Nâng cao năng lực hoạch định chính sách của đại biểu quốc hội trong hoạt động lập pháp

CHÍNH SÁCH  
NÂNG CAO NĂNG LỰC HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH  
CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TRONG HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP1  
Nguyễn Anh Phương*  
*Viện Nghiên cứu lập pháp  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Trong phạm vi bài viết này, tác giả dựa trên các yếu tố cấu thành, thuộc  
tính của năng lực hoạch định chính sách để phân tích, đánh giá thực trạng  
và đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực hoạch định  
chính sách của đại biểu Quốc hội Việt Nam.  
Từ khóa: Hoạch định chính sách,  
năng lực hoạch định chính sách,  
lập pháp, đại biểu Quốc hội.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 10/5/2021  
: 23/5/2021  
: 25/5/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Within the scope of this article, based on the constituent elements  
and attributes of policy-making competency, the author provides  
an analysis and assessments of the current situation and also gives a  
number of proposed recommendations as appropriate solutions for  
further improvements of the policy-making competency of the National  
Assembly deputies of Vietnam.  
Keywords: Policy making;  
policy-making  
competency;  
legislation; National Assembly  
deputies.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 10 May 2021  
: 23 May 2021  
: 25 May 2021  
Approved  
nhiệm vụ2. Năng lực được hình thành bởi  
sự kết hợp của ba yếu tố chính gồm: Kiến  
thức, kỹ năng, thái độ3; có thể học hỏi  
phát triển được, của một cá nhân hoặc tổ  
chức để thực hiện thành công nhiệm vụ4.  
Mức độ năng lực được phản ánh bởi chất  
lượng hoàn thành công việc. Từ đó, đi vào  
mỗi lĩnh vực cụ thể hoặc mỗi loại hoạt  
động sẽ có những loại/nhóm năng lực cụ  
1. Tổng quan về năng lực hoạch định  
chính sách của đại biểu Quốc hội  
- Khái niệm năng lực1  
Theo Từ điển năng lực của Đại học  
Harvard, năng lực (competency) theo  
nghĩa chung nhất, là những gì mà cá nhân  
phải chứng minh có hiệu quả trong công  
việc, thực hiện vai trò, chức năng, hoặc  
1 Bài viết này có sử dụng kết quả nghiên cứu của Đề tài cấp bộ: “Nâng cao năng lực hoạch định chính sách  
của đại biểu Quốc hội trong hoạt động lập pháp: Thực trạng và giải pháp” do Nguyễn Anh Phương làm  
Chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu lập pháp là cơ quan chủ trì.  
2 Harvard University, Competency Dictionary, Development Dimensions Int’l, Inc., p.4.  
3 Hoặc: Thái độ và các giá trị.  
4 OECD 2002, DeSeCo: Education - Lifelong Learning and the Knowledge Economy: Key Competencies for  
the Knowledge Society. In: Proceedings of the DeSeCo Symposium, Stuttgart.  
24  
Số 11(435) - T6/2021  
CHÍNH SÁCH  
thể và phù hợp, được thể hiện bởi những  
loại kỹ năng tương ứng. Vì thế, cấu trúc  
năng lực cốt lõi có thể khác nhau ở các  
lĩnh vực5.  
Hoạch định chính sách (policy-making)  
là hành động có chủ đích của các chính trị  
gia nhằm đạt được các mục tiêu trong hoạt  
động của Nhà nước. Hoạch định chính sách  
có thể được hiểu là hành động làm ra chính  
sách; nhưng cũng thường được hiểu là một  
giai đoạn, hoặc một quá trình bao gồm  
nhiều hoạt động, nhiều giai đoạn như: đề  
xuất, xây dựng, hình thành nên chính sách  
công; hoặc là đồng nhất với cả một chu  
trình chính sách (policy cycle).  
Khi bàn về năng lực, cần lưu ý một số  
điểm sau đây:  
Thứ nhất, năng lực không phải là phép  
cộng đơn giản của kiến thức, kỹ năng và  
thái độ, cũng như không phải mỗi cá nhân  
chỉ cần có kiến thức, có kỹ năng, hoặc có  
thái độ tốt thì đương nhiên có năng lực6.  
- Khái niệm năng lực chính sách7  
Thứ hai, rất nhiều định nghĩa về năng  
lực thường quy chiếu về một hay nhiều loại  
khả năng nào đó, nhưng cần phân biệt năng  
lực với khả năng. Bởi vì năng lực được thể  
hiện trong hoạt động, công việc và cần được  
đánh giá dựa trên kết quả, mức độ hoàn  
thành. Trong khi khả năng mới chỉ là cái có  
thể có, ở dạng tiềm năng, có thể xuất hiện  
hoặc không xuất hiện.  
Theo tác giả, năng lực chính sách được  
cấu thành bởi kiến thức, các kỹ năng hoạch  
định chính sách, thái độ trách nhiệm và khả  
năng của Nhà nước trong việc xác định,  
đánh giá các vấn đề công, nhằm xây dựng,  
phát triển chính sách phù hợp để giải quyết  
vấn đề, tình huống chính sách một cách  
hiệu quả.  
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu coi năng  
lực chính sách là tổng hợp của các khả năng  
và nguồn lực cần thiết để thực hiện các chức  
năng chính sách. Cụ thể, năng lực chính  
sách gồm các yếu tố (cốt lõi) sau8: năng lực  
phân tích (analytical competence); năng lực  
vận hành (operational competence); năng  
lực chính trị (political competence). Theo  
đó, năng lực chính sách là khả năng của các  
chủ thể khác nhau trong việc phân tích, vận  
hành, thu hút sự ủng hộ chính trị đối với  
việc đề xuất, xây dựng, ban hành và thực thi  
chính sách công trên các cấp độ cá nhân, tổ  
chức, hệ thống9.  
