Sử dụng án lệ trong giảng dạy luật học

Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
SỬ DỤNG ÁN LỆ TRONG GIẢNG DẠY LUẬT HỌC  
Phạm Yến Nhi  
Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh  
Tác giả liên hệ: [email protected]  
Lịch sử bài báo  
Ngày nhận: 20/5/2020; Ngày nhận chỉnh sửa: 07/7/2020; Ngày duyệt đăng: 12/01/2021  
Tóm tắt  
Mặc dù còn khá mới mẻ ở Việt Nam, án lệ được đưa vào giảng dạy tại các cơ sở đào tạo luật  
học trên thế giới từ khá lâu đời. Đặc biệt tại các quốc gia theo hệ thống thông luật, việc nghiên cứu  
và phân tích án lệ là cách thức chủ yếu để SV có thể tiếp cận và lĩnh hội hệ thống pháp luật quốc  
gia. Việt Nam có hệ thống pháp luật thành văn, và do đó án lệ chỉ được chính thức thừa nhận và trở  
thành nguồn học liệu đưa vào giảng dạy trong những năm gần đây. Bài viết được thực hiện nhằm  
đánh giá tầm quan trọng của án lệ. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích sự cần thiết sử dụng án lệ trong  
giảng dạy luật học và những vấn đề cần quan tâm khi sử dụng phương pháp này.  
Từ khóa: Án lệ, đào tạo luật học, phương pháp giảng dạy.  
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
THE USE OF CASE LAW IN TEACHING LAWS  
Pham Yen Nhi  
An Giang University, Viet Nam National University, Ho Chi Minh City  
Corresponding author: [email protected]u.vn  
Article history  
Received: 20/5/2020; Received in revised form: 07/7/2020; Accepted: 12/01/2021  
Abstract  
Despite being relatively unfamiliar in Vietnam, case law has long been taught in law institutions  
around the world. Especially in countries with common law systems, the analysis of case law is the  
major method for students to access and master the national legal system. Statute laws are applied in  
Vietnam and therefore, case law has only been recently recognized as a source of teaching materials.  
This article aims at assessing the importance of case law, thereby analyzing the need of using case  
law in teacing laws and other concerns regarding the use of this method.  
Keywords: Case law, law training, teaching methods.  
62  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 62-68  
1. Đặt vấn đề  
các bản án, các vụ việc trước đó, hay là những  
nguyên tắc không theo luật định được đưa ra từ  
các quyết định tư pháp, hay là hệ thống những  
nguyên tắc bất thành văn đã được công nhận và  
hình thành thông qua các quyết định của Tòa án  
(Lê Văn Sua, 2015).  
Phương pháp giảng dạy tình huống đã được  
áp dụng phổ biến ở các nền giáo dục hiện đại.  
Trong giáo dục và đào tạo nghề luật, với tư cách  
là một ngành học đòi hỏi phải có sự kết hợp  
nhuần nhuyễn giữa lý thuyết và thực hành thì  
phương pháp giảng dạy tình huống bằng những  
án lệ cụ thể là thật sự cần thiết. Bởi án lệ không  
chỉ là kết quả của hoạt động xét xử, giúp người  
học hiểu được cách thức Tòa án vận dụng những  
Theo từ điển Black’s Law (Henry Campbell  
Black, 1990) thì án lệ được hiểu là việc làm luật  
của tòa án khi công nhận và áp dụng các quy  
tắc mới trong quá trình xét xử; Vụ việc đã được  
quy định pháp luật vào giải quyết các tình huống giải quyết làm cơ sở để đưa ra phán quyết cho  
những trường hợp có tình tiết hoặc vấn đề tương  
tự sau này.  
thực tế, mà án lệ là những bản án được chọn lọc  
khắc khe từ những vụ việc điển hình và phổ biến,  
giúp sinh viên (SV) có cái nhìn thực tế khi tiếp  
cận các tình huống pháp lý.  
