So sánh khái niệm trẻ em theo công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 và pháp luật Việt Nam

VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 30-38  
Review Article  
A Comparative Study of the Concept of the Child in the UN  
Convention on the Rights of the Child 1989  
and Vietnamese Law  
Nguyen Tien Duc*  
Vietnam Academy Social Sciences, No. 1, Lieu Giai, Ba Dinh, Hanoi, Vietnam  
Received 19 November 2020  
Revised 12 September 2021; Accepted 20 September 2020  
Abstract: 30 years since the inception of the United Nations Convention on the Rights of the Child  
of 1989, the understanding of the international community towards the legal status of children has  
witnessed many profound changes. One of the Convention’s great achievements is to bring about a  
uniform concept of the child. The article throws some light on legal aspects of this definition under  
the Convention. Against that backdrop, it will analyze, compare and evaluate the compatibility of  
Vietnam’s laws relating to children’s rights.  
Keywords: Children; childhood; children’s rights; the U.N. Convention on the Rights of the Child.*  
________  
* Corresponding author.  
E-mail address: [email protected]m  
30  
N. T. Duc / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 30-38  
31  
So sánh khái niệm trẻ em theo công ước Liên Hợp quốc về  
quyền trẻ em năm 1989 và pháp luật Việt Nam  
Nguyễn Tiến Đức*  
Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Số 1, Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 19 tháng 11 năm 2020  
Chỉnh sửa ngày 12 tháng 9 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 21 tháng 9 năm 2021  
Tóm tắt: 30 năm kể từ ngày Công ước Liên Hợp quốc (LHQ) về quyền trẻ em năm 1989 ra đời, có  
thể nhận thấy sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của cộng đồng quốc tế đối với địa vị pháp  
lý của trẻ em. Một trong những thành công của Công ước đó là đưa ra một cách hiểu thống nhất về  
trẻ em. Bài viết sẽ phân tích rõ hơn các khía cạnh trong khái niệm về trẻ em theo Công ước. Từ đó,  
bài viết sẽ phân tích và so sánh để đánh giá tính tương thích của pháp luật Việt Nam về khái niệm  
trẻ em.  
Từ khóa: Trẻ em; tuổi thơ; quyền trẻ em; Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em.  
1. Ba mươi năm Công ước Liên Hợp quốc về  
phù hợp để trẻ “phát triển đầy đủ và hài hòa nhân  
quyền trẻ em*  
cách của mình” [2]. Thái độ mới thể hiện trong  
Công ước không còn đơn thuần xuất phát từ tình  
thương và lòng trắc ẩn, mà còn làm nổi bật lên cách  
tiếp cận dựa trên quyền đối với các vấn đề của trẻ.  
Công ước LHQ về quyền trẻ em (sau đây gọi  
tắt là Công ước) được Đại hội đồng LHQthông qua  
vào ngày 20 tháng 11 năm 1989 và phát sinh hiệu  
lực vào ngày 2 tháng 9 năm 1990. Tới nay, Công  
ước là điều ước quốc tế về quyền con người được  
nhiều quốc gia phê chuẩn nhất (tất cả các quốc gia  
thành viên LHQ, trừ Hoa Kỳ). Điều này là minh  
chứng cho những giá trị phổ quát được thừa nhận  
chung bởi cộng đồng quốc tế.  
Sự ra đời của Công ước đánh dấu những  
“bước chuyển mình” lớn lao trong việc ghi nhận  
và bảo đảm quyền của trẻ em với tư cách là chủ  
thể quyền con người. Trước tiên, Công ước là kết  
quả của cả quá trình thay đổi định kiến về trẻ em,  
theo đó, từ một “đối tượng” được bao bọc thụ  
động, trẻ em đã trở thành một “chủ thể” có khả  
năng thụ hưởng và thực thi quyền [1]. Thông qua  
Công ước, các quốc gia thành viên đã bày tỏ một  
thái độ mới đối với trẻ em cũng như môi trường  
Thứ hai, Công ước là kết tinh của nhiều văn  
kiện liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới quyền  
trẻ em đã được xây dựng trước đó [3]. Đây là văn  
kiện pháp lý đầu tiên thống nhất các quyền của  
trẻ em, đồng thời cũng bao quát đầy đủ các khía  
cạnh của quyền: từ kinh tế, xã hội, văn hóa, cho  
tới dân sự và chính trị. Điều này là minh chứng  
cho thấy rằng cả hai thế hệ quyền có thể cùng tồn  
tại trong một văn kiện, thay vì bị tách biệt. Nổi  
bật hơn, Công ước còn đi xa hơn một bước so  
với các văn kiện trước đó, thể hiện ở những  
quyền rất đặc trưng của trẻ, chẳng hạn quyền  
sống còn và phát triển của trẻ, nguyên tắc vì lợi  
ích tốt nhất của trẻ, quyền được lắng nghe, quyền  
được nhận làm con nuôi, không bị lạm dụng hay  
sao nhãng,…  
________  
* Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]m  
N. T. Duc / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 30-38  
32  
2. Khái niệm trẻ em trong pháp luật quốc tế  
Thứ ba, Công ước đã thống nhất hóa các quy  
định rải rác về trẻ em trước đó, góp phần nâng  
cao nhận thức, trách nhiệm của các nhà hoạch  
định chính sách, pháp luật ở mọi cấp độ. Từ đây,  
các quy định của Công ước đã được nội luật hóa  
vào hiến pháp của các quốc gia, được viện dẫn  
bởi cơ quan tư pháp, được vận dụng bởi các tổ  
chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ hoạt động  
vì quyền trẻ em, và được chú ý hơn trong hoạt  
động xây dựng và cải cách chính sách pháp luật  
quốc gia, cùng với đó là sự nở rộ của các nghiên  
cứu liên ngành và đa ngành với đối tượng trọng  
tâm là trẻ em [4]. Việc nội luật hóa góp phần  
nâng cao nhận thức của các chủ thể công quyền,  
đồng thời là cơ sở quan trọng cho các chủ thể phi  
nhà nước vận động, đấu tranh nhằm yêu cầu nhà  
nước phải thực thi những cam kết mà mình đưa  
ra liên quan tới trẻ em [5].  
