất định
và để giải quyết các vụ việc cụ thể; (ii) Án lệ là
khuôn mẫu cho các vụ việc có tính chất tương tự
và được sử dụng nhiều lần; (iii) Án lệ có tính bắt
buộc đối với các vụ án tương tự. (Dương Bích
Ngọc và Nguyễn Thị Thúy, 2009).
Trong tiếng Pháp, án lệ được hiểu là đường
lối giải thích và áp dụng luật pháp của các tòa án
về một điểm pháp lý, đường lối này đã được coi
như một tiền lệ, khiến các thẩm phán sau đó có
thể noi theo trong các trường hợp tương tự. Trong
khi đó, theo quan điểm của các nhà luật học theo
hệ luậtAnh - Mỹ, án lệ được hiểu theo hai nghĩa.
Theo nghĩa hẹp, án lệ bao gồm toàn bộ các quyết
định, bản án được tuyên bố bởi Tòa án và có giá
trị như nguồn luật, đưa ra những nguyên tắc, nền
tảng áp dụng cho các vụ việc xảy ra tương tự sau
này, hay là cách thức sử dụng các nguyên tắc có
sẵn như là những căn cứ áp dụng để quyết định
các vụ việc xảy ra trong tương lai. Còn theo nghĩa
rộng, án lệ là nguyên tắc bắt buộc đòi hỏi Thẩm
phán trong hệ thống các cơ quan Toà án khi xét
xử một vụ việc cụ thể cần phải căn cứ ngay vào
Tóm lại, án lệ là những lập luận trong những
bản án, quyết định đã được lựa chọn theo thủ tục
luật định và được áp dụng trong xét xử đối với
những vụ việc có tính chất tượng tự.
2.2. Vai trò của án lệ
Với truyền thống pháp luật dân sự ở Việt
Nam, mặc dù ra đời sau luật thành văn nhưng án
lệ đóng một vai trò hết sức quan trọng và có giá trị
thực tiễn cao trong khoa học pháp lý. Luật thành
văn luôn có vị trí tối cao trong hệ thống pháp luật
nhưng có hai đặc tính cố hữu là (i) không thể dự
63
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
đoán hết những tình huống sẽ xảy ra trong tương của nó. Trong trường hợp không tìm thấy quy
lai (những khoảng trống thiếu luật điều chỉnh) và phạm thích ứng trong văn bản pháp luật, thẩm
(ii) có thể không rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu phán cần căn cứ vào luật tập quán hiện hữu để
khác nhau (có nhiều cách hiểu khác nhau dẫn đến giải quyết vấn đề và quyết định trên cơ sở quy
áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các vụ
việc tương tự). Để khắc phục những nhược điểm
của luật thành văn, tăng cường tính minh bạch
và có thể tiên liệu được các phán quyết của Tòa
án (i) cần có cơ chế sáng tạo, linh hoạt trong vận
dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề thực tiễn
mới; (ii) cần phải có cơ chế giải thích pháp luật
để đạt được sự thống nhất trong hoạt động xét xử.
Cách thức khắc phục những nhược điểm của các
đạo luật là sử dụng án lệ. (Bùi Tiến Đạt, 2009)
tắc do mình tạo ra theo tinh thần tự đặt mình vào
vị trí của nhà lập pháp. Đồng thời, khi đặt ra các
quy tắc đó, thẩm phán cần hành động trong khuôn
khổ và trên tinh thần của các học thuyết pháp lý
vừa trích dẫn ở đây như là một cách biểu hiện
hiện đại của châu Âu về án lệ và việc sử dụng
án lệ như là nguồn của pháp luật ở châu Âu hiện
đại (Nguyễn Thu Trang, 2014).
Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam 2015 quy
định Tòa án không được từ chối giải quyết vụ
việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.