Tại Việt Nam, án lệ được ghi nhận là nguồn  
luật trong hệ thống pháp luật từ Nghị quyết  
03/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân  
dân tối cao ngày 28/10/2015 Về Quy trình lựa  
chọn, công bố và áp dụng án lệ. Theo Nghị quyết  
này, án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản  
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa  
án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm  
phán Toà án nhân dân tối cao lựa chọn và được  
Chánh án Toà án nhân dân tối cao công bố là án  
lệ để các Toà án nghiên cứu, áp dụng trong xét  
xử. (Hội đồng Thẩm phán TANDTC, 2015)  
2. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử  
dụng án lệ trong đào tạo luật học  
2.1. Khái niệm án lệ  
Án lệ được coi là sản phẩm đặc trưng của hệ  
thống thông luật (Nguyễn Đức Lam, 2012). Tuy  
nhiên, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập của thế  
giới hiện đại đã làm cho án lệ vượt ra khỏi biên  
giới của các quốc gia theo hệ thống thông luật  
truyền thống và trở thành nguồn luật của nhiều  
hệ thống pháp luật trên thế giới. Đây là nguồn  
luật quan trọng được áp dụng để giải quyết các vụ  
việc tương tự và là cơ sở để bảo đảm tính thống  
nhất trong hoạt động xét xử.  
Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau  
với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau nhưng nhìn  
chung, án lệ có những đặc điểm sau (i) Án lệ do  
thẩm phán tạo ra theo những thủ tục nhất định  
và để giải quyết các vụ việc cụ thể; (ii) Án lệ là  
khuôn mẫu cho các vụ việc có tính chất tương tự  
và được sử dụng nhiều lần; (iii) Án lệ có tính bắt  
buộc đối với các vụ án tương tự. (Dương Bích  
Ngọc và Nguyễn Thị Thúy, 2009).  
Trong tiếng Pháp, án lệ được hiểu là đường  
lối giải thích và áp dụng luật pháp của các tòa án  
về một điểm pháp lý, đường lối này đã được coi  
như một tiền lệ, khiến các thẩm phán sau đó có  
thể noi theo trong các trường hợp tương tự. Trong  
khi đó, theo quan điểm của các nhà luật học theo  
hệ luậtAnh - Mỹ, án lệ được hiểu theo hai nghĩa.  
Theo nghĩa hẹp, án lệ bao gồm toàn bộ các quyết  
định, bản án được tuyên bố bởi Tòa án và có giá  
trị như nguồn luật, đưa ra những nguyên tắc, nền  
tảng áp dụng cho các vụ việc xảy ra tương tự sau  
này, hay là cách thức sử dụng các nguyên tắc có  
sẵn như là những căn cứ áp dụng để quyết định  
các vụ việc xảy ra trong tương lai. Còn theo nghĩa  
rộng, án lệ là nguyên tắc bắt buộc đòi hỏi Thẩm  
phán trong hệ thống các cơ quan Toà án khi xét  
xử một vụ việc cụ thể cần phải căn cứ ngay vào  
Tóm lại, án lệ là những lập luận trong những  
bản án, quyết định đã được lựa chọn theo thủ tục  
luật định và được áp dụng trong xét xử đối với  
những vụ việc có tính chất tượng tự.  
2.2. Vai trò của án lệ  
Với truyền thống pháp luật dân sự ở Việt  
Nam, mặc dù ra đời sau luật thành văn nhưng án  
lệ đóng một vai trò hết sức quan trọng và có giá trị  
thực tiễn cao trong khoa học pháp lý. Luật thành  
văn luôn có vị trí tối cao trong hệ thống pháp luật  
nhưng có hai đặc tính cố hữu là (i) không thể dự  
63  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
đoán hết những tình huống sẽ xảy ra trong tương của nó. Trong trường hợp không tìm thấy quy  
lai (những khoảng trống thiếu luật điều chỉnh) và phạm thích ứng trong văn bản pháp luật, thẩm  
(ii) có thể không rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu phán cần căn cứ vào luật tập quán hiện hữu để  
khác nhau (có nhiều cách hiểu khác nhau dẫn đến giải quyết vấn đề và quyết định trên cơ sở quy  
áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các vụ  
việc tương tự). Để khắc phục những nhược điểm  
của luật thành văn, tăng cường tính minh bạch  
và có thể tiên liệu được các phán quyết của Tòa  
án (i) cần có cơ chế sáng tạo, linh hoạt trong vận  
dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề thực tiễn  
mới; (ii) cần phải có cơ chế giải thích pháp luật  
để đạt được sự thống nhất trong hoạt động xét xử.  
Cách thức khắc phục những nhược điểm của các  
đạo luật là sử dụng án lệ. (Bùi Tiến Đạt, 2009)  
tắc do mình tạo ra theo tinh thần tự đặt mình vào  
vị trí của nhà lập pháp. Đồng thời, khi đặt ra các  
quy tắc đó, thẩm phán cần hành động trong khuôn  
khổ và trên tinh thần của các học thuyết pháp lý  
vừa trích dẫn ở đây như là một cách biểu hiện  
hiện đại của châu Âu về án lệ và việc sử dụng  
án lệ như là nguồn của pháp luật ở châu Âu hiện  
đại (Nguyễn Thu Trang, 2014).  
Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam 2015 quy  
định Tòa án không được từ chối giải quyết vụ  
việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.  
Khi đó, việc giải quyết vụ việc dân sự được thực  
hiện theo các nguyên tắc do Bộ luật dân sự và  
Bộ luật tố dụng dân sự (Khoản 2 Điều 4 Bộ luật  
tố tụng dân sự 2015). Bởi tiếp cận công lý là  
quyền cơ bản của con người, quyền được bảo  
vệ về mặt pháp lý. Quyền này cho phép tất cả  
mọi người có thể vận dụng để tìm kiếm sự đền  
bù cho những bất công hay thiệt hại mà một cá  
nhân hay tổ chức, đặc biệt là cho những nhóm  
người dễ bị tổn thương trong xã hội phải gánh  
chịu. (Vũ Công Giao, 2009)  
Mặc dù được coi là nguồn bổ khuyết cho hệ  
thống pháp luật nhưng án lệ không làm mất đi  
vai trò của luật thành văn, khi có sự chồng chéo  
mâu thuẫn giữa hai nguồn này thì luật thành  
văn được ưu tiên áp dụng (Hội đồng Thẩm phán  
TANDTC, 2015). Ngay cả nướcAnh, theo truyền  
thống coi trọng án lệ, cũng tuân thủ nguyên tắc  
này (Nguyễn Văn Nam, 2007). Ngoài ra, vị trí  
tối cao của luật thành văn giúp giảm bớt sự tuỳ  
tiện và lạm quyền của thẩm phán.  
Áp dụng án lệ chính là phương thức hiệu quả  
để khắc phục một số bất cập của pháp luật, bảo  
đảm việc áp dụng pháp luật thống nhất trong xét  
xử, tạo tính ổn định, minh bạch và tiên liệu được  
trong các phán quyết của Tòa án, qua đó có tác  
dụng hướng dẫn các hành vi ứng xử không chỉ  
đối với các bên trong vụ án, mà còn đối với mỗi  
người dân và cả cộng đồng xã hội.  
Trước áp lực bảo vệ công lý ngay cả khi  
không có luật đòi hỏi thẩm phán phải có khả  
năng sáng tạo pháp luật trên nền tảng lẽ phải, sự  
công bằng và những kinh nghiệm xét xử vốn có  
của mình. Án lệ được coi là nguồn bổ khuyết của  
pháp luật thành văn, giúp thẩm phán có đầy đủ  
nền tảng pháp lý để thực hiện hoạt động xét xử.  
2.2.1. Khắc phục kịp thời những khoảng  
trống pháp luật  
2.2.2. Góp phần bảo đảm áp dụng thống  
nhất pháp luật trong hoạt động xét xử  
Pháp là quốc gia điển hình có hệ thống pháp  
luật thành văn cũng quy định, nếu thẩm phán từ  
chối đưa ra phán quyết khi dựa trên cơ sở pháp  
luật không quy định về vấn đề đó, quy định không  
rõ ràng hoặc không đầy đủ, thì bản thân anh ta  
có thể bị kiện vì lý do phủ nhận công lý. Do vậy,  
anh ta phải đưa ra được một phán quyết (Điều 4  
Bộ luật dân sự Pháp).  
Pháp luật là nền tảng để duy trì trật tự xã  
hội. Điều này đòi hỏi phải có hệ thống pháp luật  
thống nhất, những vụ việc tương tự phải được  
xem xét và giải quyết như nhau. Khi đó, công  
lý mới được bảo đảm, trật tự mới được duy trì.  
Tuy nhiên, pháp luật thành văn mang đậm tính  
quy phạm, khái quát. Nhiều quy định của pháp  
luật còn mang tính định tính, chưa rõ, có nhiều  
cách hiểu chưa thống nhất và áp dụng khác nhau.  
Cho nên, để vận dụng đòi hỏi phải có sự chuyển  
Bộ luật dân sự Thụy Sĩ cũng quy định, pháp  
luật cần được áp dụng trong mọi trường hợp,  
không có ngoại lệ, đúng với tinh thần và lời văn  
64  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 62-68  
tải những quy định này vào những tình huống cụ trong quá khứ đối với giao dịch tương tự. Thông  
thể. Nếu như không có một nền tảng tạo sự thống qua việc công bố án lệ sẽ giúp mọi người nắm rõ  
nhất thì quá trình chuyển tải và áp dụng luật sẽ đường lối xét xử, dự báo được kết quả những vụ  
có sự chênh lệch giữa các vụ việc có tính tương việc tương tự có liên quan đến quyền và lợi ích  
tự, không bảo đảm được tính thống nhất trong của mình. Đồng thời, có thể tiên liệu được hệ quả  
hoạt động xét xử.  
pháp lý của các quan hệ pháp luật được xác lập.  
