Chấm dứt hợp đồng lao động theo bộ luật lao động năm 2019 và một số vấn đề đặt ra

CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG  
THEO BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019 VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA  
KHÚC THỊ PHƯƠNG NHUNG*  
Quan hệ lao động là mối quan hệ phổ biến trong xã hội được xác lập thông qua hình  
thức pháp lý là hợp đồng lao động (HĐLĐ); trong đó, việc chấm dứt hợp đồng lao động  
thường dẫn đến các tranh chấp giữa người sử dụng lao động và người lao động. So với Bộ  
luật lao động (BLLĐ) năm 2012, BLLĐ năm 2019 đã có một số điểm mới về vấn đề này.  
Từ khóa: Hợp đồng lao động, quan hệ lao động, chấm dứt hợp đồng lao động.  
Ngày nhận bài: 24/02/2021; Biên tập xong: 09/4/2021; Duyệt đăng: 09/4/2021  
Established by legal form of a labor contract, labor relationship is a common one in  
society; in which, the termination of an employment contract often leads to disputes  
between the employer and the employee. In comparison with the 2012 Labor Code,  
the laꢀer one has had some new points on this issue.  
Keywords: Labor contract, labor relationship, the termination of an employment contract.  
hế định về hợp đồng là phương quản lý nhà nước trong việc kiểm tra giám  
sát việc thực hiện pháp luật lao động. Đây  
là hình thức pháp lý của quan hệ lao động  
cá nhân, là “xương sống” của quan hệ lao  
động cá nhân, liên quan trực tiếp đến các  
quyền và nghĩa vụ của NLĐ và NSDLĐ.  
tiện pháp lý quan trọng để thỏa  
mãn quyền, lợi ích hợp pháp của  
C
các chủ thể trong xã hội. Tuy nhiên, nếu  
trong một số giao dịch hay trong những  
quan hệ pháp luật dân sự thông thường  
khác mà ꢀ đó ý chí đơn phương có thể  
được coi là một căn cứ làm phát sinh nghĩa  
vụ không cần sự ràng buộc ý chí của bất  
cứ chủ thể nào trước đó thì đối với HĐLĐ,  
sự thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các  
chủ thể trong quan hệ hợp đồng lại được  
coi là yếu tố cốt lõi để hình thành quan hệ  
giữa các bên.  
HĐLĐ là sự thỏa thuận giữa người lao  
động (NLĐ) và người sử dụng lao động  
(NSDLĐ) về việc làm có trả công, tiền  
lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa  
vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động1.  
Với tư cách là một loại hợp đồng, HĐLĐ  
có ý nghĩa là hình thức để các bên xác lập  
và thực hiện một quan hệ pháp luật và là  
cơ sꢀ pháp lý để các bên bảo vệ quyền lợi  
của mình khi tranh chấp xảy ra. Ngoài ra,  
dưới góc độ quan hệ lao động, HĐLĐ còn  
có ý nghĩa đối với bên thứ ba như cơ quan  
Nằm trong quy luật vận động của các  
sự vật và hiện tượng nói chung, HĐLĐ  
cũng trải qua các giai đoạn phát sinh, phát  
triển và chấm dứt. Tuy nhiên, khác với các  
sự vật, hiện tượng khác, HĐLĐ bao giờ  
cũng được phát sinh từ những hành vi có  
ý thức của các chủ thể. Vì vậy, các sự kiện  
làm chấm dứt một HĐLĐ không phải là  
các sự biến sinh ra do sự vận động của tự  
nhiên mà đó là những sự kiện được xuất  
hiện từ hành vi có ý thức của các chủ thể  
hoặc do pháp luật quy định. Vậy, chấm  
dứt HĐLĐ là sự kiện pháp lý mà một  
hoặc cả hai bên không tiếp tục thực hiện  
HĐLĐ và hậu quả là sự kết thúc quan hệ  
lao động, chấm dứt quyền và nghĩa vụ  
của hai bên trong quan hệ hợp đồng.  