Khi đó, việc giải quyết vụ việc dân sự được thực
hiện theo các nguyên tắc do Bộ luật dân sự và
Bộ luật tố dụng dân sự (Khoản 2 Điều 4 Bộ luật
tố tụng dân sự 2015). Bởi tiếp cận công lý là
quyền cơ bản của con người, quyền được bảo
vệ về mặt pháp lý. Quyền này cho phép tất cả
mọi người có thể vận dụng để tìm kiếm sự đền
bù cho những bất công hay thiệt hại mà một cá
nhân hay tổ chức, đặc biệt là cho những nhóm
người dễ bị tổn thương trong xã hội phải gánh
chịu. (Vũ Công Giao, 2009)
Mặc dù được coi là nguồn bổ khuyết cho hệ
thống pháp luật nhưng án lệ không làm mất đi
vai trò của luật thành văn, khi có sự chồng chéo
mâu thuẫn giữa hai nguồn này thì luật thành
văn được ưu tiên áp dụng (Hội đồng Thẩm phán
TANDTC, 2015). Ngay cả nướcAnh, theo truyền
thống coi trọng án lệ, cũng tuân thủ nguyên tắc
này (Nguyễn Văn Nam, 2007). Ngoài ra, vị trí
tối cao của luật thành văn giúp giảm bớt sự tuỳ
tiện và lạm quyền của thẩm phán.
Áp dụng án lệ chính là phương thức hiệu quả
để khắc phục một số bất cập của pháp luật, bảo
đảm việc áp dụng pháp luật thống nhất trong xét
xử, tạo tính ổn định, minh bạch và tiên liệu được
trong các phán quyết của Tòa án, qua đó có tác
dụng hướng dẫn các hành vi ứng xử không chỉ
đối với các bên trong vụ án, mà còn đối với mỗi
người dân và cả cộng đồng xã hội.
Trước áp lực bảo vệ công lý ngay cả khi
không có luật đòi hỏi thẩm phán phải có khả
năng sáng tạo pháp luật trên nền tảng lẽ phải, sự
công bằng và những kinh nghiệm xét xử vốn có
của mình. Án lệ được coi là nguồn bổ khuyết của
pháp luật thành văn, giúp thẩm phán có đầy đủ
nền tảng pháp lý để thực hiện hoạt động xét xử.
2.2.1. Khắc phục kịp thời những khoảng
trống pháp luật
2.2.2. Góp phần bảo đảm áp dụng thống
nhất pháp luật trong hoạt động xét xử
Pháp là quốc gia điển hình có hệ thống pháp
luật thành văn cũng quy định, nếu thẩm phán từ
chối đưa ra phán quyết khi dựa trên cơ sở pháp
luật không quy định về vấn đề đó, quy định không
rõ ràng hoặc không đầy đủ, thì bản thân anh ta
có thể bị kiện vì lý do phủ nhận công lý. Do vậy,
anh ta phải đưa ra được một phán quyết (Điều 4
Bộ luật dân sự Pháp).
Pháp luật là nền tảng để duy trì trật tự xã
hội. Điều này đòi hỏi phải có hệ thống pháp luật
thống nhất, những vụ việc tương tự phải được
xem xét và giải quyết như nhau. Khi đó, công
lý mới được bảo đảm, trật tự mới được duy trì.
Tuy nhiên, pháp luật thành văn mang đậm tính
quy phạm, khái quát. Nhiều quy định của pháp
luật còn mang tính định tính, chưa rõ, có nhiều
cách hiểu chưa thống nhất và áp dụng khác nhau.
Cho nên, để vận dụng đòi hỏi phải có sự chuyển
Bộ luật dân sự Thụy Sĩ cũng quy định, pháp
luật cần được áp dụng trong mọi trường hợp,
không có ngoại lệ, đúng với tinh thần và lời văn
64
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 62-68
tải những quy định này vào những tình huống cụ trong quá khứ đối với giao dịch tương tự. Thông
thể. Nếu như không có một nền tảng tạo sự thống qua việc công bố án lệ sẽ giúp mọi người nắm rõ
nhất thì quá trình chuyển tải và áp dụng luật sẽ đường lối xét xử, dự báo được kết quả những vụ
có sự chênh lệch giữa các vụ việc có tính tương việc tương tự có liên quan đến quyền và lợi ích
tự, không bảo đảm được tính thống nhất trong của mình. Đồng thời, có thể tiên liệu được hệ quả
hoạt động xét xử.
pháp lý của các quan hệ pháp luật được xác lập.
