Hoàn thiện chương trình đào tạo pháp luật kinh doanh - Kinh nghiệm từ Đại học Thái Nguyên

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
3.  
HOÀN THIỆN CHƯƠNG TRÌNH  
ĐÀO TẠO PHÁP LUẬT KINH DOANH -  
KINH NGHIỆM TỪ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TS. Lưu Bình Dương(*)  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN VÀ BỐI CẢNH HÌNH THÀNH ĐÀO TẠO  
CHUYÊN NGÀNH LUẬT TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC  
Đại học Thái Nguyên là một trong 05 trường đại học của Việt Nam thực hiện theo  
mô hình Đại học hai cấp (Đại học vùng), được giao trọng trách là trung tâm đào tạo  
nguồn nhân lực cho các tỉnh, các cơ sở đào tạo và dạy nghề trên địa bàn vùng núi phía  
Bắc và cả nước. Đồng thời, trường thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, chuyển  
giao công nghệ góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế - chính trị - văn hóa  
- xã hội của vùng trung du, miền núi phía Bắc. Tại Đại học Thái Nguyên hiện có 07  
trường đại học thành viên, 02 Khoa và 01 trường Cao đẳng trực thuộc. Số lượng cán  
bộ, viên chức, lao động là 4.374 người, trong đó có 2.605 giảng viên (trong số giảng  
viên có 163 GS, PGS, 596 tiến sĩ). Quy mô đào tạo hiện nay của trường Đại học là 109  
ngành với 149 chuyên ngành đào tạo trình độ đại học; Quy mô người học đạt xấp xỉ  
45.000 người (trong đó có trên 5.000 học viên sau đại học); chủ yếu các ngành truyền  
thống thế mạnh thuộc nhiều lĩnh vực khoa học: tự nhiên, xã hội, nhân văn, nông, lâm  
nghiệp, kinh tế, quản trị quản lý, y học, kỹ thuật và công nghệ...  
Trước năm 2012 tại Đại học Thái Nguyên (ĐHTN) chưa đào tạo các chuyên ngành  
pháp luật; Yêu cầu phát triển tương xứng với vai trò của Đại học vùng, cùng với nhân  
lực của các tỉnh miền núi phía Bắc và nhu cầu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ làm công tác  
(*) Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên  
42  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
tư pháp - pháp chế của các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đòi hỏi  
cần phải tổ chức đào tạo ngành pháp luật tại ĐHTN. Tháng 12/2012, ĐHTN đã quyết  
định mở ngành đạo tạo Luật học tại hai trường đại học thành viên là Đại học Khoa học  
và Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh.  
KHUNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO VÀ KẾT QUẢ ĐÀO TẠO NGÀNH  
LUẬT KINH TẾ TẠI CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO CỦA ĐHTN  
a) Tại trường Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh  
Khi giao nhiệm vụ đào tạo ngành Luật tại ĐHTN cho các trường thành viên,  
ĐHTN dựa trên đề xuất về hướng phát triển và bản thân nội lực của cơ sở đào tạo.  
Trong đó trường Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh (ĐHKTQTKD) có thế mạnh  
đội ngũ giảng viên trình độ cao chuyên ngành kinh tế, ngân hàng, thương mại… đồng  
thời cũng là định hướng phù hợp nền tảng đào tạo của nhà trường là cơ sở đào tạo kiến  
thức chuyên ngành kinh tế. Từ đó quyết định lựa chọn chuyên ngành Luật Kinh doanh.  
Theo đó chương trình đào tạo theo quy định khung ngành Luật học của Bộ Giáo dục  
và Đào tạo và các môn do trường đưa vào với tổng số 126 tín chỉ. Phần kiến thức cơ sở  
của ngành là 48 tín chỉ. Kiến thức chuyên ngành là 16 tín chỉ (trong đó bắt buộc là 12  
tín chỉ với 06 môn, tự chọn là 04 tín chỉ bằng 02 môn/05 môn bố trí). Các môn thay thế  
khóa luận tương đương 06 tín chỉ chọn 03/07 môn). Ngoài ra theo chương trình sinh  
viên có 04 tín chỉ bắt buộc thực tập tại các cơ quan, đơn vị tương ứng sử dụng ngành  
Luật Kinh tế trước khi ra trường (có Phụ lục 01 về các môn chuyên ngành).  