So với BLLĐ năm 2012, BLLĐ năm  
2019 đã có một số điểm mới về chấm dứt  
HĐLĐ theo hướng sửa đổi, bổ sung thêm  
* Tiến sĩ, Khoa Pháp luật dân sự và Kiểm sát dân sự,  
Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội  
1ꢁ Khoản 1 Điều 13 BLLĐ năm 2019  
Số 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 41  
CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG...  
các trường hợp chấm dứt HĐLĐ nhằm tạo lao động nước ngoài làm việc tại Việt  
hành lang pháp lý góp phần bảo vệ quyền Nam (giấy phép lao động hết hiệu lực);  
và trường hợp NSDLĐ không phải là cá  
nhân bị cơ quan chuyên môn về đăng ký  
kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp  
tỉnh ra thông báo không có người đại diện  
theo pháp luật, người được ủy quyền thực  
hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện  
theo pháp luật thì đương nhiên quan hệ  
lao động sẽ chấm dứt. Tuy nhiên, BLLĐ  
năm 2012 lại không quy định những nội  
dung này. Vậy căn cứ vào đâu để xác định  
quyền, trách nhiệm của NSDLĐ cũng như  
vận dụng cơ chế nào giải quyết chế độ,  
quyền lợi cho NLĐ một cách thỏa đáng?  
1.2. Về các trường hợp người lao động  
có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng  
lao động  
Thứ nhất, BLLĐ năm 2019 thay đổi về  
điều kiện thực hiện quyền đơn phương chấm  
dứt HĐLĐ của NLĐ  
BLLĐ năm 2012 ghi nhận quyền đơn  
phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ được  
thực hiện khi thỏa mãn các điều kiện cụ  
thể tương ứng với loại HĐLĐ đã được xác  
lập. Theo đó:  
(i) Đối với HĐLĐ xác định thời hạn,  
HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công  
việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng  
thì NLĐ được quyền đơn phương chấm  
dứt HĐLĐ khi đáp ứng đủ 02 điều kiện:  
Phải thuộc các trường hợp luật định (tức  
là phải có lý do, có căn cứ) và phải đảm  
bảo thời hạn báo trước;  
(ii) Đối với HĐLĐ không xác định thời  
hạn, NLĐ có quyền đơn phương chấm  
dứt HĐLĐ khi thỏa mãn điều kiện về thời  
hạn báo trước.  
BLLĐ năm 2019 đã có sự thay đổi lớn  
về vấn đề này theo hướng xóa bỏ bớt điều  
kiện để thực hiện quyền. Cụ thể, NLĐ có  
quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ mà  
không cần lý do dù đó là HĐLĐ xác định  
thời hạn hay HĐLĐ không xác định thời  
hạn. Khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ,  
và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan  
hệ lao động; đồng thời khắc phục những  
hạn chế của BLLĐ năm 2012 và phù hợp  
hơn với các tiêu chuẩn lao động quốc tế  
trong điều kiện hội nhập như hiện nay.  
1. Một số vấn đề về chấm dứt hợp đồng  
lao động theo Bộ luật lao động năm 2019  
1.1. Về các trường hợp chấm dứt hợp  
đồng lao động  
Về nội dung này, cùng với việc tiếp tục  
ghi nhận các trường hợp chấm dứt HĐLĐ  
theo quy định tại Điều 36 BLLĐ năm 2012,  
BLLĐ năm 2019 đã thay đổi theo hướng  
tăng số lượng các trường hợp chấm dứt  
HĐLĐ. Cụ thể, BLLĐ năm 2019 đã bổ  
sung thêm 03 trường hợp chấm dứt HĐLĐ  
như sau: Một là, người lao động là người  
nước ngoài làm việc tại Việt Nam bị trục  
xuất theo bản án, quyết định của Tòa án  
đã có hiệu lực pháp luật, quyết định của  
cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Hai là,  
người sử dụng lao động không phải là cá  
nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan  
chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc  
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo  
không có người đại diện theo pháp luật,  
người được ủy quyền thực hiện quyền và  
nghĩa vụ của người đại diện theo pháp  
luật; Ba là, giấy phép lao động hết hiệu  
lực đối với người lao động là người nước  
ngoài làm việc tại Việt Nam.  