Hiến pháp 2013 ghi nhận mọi người đều  
3. Sự cần thiết và cách thức sử dụng án  
lệ trong giảng dạy luật học  
bình đẳng trước pháp luật (Điều 16 Hiến pháp  
2013). Nếu thẩm phán áp dụng pháp luật khác  
nhau đối với những vụ việc tương tự sẽ tạo ra  
sự bất bình đẳng giữa các chủ thể. Để duy trì  
nguyên tắc này, trước đây, các ấn phẩm báo cáo  
tổng kết công tác xét xử hàng năm nhằm hướng  
dẫn thống nhất áp dụng pháp luật trong hệ thống  
tòa án. Tuy nhiên, những đúc kết này chưa thể  
hiện được toàn bộ nhận định và những phân tích  
pháp lý chung của các phán quyết về từng vấn  
đề pháp lý của mỗi vụ việc. (Bùi Tiến Đạt, 2009)  
Một trong những mục tiêu của chương trình  
đào tạo luật học là người học có kiến thức cơ bản  
về pháp luật và thực tiễn pháp lý; Người học có  
khả năng đánh giá, phân tích và vận dụng một  
cách sáng tạo các kiến thức đã học để giải quyết  
một cách độc lập những vụ việc pháp lý cụ thể.  
Sẽ là khiếm khuyết khi SV chỉ tìm hiểu luật thành  
văn mà không tiếp cận hệ thống án lệ nếu mong  
muốn hành nghề chuyên nghiệp sau này.  
Phương pháp sử dụng án lệ trong giảng  
dạy luật học lần đầu tiên được giáo sư luật  
Christopher Columbus Langdell đưa vào trường  
Harvard năm 1871. Ban đầu, phương pháp này  
không được đón nhận nhưng phương pháp này  
đã chứng minh được tính hiệu quả qua thời gian  
áp dụng. Đến đầu những năm 1900, hầu hết các  
trường luật nước Mỹ đều áp dụng phương pháp  
giảng dạy này và được phổ biến cho đến ngày  
nay. (Trương Nhật Quang, 2015)  
Án lệ được lựa chọn từ những vụ án điển  
hình, phổ biến. Mỗi án lệ đều nêu rõ vấn đề pháp  
lý (tình huống án lệ) và đưa ra giải pháp pháp lý  
cụ thể cho từng vấn đề. Phần được đúc kết cuối  
cùng của án lệ là nội dung án lệ. Phần này giải  
thích viện dẫn căn cứ pháp lý và nêu rõ lý do vì  
sao vụ việc được giải quyết như vậy. Đây được  
coi là phần có giá trị pháp lý quan trọng và được  
tham khảo để giải quyết các vụ việc sau này. Án  
lệ được coi là cột mốc quan trọng giúp Thẩm  
phán tham khảo, rút kinh nghiệm trong quá trình  
giải quyết, xét xử những vụ án có cùng tính chất  
để đảm bảo tất cả các vụ việc tương tự đều phải  
được giải quyết như nhau.  
Tầm quan trọng của án lệ trong khoa học  
pháp lý và trong thực tiễn xét xử là không thể  
phủ nhận. SV luật là nguồn nhân lực cốt yếu  
của đội ngũ hành nghề luật chuyên nghiệp trong  
tương lai. Chính vì vậy, việc sử dụng án lệ trong  
2.2.3. Tăng cường tính minh bạch và tiên nghiên cứu và giảng dạy luật học là không thể  
thiếu. Mục đích chủ yếu giúp SV hiểu được các  
quy định pháp luật và cách thức vận dụng thông  
qua các vụ việc cụ thể, có thật; nhận biết được  
các vấn đề pháp lý phát sinh và cách thức giải  
quyết những vụ việc trên thực tế.  
liệu được các phán quyết của tòa án  
Án lệ được đúc kết và chọn lọc khắc khe, tạo  
ra một khuôn khổ ứng xử chung mang tính mẫu  
mực và được công bố rộng rãi, giúp tiên lượng  
được kết quả của các vụ tranh chấp mang tính  
chất tương tự. Thẩm phán dựa vào những tình  
tiết và lập luận trong án lệ, đối chiếu với vụ việc  
đang xử lý để đưa ra phán quyết. Góp phần hạn  
chế đến mức thấp nhất các vụ việc xét xử oan, sai.  