Ngành Luật tại Trường ĐHKTQTKD đăng ký mã ngành 7380107, trường xác định  
chuyên ngành đào tạo là Luật Kinh tế (Luật Kinh doanh). Quy mô tuyển sinh chính  
quy là 150 SV/năm, đến nay đã tuyển sinh được 1.100 SV; đã tốt nghiệp là 180 SV).  
Trường tuyển sinh liên thông hệ cao đẳng lên Đại học và hệ vừa làm vừa học tính đến  
nay là 900 học viên.  
b) Tại trường Đại học Khoa học  
Tại trường Đại học Khoa học (ĐHKH) khi giao nhiệm vụ đào tạo ngành Luật  
học, ĐHTN đã cân nhắc đánh giá định hướng của trường ĐHKH là trường đào tạo đa  
ngành, đa lĩnh vực đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu đào tạo Luật học có thể đảm  
nhận theo cả 04 chuyên ngành như các cơ sở đào tạo lớn hiện nay; song có tính đến lộ  
trình 04 năm đầu chia làm hai chuyên ngành là Luật Hình sự, Chuyên ngành Luật Dân  
sự - Kinh tế; sang năm thứ 5 của quá trình đào tạo đào tạo đủ 04 chuyên ngành (trong  
43  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
đó có Luật kinh tế riêng biệt). Đào tạo ngành Luật tại trường Đại học Khoa học đăng  
ký mã ngành 7380101, trường xác định chuyên ngành đào tạo gồm 04 chuyên ngành  
là Luật Hình sự, Luật Dân sự, Luật Hành chính và Luật Kinh tế.  
Khung chương trình Luật gồm 135 tín chỉ. Trong đó chuyên ngành Kinh tế theo  
quy định khung ngành Luật học của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các môn do trường  
đưa vào với tổng số 135 tín chỉ. Phần kiến thức cơ sở của ngành là 98 tín. Kiến thức  
chuyên ngành là 20 tín chỉ (bắt buộc là 12 tín chỉ với 05 môn, tự chọn là 04 tín chỉ  
bằng 02 môn/04 môn bố trí). Các môn thay thế khóa luận tương đương 07 tín chỉ chọn  
02/07 môn). Ngoài ra theo chương trình sinh viên có 07 tín chỉ bắt buộc thực tập, thực  
tế (gồm thực tập 03 tín, thực tế lần 01 là 02 tín, thực tế lần 02 là 02 tín) Thực tế lần 01  
các SV về thực tế tại UBND cấp xã làm quen với các thủ tục hành chính; thực tế lần  
02 SV về thực tế tại các cơ quan tư pháp; Thực tập tại các cơ quan, đơn vị tương ứng  
sử dụng ngành Luật trước khi ra trường (có Phụ lục 01 về các môn chuyên ngành ).  
Quy mô tuyển sinh chính quy ngành Luật là 200 SV/năm, đến nay đã tuyển sinh  
được 1.200 SV; Sinh viên học chuyên ngành Luật Kinh tế là 369 SV (đã tốt nghiệp là  
123 SV). Trường tuyển sinh liên thông hệ cao đẳng lên Đại học và hệ vừa làm vừa học  
tính đến nay là 1.100 học viên, trong đó học chuyên ngành Luật Kinh tế là 600 học  
viên (đã có 150 học viên tốt nghiệp).  
