Quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên theo luật doanh nghiệp năm 2020

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
QUYỀN YÊU CẦU CÔNG TY MUA LẠI PHẦN VỐN GÓP CỦA  
THÀNH VIÊN CÔNG TY TNHH HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN THEO  
LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2020  
Nguyễn Thị Phương Hà*  
*ThS. Khoa Luật Thương mại, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Công ty trách nhiệm hữu  
hạn hai thành viên trở lên, quyền  
yêu cầu của thành viên công ty  
TNHH mua lại phần vốn góp,  
Luật Doanh nghiệp năm 2020.  
Lịch sử bài viết:  
Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, quyền yêu  
cầu công ty mua lại phần vốn góp được xem là một cách thức giúp thành  
viên rút vốn khỏi công ty, bảo vệ lợi ích của mình trước các quyết định  
bất lợi từ công ty. Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày, phân tích  
quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 về quyền yêu cầu công ty  
mua lại phần vốn góp, chỉ ra một số bất cập và đề xuất kiến nghị hoàn  
thiện quy định này.  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 02/12/2020  
: 07/01/2021  
: 12/01/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Keywords: Limited liability  
companies with two or more  
members; the right to request of  
a member of the limited company  
to acquire the contributed capital;  
Enterprise Law of 2020.  
For a limited liability company with two or more members, the right to  
request the company to acquire the contributed capital is considered as a  
measure to help the members withdraw their capital from the company,  
to protect their interests against the disadvantageous decisions by the  
company. In the scope of this article, the author provides discussions and  
analysis of the provisions of the Enterprise Law of 2020 on the right to  
request the company to acquire the contributed capital, and also points  
out some shortcomings and proposes recommendations for further  
improvements of these regulations.  
Article History:  
Received  
Edited  
Approved  
: 02 Dec. 2020  
: 07 Jan. 2021  
: 12 Jan. 2021  
Trong mô hình công ty trách nhiệm hữu  
hạn (TNHH), các chủ sở hữu có quyền yêu  
cầu công ty mua lại phần vốn góp của họ  
khi thỏa mãn các điều kiện luật định. Đây là  
quyền của chủ sở hữu đã được ghi nhận từ  
Luật doanh nghiệp (DN) năm 19991. Theo  
đó, việc yêu cầu công ty mua lại phần vốn  
góp được đặt ra với ý nghĩa cung cấp cho các  
chủ sở hữu một cách thức bảo vệ lợi ích của  
mình trước những quyết định bất lợi từ công  
ty. Cụ thể hơn, cách thức này cho phép chủ  
sở hữu rút vốn khỏi công ty (đây là một ngoại  
lệ của nguyên tắc chủ sở hữu “không được  
rút vốn đã góp ra khỏi công ty dưới mọi hình  
thức”2) và từ đó chấm dứt tư cách thành viên  
của mình.  
1. Quy định của Luật Doanh nghiệp năm  
2020 về mua lại phần vốn góp theo yêu cầu  
của thành viên trong công ty TNHH hai  
thành viên trở lên  
Điều 51 Luật Doanh nghiệp năm 2020  
(Luật DN năm 2020) quy định về mua lại  
1 Điều 31 và 64 Luật Doanh nghiệp năm 1999, Điều 43 và 90 Luật Doanh nghiệp năm 2005, Điều 52 và Điều  
129 Luật Doanh nghiệp năm 2014, Điều 51 và 132 Luật Doanh nghiệp năm 2020.  
2 Điều 51 và 115 Luật Doanh nghiệp năm 2014, Điều 50 và 119 Luật Doanh nghiệp năm 2020  
Số 06(430) - T3/2021  
49  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
phần vốn góp theo yêu cầu của thành viên  
công ty TNHH hai thành viên trở lên:  
đồng thành viên. Cụ thể hơn, đây có thể được  
xem là một loại quyền giúp bảo vệ quyền lợi  
của thành viên góp ít vốn trong công ty3. Rõ  
ràng, trong các công ty nhiều chủ, việc sở hữu  
một tỷ lệ vốn góp càng cao càng giúp chủ sở  
hữu có thể tác động nhiều hơn đến quá trình ra  
quyết định chung tại cơ quan có thẩm quyền  
quyết định cao nhất trong công ty. Như vậy,  
với một quyết định hay nghị quyết gây bất lợi  
cho mình, sự biểu quyết không tán thành của  
các chủ sở hữu với phần vốn góp chiếm tỷ lệ  
nhỏ không thể đủ để khiến cho nghị quyết đó  
không được thông qua. Vì lẽ đó, để khắc phục  
trường hợp các chủ sở hữu có tỷ lệ vốn góp  
thấp phải chịu sự bất lợi đến từ những quyết  
định hay nghị quyết mà họ không sao tác động  
thay đổi được, Luật DN năm 2020 trao cho họ  
quyền được yêu cầu công ty mua lại phần vốn  
góp của mình như là một cách thức rút vốn,  
giải thoát họ khỏi công ty.  