3.1. Giúp SV dễ tiếp cận các vấn đề pháp  
lý phức tạp  
Thứ nhất, việc giới thiệu và phân tích, đánh  
giá quy định pháp luật, giúp SV hình thành nền  
tảng kiến thức pháp luật vững chắc cho hoạt  
động nghề nghiệp sau này. Tuy nhiên, việc thuyết  
giảng này diễn ra một chiều sẽ làm cho SV tiếp  
Trong giao lưu dân sự, án lệ giúp các bên dự  
liệu được những rủi ro có thể gặp phải và cách  
phòng tránh, ít nhất là những rủi ro đã từng xảy ra  
65  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
thu một cách thụ động, giảng viên lại không đánh vai các bên trong vụ án tạo điều kiện cho SV tự  
giá được khả năng lĩnh hội tri thức của SV. Cho mình trực tiếp giải quyết vấn đề, tự mình tìm ra  
những sự kiện pháp lý, căn cứ pháp lý để bảo vệ  
quyền và lợi ích của mình. Ở mỗi vai trò SV sẽ  
tiếp cận vấn đề khác nhau, giúp SV có góc nhìn  
đa chiều về vấn đề cần giải quyết. Ví dụ, với vai  
trò là nguyên đơn, SV nhìn nhận vấn đề pháp lý  
dưới góc độ khác so với bị đơn hay thẩm phán.  
Cuối cùng, SV sẽ đưa ra nhận xét và đánh giá về  
cách thức ra quyết định và những lập luận Tòa  
án về việc chấp nhận hay từ chối yêu cầu của các  
bên trong vụ án.  
nên lý thuyết cần phải gắn kết vào tình huống  
cụ thể. Việc nghiên cứu và phân tích án lệ giúp  
SV liên kết và vận dụng lý thuyết vào thực tế.  
Đặt SV vào những tình huống có thật giúp SV  
nhớ lâu hơn và hiểu rõ hơn nội dung những quy  
định pháp luật.  
Thứ hai, những quy định pháp luật thường  
chứa đựng những thuật ngữ pháp lý chuyên  
ngành và mang tính quy ước cao. Khi tiếp xúc  
với những tình tiết cụ thể sẽ giúp SV hình dung  
và lĩnh hội được những thuật ngữ khó hiểu đó.  
Ví dụ, trong chế định tài sản, quyền tài sản bao  
gồm quyền tài sản đối với quyền sở hữu trí tuệ,  
quyền sử dụng đất và quyền tài sản khác trị giá  
được bằng tiền. SV sẽ khó hình dung ra được  
quyền trị giá được bằng tiền là quyền gì? Và  
quyền này được sử dụng nó như thế nào? Khi  
tiếp cận án lệ số 31/2020/AL, SV sẽ biết được  
quyền tài sản trong vụ việc này cụ thể là quyền  
thuê nhà, mua nhà thuộc sở hữu của Nhà nước.  
Quyền này được đem ra giao dịch và được chuyển  
giao cho những người thừa kế của người đó khi  
người có quyền chết.  
Với vai trò là người điều hành lớp học, người  
dạy lúc này cần gợi mở và đặt câu hỏi mở để SV  
tự tìm ra cách thức giải quyết vấn đề. Giảng viên  
sẽ định hướng buổi thảo luận và đưa ra nhận định  
chung cuộc cho những tranh luận giữa các bên.  
Sau cùng, giảng viên sẽ tóm tắt và rút ra bài học.  
3.3. Hình thành kỹ năng thực hành luật  
cho SV  
Học cách xác định vấn đề pháp lý  
Khi tiếp cận và phân tích nhiều án lệ giúp  
SV học được cách xác định quan hệ pháp luật  
tranh chấp thông qua những tình tiết cụ thể của vụ  
án. Từ đó, tìm kiếm những sự kiện có liên quan  
đến vấn đề pháp lý. Tiến hành phân tích, đánh  
giá các sự kiện này xem có đủ thuyết phục để  
đưa ra giải pháp pháp lý hay chưa. Nếu thiếu cần  
tiến hành bổ sung những sự kiện nào. Bởi vì, xác  
định quan hệ tranh chấp trên thực tế không phải  
là câu chuyện dễ dàng, ngay cả đối với những  
người đã và đang hành nghề luật.  