Vì vậy, khi tiếp cận các định nghĩa  
năng lực dưới góc độ khả năng, thì đồng  
thời phải gắn với việc xem xét, đánh giá  
kết quả thực hiện trên thực tế, tức là năng  
lực phải được biểu hiện ra, phản ánh trong  
hoạt động cụ thể.  
- Khái niệm hoạch định chính sách  
Chính sách công là hệ thống những hành  
động có chủ đích, mang tính quyền lực nhà  
nước, được ban hành theo những trình tự,  
thủ tục nhất định, nhằm mục tiêu giải quyết  
các vấn đề phát sinh trong thực tiễn, hay  
thúc đẩy các giá trị ưu tiên.  
5 OECD 2005, The definition and selection of key competencies: Executive summary.  
6 Nói cách khác, đây không phải là điều kiện cần và đủ.  
7 Trong bài viết này, tác giả sử dụng khái niệm năng lực chính sách và năng lực hoạch định chính sách theo  
nghĩa tương đương nhau.  
8 X. Wu, M. Howlett & M. Ramesh, Policy Capacity: Conceptual Framework and Essential Components, in:  
X. Wu, M. Howlett & M. Ramesh, ed. (2018), Policy Capacity and Governance: Assessing Governmental  
Competences and Capabilities in Theory and Practice, Palgrave Macmillan.  
9 Về nội dung này, có thể xem chi tiết tại: Nguyễn Đức Lam (2020), Khung phân tích năng lực chính sách - Lý  
thuyết đánh giá năng lực chính sách công, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 12 (412), tr. 36-42.  
Số 11(435) - T6/2021  
25  
CHÍNH SÁCH  
- Năng lực hoạch định chính sách của  
đại biểu Quốc hội trong hoạt động lập pháp  
- Nâng cao năng lực chính sách của  
ĐBQH  
Dựa vào khái niệm năng lực chính sách  
như trên, có thể hiểu năng lực hoạch định  
chính sách của đại biểu Quốc hội (ĐBQH)  
là sự kết hợp hài hòa kiến thức, kỹ năng,  
thái độ của ĐBQH trong việc phân tích  
vấn đề chính sách, vận hành các nguồn lực,  
thu hút sự ủng hộ chính trị nhằm lựa chọn  
phương án chính sách phù hợp nhất, thực  
hiện có hiệu quả chức năng, vai trò hoạch  
định chính sách.  
Nâng cao năng lực là quá trình làm tăng  
khả năng nội tại (của một cá nhân hoặc tổ  
chức) để nhận biết, phân tích và giải quyết  
các vấn đề một cách hiệu quả10. Nâng cao  
năng lực, hay xây dựng, phát triển năng  
lực, là một phương pháp tiếp cận hay một  
hệ thống nhằm tăng cường khả năng nhận  
thức, phát triển các kỹ năng, sự tự tin để đạt  
tới thành công một cách bền vững. Phương  
pháp quan trọng thường được sử dụng để  
xây dựng, nâng cao năng lực là thông qua  
giáo dục và đào tạo11.  
Trong đó, kiến thức là những hiểu biết cụ  
thể của cá nhân ĐBQH về tổ chức, bộ máy,  
quy trình, thủ tục hoạt động của Quốc hội,  
lý thuyết cơ bản về hoạch định chính sách  
nói chung, về phân tích chính sách, đánh  
giá chính sách nói riêng trong hoạt động lập  
pháp... Đây là điều kiện quan trọng để nâng  
cao khả năng, tư duy phản biện chính sách.  
Như vậy, nâng cao năng lực chính sách  
của ĐBQH có thể hiểu là quá trình phát  
triển khả năng nhận biết, kỹ năng phân tích,  
thái độ chính trị, sự tự tin và có trách nhiệm  
trong việc lựa chọn phương án để giải quyết  
các vấn đề chính sách trong hoạt động lập  
pháp một cách hiệu quả.  
Kỹ năng được hiểu là cách thức thực hiện  
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc  
hội và ĐBQH một cách hiệu lực, hiệu quả,  
được biểu hiện ra trong hoạt động lập pháp  
nói chung, trong việc soạn thảo hoặc đánh  
giá, tiếp nhận kết quả của các bản phân tích,  
đánh giá chính sách nói riêng.  
2. Thực trạng năng lực hoạch định chính  
sách của đại biểu Quốc hội ở nước ta  
Trước hết, tác giả cho rằng, đánh giá  
kết quả hoạt động của ĐBQH nói chung,  
năng lực chính sách của đại biểu nói riêng,  
sau cùng, chính là quyền quyết định của cử  
tri thông qua lá phiếu bầu cử. Tuy nhiên,  
việc khảo sát đánh giá năng lực chính sách  
của ĐBQH cũng sẽ rất hữu ích cho cử tri  
tham khảo để có cơ sở giám sát, đánh giá  
hiệu quả hoạt động của người đại diện với  
những tiêu chí rõ ràng, hơn là chỉ nhận xét  
một cách chung chung, cảm tính. Đương  
nhiên, những tiêu chí đánh giá cụ thể cũng  
là căn cứ đáng tin cậy để các ĐBQH có thể  
“soi mình”, “sửa mình”.  
Thái độ (và các giá trị) là một khái niệm  
khá trừu tượng, ở đây chủ yếu nhấn mạnh  
các quan điểm, hành vi mang tính chuẩn  
mực đạo đức công, trách nhiệm/trách nhiệm  
giải trình, trách nhiệm chính trị của cá nhân  
ĐBQH, phù hợp với các tiêu chuẩn ĐBQH,  
hoặc là sự thể hiện mức độ nhiệt huyết, đam  
mê với “nghề” đại biểu dân cử, mong muốn  
cống hiến của từng cá nhân trong hoạt động  
lập pháp…  
10 Crisp BR, Swerissen H, Duckett SJ, 2000, Four approaches to capacity-building in health: Consequences for  
measurement and accountability, Health Promot Int., pp.99-107.  