Dù thừa nhận tầm quan trọng của Công ước,  
chúng ta cũng không nên phóng đại tác động của  
Công ước đối với đời sống thực tiễn tại nhiều nơi  
trên thế giới mà ở đó “vẫn còn trẻ em sống trong  
các điều kiện đặc biệt khó khăn” [2]. Giống như  
các điều ước quốc tế khác về quyền con người,  
việc thực thi Công ước tại các quốc gia khác  
nhau cũng thể hiện những sắc thái khác nhau.  
Trong nhiều trường hợp, quốc gia thành viên  
Công ước vẫn làm ngơ hoặc thậm chí cố ý vi  
phạm quyền của trẻ em. Thực trạng này đòi hỏi  
các quốc gia cần tiếp tục củng cố và nâng cao  
nhận thức về quyền trẻ em, cùng với đó là vai trò  
của hợp tác quốc tế, của các cơ quan, tổ chức liên  
chính phủ và phi chính phủ trong lĩnh vực này.  
Nhằm bảo đảm quyền trẻ em, một trong  
những bước đi đầu tiên mà bất kì quốc gia nào  
phải làm đó là xác định: Ai là trẻ em? Câu hỏi  
tưởng chừng đơn giản nhưng chưa chắc dễ trả  
lời. Bài viết sẽ làm rõ thêm những khía cạnh  
phức tạp của câu hỏi này dưới góc độ pháp luật  
quốc tế, trọng tâm là Công ước. Từ đó, bài viết  
sẽ rút ra một vài kết luận có giá trị định hướng  
cho công tác xây dựng chính sách, pháp luật liên  
quan tới những vấn đề của trẻ em.  
Trước khi Công ước ra đời, khái niệm trẻ em  
trong pháp luật quốc tế còn tương đối mơ hồ. Có  
thể kể tới hai tuyên bố về quyền trẻ em năm 1924  
và năm 1959 là tiền đề cho việc soạn thảo Công  
ước nhưng cả hai đều không đưa ra định nghĩa  
nào về trẻ em. Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế  
và hai công ước về các quyền dân sự, chính trị  
và các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966  
cũng đã có những quy định liên quan tới quyền  
được bảo vệ đặc biệt của trẻ em. Đáng chú ý, một  
số điều ước của Tổ chức lao động quốc tế đã  
được soạn thảo nhằm bảo vệ trẻ em dưới 15 tuổi  
khỏi những công việc nặng nhọc. Cùng với đó,  
pháp luật nhân đạo quốc tế cũng xác định trẻ em  
dưới 15 tuổi là đối tượng có nguy cơ trở thành  
nạn nhân của xung đột vũ trang và cần được bảo  
vệ. Tuy nhiên, điểm hạn chế chung của những  
văn kiện trên đó là thiếu vắng một cách hiểu rõ  
ràng về câu hỏi “ai là trẻ em?”.  
Cuối cùng, Công ước đã khắc phục được  
điểm hạn chế trên. Điều 1 Công ước quy định:  
“Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có  
nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường  
hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó  
quy định tuổi thành niên sớm hơn”.  
Khác với các điều ước quốc tế về quyền con  
người thông thường, quy định trên cho thấy độ tuổi  
là tiêu chí quyết định phạm vi áp dụng của Công  
ước. Nói khác đi, đây là tiêu chí để xác định chủ  
thể thụ hưởng những quyền được ghi nhận trong  
Công ước. Điểm này đặc biệt quan trọng bởi các  
quyền trong Công ước có tính đặc trưng và liên hệ  
mật thiết tới giai đoạn tuổi thơ, minh chứng rõ nét  
ở tính “non nớt về thể chất và trí tuệ của trẻ, cần  
được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt” [2] hơn so với  
người trưởng thành. Trên cơ sở đó, trẻ em có một  
số quyền đặc biệt mà người trưởng thành không có,  
và ngược lại, một số quyền của người trưởng thành  
thụ hưởng đầy đủ nhưng trẻ em lại chưa thể. Dù  
vậy, phần dưới đây của bài viết sẽ chỉ ra rằng định  
nghĩa trên là sản phẩm của một sự thỏa hiệp, và vì  
vậy vẫn tồn tại những khúc mắc nhất định cần tiếp  
tục nghiên cứu.  
N. T. Duc / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 30-38  
33  
2.1. Điểm đầu của tuổi thơ  
án Pháp lật ngược bản án và tuyên rằng “thai nhi  
không được coi là “con người” được bảo vệ theo  
pháp luật hình sự”. Sau đó, TANQCA khẳng  
định lại rằng Điều 2 CƯNQCA về quyền sống  
không bảo vệ thai nhi và trong trường hợp quốc  
gia ghi nhận thai nhi có quyền sống, thì quyền  
này bị giới hạn bởi quyền của người mẹ mang  
thai [9]. Lập luận tương tự cũng được tìm thấy  
trong phán quyết, bình luận của các cơ quan nhân  
quyền quốc tế liên quan tới việc quốc gia ngăn  
ngừa phá thai. Theo đó, các cơ quan này  
khuyến nghị quốc gia nên bãi bỏ án phạt hình  
sự đối với phụ nữ thực hiện việc phá thai, đồng  
thời cần quy định cho phép hoạt động này được  
diễn ra trong trường hợp nhất định, ví dụ  
trường hợp người phụ nữ bị cưỡng hiếp, loạn  
luân [10].  