3.2. Tăng khả năng tương tác giữa người  
dạy và người học, giúp SV chủ động hơn trong  
quá trình tham gia môn học  
Việc sử dụng án lệ trong giảng dạy đòi hỏi  
người học phải tự nghiên cứu và chuẩn bị phần  
lập luận của mình trước khi tham gia thảo luận  
trên lớp. Muốn vậy người học phải đọc hiểu và  
tóm tắt được nội dung của vụ án. Do đã chuẩn  
bị bài từ trước nên người học sẽ chủ động tương  
tác nhiều hơn với người dạy và với những người  
học khác trong nhóm học.  
Trong mỗi án lệ, mặc dù không đưa ra chi  
tiết từng vấn đề pháp lý nhưng để đưa ra kết luận,  
trước đó, thẩm phán đã tìm ra vấn đề pháp lý của  
vụ án, dựa trên các tình tiết của vụ án, thẩm phán  
phải đưa ra lập luận để chấp nhận hay từ chối yêu  
cầu của các bên. Tiếp cận và nghiên cứu nhiều án  
lệ giúp SV học được kỹ năng phân tích và giải  
quyết vấn đề từ những án lệ này.  
Tuy nhiên, việc nắm hết nội dung và kết quả  
giải quyết vấn đề nêu trong án lệ sẽ làm cho SV  
rất dễ lệ thuộc vào lập luận của Tòa án làm hạn  
chế khả năng tư duy phản biện. Có nghĩa là SV  
đã tiếp cận và chấp nhận toàn bộ lập luận và cách  
thức giải quyết có sẵn mà không có sự tò mò,  
tìm tòi và trăn trở để khám phá cách thức tháo  
gỡ vấn đề pháp lý. Vì vậy, án lệ sẽ được áp dụng  
phối hợp với phương pháp đóng vai. Việc đóng  
Ví dụ, theo án lệ số 25/2018/AL, SV có thể  
dễ dàng nhận ra quan hệ tranh chấp là hợp đồng  
phạt cọc - một biện pháp bảo đảm nghĩa vụ. Các  
vấn đề pháp lý có liên quan cần được xác định (i)  
Nghĩa vụ được bảo đảm là nghĩa vụ gì? Chủ thể  
66  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 62-68  
có nghĩa vụ là ai? Bên đặt cọc hay một bên thứ cơ sở pháp lý vững chắc để giải quyết vấn đề  
ba? (ii) Nghĩa vụ này có vi phạm hay không? Có dưới góc độ pháp lý. Để trang bị kỹ năng này,  
trở ngại nào cho việc thực hiện nghĩa vụ?  
người học luật phải xây dựng kỹ năng phân tích  
tình huống và tìm ra vấn đề pháp lý. Trên cơ sở  
những sự kiện có liên quan, lý giải và liên kết  
được vấn đề pháp lý với quy định pháp luật cụ  
thể và đưa ra giải pháp pháp lý phù hợp.  
Bà H nhận 02 tỷ đồng tiền đặt cọc của ông  
L với cam kết bà H phải hoàn tất các thủ tục để  
được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với  
căn nhà để hai bên tiến đến ký hợp đồng mua bán  
nhà. Tuy nhiên, bà H không được cấp giấy chứng  
Trong phần hợp đồng nói chung và hợp đồng  
nhận quyền sở hữu nhà là do cơ quan thi hành tặng cho có điều kiện, về nội dung, lý thuyết nói  
án dân sự chậm sang tên cho bà. Việc bà không rằng, hợp đồng phải là kết quả của sự thống nhất  
thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết là do nguyên ý chí, sự thống nhất này không vi phạm điều cấm  
nhân khách quan. Vì vậy, bà H không bị coi là của luật, không trái đạo đức xã hội. Chỉ sự thống  
vi phạm nghĩa vụ nên bà H không phải chịu phạt nhất ý chí mới tạo nên sự ràng buộc của các bên  
cọc trong trường hợp này. SV có thể nhận thấy trong hợp đồng. Điều kiện trong hợp đồng tặng  
rằng “vi phạm hợp đồng” và “thực hiện không cho cũng phải được sự thống nhất ý chí của các  
đúng nghĩa vụ” là hai khái niệm không đồng nhất. bên. Thực tế ý chí về điều kiện không được ghi  
Không phải trong mọi trường hợp do không thực nhận trong hợp đồng nhưng các bên chứng minh  
hiện đúng nghĩa vụ đều phải chịu phạt cọc. Chỉ được có sự thống nhất ý chí thì điều kiện này có  
khi vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm thì bên bảo giá trị pháp lý hay không. SV sẽ lúng túng với  
đảm mới phải chịu phạt cọc.  
câu hỏi này vì quy định của Bộ luật dân sự về  
hợp đồng có điều kiện không nêu rõ nội dung này.  