11 Elizabeth Baillie, Christel Bjarnholt, Marlies Gruber & Roger Hughes, 2008, Acapacity-building conceptual  
framework for public health nutrition practice, Public Health Nutrition 12(8), 1031-1038.  
26  
Số 11(435) - T6/2021  
CHÍNH SÁCH  
Để khảo sát một cách đầy đủ nhằm đánh  
giá đúng thực trạng năng lực hoạch định  
chính sách của ĐBQH, theo tác giả, ngoài  
các tiêu chí định tính, thì một số tiêu chí  
định lượng cần thiết là:  
xuất chính sách, cũng như các vấn đề khác  
trong các dự thảo luật, cũng đã góp phần  
tích cực vào kết quả hoạt động của Quốc  
hội, năng lực chính sách được nâng lên qua  
mỗi nhiệm kỳ nếu xem xét ở “tiêu chí” số  
luật được thông qua trong các nhiệm kỳ  
Quốc hội gần đây12.  
(1) Căn cứ vào các đề xuất chính sách,  
các dự án luật, pháp lệnh mà ĐBQH đã kiến  
nghị, đề nghị trong nhiệm kỳ;  
Có thể nói, khảo sát, đánh giá chất lượng  
Báo cáo đánh giá tác động của chính sách  
trong các dự án luật là một nội dung rất  
quan trọng giúp phản ánh thực trạng năng  
lực hoạch định chính sách. Như đã đề cập  
trên đây, đa số các báo cáo đánh giá tác  
động lại không được trực tiếp kiến nghị,  
soạn thảo hay chủ trì soạn thảo bởi các  
ĐBQH; vì thế, chỉ có thể đánh giá năng  
lực chính sách gián tiếp thông qua những  
thảo luận, góp ý sửa đổi, hoặc quyết định  
thông qua hồ sơ chính sách, dự án luật…  
Tuy nhiên, kết quả phân tích 37 Báo cáo  
đánh giá tác động của chính sách trong các  
đề nghị xây dựng luật từ đầu năm 2017 đến  
tháng 8/2020 cho thấy, đa số các báo cáo  
đánh giá tác động của chính sách trong các  
đề nghị xây dựng luật/dự thảo luật “còn  
sơ sài, có chất lượng thấp”, việc xác định  
thế nào là “chính sách”, đề xuất chính sách  
còn lúng túng13…  
(2) Căn cứ vào các ý kiến góp ý xây  
dựng, phản biện chính sách, góp ý nội dung  
chính sách cho các dự thảo luật, pháp lệnh  
tại các phiên họp Ủy ban, họp đại biểu  
chuyên trách, thẩm tra, thảo luận tại kỳ họp  
Quốc hội, cũng như trên các phương tiện  
thông tin truyền thông;  
(3) Căn cứ vào số lần tham gia chất vấn  
có nội dung về các vấn đề chính sách (trực  
tiếp hoặc bằng văn bản) của ĐBQH;  
(4) Căn cứ vào các nội dung chính sách  
trong chương trình hành động, lời hứa khi  
ứng cử ĐBQH, khi tiếp xúc cử tri và so sánh  
với kết quả thực hiện;  
(5) Căn cứ vào các quyết định “bấm  
nút” đồng ý, hay không đồng ý thông qua  
dự luật.  
Tuy nhiên, hiện tại chúng ta vẫn chưa có  
một cơ sở dữ liệu công khai, có độ tin cậy  
cao để có thể đánh giá chi tiết theo các tiêu  
chí như trên.  
Có không ít ĐBQH rất ít phát biểu ý  
kiến, thảo luận các vấn đề, phương án  
chính sách tại các phiên họp thẩm tra, các  
cuộc họp Tổ ĐBQH, phiên họp tại hội  
trường về các dự án luật. Thậm chí, có một  
số ĐBQH trong nhiều kỳ họp, phiên họp  
của Quốc hội không tham gia hoạch định  
chính sách và góp ý kiến về các vấn đề  
khác trong dự án luật. Có một số ĐBQH  
Trên thực tế, rất ít ĐBQH trực tiếp đề  
nghị xây dựng luật, cũng như tham gia trực  
tiếp xây dựng nội dung chính sách trong  
hồ sơ các dự án luật được trình ra Quốc  
hội. Đây là một hạn chế trong việc chủ  
động thực hiện quyền của ĐBQH. Mặc  
dù vậy, sự tham gia của các ĐBQH trong  
quá trình thảo luận, thẩm tra… về các đề  
12 Quốc hội khóa XI đã thông qua được 84 luật, bộ luật. Quốc hội khóa XII (4 năm) đã thông qua được 67 luật,  
bộ luật. Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp 2013 và 107 luật, bộ luật. Quốc hội khóa XIV đã thông  
qua 73 luật.  
13 Lê Tuấn Phong (2020), “Thực trạng đánh giá tác động của chính sách trong xây dựng luật ở nước ta và một  
số đề xuất, kiến nghị”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 23 (423).  
Số 11(435) - T6/2021  
27  
CHÍNH SÁCH  
khác có phát biểu, nhưng chất lượng ý kiến  
phát biểu còn hạn chế, nặng về góp ý kiến  
câu chữ, kỹ thuật lập pháp, không có tính  
phản biện, không góp ý kiến về các chính  
sách, nội dung cơ bản của dự án luật, pháp  
lệnh nên không giúp nhiều cho việc tiếp  
thu, chỉnh lý hoàn thiện các chính sách của  
dự thảo luật, pháp lệnh14.  