ĐÁNH GIÁ KHUNG CHƯƠNG TRÌNH VỚI NHU CẦU XÃ HỘI, NĂNG  
LỰC CỦA CƠ SỞ ĐÀO TẠO VÀ NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC TẠI ĐHTN  
a) Đánh giá khung chương trình với nhu cầu người học:  
Nhu cầu người học về kiến thức theo quan niệm của chúng tôi phụ thuộc vào một  
số điểm chung là các đòi hỏi chung về đào tạo nguồn nhân lực ngành Luật Kinh tế  
đáp ứng ngưỡng của yêu cầu trong nước và hội nhập, nhưng cũng đồng thời phụ thuộc  
các điểm riêng của nhu cầu địa phương, vùng liên quan đến sử dụng nguồn nhân lực.  
+ Điểm chung về đào tạo nguồn nhân lực ngành Luật Kinh tế đáp ứng ngưỡng của  
yêu cầu trong nước và hội nhập là các kiến thức phổ thông và kiến thức cập nhật hiện  
đại của chuyên ngành Luật kinh tế. Nghiên cứu khung chương trình của 02 cơ sở đào  
tạo thuộc ĐHTN cho thấy: khung đã bảo đảm tuân theo quy định của Bộ Giáo dục và  
Đào tạo, có tính đến thế mạnh của cơ sở đào tạo; các học phần trong khung đáp ứng  
kiến thức chung phổ biến như: Pháp Luật Cạnh tranh, pháp luật về thị trường chứng  
khoán, pháp luật về sở hữu trí tuệ, luật kinh doanh bảo hiểm, sở hữu trí tuệ, pháp luật  
44  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
về nhượng quyền thương mại, pháp luật về đấu thầu, pháp luật về hợp đồng tín dụng  
và bảo đảm tín dụng... Khung cũng đã xây dựng cập nhật được kiến thức các môn học  
có kiến thức hiện đại như:Hợp đồng thương mại quốc tế, giải quyết tranh chấp trong  
kinh doanh thương mại, pháp luật kinh doanh của các nước ASEAN. Tuy nhiên, số  
lượng học phần còn rất khiêm tốn.  
+ Các điểm riêng của nhu cầu địa phương, vùng liên quan đến sử dụng nguồn  
nhân lực là các yêu cầu về sử dụng kiến thức, mức độ về kỹ năng nghề được đào tạo  
khi làm việc tại địa phương theo mức độ thực trạng pháp luật địa phương đặt ra phù  
hợp với kinh tế xã hội vùng. Đánh giá khung của 02 đơn vị cho thấy đã có các môn  
học khá phong phú: Kỹ năng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp; soạn thảo hợp đồng  
thương mại; hợp đồng thương mại và kỹ năng soạn thảo, giao kết hợp đồng thương  
mại; pháp luật tố tụng thương mại, trọng tài... Đồng thời cho phép sinh viên thực tế và  
thực tập hành nghề từ 04 đến 07 tín chỉ tại các tổ chức, cơ quan đơn vị.  
Qua khảo sát bằng việc mời nhà tuyển dụng đánh giá chuẩn đầu ra và đánh giá  
tuyển dụng sinh viên ngành Luật ra trường tại trường ĐHKH (trong đó đánh giá  
72SV/123 SV ngành Luật Kinh tế tốt nghiệp), nhận xét của doanh nghiệp như sau:  
có 19 SV đáp ứng tốt để tuyển dụng (bằng 26,3%). 37 SV đáp ứng được nhu cầu sử  
dụng, nhưng cần bồi dưỡng thêm (bằng 51,3%). Số còn lại không đáp ứng yêu cầu  
(chiếm 22,2%). Tuy nhiên, cũng phải đánh giá rằng đây là các doanh nghiệp, cơ quan  
địa phương có nhu cầu tuyển dụng và mức độ đòi hỏi về chuyên môn, nghiệp vụ chưa  
thật cao, thậm chí doanh nghiệp của họ chưa có các hoạt động thương mại quốc tế  
hoặc chưa tham gia thị trường chứng khoán nên đòi hỏi kiến thức pháp luật kinh tế  
còn thấp.  