Hiến pháp 2013 ghi nhận mọi người đều
3. Sự cần thiết và cách thức sử dụng án
lệ trong giảng dạy luật học
bình đẳng trước pháp luật (Điều 16 Hiến pháp
2013). Nếu thẩm phán áp dụng pháp luật khác
nhau đối với những vụ việc tương tự sẽ tạo ra
sự bất bình đẳng giữa các chủ thể. Để duy trì
nguyên tắc này, trước đây, các ấn phẩm báo cáo
tổng kết công tác xét xử hàng năm nhằm hướng
dẫn thống nhất áp dụng pháp luật trong hệ thống
tòa án. Tuy nhiên, những đúc kết này chưa thể
hiện được toàn bộ nhận định và những phân tích
pháp lý chung của các phán quyết về từng vấn
đề pháp lý của mỗi vụ việc. (Bùi Tiến Đạt, 2009)
Một trong những mục tiêu của chương trình
đào tạo luật học là người học có kiến thức cơ bản
về pháp luật và thực tiễn pháp lý; Người học có
khả năng đánh giá, phân tích và vận dụng một
cách sáng tạo các kiến thức đã học để giải quyết
một cách độc lập những vụ việc pháp lý cụ thể.
Sẽ là khiếm khuyết khi SV chỉ tìm hiểu luật thành
văn mà không tiếp cận hệ thống án lệ nếu mong
muốn hành nghề chuyên nghiệp sau này.
Phương pháp sử dụng án lệ trong giảng
dạy luật học lần đầu tiên được giáo sư luật
Christopher Columbus Langdell đưa vào trường
Harvard năm 1871. Ban đầu, phương pháp này
không được đón nhận nhưng phương pháp này
đã chứng minh được tính hiệu quả qua thời gian
áp dụng. Đến đầu những năm 1900, hầu hết các
trường luật nước Mỹ đều áp dụng phương pháp
giảng dạy này và được phổ biến cho đến ngày
nay. (Trương Nhật Quang, 2015)
Án lệ được lựa chọn từ những vụ án điển
hình, phổ biến. Mỗi án lệ đều nêu rõ vấn đề pháp
lý (tình huống án lệ) và đưa ra giải pháp pháp lý
cụ thể cho từng vấn đề. Phần được đúc kết cuối
cùng của án lệ là nội dung án lệ. Phần này giải
thích viện dẫn căn cứ pháp lý và nêu rõ lý do vì
sao vụ việc được giải quyết như vậy. Đây được
coi là phần có giá trị pháp lý quan trọng và được
tham khảo để giải quyết các vụ việc sau này. Án
lệ được coi là cột mốc quan trọng giúp Thẩm
phán tham khảo, rút kinh nghiệm trong quá trình
giải quyết, xét xử những vụ án có cùng tính chất
để đảm bảo tất cả các vụ việc tương tự đều phải
được giải quyết như nhau.
Tầm quan trọng của án lệ trong khoa học
pháp lý và trong thực tiễn xét xử là không thể
phủ nhận. SV luật là nguồn nhân lực cốt yếu
của đội ngũ hành nghề luật chuyên nghiệp trong
tương lai. Chính vì vậy, việc sử dụng án lệ trong
2.2.3. Tăng cường tính minh bạch và tiên nghiên cứu và giảng dạy luật học là không thể
thiếu. Mục đích chủ yếu giúp SV hiểu được các
quy định pháp luật và cách thức vận dụng thông
qua các vụ việc cụ thể, có thật; nhận biết được
các vấn đề pháp lý phát sinh và cách thức giải
quyết những vụ việc trên thực tế.
liệu được các phán quyết của tòa án
Án lệ được đúc kết và chọn lọc khắc khe, tạo
ra một khuôn khổ ứng xử chung mang tính mẫu
mực và được công bố rộng rãi, giúp tiên lượng
được kết quả của các vụ tranh chấp mang tính
chất tương tự. Thẩm phán dựa vào những tình
tiết và lập luận trong án lệ, đối chiếu với vụ việc
đang xử lý để đưa ra phán quyết. Góp phần hạn
chế đến mức thấp nhất các vụ việc xét xử oan, sai.