Việc bổ sung thêm các trường hợp  
chấm dứt HĐLĐ nêu trên là hoàn toàn  
phù hợp với thực tiễn quan hệ lao động,  
góp phần khắc phục hạn chế, bất cập,  
thiếu sót của BLLĐ năm 2012 đã gây khó  
khăn, lúng túng, thậm chí ảnh hưꢀng đến  
quyền và lợi ích của các bên trong quan  
hệ lao động. Bꢀi lẽ, trường hợp người lao  
động là người nước ngoài làm việc tại Việt  
Nam khi bị trục xuất (tức là buộc phải rời  
khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ  
nghĩa Việt Nam do có hành vi vi phạm  
pháp luật Việt Nam) hoặc không đáp ứng NLĐ chỉ cần đảm bảo thời hạn báo trước  
được điều kiện pháp lý bắt buộc để người theo quy định của pháp luật tương ứng  
42 Khoa học Kiểm sát  
Số 02 - 2021  
KHÚC THỊ PHƯƠNG NHUNG  
với loại hợp đồng đã được xác lập. Cụ thể,  
(vii) NSDLĐ cung cấp thông tin không  
NLĐ phải báo trước: (i) Ít nhất 45 ngày nếu trung thực làm ảnh hưꢀng đến việc thực  
làm việc theo hợp đồng lao động không xác hiện hợp đồng lao động.  
định thời hạn; (ii) Ít nhất 30 ngày nếu làm  
việc theo hợp đồng lao động xác định thời  
hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;  
(iii) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc  
theo hợp đồng lao động xác định thời hạn  
có thời hạn dưới 12 tháng2. Sự thay đổi này  
của BLLĐ năm 2019 thể hiện rõ thái độ của  
Nhà nước trong việc tôn trọng và bảo đảm  
ngày càng tốt hơn việc thực hiện các quyền  
của NLĐ là quyền tự do lựa chọn việc làm,  
nơi làm việc và quyền đơn phương chấm  
dứt HĐLĐ3.  
Thứ hai, BLLĐ năm 2019 bổ sung quy định  
về các trường hợp NLĐ có quyền đơn phương  
chấm dứt HĐLĐ mà không cần báo trước  
Theo đó, NLĐ có quyền đơn phương  
chấm dứt HĐLĐ mà không cần báo trước  
khi thuộc vào một trong các trường hợp  
sau đây:  
(i) Không được bố trí theo đúng công  
việc, địa điểm làm việc hoặc không được  
bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa  
thuận, trừ trường hợp chuyển NLĐ làm  
công việc khác so với HĐLĐ;  
(ii) Không được trả đủ lương hoặc trả  
lương không đúng thời hạn, trừ trường  
hợp vì lý do bất khả kháng mà NSDLĐ  
đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng  
không thể trả lương đúng hạn;  
Quy định này là phù hợp, góp phần  
đảm bảo quyền tự do việc làm của NLĐ,  
đồng thời giúp giảm thiểu tình trạng lao  
động cưỡng bức. Tuy nhiên, việc này cũng  
gây ra những khó khăn nhất định cho  
phía NSDLĐ trong việc bố trí, sử dụng lao  
động, đặc biệt là những lao động có trình  
độ chuyên môn khi họ sử dụng quyền  
năng này mà NSDLĐ chưa thể tuyển  
dụng ngay được lao động mới để thay thế  
vị trí việc làm. Điều này có thể dẫn đến  
những ảnh hưꢀng tới hoạt động sản xuất  
kinh doanh, từ đó gây ra những thiệt hại  
nhất định về mặt kinh tế cho NSDLĐ.  