Đáng chú ý, Điều 4 Công ước Nhân quyền  
Châu Mỹ năm 1969 là quy định duy nhất trong  
pháp luật nhân quyền quốc tế bảo vệ quyền sống  
“nhìn chung, tính từ thời điểm thụ thai...” Tuy  
nhiên, cụm từ “nhìn chung” trong quy định này  
được giải thích theo hướng linh hoạt, cho phép  
phá thai trong một số hoàn cảnh nhất định, thay  
vì cấm tuyệt đối. Năm 1981, Hội đồng nhân  
quyền liên Châu Mỹ trong vụ Bé sơ sinh (Baby  
boy) đã làm rõ thêm rằng những trường hợp  
ngoại lệ cho phép hoạt động phá thai có thể bao  
gồm “vì mục đích cứu sống tính mạng của người  
mẹ và trong trường hợp bị hiếp dâm” [11].  
Về vấn đề này, một số tranh cãi đã phát sinh  
về quyền của thai nhi và phạm vi áp dụng của  
Công ước. Theo đó, đoạn thứ chín trong Lời mở  
đầu của Công ước nhắc nhở rằng: “… trẻ em, do  
còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được chăm  
sóc và bảo vệ đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp  
về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời.”  
Liệu sự “bảo vệ trước khi ra đời” có hàm ý thừa  
nhận quyền thai nhi? Đại diện của Cộng hòa Liên  
bang Đức tại Hội đồng nhân quyền còn đi xa hơn  
khi nhận định đây là một “thắng lợi lớn” bởi lần  
đầu tiên quyền thai nhi được ghi nhận trong một  
điều ước quốc tế [12].  
Câu chữ tại Điều 1 Công ước làm nảy sinh  
câu hỏi: Vậy thời điểm bắt đầu của trẻ em được  
tính từ khi nào? Liệu thai nhi có được coi là trẻ  
em không? Nói khác đi, dưới góc độ pháp lý  
quyền sống của một người bắt đầu khi nào?  
Những câu hỏi này liên quan tới tranh cãi lâu nay  
về quyền của thai nhi cũng như tính hợp pháp  
của hoạt động phá thai. Tới nay, trên thế giới vẫn  
tồn tại nhiều luồng quan điểm trái chiều, minh  
chứng ở việc có quốc gia cho phép hoạt động phá  
thai, trong khi đó, số khác lại ngăn ngừa, thậm  
chí hình sự hóa hoạt động này. Quan điểm phản  
đối phá thai cho rằng thai nhi được coi là trẻ em,  
từ đó có quyền sống và vì vậy hành vi phá thai là  
vô đạo đức và bất hợp pháp vì xâm hại tới quyền  
thiêng liêng này. Ngược lại, ý kiến khác tranh  
luận rằng bào thai vẫn chưa có đầy đủ phẩm chất  
của một con người, vì vậy người phụ nữ vẫn nắm  
giữ quyền tự do định đoạt thân thể.  
Các điều ước nhân quyền quốc tế ra đời trước  
Công ước đều thể hiện một cách tiếp cận chung  
về vấn đề này, đó là loại trừ quyền thai nhi ra  
ngoài phạm vi áp dụng của những văn kiện này.  
Chẳng hạn như trong quá trình xây dựng Công  
ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm  
1966, các nhà soạn thảo đã chủ đích bỏ quyền  
thai nhi ra ngoài phạm vi áp dụng của Công ước  
này, cụ thể là Điều 6 về quyền sống [6]. Hơn thế  
nữa, Điều 1 Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế  
tuyên bố: “Tất cả mọi người sinh ra tự do và bình  
đẳng về phẩm giá và quyền lợi.” Như vậy có thể  
diễn giải “sinh ra” là mốc thời gian, là thời điểm  
làm phát sinh năng lực chủ thể thụ hưởng quyền  
của con người, cụ thể hơn là trẻ em.  
Trong vụ Boso kiện Chính phủ Ý, Toà án  
Nhân quyền Châu Âu (TANQCA) tuyên rằng  
quy định cho phép phá thai theo pháp luật Italy  
không vi phạm quyền sống theo Điều 2 Công  
ước Nhân quyền Châu Âu năm 1950  
(CƯNQCA). Toà nhận định rằng cần thiết phải  
cân bằng quyền tự do thân thể của người mẹ  
trong mối quan hệ với thai nhi [7]. Năm 2005,  
trong vụ Thi Nho Vo kiện Chính phủ Pháp [8],  
nguyên đơn là một người phụ nữ Pháp gốc Việt  
buộc phải phá thai do sự nhầm lẫn của bác sĩ.  
Ban đầu, bị đơn bị kết tội ngộ sát, nhưng Tòa Phá  
Tuy nhiên, có sự nhầm lẫn trong nhận định  
trên bởi hai lý do. Đầu tiên, Lời mở đầu của Công  
ước không có giá trị ràng buộc pháp lý, mà chỉ  
nêu lên những mục tiêu và khát vọng của Công  
N. T. Duc / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 30-38  
34  
ước [13]. Lý do thứ hai liên quan tới phương  
pháp giải thích điều ước quốc tế, theo đó lời mở  
đầu là một bộ phận cấu thành nên văn kiện và  
thường có tính giải thích, bổ nghĩa cho nội dung  
chính của văn kiện đó [14], tạo nên tính liền  
mạch và logic cho người đọc. Dù vậy, để khẳng  
định mối quan hệ giữa hai bộ phận này thì cần  
xem xét các biên bản thảo luận khi soạn thảo văn  
kiện. Theo Philip Alston, khi nghiên cứu các  
biên bản này có thể khẳng định không tồn tại bất  
kì mối liên hệ giữa Lời mở đầu và các điều khoản  
nội dung Công ước về vấn đề thai nhi [15]. Vào  
thời điểm soạn thảo, đã có đề xuất trình lên ban  
soạn thảo Công ước liên quan tới việc ghi nhận  
rõ ràng quyền thai nhi vào nội dung Công ước  
nhưng bị từ chối bởi bất đồng về các giá trị đạo  
đức, tự do [13]. Việc Công ước ghi nhận “… bảo  
vệ trẻ em … trước … khi ra đời” trong Lời mở  
đầu có vẻ như là một giải pháp thỏa hiệp nhằm  
hài hóa các quan điểm trái chiều với mục đích  
tạo ra khoảng không cho quốc gia tự quyết định  
vấn đề này, thay vì áp đặt [15]. Cũng giống như  
các văn kiện nhân quyền quốc tế trước đó, các  
nhà soạn thảo Công ước đã chọn cách tiếp cận  
không mở rộng phạm vi áp dụng đối với thai  
nhi. Dù vậy, có lẽ để đề phòng vướng mắc có  
thể phát sinh sau này, một số quốc gia đã chủ  
động đưa ra tuyên bố bảo lưu liên quan tới  
Điều 1 Công ước trước khi chính thức gia nhập  
Công ước.  