3.1. Giúp SV dễ tiếp cận các vấn đề pháp
lý phức tạp
Thứ nhất, việc giới thiệu và phân tích, đánh
giá quy định pháp luật, giúp SV hình thành nền
tảng kiến thức pháp luật vững chắc cho hoạt
động nghề nghiệp sau này. Tuy nhiên, việc thuyết
giảng này diễn ra một chiều sẽ làm cho SV tiếp
Trong giao lưu dân sự, án lệ giúp các bên dự
liệu được những rủi ro có thể gặp phải và cách
phòng tránh, ít nhất là những rủi ro đã từng xảy ra
65
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
thu một cách thụ động, giảng viên lại không đánh vai các bên trong vụ án tạo điều kiện cho SV tự
giá được khả năng lĩnh hội tri thức của SV. Cho mình trực tiếp giải quyết vấn đề, tự mình tìm ra
những sự kiện pháp lý, căn cứ pháp lý để bảo vệ
quyền và lợi ích của mình. Ở mỗi vai trò SV sẽ
tiếp cận vấn đề khác nhau, giúp SV có góc nhìn
đa chiều về vấn đề cần giải quyết. Ví dụ, với vai
trò là nguyên đơn, SV nhìn nhận vấn đề pháp lý
dưới góc độ khác so với bị đơn hay thẩm phán.
Cuối cùng, SV sẽ đưa ra nhận xét và đánh giá về
cách thức ra quyết định và những lập luận Tòa
án về việc chấp nhận hay từ chối yêu cầu của các
bên trong vụ án.
nên lý thuyết cần phải gắn kết vào tình huống
cụ thể. Việc nghiên cứu và phân tích án lệ giúp
SV liên kết và vận dụng lý thuyết vào thực tế.
Đặt SV vào những tình huống có thật giúp SV
nhớ lâu hơn và hiểu rõ hơn nội dung những quy
định pháp luật.
Thứ hai, những quy định pháp luật thường
chứa đựng những thuật ngữ pháp lý chuyên
ngành và mang tính quy ước cao. Khi tiếp xúc
với những tình tiết cụ thể sẽ giúp SV hình dung
và lĩnh hội được những thuật ngữ khó hiểu đó.
Ví dụ, trong chế định tài sản, quyền tài sản bao
gồm quyền tài sản đối với quyền sở hữu trí tuệ,
quyền sử dụng đất và quyền tài sản khác trị giá
được bằng tiền. SV sẽ khó hình dung ra được
quyền trị giá được bằng tiền là quyền gì? Và
quyền này được sử dụng nó như thế nào? Khi
tiếp cận án lệ số 31/2020/AL, SV sẽ biết được
quyền tài sản trong vụ việc này cụ thể là quyền
thuê nhà, mua nhà thuộc sở hữu của Nhà nước.
Quyền này được đem ra giao dịch và được chuyển
giao cho những người thừa kế của người đó khi
người có quyền chết.
Với vai trò là người điều hành lớp học, người
dạy lúc này cần gợi mở và đặt câu hỏi mở để SV
tự tìm ra cách thức giải quyết vấn đề. Giảng viên
sẽ định hướng buổi thảo luận và đưa ra nhận định
chung cuộc cho những tranh luận giữa các bên.
Sau cùng, giảng viên sẽ tóm tắt và rút ra bài học.
3.3. Hình thành kỹ năng thực hành luật
cho SV
Học cách xác định vấn đề pháp lý
Khi tiếp cận và phân tích nhiều án lệ giúp
SV học được cách xác định quan hệ pháp luật
tranh chấp thông qua những tình tiết cụ thể của vụ
án. Từ đó, tìm kiếm những sự kiện có liên quan
đến vấn đề pháp lý. Tiến hành phân tích, đánh
giá các sự kiện này xem có đủ thuyết phục để
đưa ra giải pháp pháp lý hay chưa. Nếu thiếu cần
tiến hành bổ sung những sự kiện nào. Bởi vì, xác
định quan hệ tranh chấp trên thực tế không phải
là câu chuyện dễ dàng, ngay cả đối với những
người đã và đang hành nghề luật.