1.3. Về các trường hợp người sử dụng  
lao động có quyền đơn phương chấm dứt  
hợp đồng lao động  
So với BLLĐ năm 2012, BLLĐ năm  
2019 đã sửa đổi, bổ sung các trường hợp  
NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt  
HĐLĐ. Theo đó, bên cạnh các trường hợp  
NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt  
HĐLĐ theo quy định tại khoản 1 Điều 38  
BLLĐ năm 2012, BLLĐ năm 2019 đã sửa  
đổi, bổ sung thêm các trường hợp sau:  
Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung đối với quy  
định về trường hợp chấm dứt HĐLĐ do  
NLĐ thường xuyên không hoàn thành  
công việc theo HĐLĐ. Cụ thể, nếu như  
BLLĐ năm 2012 chỉ quy định một cách  
khái quát và được hướng dẫn tại Nghị  
định 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và  
hướng dẫn thi hành một số nội dung của  
BLLĐ thì BLLĐ năm 2019 đã luật hóa cơ  
sꢀ để xác định việc “NLĐ thường xuyên  
không hoàn thành công việc” là dựa vào  
các tiêu chí trong Quy chế đánh giá mức độ  
hoàn thành công việc do NSDLĐ ban hành  
sau khi có tham khảo ý kiến của tổ chức đại  
diện NLĐ tại cơ sꢀ đối với nơi có tổ chức  
đại diện NLĐ tại cơ sꢀ.  
(iii) Bị NSDLĐ ngược đãi, đánh đập  
hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi  
làm ảnh hưꢀng đến sức khỏe, nhân phẩm,  
danh dự, bị cưỡng bức lao động;  
(iv) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;  
(v) Lao động nữ mang thai phải nghỉ  
việc khi có xác nhận của cơ sꢀ khám bệnh,  
chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục  
làm việc sẽ ảnh hưꢀng xấu tới thai nhi;  
(vi) Đủ tuổi nghỉ hưu hoặc theo thỏa  
thuận của các bên;  
2ꢁ Khoản 1 Điều 35 BLLĐ năm 2019  
3ꢁ Khoản 1 Điều 5 BLLĐ năm 2019  
Số 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 43  
CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG...  
Thứ hai, bổ sung thêm các trường hợp định: “Đối với một số ngành, nghề, công việc  
NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện  
theo quy định của Chính phủ”4. Quy định  
này thể hiện tính linh hoạt và phù hợp với  
tính chất đa dạng, phức tạp của quan hệ  
lao động.  
HĐLĐ gồm:  
(i) NLĐ đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định  
của pháp luật hoặc hai bên có thỏa thuận  
khác. Như vậy, trong BLLĐ năm 2012, đây  
được coi là trường hợp chấm dứt HĐLĐ  
khi NLĐ thỏa mãn 02 điều kiện là: Đủ  
điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã  
hội và tuổi hưꢀng lương hưu. Tuy nhiên,  
BLLĐ năm 2019 đã bỏ điều kiện về thời  
gian đóng bảo hiểm xã hội và như vậy  
chỉ cần NLĐ đủ tuổi nghỉ hưu thì NSDLĐ  
đã có quyền được đơn phương chấm dứt  
HĐLĐ. Có thể thấy, quy định này đã giải  
quyết được vướng mắc khi NLĐ đủ tuổi  
nghỉ hưu nhưng chưa đủ điều kiện về  
đóng bảo hiểm xã hội, đồng thời góp phần  
đảm bảo việc thực hiện quyền tuyển dụng  
của NSDLĐ cũng như tính linh động trong  
sàng lọc, tuyển chọn NLĐ phù hợp với  
hoạt động sản xuất kinh doanh.  
(ii) NLĐ tự ý bỏ việc mà không có lý  
do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục  
trꢀ lên.  
(iii) NLĐ cung cấp không trung thực  
thông tin theo quy định khi giao kết HĐLĐ  
làm ảnh hưꢀng đến việc tuyển dụng người  
lao động.  