b) Đánh giá khung chương trình với năng lực của cơ sở đào tạo  
Khung chương trình đào tạo của hai trường được ban hành cũng trên cơ sở cân  
nhắc rất kỹ lưỡng về nhân lực của cơ sở đào tạo để phù hợp khi tuyển sinh không phụ  
thuộc quá lớn vào nguồn giảng viên bên ngoài (mời giảng). Tuy nhiên, đây là hạn chế  
rất lớn khi không có nhiều môn học cập nhật, chất lượng cao hoặc nhập khẩu từ nước  
ngoài về… sẽ không được đáp ứng, làm cho kiến thức chuyên ngành nghèo nàn theo  
hướng chỉ “bán cái mình có” mà chưa phục vụ cái xã hội cần. Đội ngũ giảng viên rất  
mỏng (Bộ môn Luật của ĐHKTQT là 15 giảng viên trình độ thạc sĩ trong đó có 03  
NCS; Bộ môn Luật của trường ĐHKH là 14 giảng viên có 01 tiến sĩ, 05 NCS còn lại  
là thạc sĩ); kinh nghiệm giảng dạy và công tác còn hạn chế: Cán bộ lâu năm công tác  
45  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
pháp luật và giảng dạy là 20 năm, cán bộ trẻ là 04 năm cũng đã ảnh hưởng trực tiếp  
đến chất lượng chuyên môn.  
Trong tổng số giảng viên của hai trường giảng dạy ngành Luật, chỉ có 1/3 cán bộ là  
giảng dạy các môn chuyên ngành Kinh tế (ĐHKTQTKD có 05 giảng viên; ĐHKH có  
04 giảng viên). Nhiều môn học phần chỉ có một giảng viên phụ trách và nhiều giảng  
viên phải phụ trách giảng dạy từ 03 - 05 học phần chuyên ngành.  
c) Đánh giá khung chương trình với năng lực người học tại ĐHTN  
Người học cũng là yếu tố rất quan trọng liên quan đến thiết kế, vận hành khung  
chương trình đào tạo ngành Luật. Xác định chất lượng nhân lực đầu vào tại ĐHTN  
chủ yếu là con em dân tộc vùng miền núi phía Bắc và một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ  
có kiến thức phổ thông thấp hơn các trường trọng điểm quốc gia ở Hà Nội, Huế, Đà  
Nẵng, đồng thời cùng với việc xác định nguồn nhân lực đầu ra đáp ứng nhu cầu thị  
trường chưa cao nên khung chương trình được thiết kế mang tính “phổ thông”; đã  
quan tâm nhiều đến việc định hướng kỹ năng ứng dụng cho người học; bảo đảm mọi  
sinh viên đã trúng tuyển có thể hoàn thành chương trình đào tạo.  
Từ lý do này, khung chương trình có rất nhiều hạn chế: Hạn chế lớn nhất là chương  
trình đào tạo ngoại ngữ (ngưỡng kiến thức rất thấp A2 hoặc dưới A2 nội bộ - sinh viên  
không có khả năng giao tiếp thông thường, tham khảo tài liệu phổ thông tiếng Anh); các  
môn cập nhật và mang tính hiện đại không có thực hành như thị trường chứng khoán,  
thuế, đầu tư... Tư liệu nghiên cứu và kỹ năng giảng của giảng viên chưa có kinh nghiệm  
thực tế... đây cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến thiết kế khung chương trình.  
MỘT SỐ NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ, KHUYẾN NGHỊ  
Qua phân tích bức tranh đào tạo ngành Luật Kinh tế tại ĐHTN qua hai đơn vị đào  
tạo nêu trên chúng tôi có một số nhận xét bước đầu như sau:  
1) Thành công của cơ sở đào tạo:  
Bước vào thời kỳ đổi mới, hội nhập ĐHTN đã cho phép đào tạo chuyên ngành  
Luật nói chung và ngành Luật Kinh tế tại cơ sở đại học đã góp phần đưa ĐHTN vào  
bản đồ các cơ sở đào tạo ngành Luật ở Việt Nam; chương trình đào tạo và kết quả đã  
bước đầu đáp ứng nhu cầu xã hội, qua đào tạo đã cung cấp ra thị trường nhân lực có  
chất lượng phục vụ thị trường lao động (nhân lực là sinh viên chính quy và phi chính  
quy là cán bộ đáng công tác chuẩn hóa bằng cấp).  