thành viên? Cụ thể hơn, Ủy ban Công ước từng  
bày tỏ quan ngại sâu sắc về thực trạng loại bỏ  
thai giới tính nữ, chẳng hạn ở Trung Quốc, Ấn  
Độ, và coi đây là vi phạm nguyên tắc không  
phân biệt đối xử theo Điều 2 Công ước.  
Mặc dù chúng ta phải thừa nhận có gì đó rất  
sai trái về mặt đạo đức liên quan tới thực trạng  
này, nhưng như phân tích ở trên, Công ước nói  
chung và nguyên tắc không phân biệt đối xử nói  
riêng không áp dụng với thai nhi. Vậy liệu những  
bình luận của Ủy ban Công ước có phải đang  
vượt quá thẩm quyền hay không? Hơn nữa, liệu  
từ đây có thể diễn giải rằng việc loại bỏ thai giới  
tính nam thì được chấp nhận hơn so với nữ? Xa  
hơn nữa, liệu việc phá thai vì lý do khuyết tật có  
phù hợp với nguyên tắc không phân biệt đối xử  
theo Công ước hay không? Rất khó để có được  
một câu trả lời thỏa đáng về vấn đề này [16]. Như  
đã từng được nhận định trong cuốn cẩm nang  
thực thi quyền trẻ em của Quỹ Nhi đồng Liên  
Hợp quốc (UNICEF), những câu hỏi y đức và  
pháp lý trên ngày càng trở nên phức tạp khi  
khoa học công nghệ liên tục phát triển, dẫn tới  
nhiều xung đột giữa quyền của trẻ và người mẹ  
mà có lẽ chưa thể lường hết được tại thời điểm  
soạn thảo Công ước [17].  
2.2. Điểm cuối của tuổi thơ  
Hành trình xác định điểm cuối của tuổi thơ  
cũng không kém phần gian nan, nguyên nhân  
quan trọng là bởi nhận thức khác nhau giữa các  
quốc gia về mức độ trưởng thành và chín chắn  
của trẻ em.  
Tóm lại, pháp luật quốc tế, trong đó có Công  
ước, đều không có quy định cụ thể về quyền thai  
nhi. Vì vậy, các quốc gia có quyền tự định đoạt  
vấn đề này căn cứ vào những giá trị đạo đức, văn  
hóa, tôn giáo và điều kiện hoàn cảnh của mỗi  
quốc gia. Tuy nhiên, trường hợp quốc gia ngăn  
ngừa hoạt động phá thai, cần phải bảo đảm quy  
định pháp luật của mình không vi phạm các  
quyền con người liên quan khác, bao gồm quyền  
sống hay quyền không bị đối xử hoặc trừng phạt  
tàn bạo, vô nhân đạo và mất nhân phẩm đối với  
người mẹ mang thai.  
Dù vậy, vấn đề về thai nhi có lẽ chưa thể  
chấm dứt ở đây. Nếu như quyền của thai nhi là  
do quốc gia tự quyết định thì tại sao Ủy ban  
giám sát Công ước lại nhiều lần thể hiện quan  
điểm về thực trạng này tại một số quốc gia  
Quay lại định nghĩa tại Điều 1 Công ước: “…  
trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi,  
trừ trường hợp pháp luật (quốc gia)… quy định  
tuổi thành niên sớm hơn.” Khó có thể phủ nhận  
tầm quan trọng của quy định này bởi nó đã góp  
phần thống nhất cách hiểu về trẻ em giữa các  
quốc gia. Tuy nhiên, vế sau của nó cũng cho thấy  
bất đồng sâu sắc tại thời điểm soạn thảo Công  
ước, như đại diện phái đoàn của Pháp trình bày:  
“Tuổi mà trẻ em đạt được sự trưởng thành có sự  
khác biệt từ quốc gia này tới quốc gia khác” [18].  
Một số phái đoàn đại diện đề xuất giới hạn độ  
tuổi là 15, tuy nhiên, quan điểm chung vẫn cho  
rằng 18 vẫn là độ tuổi phù hợp nhất. Và để lôi  
N. T. Duc / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 30-38  
35  
kéo càng nhiều quốc gia tham gia Công ước càng  
tốt, các nhà soạn thảo Công ước lại tiếp tục chấp  
nhận một sự thỏa hiệp, theo đó quốc gia thành  
viên có thẩm quyền cuối cùng trong việc xác  
định ai được coi là trẻ em theo pháp luật của  
mình.  
Sự linh hoạt trên không có nghĩa là “thiếu lập  
trường” hay “ba phải”. Về bản chất, nó thể hiện  
sự thấu hiểu văn hóa khi các nhà soạn thảo ý thức  
được sự đa dạng văn hóa đem lại những nhận  
thức khác nhau về vai trò và năng lực của trẻ  
em, và nhận thức này đã thấm sâu vào từng cá  
thể trong cấu trúc xã hội đó [13]. Đương  
nhiên, luôn tồn tại những nhận thức lệch lạc  
ảnh hưởng tiêu cực tới trẻ em, dù vậy việc  
thay đổi nhận thức nên là một quá trình vận  
động và thuyết phục liên tục, thay vì là một  
thời điểm với sự áp đặt một chiều.  