3.2. Tăng khả năng tương tác giữa người
dạy và người học, giúp SV chủ động hơn trong
quá trình tham gia môn học
Việc sử dụng án lệ trong giảng dạy đòi hỏi
người học phải tự nghiên cứu và chuẩn bị phần
lập luận của mình trước khi tham gia thảo luận
trên lớp. Muốn vậy người học phải đọc hiểu và
tóm tắt được nội dung của vụ án. Do đã chuẩn
bị bài từ trước nên người học sẽ chủ động tương
tác nhiều hơn với người dạy và với những người
học khác trong nhóm học.
Trong mỗi án lệ, mặc dù không đưa ra chi
tiết từng vấn đề pháp lý nhưng để đưa ra kết luận,
trước đó, thẩm phán đã tìm ra vấn đề pháp lý của
vụ án, dựa trên các tình tiết của vụ án, thẩm phán
phải đưa ra lập luận để chấp nhận hay từ chối yêu
cầu của các bên. Tiếp cận và nghiên cứu nhiều án
lệ giúp SV học được kỹ năng phân tích và giải
quyết vấn đề từ những án lệ này.
Tuy nhiên, việc nắm hết nội dung và kết quả
giải quyết vấn đề nêu trong án lệ sẽ làm cho SV
rất dễ lệ thuộc vào lập luận của Tòa án làm hạn
chế khả năng tư duy phản biện. Có nghĩa là SV
đã tiếp cận và chấp nhận toàn bộ lập luận và cách
thức giải quyết có sẵn mà không có sự tò mò,
tìm tòi và trăn trở để khám phá cách thức tháo
gỡ vấn đề pháp lý. Vì vậy, án lệ sẽ được áp dụng
phối hợp với phương pháp đóng vai. Việc đóng
Ví dụ, theo án lệ số 25/2018/AL, SV có thể
dễ dàng nhận ra quan hệ tranh chấp là hợp đồng
phạt cọc - một biện pháp bảo đảm nghĩa vụ. Các
vấn đề pháp lý có liên quan cần được xác định (i)
Nghĩa vụ được bảo đảm là nghĩa vụ gì? Chủ thể
66
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 62-68
có nghĩa vụ là ai? Bên đặt cọc hay một bên thứ cơ sở pháp lý vững chắc để giải quyết vấn đề
ba? (ii) Nghĩa vụ này có vi phạm hay không? Có dưới góc độ pháp lý. Để trang bị kỹ năng này,
trở ngại nào cho việc thực hiện nghĩa vụ?
người học luật phải xây dựng kỹ năng phân tích
tình huống và tìm ra vấn đề pháp lý. Trên cơ sở
những sự kiện có liên quan, lý giải và liên kết
được vấn đề pháp lý với quy định pháp luật cụ
thể và đưa ra giải pháp pháp lý phù hợp.
Bà H nhận 02 tỷ đồng tiền đặt cọc của ông
L với cam kết bà H phải hoàn tất các thủ tục để
được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với
căn nhà để hai bên tiến đến ký hợp đồng mua bán
nhà. Tuy nhiên, bà H không được cấp giấy chứng
Trong phần hợp đồng nói chung và hợp đồng
nhận quyền sở hữu nhà là do cơ quan thi hành tặng cho có điều kiện, về nội dung, lý thuyết nói
án dân sự chậm sang tên cho bà. Việc bà không rằng, hợp đồng phải là kết quả của sự thống nhất
thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết là do nguyên ý chí, sự thống nhất này không vi phạm điều cấm
nhân khách quan. Vì vậy, bà H không bị coi là của luật, không trái đạo đức xã hội. Chỉ sự thống
vi phạm nghĩa vụ nên bà H không phải chịu phạt nhất ý chí mới tạo nên sự ràng buộc của các bên
cọc trong trường hợp này. SV có thể nhận thấy trong hợp đồng. Điều kiện trong hợp đồng tặng
rằng “vi phạm hợp đồng” và “thực hiện không cho cũng phải được sự thống nhất ý chí của các
đúng nghĩa vụ” là hai khái niệm không đồng nhất. bên. Thực tế ý chí về điều kiện không được ghi
Không phải trong mọi trường hợp do không thực nhận trong hợp đồng nhưng các bên chứng minh
hiện đúng nghĩa vụ đều phải chịu phạt cọc. Chỉ được có sự thống nhất ý chí thì điều kiện này có
khi vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm thì bên bảo giá trị pháp lý hay không. SV sẽ lúng túng với
đảm mới phải chịu phạt cọc.
câu hỏi này vì quy định của Bộ luật dân sự về
hợp đồng có điều kiện không nêu rõ nội dung này.