46  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
Chương trình đạo tạo với các môn học đáp ứng kiến thức chung phổ thông và kiến  
thức mang tính kỹ năng, kiến thức qua thực tế, thực tập làm cho người học không chỉ  
tiếp cận về mặt lý thuyết mà còn bắt nhịp về mặt thực hành hơi thở cuộc sống và các  
vấn đề pháp lý thực tế đặt ra.  
Các cơ sở đào tạo đã xây dựng được đội ngũ giảng viên, định hình thành Khoa  
chuyên ngành (Khoa Luật và Quản lý xã hội - trường ĐHKH; Khoa Quản lý kinh tế -  
Luật của trường ĐHKTQTKD). Đội ngũ giảng viên đã xây dựng được một số tập bài  
giảng, giáo trình môn học kỹ năng của chuyên ngành mình.  
Đào tạo ngành Luật học nói chung và Luật Kinh tế nói riêng đã trở thành mũi nhọn  
trong công tác tuyển sinh của cả hai trường.  
2) Một số hạn chế:  
Đào tạo cử nhân Luật kinh tế không chỉ đáp ứng nguồn nhân lực của địa phương  
mà còn đáp ứng chuẩn “ngưỡng” của quốc gia, hội nhập quốc tế. Ngày nay công dân  
đang trở thành “công dân toàn cầu”, nguồn nhân lực toàn cầu, vì thế không chỉ thiết kế  
khung đào tạo, chương trình đạo tạo nguồn nhân lực cho vùng, địa phương, cho nhóm  
đối tượng mà phải cho nhu cầu chung xã hội. Đây là khó khăn lớn nhất cần vượt qua  
trong tư duy đào tạo hiện nay ở ĐHTN.  
Đội ngũ giảng viên còn mỏng, kinh nghiệm hạn chế, môi trường học thuật chưa  
hình thành là những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo; nhất là tiếp cận các xu  
thế mới trong lĩnh vực Luật Kinh doanh; thương mại quốc tế; hoạt động trọng tài; pháp  
luật thị trường chứng khoán; pháp luật bảo hiểm; pháp luật thuế, pháp luật đầu tư…  
Các cơ sở đào tạo có đào tạo ngành Luật là các cơ sở đào tạo đa ngành hoặc chuyên  
ngành rộng, ngành Luật chỉ là một ngành (Trường ĐHKH có đào tạo 19 chuyên ngành  
trong đó có Luật; trường Đại học KTQTKD đào tạo 10 chuyên ngành trong đó có  
chuyên ngành Luật Kinh tế). Vì vậy sự quan tâm và ưu tiên trong xây dựng đội ngũ,  
phát triển học thuật, cơ sở vật chất… phải dàn trải, chưa được chú trọng với yêu cầu  
đặt ra.  
Công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo, giáo trình, giáo án, bài giảng, học  
liệu thực hành chưa được quan tâm và định lượng để chuẩn hóa đánh giá khi đào tạo;  
hiện tượng đánh giá nội bộ, xuề xòa vẫn còn xảy ra.  