Từ khi thành lập tới nay, Ủy ban Công ước  
đã liên tục hối thúc các quốc gia thành viên coi  
người dưới 18 tuổi là trẻ em, và xem xét lại pháp  
luật của mình để bảo đảm tất cả các trẻ em chưa  
đủ 18 tuổi vẫn nhận được sự bảo vệ cần thiết theo  
quy định của Công ước. Ủy ban Công ước cũng  
lên án việc một số quốc gia tuy ghi nhận trẻ em  
là người dưới 18 tuổi trong pháp luật, nhưng lại  
làm ngơ trước những phong tục, tập quán địa  
phương có hại đối với trẻ em, ví dụ như quan  
niệm coi trẻ em là người trưởng thành khi đã dậy  
thì. Đồng thời, Ủy ban cũng yêu cầu các quốc gia  
thành viên cần phải đưa ra được lý do rõ ràng  
trong trường hợp pháp luật quốc gia quy định  
tuổi thành niên sớm hơn so với Công ước. Cách  
tiếp cận thuyết phục cũng được phản ánh trong  
những lần trao đổi giữa Ủy ban với quốc gia  
thành viên. Ví dụ đối với Nigeria, Ủy ban  
Công ước khuyến nghị nhà chức trách cần  
“tăng cường hơn nữa các cuộc đối thoại với  
người đứng đầu các nhóm bản địa và nhóm  
tôn giáo nhằm nâng cao nhận thức và tầm  
quan trọng trong việc coi người dưới 18 tuổi  
là trẻ em sở hữu những quyền năng và nhu cầu  
đặc trưng được bảo đảm theo Công ước” [19].  
Vậy điểm cuối của tuổi thơ có phải là điểm  
bắt đầu cho tuổi trưởng thành? Và trẻ em bước  
sang giai đoạn trưởng thành sẽ thụ hưởng tất cả  
các quyền năng của người trưởng thành? Câu trả  
lời là chưa chắc. Lấy Việt Nam làm ví dụ, pháp  
luật quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi, nhưng  
chỉ được lái xe hay có quyền bầu cử khi đủ 18  
tuổi, quyền ứng cử khi đủ 21 tuổi, quyền kết hôn  
khi đủ 18 tuổi (nữ) và 20 tuổi (nam), giao kết hợp  
đồng từ đủ 15-18 tuổi, tuổi tối thiểu phải chịu  
trách nhiệm hình sự từ đủ 14 tuổi. Rõ ràng Việt  
Nam không phải ngoại lệ khi có sự khác biệt về  
độ tuổi trong thụ hưởng quyền năng cũng như  
gánh vác trách nhiệm pháp lý với tư cách là  
người trưởng thành, thậm chí ở một số quốc gia,  
ví dụ Hoa Kỳ, chỉ được mua bán đồ uống có cồn  
khi đủ 21 tuổi.  
Cần khẳng định rằng việc xác định khung độ  
tuổi như trên vẫn phù hợp với tinh thần của Công  
ước. Trong bản hướng dẫn soạn thảo báo cáo  
định kỳ, Ủy ban Công ước đã yêu cầu các quốc  
gia cung cấp thông tin về độ tuổi pháp lý liên  
quan tới các vấn đề như: tuổi đồng ý khám chữa  
bệnh mà không cần sự cho phép của bố mẹ, tuổi  
giáo dục bắt buộc, tuổi lao động, kết hôn, quan  
hệ tình dục tự nguyện, gia nhập quân ngũ, chịu  
trách nhiệm hình sự [20]. Ủy ban Công ước nhận  
thức rõ rằng việc đặt ra giới hạn độ tuổi đối với  
sự thụ hưởng quyền và gánh vác trách nhiệm là  
cần thiết nhằm bảo vệ trẻ em khỏi những mối  
nguy hại tiềm ẩn, đồng thời cân bằng với các lợi  
ích liên quan khác trong mối quan hệ với trẻ. Dù  
vậy, việc bảo vệ trẻ em cũng cần phải chú ý tới  
mức độ phát triển của các em, chứ không được  
quá mức [2]. Câu hỏi mấu chốt là làm sao để  
đánh giá được khung độ tuổi đó có phải là sự áp  
đặt tùy tiện và từ đó xâm hại tới quyền tự chủ của  
trẻ em hay không?  
Về bản chất, xác định các khung độ tuổi  
chính là một hình thức giới hạn quyền con người.  
Liên quan tới vấn đề này, tác giả đã trình bày ở  
một bài viết khác, trong đó lập luận rằng quy  
định giới hạn quyền cần bảo đảm ba yêu cầu: i)  
hợp pháp; ii) chính đáng; iii) cần thiết [21 - 22].  
Nói chung, giới hạn quyền con người không thể  
tùy tiện mà phải được quy định trong pháp luật,  
hướng tới mục tiêu chính đáng, đồng thời sự giới  
hạn này là cần thiết và đáp ứng được nguyên tắc  
tương xứng [23].  
Ví dụ về độ tuổi tối thiểu chịu trách nhiệm  
hình sự, các quốc gia có cách xác định khác  
N. T. Duc / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 30-38  
36  
nhau, dao động “từ mức rất thấp khoảng 7 hay 8  
tuổi tới mức tương đối cao là khoảng 14 hoặc 16  
tuổi” [24]. Quy tắc thứ 4 trong Bộ quy tắc Bắc  
Kinh về tiêu chuẩn tối thiểu trong quản lý các  
vấn đề tội phạm vị thành niên quy định rằng độ  
tuổi này không nên quá thấp, và nhà chức trách  
cần phải cân nhắc sự non nớt về thể chất và tinh  
thần của trẻ em [25]. Nói khác đi, độ tuổi chịu  
trách nhiệm hình sự cần tương xứng với mức độ  
phát triển về nhận thức và thể chất của các em.  