ĐBQH tái cử còn ít (chỉ chiếm khoảng 1/3),  
còn số ĐBQH mới được bầu lần đầu chiếm  
tỷ lệ cao (khoảng 2/3) nên có thể gặp nhiều  
khó khăn trong những năm đầu nhiệm kỳ  
(ví dụ, số ĐBQH khóa XIII tái cử khóa  
XIV là: 168 người, chiếm tỷ lệ 33,50%; số  
đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu là: 328  
người chiếm tỷ lệ 65,90%)17; (5) điều kiện  
hỗ trợ cho hoạt động của ĐBQH chưa đáp  
ứng được yêu cầu (nguồn lực tài chính cho  
hoạt động ĐBQH còn hạn chế; nội dung  
bồi dưỡng, tập huấn và thông tin chính sách  
cung cấp cho đại biểu có thể chưa đáp ứng  
nhu cầu thực tế, chưa phù hợp hoặc chưa  
chưa kịp thời v.v..).  
Những hạn chế nêu trên xuất phát từ  
những nguyên nhân cơ bản sau: (1) ngay  
từ khâu “đầu vào” - bầu cử ĐBQH vẫn  
còn những vấn đề về nâng cao tính “cạnh  
tranh” để tìm kiếm được nhiều hơn nữa  
những ứng cử viên có đủ năng lực chính  
sách; (2) số đại biểu chuyên trách vẫn còn  
thấp, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động  
của Quốc hội. Quốc hội khóa 14 có 167  
ĐBQH hoạt động chuyên trách trong tổng  
số 484 đại biểu, tương đương 34,5%15; (3)  
Còn có nhiều ĐBQH kiêm nhiệm là thành  
viên của Chính phủ và bộ máy hành chính  
hoặc cơ quan tư pháp nên còn tâm lý nể  
nang, ngại tranh luận, phản biện các đề  
xuất chính sách xuất phát từ phía các cơ  
quan bộ, ngành, địa phương, trong các tình  
huống có thể gây “xung đột lợi ích”. Do đó,  
“vai trò của Quốc hội trong việc định hình  
nội dung chính sách và giám sát hoạt động  
của Chính phủ vẫn còn hạn chế”16; (4) Số  
3. Một số giải pháp nâng cao năng lực  
hoạch định chính sách của đại biểu  
Quốc hội  
3.1. Xây dựng nội dung năng lực chính  
sách cốt lõi dựa trên các yếu tố cấu thành  
Giải pháp nâng cao năng lực trước hết  
cần dựa trên cơ sở các yếu tố cấu thành  
năng lực là kiến thức, kỹ năng và thái độ, từ  
đó lựa chọn các dạng năng lực thành phần  
phù hợp, xây dựng các nội dung năng lực  
cốt lõi cần thiết đối với ĐBQH, cụ thể là:  
(1) Kiến thức: ngoài các kiến thức lý luận  
chung về nhà nước và pháp luật, thì trọng  
14  
Bài viết tham luận của ThS. Đặng Đình Luyến, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật tại Hội thảo  
khoa học “Bàn về quy trình chính sách và vai trò, năng lực hoạch định chính sách của đại biểu Quốc hội ở  
Việt Nam” do Viện Nghiên cứu lập pháp tổ chức, Hà Nội, 2020.  
15 Đài truyền hình Việt Nam (2019), Tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách: Vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau,  
02404499. htm, truy cập ngày 20/3/2021.  
16 Cao Sinh Viet, Demombynes Gabriel, Kwakwa Victoria, Mahajan Sandeep, Shetty Sudhir, Vũ Đức Đam, Bùi  
Quang Vinh, Van Trotsenburg Axel (2016), Vietnam 2035: Toward prosperity, creativity, equity, and democracy  
(Vol. 2): Việt Nam 2035: Hướng tới Thịnh vượng, Sáng tạo, Công bằng và Dân chủ - Tổng quan (Vietnamese),  
Việt-Nam-2035-Hướng-tới-Thịnh-vượng-Sáng-tạo-Công-bằng-và-Dân-chủ-Tổng-quan.  
17 Trích dẫn theo số liệu thống kê trong bài tham luận “Bàn về năng lực chính sách của đại biểu Quốc hội ở  
Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thanh Bình, tại Hội thảo khoa học “Bàn về quy trình chính sách và  
vai trò, năng lực hoạch định chính sách của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam” do Viện Nghiên cứu lập pháp tổ  
chức, Hà Nội, 2020.  
28  
Số 11(435) - T6/2021  
CHÍNH SÁCH  
tâm là các lý thuyết về chính sách công,  
trong đó nhấn mạnh yêu cầu hiểu được các  
vấn đề cơ bản của phân tích chính sách,  
đánh giá chính sách công, các lý thuyết về  
quy trình hoạch định chính sách, và vai trò  
của Quốc hội, ĐBQH trong việc hoạch định  
chính sách...  
chế về kiến thức và kỹ năng cũng là một  
trong những lý do làm cho một số đại biểu  
hoạt động mờ nhạt, không phát biểu, ngại  
tranh luận, phản biện đối với những vấn đề  
“nóng” trong các dự án luật, pháp lệnh trên  
nghị trường.  
(3) Thái độ và các giá trị: Cần đề cao các  
tiêu chuẩn giá trị đạo đức công của ĐBQH  
như “có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm,  
liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu  
chấp hành pháp luật”18. Đại biểu của nhân  
dân thì cần có đủ tài, đức và “giản dị, gần  
dân”, nhuần nhuyễn “văn hóa chính trị”,  
biết lắng nghe để giúp đỡ, nhằm có được  
sự tin tưởng, tín nhiệm của nhân dân. Đại  
biểu phải là chỗ dựa, trông cậy khi cần của  
người dân địa phương nơi ứng cử. Hơn  
nữa, “hoạt động đại diện” cần có sự đam  
mê, nhiệt huyết, cống hiến cho công việc  
chung để có thể vượt qua những trở ngại,  
khó khăn khi làm nhiệm vụ đại biểu dân  
cử. ĐBQH không chỉ “về với dân” trong  
những cuộc tiếp xúc cử tri ngắn, thậm chí  
hình thức, mà phải thực sự tôn trọng, lắng  
nghe và vận dụng các nguồn lực, khả năng  
để giải quyết được vấn đề người dân phản  
ánh, kiến nghị, làm tốt chức năng nhiệm  
vụ của mình.  