Tuy nhiên, không phải vụ tranh chấp nào  
cũng có thể dễ dàng nhận ra quan hệ pháp luật  
Bộ luật dân sự ghi nhận, hợp đồng tặng cho  
tranh chấp. Trong án lệ số 24/2018/AL, có 10 có điều kiện là hợp đồng có chứa đựng điều kiện  
bản án, quyết định liên quan đến tranh chấp này. mà bên tặng cho đưa ra. Đây là cơ sở để hợp đồng  
Nguyên nhân chủ yếu là do xác định quan hệ tặng cho có hiệu lực hay không. Hợp đồng là sự  
pháp luật không giống nhau giữa các bản án dẫn thỏa thuận giữa các bên, bao gồm những nội dung  
đến kết quả xét xử là khác nhau. Dựa vào những mà các bên đã đạt được sự thống nhất là sự thỏa  
sự kiện pháp lý của vụ án, Tòa án cần phải chọn thuận giữa các bên, sự thống nhất ý chí này được  
lọc và đánh giá được giá trị pháp lý của từng sự biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan dưới  
kiện. Sự phức tạp của tình tiết vụ án giúp SV học hình thức bằng lời nói hoặc bằng văn bản. Như  
được kỹ năng tìm ra chính xác quan hệ pháp luật vậy, hợp đồng tặng cho có điều kiện thì điều kiện  
đang tranh chấp. Trong tình huống này, quan hệ đó cũng phải được thống nhất và ghi nhận dưới  
pháp luật tranh chấp được xác định là kiện đòi hình thức nhất định.  
tài sản thay vì là chia thừa kế như các bản án xét  
xử trước đó.  
Trong án lệ số 14/2017/AL, hợp đồng tặng  
cho quyền sử dụng đất được lập thành văn bản mà  
điều kiện tặng cho không được ghi nhận trong hợp  
đồng. Nếu chỉ cứng nhắc căn cứ theo hợp đồng  
thì đây là hợp đồng tặng cho không kèm theo điều  
kiện. Tuy nhiên, ý chí chung ban đầu khi xác lập  
hợp đồng thì hợp đồng tặng cho này, các bên đã  
thống nhất kèm theo điều kiện bên được tặng cho  
(Quàng Văn P2) phải xây nhà cho bên tặng cho  
ở (Quàng Văn P1), chăm sóc chăm sóc vợ chồng  
cụ K (bố mẹ của ông Quàng Văn P1).  
Học cách vận dụng quy định pháp luật  
Việc nghiên cứu và phân tích quy định pháp  
luật là cần thiết nhưng chưa đủ vì chỉ giúp SV  
biết và hiểu những quy định pháp luật. Bởi mỗi  
quy định chỉ là một màu đơn sắc. Trong khi mỗi  
vụ việc thực tế là một bức tranh sinh động với  
nhiều màu sắc. Muốn vận dụng luật đòi hỏi người  
nghiên cứu và hành nghề luật phải nắm rõ quy  
tắc cơ bản, chọn lọc và pha trộn một cách nhuần  
nhuyễn những quy định có liên quan, tạo ra một  
Mặc dù không ghi nhận trực tiếp trong hợp  
67  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Katz, Pamela và Lê Nguyễn Gia Thiện. (2013).  
Khái quát về đào tạo luật tại Hoa Kỳ. Tạp chí  
Nghiên cứu Lập pháp, Số 23, 57-62.  
đồng (ghi nhận trong văn bản ủy quyền) nhưng ý  
chí đích thực của các bên thì việc tặng cho phải  
kèm theo điều kiện. Vì vậy, hướng xử lý là công  
nhận điều kiện của hợp đồng tặng cho quyền sử  
dụng đất và xác định đây là hợp đồng tặng cho  
tài sản có điều kiện.  
Lê Văn Sua. (2015). Án lệ và vai trò của án lệ trong  
hoạt động xét xử của Tòa án. Cổng thông tin  
điện tử Bộ Tư pháp, Truy cập từ https://moj.  
gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.  
aspx?ItemID=1867.  