Ủy ban Công ước bổ sung và khẳng định tuổi  
chịu trách nhiệm hình sự dưới 12 tuổi là trái với  
nguyên tắc tương xứng cũng như nguyên tắc vì  
lợi ích tốt nhất của trẻ em, và vì vậy không thể  
chấp nhận được [24].  
1 Công ước cho phép quốc gia tự xác định độ  
tuổi của trẻ em.  
Dù vậy, việc mở rộng khung trần độ tuổi có  
thể là một điều tốt bởi càng nhiều đối tượng được  
bảo đảm về mặt pháp lý. Trong các phản hồi báo  
cáo định kỳ quốc gia, Ủy ban Công ước khuyến  
nghị Việt Nam sửa đổi pháp luật để tăng cường  
tính tương thích giữa định nghĩa về trẻ em trong  
pháp luật Việt Nam và Công ước [27]. Vào thời  
điểm sửa Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục  
Trẻ em năm 2004, một số cơ quan, tổ chức quốc  
tế như UNICEF Việt Nam đã cố gắng vận động  
để nâng khung tuổi trẻ em lên 18, nhưng cuối  
cùng không thành công [28] và Luật Trẻ em năm  
2016 cũng vẫn giữ nguyên cách định nghĩa: Trẻ  
em là người dưới 16 tuổi. Từ đủ 16 tuổi tới 30  
tuổi thì chủ thể này được gọi là thanh niên theo  
Điều 1 Luật Thanh niên, nhưng chưa thể thụ  
hưởng quyền năng đầy đủ như người trưởng  
thành. Hai tác giả Phạm Thị Thanh Nga và  
Nguyễn Xuân Tĩnh cho rằng đây là điểm hạn chế  
của pháp luật bởi địa vị pháp lý không rõ ràng  
của những người đủ từ 16 đến dưới 18 tuổi, “họ  
không phải là trẻ em nhưng cũng không phải là  
người thành niên” [29].  
Về quyền của thai nhi, khoản 1, Điều 44,  
Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989 (còn hiệu  
lực) quy định phụ nữ có quyền nạo thai, phá thai  
theo nguyện vọng. Quan điểm trên cũng được tái  
khẳng định tại Điều 36 Dự thảo Luật Dân số gần  
đây nhất. Đây chính là cơ sở khẳng định quan  
điểm trong pháp luật Việt Nam đó là thai nhi  
chưa đáp ứng đầy đủ phẩm chất của con người  
và người phụ nữ có quyền định đoạt đối với thân  
thể của mình trong mối quan hệ với thai nhi. Dù  
vậy, quyền tự do thân thể này không phải là vô  
hạn. Khoản 2, Điều 7, Pháp lệnh dân số năm  
2003 được hướng dẫn bởi khoản 3, Điều 10,  
Nghị định 104/2003/NĐ-CP nghiêm cấm hành  
vi loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính.  
Đồng thời, hoạt động nạo, phá thai cũng bị cấm  
đối với thai nhi trên 22 tuần tuổi. Trường hợp vi  
phạm thì sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 84  
Nghị định số 176/2013/NĐ-CP với các khung xử  
phạt hành chính khác nhau căn cứ vào tính chất  
của hành vi. Lưu ý rằng, một số trường hợp cấm  
phá thai như trên không có nghĩa là pháp luật  
3. Trẻ em theo pháp luật Việt Nam  
Năm 1990, Việt Nam trở thành quốc gia  
Châu Á đầu tiên và thứ hai trên thế giới phê  
chuẩn Công ước. Sau 30 năm thực thi, Việt Nam  
đã cho thấy nhiều nỗ lực trong việc ghi nhận và  
bảo vệ quyền trẻ em. Nếu như Pháp lệnh về Bảo  
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1979 vẫn  
nhấn mạnh vào tư duy bao bọc, coi trẻ là “đối  
tượng”, thì tới Luật Trẻ em năm 2016, cả bốn  
nguyên tắc trụ cột của Công ước đã được pháp  
điển hóa, bao gồm quyền sống còn và phát triển,  
nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, quyền  
không bị phân biệt đối xử, quyền được lắng  
nghe. Những nguyên tắc nền tảng này đã trở  
thành kim chỉ nam hành động quan trọng cho các  
cơ quan công quyền khi quyết định những vấn  
đề về trẻ em.  
Về khái niệm trẻ em, trước khi Việt Nam gia  
nhập Công ước, Pháp lệnh năm 1979 quy định  
trẻ em là người dưới 15 tuổi. Tới Luật Bảo vệ,  
Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em năm 1991 và sau  
đó là năm 2004, thì độ tuổi này được nâng lên  
16. Cách xác định này trong pháp luật Việt Nam  
hoàn toàn phù hợp với tinh thần của Công ước.  
Đáng chú ý, Ủy ban Công ước từng khẳng định  
quan niệm trẻ em là người dưới 16 tuổi là “không  
phù hợp với Công ước” [26]. Tuy nhiên, có lẽ  
khẳng định này của Ủy ban Công ước mới  
“không phù hợp với Công ước” bởi rõ ràng Điều  
N. T. Duc / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 30-38  
37  
thừa nhận quyền sống của thai nhi. Những quy  
định này mang tính chất bảo vệ sức khỏe của  
người phụ nữ mang thai, đồng thời cân bằng với  
các mục tiêu công cộng khác mà Nhà nước  
hướng tới. Nhìn chung, các quy định trên đã  
tương đối phù hợp với chuẩn mực quốc tế và bảo  
đảm cân bằng quyền sống và lợi ích của bà mẹ  
mang thai với thai nhi.  