Kiến thức chung về chính sách, pháp  
luật đặc biệt quan trọng và cần thiết vì  
hoạt động của ĐBQH xoay quanh các công  
đoạn thiết kế, xây dựng và ban hành chính  
sách, pháp luật trong rất nhiều lĩnh vực  
khác nhau, đòi hỏi sự hiểu biết nhất định  
để hiểu, nhận định, phân tích ưu nhược  
điểm, các giải pháp thiết kế chính sách hay  
dự thảo điều luật… Nắm vững các kiến  
thức cơ bản về chính sách công, nhận thức  
đầy đủ vai trò hoạch định chính sách công  
của ĐBQH sẽ góp phần phát triển tư duy  
phản biện chính sách trong các thảo luận  
lập pháp tại nghị trường.  
(2) Kỹ năng: Kỹ năng không thể thiếu đối  
với nhà hoạch định chính sách là phân tích  
chính sách, đánh giá chính sách để tìm ra  
hoặc nhận biết được vấn đề chính sách đang  
nảy sinh trong đời sống xã hội cần được ưu  
tiên giải quyết, hay các kỹ năng liên quan  
như đọc hiểu, xem xét một dự thảo đề xuất  
chính sách, dự thảo luật; kỹ năng tham vấn  
công chúng; lấy ý kiến góp ý của người dân,  
tranh luận, phản biện chính sách...  
3.2. Nhóm các giải pháp liên quan đến  
cơ chế, chính sách pháp luật  
- Tăng cường tính cạnh tranh trong  
bầu cử ĐBQH để chọn được nhiều người  
hiền tài  
Khi mà ĐBQH hiểu và nắm vững các  
kỹ năng này, áp dụng phù hợp theo đúng  
quy trình thủ tục, phát huy “tiềm năng”  
sẵn có, thể hiện được thành năng lực chính  
sách trong hoạt động lập pháp sẽ góp phần  
tăng chất lượng các nghiên cứu, đánh  
giá, phản biện chính sách và phục vụ cho  
các tham luận, chất vấn, phản biện trong  
những phiên thảo luận ở ủy ban, phiên  
họp toàn thể v.v. Trên thực tế, những hạn  
Bầu cử là yếu tố rất quan trọng, ảnh  
hưởng trực tiếp đến “đầu vào” chất lượng  
đại biểu dân cử. Vì thế, tiếp cận giải pháp  
nâng cao năng lực hoạch định chính sách  
một cách toàn diện rất cần thiết quan tâm  
đến vấn đề mở rộng, tăng cường tính cạnh  
tranh công khai, minh bạch trong bầu cử  
đại biểu Quốc hội. Cụ thể, tiến tới, cần bảo  
18 Xem Điều 22 Hiến pháp năm 2013 quy định về tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội.  
Số 11(435) - T6/2021  
29  
CHÍNH SÁCH  
đảm ít nhất danh sách ứng cử viên sau cùng  
phải nhiều gấp hai lần số lượng đại biểu dự  
kiến được bầu19. Ví dụ, nếu số đại biểu dự  
kiến là 500 người20 thì số ứng cử viên đưa  
vào danh sách bầu cử sau cùng phải là 1000  
người trở lên. Nên nghiên cứu đổi mới quy  
trình giới thiệu người ứng cử sao cho cơ  
quan tổ chức hiệp thương có điều kiện tốt  
nhất để lựa chọn được những người thật sự  
chất lượng “vừa hồng, vừa chuyên” để giới  
thiệu ứng cử ĐBQH. Chẳng hạn: “Mỗi cơ  
quan, tổ chức phải giới thiệu số người  
ứng cử gấp đôi số người được phân bổ.  
Không khống chế số dư là 02 ở mỗi đơn vị  
bầu cử mà có thể nhiều hơn để tăng tính  
cạnh tranh”21…  
Để đánh giá một người có năng lực  
hoạch định chính sách thì không nên đồng  
nhất với yêu cầu là họ phải có trình độ  
chuyên môn rất cao về một lĩnh vực. Nói  
cách khác, năng lực chuyên môn không  
đồng nhất với năng lực chính sách của  
ĐBQH, chuyên môn rất giỏi về một lĩnh  
vực nào đó cũng chưa phải điều kiện đủ để  
có năng lực chính sách tốt. Do đó, không  
phải đơn giản là cứ tìm những người giỏi  
nhất rồi hiệp thương giới thiệu họ ra ứng  
cử ĐBQH thì năng lực chính sách sẽ được  
nâng cao và hoạt động của Quốc hội sẽ bảo  
đảm hiệu quả cao22. Nếu một chuyên gia  
giỏi trúng cử ĐBQH và trên cơ sở đó, họ  
bộc lộ năng lực chính sách, thể hiện rất tốt,  
hiệu quả cao trong hoạt động hoạch định  
chính sách thì sẽ góp phần nâng cao hiệu  
quả hoạt động chung của Quốc hội, và  
chứng minh được lá phiếu của người dân  
lựa chọn là đúng đắn.  
Tăng cường tính cạnh tranh trong bầu  
cử, tăng số lượng ứng viên trong danh  
sách bầu cử cũng đồng thời bảo đảm tính  
dân chủ, là sự “mở rộng” quyền lựa chọn,  
quyền “làm chủ” của cử tri và nhân dân cả  
nước. Không chỉ với những ứng cử viên  
ứng cử lần đầu mà các ĐBQH “đương  
nhiệm” muốn tái cử cũng phải thể hiện  
được năng lực trong suốt quá trình hoạt  
động, nếu không muốn “bị” đánh giá là  
năng lực kém, không làm tốt chức năng đại  
diện, và không đủ phiếu bầu nếu tái ứng cử  
nhiệm kỳ tiếp theo.  