Tuy nhiên, không phải vụ tranh chấp nào
cũng có thể dễ dàng nhận ra quan hệ pháp luật
Bộ luật dân sự ghi nhận, hợp đồng tặng cho
tranh chấp. Trong án lệ số 24/2018/AL, có 10 có điều kiện là hợp đồng có chứa đựng điều kiện
bản án, quyết định liên quan đến tranh chấp này. mà bên tặng cho đưa ra. Đây là cơ sở để hợp đồng
Nguyên nhân chủ yếu là do xác định quan hệ tặng cho có hiệu lực hay không. Hợp đồng là sự
pháp luật không giống nhau giữa các bản án dẫn thỏa thuận giữa các bên, bao gồm những nội dung
đến kết quả xét xử là khác nhau. Dựa vào những mà các bên đã đạt được sự thống nhất là sự thỏa
sự kiện pháp lý của vụ án, Tòa án cần phải chọn thuận giữa các bên, sự thống nhất ý chí này được
lọc và đánh giá được giá trị pháp lý của từng sự biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan dưới
kiện. Sự phức tạp của tình tiết vụ án giúp SV học hình thức bằng lời nói hoặc bằng văn bản. Như
được kỹ năng tìm ra chính xác quan hệ pháp luật vậy, hợp đồng tặng cho có điều kiện thì điều kiện
đang tranh chấp. Trong tình huống này, quan hệ đó cũng phải được thống nhất và ghi nhận dưới
pháp luật tranh chấp được xác định là kiện đòi hình thức nhất định.
tài sản thay vì là chia thừa kế như các bản án xét
xử trước đó.
Trong án lệ số 14/2017/AL, hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất được lập thành văn bản mà
điều kiện tặng cho không được ghi nhận trong hợp
đồng. Nếu chỉ cứng nhắc căn cứ theo hợp đồng
thì đây là hợp đồng tặng cho không kèm theo điều
kiện. Tuy nhiên, ý chí chung ban đầu khi xác lập
hợp đồng thì hợp đồng tặng cho này, các bên đã
thống nhất kèm theo điều kiện bên được tặng cho
(Quàng Văn P2) phải xây nhà cho bên tặng cho
ở (Quàng Văn P1), chăm sóc chăm sóc vợ chồng
cụ K (bố mẹ của ông Quàng Văn P1).
Học cách vận dụng quy định pháp luật
Việc nghiên cứu và phân tích quy định pháp
luật là cần thiết nhưng chưa đủ vì chỉ giúp SV
biết và hiểu những quy định pháp luật. Bởi mỗi
quy định chỉ là một màu đơn sắc. Trong khi mỗi
vụ việc thực tế là một bức tranh sinh động với
nhiều màu sắc. Muốn vận dụng luật đòi hỏi người
nghiên cứu và hành nghề luật phải nắm rõ quy
tắc cơ bản, chọn lọc và pha trộn một cách nhuần
nhuyễn những quy định có liên quan, tạo ra một
Mặc dù không ghi nhận trực tiếp trong hợp
67
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
Katz, Pamela và Lê Nguyễn Gia Thiện. (2013).
Khái quát về đào tạo luật tại Hoa Kỳ. Tạp chí
Nghiên cứu Lập pháp, Số 23, 57-62.
đồng (ghi nhận trong văn bản ủy quyền) nhưng ý
chí đích thực của các bên thì việc tặng cho phải
kèm theo điều kiện. Vì vậy, hướng xử lý là công
nhận điều kiện của hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất và xác định đây là hợp đồng tặng cho
tài sản có điều kiện.
Lê Văn Sua. (2015). Án lệ và vai trò của án lệ trong
hoạt động xét xử của Tòa án. Cổng thông tin
gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.
aspx?ItemID=1867.