Bên cạnh thuật ngữ “trẻ em”, pháp luật Việt  
Nam cũng sử dụng các thuật ngữ khác với hàm  
ý liên quan. “Người chưa thành niên” trong pháp  
luật dân sự được định nghĩa là người chưa đủ 18  
tuổi. Có thể hiểu người chưa thành niên trong  
pháp luật Việt Nam cũng chính là trẻ em theo  
định nghĩa của Công ước.  
Theo khảo sát sơ bộ các văn bản pháp luật  
của hai tác giả Phạm Thị Thanh Nga và Nguyễn  
Xuân Tĩnh trên trang cơ sở dữ liệu Luatvietnam  
về việc sử dụng các thuật ngữ này, “trẻ em” được  
sử dụng trong 3.034 văn bản, trong đó có 82 luật;  
“Người chưa thành niên” được dùng trong 771  
văn bản, trong đó có 53 luật [29]. Tuy nhiên, việc  
sử dụng hai thuật ngữ này trong văn bản pháp  
luật Việt Nam lại có sự khác biệt. Cụ thể, “trẻ  
em” thường được sử dụng để nhấn mạnh tính dễ  
tổn thương và quyền của đối tượng này; Trong  
khi đó, “người chưa thành niên” thì không chỉ  
ám chỉ quyền mà còn cả nghĩa vụ và trách nhiệm  
của đối tượng này đối với người khác. Đặc biệt  
trong lĩnh vực hình sự, Chương X Bộ luật hình  
sự (BLHS) năm 1999 ghi nhận thuật ngữ “người  
chưa thành niên phạm tội”, trong khi đó Chương  
XII BLHS năm 2015 đã sửa thành “người dưới  
18 tuổi phạm tội”. Việc thay thế này tuy không  
làm sai lệch nội dung chi tiết của mỗi quy định,  
nhưng lại làm cho văn bản thiếu tính hệ thống và  
kế thừa, thiếu mối liên hệ với pháp luật dân sự  
và Luật Trẻ em, không làm nổi bật được ý nghĩa  
của chính sách pháp luật hình sự của nhà nước  
Việt Nam ưu tiên áp dụng để bảo vệ trẻ em [29].  
Bên cạnh đó, BLHS năm 2015 đưa ra những  
nguyên tắc chung khi xử lý người dưới 18 tuổi  
phạm tội. Nhìn chung, việc xử lý này phải căn cứ  
vào độ tuổi, sự chín chắn và hiểu biết cũng như  
mức độ nghiêm trọng hành vi phạm tội của họ.  
Đặc biệt, lần đầu tiên pháp luật hình sự ghi nhận  
nguyên tắc “vì lợi ích tốt nhất của người dưới 18  
tuổi” với tính chất là nguyên tắc nền tảng, bao  
trùm trong hoạt động xử lí tội phạm chưa thành  
niên. Điều này cho thấy những nỗ lực của nhà  
làm luật trong việc đảm bảo tính tương thích giữa  
pháp luật Việt Nam và quy định quốc tế.  
Tuy nhiên, ở một góc độ khác, quy định này  
có phần khó hiểu bởi trong Công ước chỉ tồn tại  
duy nhất nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em  
[2]. Vậy nguyên tắc “vì lợi ích tốt nhất của người  
dưới 18 tuổi” có nghĩa là gì? Trong một bài viết  
khác, tác giả đã lập luận rằng nguyên tắc vì lợi  
ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi là nguyên tắc  
do nhà làm luật Việt Nam sáng tạo ra [30]. Sở dĩ  
có nguyên tắc này là do những người phạm tội  
này (từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi) vẫn được coi là  
đối tượng yếu thế, non nớt về thể chất và tinh  
thần, do đó cần sự bảo vệ, quan tâm đặc biệt từ  
những người xung quanh, trong đó có cơ quan  
công quyền. Nhà làm luật Việt Nam có vẻ như  
đang ám chỉ nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ  
em trong Công ước nhưng có sự sửa đổi kĩ thuật  
do Việt Nam vẫn chưa muốn thay đổi định nghĩa  
“trẻ em” trong luật của mình. Dù vậy, thực tiễn  
áp dụng nguyên tắc này sẽ đặt câu hỏi ngược lại  
với định nghĩa trẻ em của Việt Nam. Có lẽ Việt  
Nam nên sửa lại định nghĩa “trẻ em” để tăng  
cường tính tương thích giữa pháp luật trong nước  
và quốc tế. Dù vậy, nhìn chung việc bổ sung  
nguyên tắc này vào trong cả hai bộ luật quan  
trọng trên có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng  
cao nhận thức của các cơ quan tiến hành tố tụng  
khi xử lý các vấn đề liên quan tới người chưa  
thành niên phạm tội.  
4. Kết luận  
Sự ra đời của Công ước Liên Hợp quốc về  
quyền trẻ em năm 1989 đã đánh dấu những  
chuyển biến đáng kể về địa vị pháp lý của trẻ em  
trong pháp luật của các quốc gia. Một trong  
những thành công quan trọng của Công ước đó  
là góp phần thúc đẩy một cách hiểu thống nhất  
hơn về trẻ em, từ đó mở rộng hơn phạm vi bảo  
đảm pháp lý đối với nhóm chủ thể này. Bài viết  
phân tích thêm những chiều cạnh trong khái  
niệm về trẻ em theo Điều 1 Công ước, và khẳng  
định đây là một nỗ lực hài hòa các quan điểm trái  
N. T. Duc / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 30-38  
38  
of the Child: A Commentary, Oxford University  
Press, New York, 2019.  
chiều về trẻ em. Quá trình thay đổi nhận thức về  
trẻ em vẫn đang tiếp diễn với áp lực từ nhiều  
phía, và từ đây đòi hỏi các chủ thể liên quan có  
một cái nhìn nghiêm túc hơn về trẻ em.  