Ngược lại, nếu năng lực yếu kém mà lại  
trở thành ĐBQH, thì hoạt động đại biểu chắc  
chắn sẽ kém hiệu quả, gây lãng phí nguồn  
lực. Hoạch định chính sách quốc gia đòi hỏi  
các chủ thể quan trọng như ĐBQH cần có  
năng lực hoạch định chính sách, năng lực  
lập pháp ở mức độ nhất định; cũng như cần  
có đủ năng lực hiểu rõ và tiếp nhận được các  
tri thức mới trong lĩnh vực chuyên ngành  
của họ, đồng thời đáp ứng các tiêu chí kiến  
thức, kỹ năng chung để từ đó làm tốt chức  
năng đại diện - có năng lực đại diện.  
- Bảo đảm sự hài hòa giữa các tiêu chuẩn  
về năng lực chính sách, năng lực chuyên  
môn của ĐBQH, sự linh hoạt trong cơ cấu  
thành phần đại diện  
19 Tổng số đại biểu Quốc hội khóa XIII được bầu là 500 trong tổng số 827 ứng cử viên. Quốc hội khóa XIV có  
496 đại biểu được bầu trong tổng số 870 ứng cử viên.  
20 Theo khoản 2 Điều 7 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân.  
21  
Trích theo bài viết tham luận “Đánh giá, bình luận về một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực hoạch  
định chính sách của đại biểu Quốc hội” của Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Văn Pha, tại Hội thảo  
khoa học “Điều kiện, giải pháp nâng cao năng lực hoạch định chính sách của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam”  
do Viện Nghiên cứu lập pháp tổ chức, Hà Nội, 2021.  
22 Điều này cũng không phủ nhận việc những người rất giỏi chuyên môn trong một lĩnh vực ra ứng cử, mà càng  
nên khuyến khích, nhất là những chuyên gia về pháp luật, kinh tế… nếu trúng cử và tham gia các Ủy ban phù  
hợp với lĩnh vực chuyên môn nghề nghiệp thì có tiền đề thuận lợi để phát huy sở trường, năng lực…  
30  
Số 11(435) - T6/2021  
CHÍNH SÁCH  
Chính vì thế, mặc dù không phải điều  
kiện đủ, thì tiền đề năng lực hiểu, khả  
năng nhận thức, hiểu được những kiến  
thức nền tảng, cơ bản, hay một mặt bằng  
chung về năng lực chuyên môn và năng  
lực chính sách ngày càng được nâng cao  
là yếu tố rất cần thiết. Bởi vì, làm chính  
sách và làm luật không phải chỉ là sửa câu  
chữ, viết ra những điều luật cụ thể, mà đòi  
hỏi mỗi đại biểu cần hiểu tổng thể định  
hướng, mục tiêu chính sách pháp luật,  
hiểu được lý thuyết hay “triết lý” ẩn sau  
mỗi điều luật đó.  
trị gia và nhà hoạch định chính sách, chủ  
thể rất quan trọng tham gia vào việc hoạch  
định chính sách nói chung.  
Vì vậy, với một cơ cấu được tăng cường  
thêm các Ủy viên Trung ương Đảng được  
tín nhiệm tham gia Quốc hội, thì diễn đàn  
Quốc hội sẽ càng được nâng cao chất lượng,  
tính thực quyền và vẫn bảo đảm được sự  
lãnh đạo của Đảng. Do đó, cần khuyến  
khích, tăng cường số lượng các Ủy viên  
Trung ương Đảng tham gia ứng cử và trúng  
cử với số lượng cao vào Quốc hội, ngoại  
trừ những Ủy viên Trung ương được cơ cấu  
tham gia thành viên Chính phủ (nhiều vị  
trí là Bộ trưởng có thể không phải Ủy viên  
Trung ương Đảng và cũng không nhất thiết  
là ĐBQH), các cơ quan Tư pháp, Chủ tịch  
UBND các tỉnh, thành phố24.  
- Ưu tiên “chất lượng” hơn “số lượng”  
ĐBQH được bầu mỗi nhiệm kỳ  
Với tầm nhìn dài hạn về quy mô dân số  
trung bình của Việt Nam trong khoảng 50  
năm tới duy trì ở ngưỡng dưới 120 triệu  
dân23, thì chỉ nên có dưới 400 ĐBQH, đại  
đa số hoạt động chuyên nghiệp. Thay vì ưu  
tiên số lượng, chúng ta nên ưu tiên vào chất  
lượng hoạt động dân cử để tập trung nguồn  
lực hỗ trợ nâng cao năng lực chính sách cho  
ĐBQH, tăng tính “thực quyền”, tính hiệu  
quả và chất lượng đại diện.  
Với một số công việc có thể “hợp nhất”,  
cải cách, rút gọn quy trình, thủ tục và thời  
gian, nhất là trong kỷ nguyên công nghệ 4.0  
thì một số chính sách của Đảng có thể đưa  
ra thảo luận “mở rộng”, trực tiếp tại diễn  
đàn Quốc hội, trong điều kiện bảo đảm đa  
số Ủy viên Trung ương cũng là ĐBQH. Như  
vậy, việc thể chế hóa chủ trương, đường lối  
của Đảng cũng nhanh hơn, kịp thời đáp  
ứng yêu cầu ban hành chính sách công giải  
quyết các vấn đề bức xúc trong xã hội. Cần  
phân định rõ công việc nào thì chỉ thảo luận  
ở Hội nghị Trung ương (ví dụ công tác tổ  
chức nhân sự) với những công việc nào có  
thể “lồng ghép” và các Ủy viên Trung ương  
thực hiện với “vai” ĐBQH, phù hợp với  
chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội.  