SV tìm hiểu và phân tích án lệ sẽ nhận thấy  
rằng, quy định pháp luật mang tính khuôn khổ  
và ổn định. Trong khi đó, thực tế luôn sinh động,  
phức tạp và không phải lúc nào cũng diễn ra theo  
đúng sự sắp đặt trong mô tả ở phần giả định của  
nhà lập pháp. Chính án lệ đã giải quyết vấn đề  
một cách mềm dẻo, linh hoạt hợp tình hợp lý, góp  
phần đẩy lùi “tình ngay mà lý thì gian”. Khi tiếp  
xúc những tình huống tình này, SV và cả những  
người hành nghề luật cũng gặp phải sự lúng túng.  
Án lệ sẽ giúp SV hiểu và vận dụng được quy định  
pháp luật để giải quyết những tình huống muôn  
màu muôn vẻ trên thực tế.  
Lê Phước Lộc. (2000). Dạy học tình huống và vận  
dụng trong dạy học thiên văn. Kỷ yếu hội nghị  
cải tiến phương pháp dạy học đại học. Khoa  
Sư phạm Đại học Cần Thơ, 29-35.  
Nguyễn Bá Bình. (2019). Án lệ và sử dụng Án lệ  
trong đào tạo luật ở Việt Nam hiện nay. NXB  
Tư pháp.  
Nguyễn Đức Lam. (2012). Án lệ ở Anh quốc:  
lịch sử, khái niệm nguyên tắc và cơ chế thực  
hiện. Tạp chí Lập pháp online. Truy cập từ  
aspx?tintucid=207746.  
4. Kết luận  
Cùng với những phương pháp khác, sử dụng  
án lệ trong giảng dạy là việc làm cần thiết và cần  
được nhân rộng. Tuy nhiên, phương pháp này phụ  
thuộc rất nhiều vào các án lệ. Với lượng 37 án lệ  
được công bố bao gồm các lĩnh vực từ dân sự,  
kinh doanh - thương mại, hành chính và hình sự  
thì số lượng này thật sự là khiêm tốn. Trong rất  
nhiều chế định luật không có án lệ nào được công  
bố đã làm cho việc sử dụng án lệ trong những  
môn học chứa đựng các chế định này không khả  
thi. Trong thời gian tới, song song với việc tăng  
cường số lượng án lệ cần phải mở rộng thêm lĩnh  
vực công bố án lệ giúp cho việc giảng dạy luật  
học mang lại những hiệu quả tích cực./.  
Nguyễn Thu Trang. (2014). Vai trò của án lệ và  
thực tiễn xét xử trong hệ thống pháp luật Việt  
Nam. Luận văn Thạc sĩ, Khoa Luật - Đại học  
Quốc gia Hà Nội.  
Nguyễn Văn Nam. (2007). Nghiên cứu so sánh  
nguồn luật án lệ trong hệ thống pháp luật  
nước Anh. Tạp chí Nhà nước và pháp luật,  
Số 5, 47-52.  
Trần Thăng Long. (2012). Vai trò của án lệ đối với  
sự phát triển của pháp luật quốc tế và sự cần  
thiết của việc sử dụng án lệ vào nghiên cứu và  
giảng dạy luật quốc tế ở Việt Nam hiện nay.  
Tạp chí Khoa học Pháp lý, Số 4 (71), 37-41.  
Tài liệu tham khảo  
Trương Nhật Quang. (2015). Sử dụng bản án trong  
giảng dạy: Góc nhìn từ người làm thực tiễn”.  
Tạp chí Khoa học Pháp lý, Số 04/2015, 20-25.  
Black, HenryCampbell. (1990). Black’slaw, st. Paul,  
Minn. West publishing co., Sixth edition, 272.  
Bùi Tiến Đạt. (2009). Áp dụng án lệ - Nhu cầu  
tất yếu trong điều kiện cải cách tư pháp và  
xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.  
Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội,  
Chuyên san Luật học, Số 25 (2009), 195-200.  
Vũ Công Giao. (2009). Tiếp cận công lý và các  
nguyên lý của nhà nước pháp quyền. Tạp chí  
Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học  
25, 188-194.  
Vũ Thị Thúy. (2010). Ứng dụng phương pháp giảng  
dạy tình huống trong đào tạo ngành luật. Tạp  
chí Khoa học Pháp lý, Số 04/2010, 65-71.  
Dương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Thúy. (2009). Vấn  
đề áp dụng án lệ ở Việt Nam. Tạp chí Luật  
học, Số 05, 28-35.  
68  
pdf 7 trang Thùy Anh 9820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sử dụng án lệ trong giảng dạy luật học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_dung_an_le_trong_giang_day_luat_hoc.pdf