47  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
3) Kiến nghị:  
Ở ĐHTN cần thiết phải đào tạo và mở rộng đào tạo ngành Luật thành ngành trọng  
điểm (trong đó có chuyên ngành Luật Kinh tế) để đáp ứng yêu cầu hội nhập là xu thế  
khách quan hiện nay. Để phát triển được ngành Luật cần nhất thể hóa vào một cơ sở  
đào tạo hoặc sáp nhập, nâng cấp thành khoa trực thuộc Đại học để thu hút nguồn nhân  
lực, chăm lo cơ sở vật chất, tạo môi trường học thuật như: Đại học Huế trước đây, Đại  
học Cần Thơ; Đại học Đà Nẵng…  
Quyền tự chủ mở ngành là quyền của các đơn vị đào tạo; tuy nhiên để phát triển  
bền vững và trú trọng chất lượng cần quy định và kiểm soát mở ngành trong đó ngành  
Luật cần phải nghiêm túc, bảo đảm đúng quy chế, không đủ điều kiện duy trì ngành  
phải dừng đào tạo.  
Cần quan tâm tăng cường hội thảo, thảo luận giao nhiệm vụ nghiên cứu khoa học  
công nghệ, đặt hàng để hình thành đội ngũ cán bộ giảng viên thạo nghề, yêu nghề công  
tác trong môi trường học thuật nghề luật.  
48  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
Bảng phụ lục  
KHUNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TẠI HAI TRƯỜNG  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KTQTKD  
Tổng số tín chỉ chuyên ngành  
TRƯỜNG ĐHKH  
26 tín chỉ Tổng số tín chỉ chuyên ngành  
12 Tín chỉ Môn học bắt buộc  
30 tín chỉ  
STT Môn học băt buộc  
12 Tín chỉ  
1
2
Luật Đầu tư  
Luật Cạnh tranh  
2
2
Pháp luật về an sinh xã hội  
Luật Cạnh tranh - bảo vệ quyền lợi  
người tiêu dùng  
3
3
3
P h á p lu ậ t v ề th ị tr ư ờ n g  
chứng khoán  
2
Hợp đồng thương mại quốc tế  
2
4
5
Pháp luật về sở hữu trí tuệ  
Luật Kinh doanh bảo hiểm  
2
2
Luật Đầu tư  
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh  
thương mại  
2
2
6
Pháp luật về kinh doanh bất  
động sản  
2
Tự chọn  
4/10 tín chỉ Tự chọn  
4/8 tín chỉ  
1
Tiếng Anh pháp lý  
2
K ỹ n ă n g t ư v ấ n p h á p lu ậ t c h o  
doanh nghiệp  
2
2
3
4
Kỹ năng tư vấn pháp luật  
Pháp luật an sinh xã hội  
Pháp luật kinh doanh của các  
nước ASEAN  
2
2
2
Soạn thảo hợp đồng thương mại  
Pháp luật kinh doanh bất động sản  
Pháp luật về chứng khoán  
2
2
2
5
Quản lý nhà nước về kinh tế  
2
Tư chọn thay khóa luận  
6/14  
tín chỉ  
Thay thế khóa luận  
(chọn 1/3 môn in nghiêng)  
7/13 tín chỉ  
1
Pháp luật về nhượng quyền  
thương mại  
2
Chuyên đề kinh tế nâng cao (bắt buộc)  
4
2
3
Luật So sánh  
2
2
Chuyên đề pháp luật ASEAN và TTP  
Trọng tài thương mại quốc tế  
3
3
Hợp đồng thương mại và kỹ năng  
soạn thảo, giao kết hợp đồng  
thương mại  
4
Pháp luật về hợp đồng tín dụng và  
bảo đảm tín dụng  
2
Luật Biển quốc tế  
3
5
6
7
Pháp luật về đấu thầu  
Quản lý công  
Kinh tế nguồn nhân lực  
Thực tế chuyên môn 01  
Thực tế chuyên môn 02  
2
2
2
Thực tế chuyên môn 01  
Thực tế chuyên môn 02  
2
2
Thực tập  
4
Thực tập  
3
49  
pdf 8 trang Thùy Anh 17060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện chương trình đào tạo pháp luật kinh doanh - Kinh nghiệm từ Đại học Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoan_thien_chuong_trinh_dao_tao_phap_luat_kinh_doanh_kinh_ng.pdf