- Tăng số lượng Ủy viên trung ương  
Đảng tham gia ứng cử ĐBQH  
ĐBQH là những chính khách, nhà hoạch  
định chính sách. Và trên thực tế nước ta,  
các Ủy viên Trung ương có vai trò đặc biệt  
quan trọng và chính họ tham gia trực tiếp  
vào quy trình hoạch định chính sách của  
Đảng, nguồn quan trọng hình thành chính  
sách của Nhà nước. Dưới góc độ này thì rõ  
ràng, các Ủy viên Trung ương là các chính  
23 Tổng cục Thống kê (2020), Thông cáo báo chí Kết quả nghiên cứu chuyên sâu Tổng điều tra dân số và nhà  
ở năm 2019. Theo phương án trung bình, dự kiến Việt Nam có 110,8 triệu người vào năm 2039 và đến năm 2069  
có 116,9 triệu người.  
24 Quốc hội khóa XIV có sự tham gia của gần 100 Ủy viên Trung ương Đảng, với tất cả các Ủy viên Bộ Chính  
dang-ung-cu-dai-bieu-quoc-hoi-20210303105447715.htm; Có 101 Ủy viên Trung ương Đảng trong tổng số  
ung-cu-dai-bieu-quoc-hoi-khoa-xv-731105.html.  
Số 11(435) - T6/2021  
31  
CHÍNH SÁCH  
Về lâu dài, theo tác giả, có thể đặt ra  
yêu cầu bắt buộc trong công tác quy hoạch  
cán bộ là làm rõ những vị trí Ủy viên Trung  
ương nào phải là ĐBQH, hay nói cách  
khác, phấn đấu trở thành ĐBQH, được cử  
tri, nhân dân tín nhiệm trở thành người  
đại diện của nhân dân là một tiêu chí bắt  
buộc của Ủy viên Trung ương Đảng (trừ  
một số vị trí “ngoại lệ” như đã nêu trên  
để bảo đảm hạn chế/giảm thiểu khối hành  
pháp, tư pháp tham gia Quốc hội). Hoặc  
quy định cụ thể những vị trí chức danh là  
Ủy viên Trung ương sẽ ra ứng cử ĐBQH,  
và nếu không trúng cử ĐBQH thì nhân sự  
Ủy viên Trung ương đó sẽ phải bố trí phân  
công công việc khác. Tất cả Ủy viên Bộ  
Chính trị đều tham gia ứng cử ĐBQH25. Bí  
thư các tỉnh, thành phố nên tham gia ứng  
cử ĐBQH26. Tất cả các thành viên Ủy ban  
Thường vụ Quốc hội phải là Ủy viên trung  
ương trở lên.  
lực của các chuyên viên, đội ngũ “giúp  
việc”, khuyến khích cơ chế thuê các chuyên  
gia tư vấn trong và ngoài các cơ quan của  
Quốc hội/Ủy ban thường vụ Quốc hội, như  
là những giải pháp hỗ trợ cần thiết. Đối với  
bộ máy văn phòng, các vụ, ban phục vụ  
chuyên môn, cần tuyển dụng được chuyên  
viên giỏi, thông qua cơ chế thi tuyển cạnh  
tranh công khai, tránh hiện tượng tiêu cực  
trong khâu tuyển dụng, không bảo đảm chất  
lượng công việc.  
- Công khai, minh bạch và cải thiện chế  
độ tài chính dành cho ĐBQH  
Cần tiếp tục cải thiện chế độ tài chính,  
tính đúng, tính đủ các đầu việc cần được hỗ  
trợ để ĐBQH có thể yên tâm và có điều kiện  
thực hiện việc thuê chuyên gia hỗ trợ hay  
đặt hàng nghiên cứu cung cấp thông tin khi  
cần thiết, bên cạnh các thông tin chính sách,  
thông tin lập pháp được cung cấp miễn phí  
từ các cơ quan nghiên cứu như Viện Nghiên  
cứu lập pháp hay Thư viện Quốc hội.  
3.3. Nhóm giải pháp hỗ trợ  
- Nâng cao năng lực của đội ngũ chuyên  
viên, bộ máy giúp việc, khuyến khích cơ chế  
thuê chuyên gia tư vấn cho ĐBQH  
Các ĐBQH cần được hưởng một mức  
lương tối thiểu (cơ bản) ngang bằng nhau,  
sau đó mới tính đến các khoản phụ cấp  
trách nhiệm theo từng vị trí đảm trách trong  
cơ cấu tổ chức Quốc hội.  
Để hỗ trợ ĐBQH phát huy tố chất, phẩm  
chất, năng lực chính sách cần nâng cao năng  
25 Quốc hội khóa XV có 17/18 Ủy viên Bộ Chính trị tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội. Riêng trường hợp đồng  
chí Nguyễn Văn Nên, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh không tham gia ứng  
cử. Xem: Báo Tuổi trẻ (2021), Bí thư Thành ủy TP. HCM Nguyễn Văn Nên không ứng cử đại biểu Quốc hội,  
20210316142651392.htm.  
26 Một số ý kiến lo ngại các Ủy viên Trung ương đứng đầu các cơ quan ở địa phương bận giải quyết công việc địa  
phương sẽ không có thời gian dành cho hoạt động Quốc hội. Tác giả cho rằng, Chủ tịch UBND các tỉnh/thành  
phố trực thuộc Trung ương có thể không tham gia kiêm nhiệm đại biểu Quốc hội vì thường xuyên bận công tác  
lãnh đạo, chỉ đạo điều hành trực tiếp bộ máy hành chính ở địa phương và có nguy cơ gây ra “xung đột lợi ích” như  
đã nêu ở trên. Trong khi đó, các tỉnh/thành phố vẫn đang triển khai thực hiện mô hình Bí thư cấp ủy đồng thời là  
Chủ tịch HĐND, theo Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, “Một  
số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu  
quả”, và Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30/5/2019 về Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần  
thứ XIII của Đảng, nên nếu Bí thư tỉnh ủy là Ủy viên Trung ương và là đại biểu Quốc hội thì có nhiều thuận lợi  
trong quá trình hoạch định chính sách của Đảng và chính sách của Quốc hội. Cùng với đó, nếu đặt trong tầm nhìn  
dài hạn, Quốc hội tiến tới “hoạt động thường xuyên” thì nên tăng số đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách  
là Ủy viên Trung ương, hay nói cách khác là những Ủy viên Trung ương hoạt động Quốc hội “chuyên nghiệp”.  