Thứ tư, BLLĐ năm 2019 đã bổ sung  
quy định về các trường hợp NSDLĐ được  
quyền chấm dứt HĐLĐ mà không cần  
phải báo trước cho NLĐ đó là: (i) NLĐ  
không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn  
15 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn  
thực hiện hợp đồng; và (ii) NLĐ tự ý bỏ  
việc mà không có lý do chính đáng từ 05  
ngày làm việc liên tục trꢀ lên. Quy định  
này là hợp lý bꢀi đã làm tăng tính chủ  
động, tạo điều kiện thuận lợi cho NSDLĐ;  
đồng thời đảm bảo việc thực hiện quyền  
của NSDLĐ trong quan hệ lao động đó là  
quyền tuyển dụng, bố trí, quản lý, điều  
hành, giám sát lao động5.  
2. Một số vấn đề đặt ra đối với các quy  
định về chấm dứt hợp đồng lao động  
theo Bộ luật lao động năm 2019  
Với những nội dung đã được chỉ ra tại  
mục 1 nêu trên cho thấy BLLĐ năm 2019  
đã góp phần khắc phục được nhiều hạn  
chế, bất cập của BLLĐ năm 2012 về chấm  
dứt HĐLĐ. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn  
đề đặt ra như sau:  
Thứ ba, BLLĐ năm 2019 đã bổ sung  
quy định liên quan đến nghĩa vụ báo  
trước của NSDLĐ đối với NLĐ khi đơn  
phương chấm dứt HĐLĐ. Theo đó, kế  
thừa quy định của BLLĐ năm 2012 về thời  
hạn báo trước như: (i) Ít nhất 45 ngày đối  
với HĐLĐ không xác định thời hạn; (ii)  
Ít nhất 30 ngày đối với HĐLĐ xác định  
thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36  
tháng; (iii) Ít nhất 03 ngày làm việc đối  
với HĐLĐ xác định thời hạn có thời hạn  
dưới 12 tháng và đối với trường hợp NLĐ  
bị ốm đau đã điều trị trong một thời gian  
luật định mà khả năng lao động chưa hồi  
Một là, BLLĐ năm 2019 tiếp tục kế thừa  
quy định tại khoản 1 Điều 36 BLLĐ năm  
2012; theo đó, chỉ quy định duy nhất một  
trường hợp ngoại lệ của chấm dứt HĐLĐ  
do hết hạn HĐLĐ là trường hợp NLĐ là  
thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại  
diện NLĐ tại cơ sꢀ đang trong nhiệm kì  
mà hết hạn HĐLĐ thì NSDLĐ phải gia  
hạn HĐLĐ đã giao kết đến hết nhiệm kì  
cho NLĐ6. Trong khi đó, còn một số trường  
hợp khác xảy ra trên thực tế mà pháp luật  
4ꢁ Điểm d khoản 2 Điều 35 BLLĐ năm 2019  
5ꢁ Khoản 1 Điều 6 BLLĐ năm 2019  
phục; BLLĐ năm 2019 đã bổ sung quy 6ꢁ Khoản 4 Điều 177 BLLĐ năm 2019  
44 Khoa học Kiểm sát  
Số 02 - 2021  
KHÚC THỊ PHƯƠNG NHUNG  
lao động cũng chưa có quy định cụ thể, mất tích hoặc là đã chết để chấm dứt HĐLĐ  
chẳng hạn trường hợp NLĐ bị bệnh nghề  
nghiệp, tai nạn lao động phải điều trị trong  
thời gian dài mà trong khoảng thời gian  
đó, HĐLĐ hết hạn thì vẫn chấm dứt HĐLĐ  
theo quy định hay xem xét gia hạn HĐLĐ  
với NLĐ? Hay trường hợp NLĐ đang  
trong thời gian tạm hoãn thực hiện HĐLĐ  
mà HĐLĐ hết hạn thì có chấm dứt HĐLĐ  
hay không? Những vấn đề này pháp luật  
lao động vẫn chưa quy định rõ ràng dẫn  
đến khó khăn khi áp dụng trên thực tế.  
mà sẽ sa thải NLĐ, bꢀi lựa chọn này xét  
một cách toàn diện vẫn là phương án tối  
ưu để bảo vệ quyền và lợi ích của NSDLĐ.  