SV tìm hiểu và phân tích án lệ sẽ nhận thấy
rằng, quy định pháp luật mang tính khuôn khổ
và ổn định. Trong khi đó, thực tế luôn sinh động,
phức tạp và không phải lúc nào cũng diễn ra theo
đúng sự sắp đặt trong mô tả ở phần giả định của
nhà lập pháp. Chính án lệ đã giải quyết vấn đề
một cách mềm dẻo, linh hoạt hợp tình hợp lý, góp
phần đẩy lùi “tình ngay mà lý thì gian”. Khi tiếp
xúc những tình huống tình này, SV và cả những
người hành nghề luật cũng gặp phải sự lúng túng.
Án lệ sẽ giúp SV hiểu và vận dụng được quy định
pháp luật để giải quyết những tình huống muôn
màu muôn vẻ trên thực tế.
Lê Phước Lộc. (2000). Dạy học tình huống và vận
dụng trong dạy học thiên văn. Kỷ yếu hội nghị
cải tiến phương pháp dạy học đại học. Khoa
Sư phạm Đại học Cần Thơ, 29-35.
Nguyễn Bá Bình. (2019). Án lệ và sử dụng Án lệ
trong đào tạo luật ở Việt Nam hiện nay. NXB
Tư pháp.
Nguyễn Đức Lam. (2012). Án lệ ở Anh quốc:
lịch sử, khái niệm nguyên tắc và cơ chế thực
hiện. Tạp chí Lập pháp online. Truy cập từ
aspx?tintucid=207746.
4. Kết luận
Cùng với những phương pháp khác, sử dụng
án lệ trong giảng dạy là việc làm cần thiết và cần
được nhân rộng. Tuy nhiên, phương pháp này phụ
thuộc rất nhiều vào các án lệ. Với lượng 37 án lệ
được công bố bao gồm các lĩnh vực từ dân sự,
kinh doanh - thương mại, hành chính và hình sự
thì số lượng này thật sự là khiêm tốn. Trong rất
nhiều chế định luật không có án lệ nào được công
bố đã làm cho việc sử dụng án lệ trong những
môn học chứa đựng các chế định này không khả
thi. Trong thời gian tới, song song với việc tăng
cường số lượng án lệ cần phải mở rộng thêm lĩnh
vực công bố án lệ giúp cho việc giảng dạy luật
học mang lại những hiệu quả tích cực./.
Nguyễn Thu Trang. (2014). Vai trò của án lệ và
thực tiễn xét xử trong hệ thống pháp luật Việt
Nam. Luận văn Thạc sĩ, Khoa Luật - Đại học
Quốc gia Hà Nội.
Nguyễn Văn Nam. (2007). Nghiên cứu so sánh
nguồn luật án lệ trong hệ thống pháp luật
nước Anh. Tạp chí Nhà nước và pháp luật,
Số 5, 47-52.
Trần Thăng Long. (2012). Vai trò của án lệ đối với
sự phát triển của pháp luật quốc tế và sự cần
thiết của việc sử dụng án lệ vào nghiên cứu và
giảng dạy luật quốc tế ở Việt Nam hiện nay.
Tạp chí Khoa học Pháp lý, Số 4 (71), 37-41.
Tài liệu tham khảo
Trương Nhật Quang. (2015). Sử dụng bản án trong
giảng dạy: Góc nhìn từ người làm thực tiễn”.
Tạp chí Khoa học Pháp lý, Số 04/2015, 20-25.
Black, HenryCampbell. (1990). Black’slaw, st. Paul,
Minn. West publishing co., Sixth edition, 272.
Bùi Tiến Đạt. (2009). Áp dụng án lệ - Nhu cầu
tất yếu trong điều kiện cải cách tư pháp và
xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.
Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội,
Chuyên san Luật học, Số 25 (2009), 195-200.
Vũ Công Giao. (2009). Tiếp cận công lý và các
nguyên lý của nhà nước pháp quyền. Tạp chí
Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học
25, 188-194.
Vũ Thị Thúy. (2010). Ứng dụng phương pháp giảng
dạy tình huống trong đào tạo ngành luật. Tạp
chí Khoa học Pháp lý, Số 04/2010, 65-71.
Dương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Thúy. (2009). Vấn
đề áp dụng án lệ ở Việt Nam. Tạp chí Luật
học, Số 05, 28-35.
68
Bạn đang xem tài liệu "Sử dụng án lệ trong giảng dạy luật học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
su_dung_an_le_trong_giang_day_luat_hoc.pdf