32  
Số 11(435) - T6/2021  
CHÍNH SÁCH  
Cần công khai minh bạch các khoản thu  
chi của đại biểu phục vụ cho các hoạt động  
đại diện và thực hiện chức năng nhiệm  
vụ27, nhằm tránh nguy cơ tham nhũng,  
lãng phí, hoặc việc trở thành ĐBQH chỉ  
để làm đẹp thêm danh sách chức vị công  
tác, hay để hưởng “đặc quyền đặc lợi”,  
mà không cần thể hiện năng lực, không  
nhìn thấy sản phẩm, kết quả gì trong suốt  
nhiệm kỳ.  
trên bằng chứng về những vấn đề chính  
sách, đề xuất giải pháp chính sách nhằm  
hỗ trợ cho ĐBQH28; tổ chức các hội thảo  
định kỳ có nội dung về chính sách kinh  
tế - xã hội, hội thảo thường niên công bố  
các nghiên cứu và danh mục đề xuất đề  
tài nghiên cứu để các ĐBQH có thể chủ  
động “đặt hàng” theo tính cấp thiết hoặc  
phù hợp với tiến độ thời gian, lĩnh vực  
cần quan tâm...  
- Đổi mới phương pháp, đa dạng hóa  
các khóa bồi dưỡng kiến thức, tập huấn kỹ  
năng dành cho ĐBQH  
- Nâng cao chất lượng cung cấp thông  
tin, dịch vụ nghiên cứu hỗ trợ cho ĐBQH  
Theo quy định của pháp luật hiện hành,  
ĐBQH có quyền tự mình hoặc đề nghị  
Văn phòng Quốc hội, Viện Nghiên cứu lập  
pháp: hỗ trợ trong việc lập văn bản kiến  
nghị về luật, pháp lệnh; hỗ trợ lập hồ sơ đề  
nghị xây dựng luật, pháp lệnh; hỗ trợ soạn  
thảo dự án, dự thảo do đại biểu trình. Để  
làm tốt chức năng, vai trò luật định này,  
ngoài cơ quan Văn phòng Quốc hội, thì  
Viện Nghiên cứu lập pháp phải là nơi tập  
hợp được đông đảo đội ngũ chuyên gia, cả  
trong và ngoài cơ quan, trong nước và hợp  
tác quốc tế, bao gồm nhiều lĩnh vực như  
pháp luật, chính sách, kinh tế… một cách  
tương xứng, để có đủ năng lực, sẵn sàng  
đáp ứng khi có yêu cầu. Viện Nghiên cứu  
lập pháp cần đa dạng sản phẩm nghiên  
cứu, bám sát chương trình xây dựng luật  
pháp lệnh; tăng cường cung cấp các sản  
phẩm nghiên cứu dự báo chính sách, hoặc  
các báo cáo phân tích, đánh giá chính  
sách nhanh nhạy, kịp thời; tăng cường các  
nghiên cứu định lượng, nghiên cứu dựa  
Nếu như trước đây, phương pháp tiếp  
cận nội dung quan tâm đến việc tiếp thu  
các nội dung kiến thức chính sách công,  
khoa học pháp lý theo yêu cầu là chủ đạo,  
thì hiện nay cần cải cách, tiếp cận theo  
định hướng năng lực chính sách, nghĩa là  
đặt trọng tâm vào kết quả thực tiễn của  
hoạt động lập pháp, hoạch định chính  
sách để đánh giá năng lực nói chung, năng  
lực hoạch định chính sách của ĐBQH nói  
riêng, quan tâm nhiều đến phương thức,  
hiệu quả vận dụng tri thức, kỹ năng thực  
hành. Do đó, mục tiêu không chỉ dừng  
lại ở việc cung cấp các nội dung về Nhà  
nước, chính sách, pháp luật cần biết, mà  
phải thể hiện được ở các kết quả đầu ra  
của hoạt động đại biểu trong mỗi nhiệm  
kỳ. Đó cũng chính là cách thức tiếp cận  
đầu ra nhằm nâng cao năng lực hoạch  
định chính sách, đó là: ĐBQH cần làm  
những gì và làm được những gì; gắn lý  
luận với thực tiễn, hoạch định chính sách  
vì cuộc sống  
27 Ở Mỹ, nghị sĩ không được: Sử dụng tiền trợ cấp để chi tiêu cá nhân hoặc trang trải cho các hoạt động tranh  
cử (trừ khi được sự chấp thuận của Ủy ban đạo đức); sử dụng quỹ tài trợ để thanh toán chi phí cho hoạt động  
đại biểu; sử dụng tài khoản không chính thức; tiếp nhận các nguồn tài trợ từ khu vực tư nhân để thực hiện các  
nhiệm vụ đại biểu... Xem: Ida A. Brudnick 2018, Congressional salaries and allowances: In brief, congression  
research service.  
28 Xem thêm: Nguyễn Anh Phương (2017), “Hệ thống thông tin lập pháp và những khuyến nghị đối với Tạp  
chí Nghiên cứu lập pháp”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 9 (337), tr.46-54.  
Số 11(435) - T6/2021  
33  
pdf 10 trang Thùy Anh 11580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nâng cao năng lực hoạch định chính sách của đại biểu quốc hội trong hoạt động lập pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnang_cao_nang_luc_hoach_dinh_chinh_sach_cua_dai_bieu_quoc_ho.pdf