“1. Thành viên có quyền yêu cầu công ty  
mua lại phần vốn góp của mình nếu thành viên  
đó đã bỏ phiếu không tán thành đối với nghị  
quyết, quyết định của Hội đồng thành viên về  
vấn đề sau đây:  
a) Sửa đổi, bổ sung các nội dung trong  
Điều lệ công ty liên quan đến quyền và nghĩa  
vụ của thành viên, Hội đồng thành viên;  
b) Tổ chức lại công ty;  
c) Trường hợp khác theo quy định tại Điều  
lệ công ty.  
2. Yêu cầu mua lại phần vốn góp phải bằng  
văn bản và được gửi đến công ty trong thời  
hạn 15 ngày kể từ ngày thông qua nghị quyết,  
quyết định quy định tại khoản 1 Điều này.  
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận  
được yêu cầu của thành viên quy định tại khoản  
1 Điều này thì công ty phải mua lại phần vốn  
góp của thành viên đó theo giá thị trường hoặc  
giá được xác định theo nguyên tắc quy định tại  
Điều lệ công ty, trừ trường hợp hai bên thỏa  
thuận được về giá. Việc thanh toán chỉ được  
thực hiện nếu sau khi thanh toán đủ phần vốn  
góp được mua lại, công ty vẫn thanh toán đủ  
các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác.  
Thứ hai, quyền yêu cầu công ty mua lại  
phần vốn góp không phải là quyền đương  
nhiên của thành viên mà nó chỉ phát sinh khi  
họ biểu quyết không tán thành với các quyết  
định hay nghị quyết về các vấn đề:  
- Sửa đổi, bổ sung các nội dung trong Điều  
lệ công ty liên quan đến quyền và nghĩa vụ của  
thành viên, Hội đồng thành viên;  
- Tổ chức lại công ty;  
4. Trường hợp công ty không thanh toán  
được phần vốn góp được yêu cầu mua lại theo  
quy định tại khoản 3 Điều này thì thành viên  
đó có quyền tự do chuyển nhượng phần vốn  
góp của mình cho thành viên khác hoặc người  
không phải là thành viên công ty”.  
- Trường hợp khác theo quy định tại Điều  
lệ công ty.  
Có thể thấy, quyền yêu cầu công ty mua lại  
phần vốn góp của chủ sở hữu không thể phát  
sinh trong mọi trường hợp chủ sở hữu phản  
đối các nghị quyết của công ty. Bởi lẽ, mục  
đích và ý nghĩa của quyền này là để bảo vệ chủ  
sở hữu có quyền lợi trực tiếp bị ảnh hưởng từ  
nghị quyết của công ty. Vậy nên, chỉ những  
quyết định và nghị quyết thực sự tác động trực  
tiếp đến sự tồn tại của công ty (tổ chức lại công  
ty với các hình thức như chia, tách, hợp nhất,  
Nội dung của quy định trên cho thấy:  
Thứ nhất, mục đích của quyền yêu cầu  
công ty mua lại phần vốn góp là nhằm hướng  
đến bảo vệ quyền lợi của những thành viên hay  
cổ đông có lợi ích bị ảnh hưởng bởi các quyết  
định hay nghị quyết được thông qua bởi Hội  
3. Xem thêm: Bùi Xuân Hải (2011), Luật doanh nghiệp – Bảo vệ cổ đông: Pháp luật và thực tiễn, Nxb. Chính  
trị quốc gia, 246 – 247.  
50  
Số 06(430) - T3/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
sáp nhập, chuyển đổi loại hình công ty) và trực  
tiếp tới quyền lợi của chủ sở hữu (thay đổi  
quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu trong Điều  
lệ) thì chủ sở hữu mới có quyền này. Sự giới  
hạn các loại quyết định hoặc nghị quyết thuộc  
phạm vi của quyền yêu cầu mua lại cũng nhằm  
tránh phát sinh các yêu cầu tùy tiện, bộc phát,  
và không hợp lý của các chủ sở hữu.  
sở hữu rút vốn khỏi công ty nên hệ quả của  
việc công ty mua lại phần vốn góp đó là vốn  
điều lệ của công ty sẽ giảm xuống tương ứng  
với giá trị phần vốn góp được công ty mua lại.  
Công ty phải thực hiện thủ tục giảm vốn điều  
lệ theo đúng quy định của Luật DN năm 2020.  