[14] The Vienna Convention on the Law of Treaties, 1969.  
[15] P. Alston, The Unborn Child and Abortion Under  
the Draft Convention on the Rights of the Child,  
Human Rights Quarterly, vol. 12, No. 1, 1990.  
[16] Ủy ban Công ước, General Discussion on the  
Rights of Children with Disabilities, UN Doc.  
Công ước /C/66, Phụ lục V.  
[17] P. N. Rachel Hodgkin, Implementation Handbook  
for the Convention on the Rights of the Child,  
UNICEF, 2007.  
[18] OHCHR, Legislative History of the Convention on  
the Rights of the Child, United Nations, 2017.  
[19] Ủy ban Công ước, Quan sát kết luận về Nigeria,  
Công ước /CNGA/CO3-4.  
[20] Ủy ban Công ước, 48) General Guidelines  
regarding the Form and Content of Initial Reports  
to be Submitted by States Parties under Article 44,  
paragraph 1 (a), of the Convention on the Rights of  
the Child, 1991.  
Sau 30 năm thực thi Công ước, Việt Nam đã  
cho thấy nhiều nỗ lực trong việc ghi nhận và bảo  
vệ quyền trẻ em. Dù còn một vài vướng mắc  
trong pháp luật Việt Nam liên quan tới khái niệm  
trẻ em và các thuật ngữ liên quan, nhưng nhìn  
chung pháp luật Việt Nam đã tiếp thu tốt tiêu  
chuẩn quốc tế trong vấn đề này. Theo đó, pháp luật  
thừa nhận tính non nớt, dễ bị tổn thương của những  
đối tượng này, từ đó đòi hỏi các cơ quan công  
quyền phải cẩn thận khi thực hiện hoạt động liên  
quan tới lợi ích của trẻ. Điều này tiếp tục thể hiện  
truyền thống tốt đẹp yêu thương trẻ em của dân tộc  
Việt Nam, đồng thời cũng là quyết tâm và nỗ lực  
của Nhà nước Việt Nam nhằm bảo đảm pháp luật  
của mình phù hợp với những tiêu chuẩn chung có  
giá trị phổ quát toàn nhân loại.  
[21] B. T. Đạt, Hiến pháp hoá nguyên tắc giới hạn quyền  
con người: Cần nhưng chưa đủ, Tạp chí Nghiên  
cứu lập pháp, số 6, 2015.  
[22] N. T. Đức, Giới hạn quyền con người theo Công  
ước Nhân quyền Châu Âu và gợi mở cho Việt Nam,  
Tạp chí Nhà nước và Pháp luật , s4, 2018.  
[23] M. Tushnet, V. Jackson, Proportionality - New  
Frontiers, New Challenges, Cambridge University  
Press, New York, 2018.  
[24] Ủy ban Công ước, General Comment no. 10, 2007.  
[25] UN, Bộ quy tắc Bắc Kinh về tiêu chuẩn tối thiểu  
trong quản lý các vấn đề tội phạm vị thành niên  
năm 1985.  
[26] Ủy ban Công ước, Quan sát kết luận về Namibia,  
Công ước /C/NAM/CO/2-3.  
[27] Ủy ban Công ước, Quan sát kết luận về Viet Nam,  
Công ước /VNM/CO/3-4, 2012.  
[28] N. T. Đức, Nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em  
trong pháp luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Nghiên  
cứu lập pháp, số 15, 2017.  
Tài liệu tham khảo  
[1] M. Cowden, Children’s Rights From Philosophy to  
Public Policy, Palgrave Macmillan, New York, 2016.  
[2] The UN Convention on the Rights of the Child, 1989.  
[3] C. F. H. Rights, The Rights of the Child (Fact Sheet  
No. 10), United Nations, 1990.  
[4] M. Ruck, M. Peterson-Badali, M. Freeman, Handbook  
of Children’s Rights: Global and Multidisciplinary  
Perspectives, Routledge, New York, 2017.  
[5] G. Mower, The Convention on the Rights of the  
Child: International Law Support for Children,  
Praeger Publishers, California, 1997.  
[6] N. T. Đức, Quyền sống trong Hiến pháp Việt Nam  
năm 2013, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 1, 2017.  
[7] Boso kiện Chính phủ Ý, ECHR Application No.  
50490/99, 2002.  
[29] P. T. T. Nga, N. X. Tĩnh, “Trẻ em” và “người chưa  
thành niên” trong pháp luật Việt Nam: nhìn từ  
nghĩa vụ thực hiện Công ước của LHQ về quyền  
trẻ em và tính thống nhất của hệ thống pháp luật,  
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 15, 2017.  
[30] D. Nguyen, The Development of Four Leading  
Principles of the Convention on the Rights of the  
Child in Vietnam's Juvenile Justice, Bergen Journal  
of Criminal Law & Criminal Justice, Vol. 4, Vo. 2,  
2016, pp. 267-285.  
[8] Thi Nho Vo kiện Chính phủ Pháp, 40 EHRR 12, 2004.  
[9] A. Plomer, A Foetal Right to Life? The Case of Vo v.  
France,HumanRightsLawReview,Vol.5,No.2,2005.  
/WRGS/SexualHealth/INFO_Abortion_WEB.pdf.  
(Accessed 21 9 2020).  
[11] Case 2141 (United States), OAS Doc. OAS/SER.  
L/V/II. 54 doc. 9, rev. 1, 1981.  
[12] UN, U.N. Doc. E/CN.4/1989/SR.54, 1989.  
[13] D. Archard, J. Tobin, The Definition of a Child, in:  
John Tobin (ed), The UN Convention on the Rights  
A
pdf 9 trang Thùy Anh 15280 Free
Bạn đang xem tài liệu "So sánh khái niệm trẻ em theo công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 và pháp luật Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfso_sanh_khai_niem_tre_em_theo_cong_uoc_lien_hop_quoc_ve_quye.pdf