Vậy câu hỏi đặt ra là việc quy định trường  
hợp NLĐ bị Tòa án tuyên bố là mất tích  
hoặc đã chết là một trong những căn cứ để  
chấm dứt HĐLĐ có cần thiết hay không?  
Ba là, NLĐ bị xử lý kỉ luật sa thải là  
một trong những trường hợp để chấm dứt  
HĐLĐ. Tuy nhiên, một trong những căn cứ  
để NSDLĐ áp dụng hình thức xử lý kỉ luật  
sa thải đối với NLĐ là “NLĐ có hành vi  
gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây  
thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản,  
lợi ích của NSDLĐ...”9. Vấn đề đặt ra ꢀ chỗ  
là BLLĐ năm 2019 cũng không có quy định  
cụ thể về việc dựa vào tiêu chí nào để đánh  
giá thế nào là thiệt hại nghiêm trọng hay  
đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng  
về tài sản, lợi ích của NSDLĐ. Do vậy, điều  
này sẽ gây ra những khó khăn nhất định  
cho NSDLĐ cũng như NLĐ khi NSDLĐ áp  
dụng căn cứ này để sa thải NLĐ.  
Hai là, một trong những căn cứ chấm  
dứt HĐLĐ là khi “Người lao động chết; bị  
Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân  
sự, mất tích hoặc đã chết”7 còn có điểm bất  
cập, chưa hợp lý. Bꢀi lẽ, thời hạn để Tòa  
án tuyên bố một người mất tích là 02 năm  
tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về  
người đó, tuyên bố một người là đã chết  
là 03 năm kể từ ngày quyết định tuyên  
bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp  
luật mà vẫn không có tin tức xác thực là  
còn sống; biệt tích trong chiến tranh sau 05  
năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà  
vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;  
bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau  
02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ,  
thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức  
xác thực là còn sống; biệt tích 05 năm liền  
trꢀ lên và không có tin tức xác thực là còn  
sống8. Trong khi đó, trường hợp NLĐ tự ý  
bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30  
ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn  
365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc  
mà không có lý do chính đáng thì NSDLĐ  
đã có quyền sa thải NLĐ theo quy định tại  
Điều 124 BLLĐ năm 2019. Như vậy, thời  
hạn để Tòa án tuyên bố một người mất  
tích hoặc là đã chết vượt quá thời hạn mà  
NSDLĐ có quyền sa thải NLĐ. NSDLĐ  
thường sẽ không đợi Tòa án tuyên NLĐ  
Như vậy, nhìn chung so với BLLĐ  
năm 2012, BLLĐ năm 2019 đã có những  
thay đổi đáng kể về chấm dứt HĐLĐ.  
Những thay đổi đó mang tính tích cực  
với những quy định hoàn thiện hơn,  
phù hợp hơn với thực tiễn của quan  
hệ lao động; tuy vậy cũng không tránh  
khỏi những khó khăn,vướng mắc trong  
quá trình thực thi, áp dụng do chưa có  
quy định hoặc quy định nhưng chưa rõ  
ràng. Chính vì lẽ đó, tiến hành đồng bộ  
các giải pháp để nâng cao hiệu quả thực  
hiện pháp luật lao động nói chung và  
pháp luật về chấm dứt HĐLĐ nói riêng  
là một việc làm cần thiết./.  
7ꢁ Khoản 6 Điều 34 BLLĐ năm 2019  
8ꢁ Điều 68, 71 Bộ luật dân sự năm 2015  
9ꢁ Khoản 2 Điều 125 BLLĐ năm 2019  
Số 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 45  
pdf 5 trang Thùy Anh 8160 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chấm dứt hợp đồng lao động theo bộ luật lao động năm 2019 và một số vấn đề đặt ra", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcham_dut_hop_dong_lao_dong_theo_bo_luat_lao_dong_nam_2019_va.pdf