Thành viên được công ty mua lại toàn bộ phần  
vốn góp sẽ chấm dứt tư cách chủ sở hữu trong  
công ty.  
Bên cạnh đó, về mặt thủ tục, để thực hiện  
quyền yêu cầu một cách hợp pháp, thành viên  
phải gửi yêu cầu dưới dạng văn bản đến công  
ty trong khoảng thời gian được Luật xác định.  
Văn bản cũng cần thể hiện rõ lý do yêu cầu  
mua lại phần vốn góp.  
2. Một số bất cập và kiến nghị  
Từ những phân tích trên đây cho thấy, mấu  
chốt trong quy định của Điều 51 Luật DN năm  
2020 về mua lại phần vốn góp theo yêu cầu của  
thành viên trong công ty TNHH hai thành viên  
trở lên là: công ty chỉ có nghĩa vụ mua lại phần  
vốn góp theo yêu cầu của thành viên nếu như  
tài chính của công ty thỏa mãn điều kiện về  
thanh toán; nếu việc thanh toán phần vốn góp  
được mua lại sẽ khiến công ty không đủ khả  
năng thanh toán các khoản nợ khác thì công ty  
không có nghĩa vụ mua lại mặc dù thành viên  
đã có quyền yêu cầu hợp pháp.  
Thứ ba, việc mua lại phần vốn góp theo  
yêu cầu của thành viên sẽ chỉ là nghĩa vụ đối  
với công ty nếu như việc thanh toán phần vốn  
góp không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh  
toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác  
của công ty. Nếu như Luật DN năm 2014 cho  
phép công ty có thể không mua lại phần vốn  
góp khi thành viên có yêu cầu khi quy định:  
“trường hợp công ty không mua lại phần vốn  
góp…thì thành viên đó có quyền tự do chuyển  
nhượng phần vốn góp của mình…”4, thì Luật  
DN năm 2020 chỉ cho phép thành viên công  
ty tự do chuyển nhượng phần vốn góp trong  
trường hợp công ty không thanh toán được  
phần vốn góp được yêu cầu mua lại của thành  
viên công ty. Như vậy, công ty chỉ có nghĩa  
vụ mua lại khi công ty có thể thanh toán phần  
vốn góp được yêu cầu mua lại mà không ảnh  
hưởng đến khả năng thanh toán các khoản nợ  
khác của công ty.  
Chúng tôi cho rằng, việc quy định công ty  
TNHH hai thành viên trở lên có nghĩa vụ mua  
lại chỉ khi thỏa mãn điều kiện thanh toán là  
không hợp lý vì những lý do sau đây:  
Một là, về khả năng thanh toán của công  
ty. Rõ ràng, lợi ích của bên thứ ba (chủ nợ)  
luôn cần được đặt lên trên lợi ích của chủ sở  
hữu; vì vậy, công ty phải ưu tiên thanh toán các  
khoản nợ và nghĩa vụ tài chính hơn là thanh  
toán phần vốn góp của chủ sở hữu. Tuy nhiên,  
việc không thỏa mãn điều kiện “nếu ngay sau  
khi thanh toán hết phần vốn góp được mua  
lại, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các  
khoản nợ” không nên là yếu tố xóa bỏ nghĩa  
vụ mua lại của công ty mà chỉ nên là yếu tố  
để công ty không tiến hành thanh toán ngay  
sau khi có quyết định mua lại. Bởi lẽ, nguồn  
tài chính và tài sản trong công ty có thể ngay  
tại thời điểm phát sinh yêu cầu mua lại phần  
vốn góp của thành viên thì chưa đủ để thỏa  
Thứ ba, giá mua lại được xác định trên cơ  
sở thỏa thuận giữa công ty và chủ sở hữu phần  
vốn góp. Trường hợp các bên không thỏa thuận  
được về giá thì giá mua lại được xác định là giá  
thị trường hoặc giá được xác định theo nguyên  
tắc quy định tại Điều lệ.  
Thứ tư, chính vì quyền yêu cầu công ty mua  
lại phần vốn góp là một cách thức để các chủ  
4 Khoản 3 Điều 52 Luật Doanh nghiệp năm 2014.  
Số 06(430) - T3/2021  
51  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
mãn điều kiện thanh toán nêu trên nhưng sau  
một thời gian khả năng tài chính được cải thiện  
(nhờ lợi nhuận kinh doanh, các khoản cho vay  
được hồi lại, xoay vòng vốn…) thì công ty lại  
có thể thanh toán cho thành viên. Chỉ khi nào  
công ty chính thức mất khả năng thanh toán  
và trong quá trình giải quyết theo thủ tục phá  
sản thì mới không thể tham gia vào các giao  
dịch làm phát sinh nghĩa vụ tài chính mà thôi.  
Nếu công ty chưa lâm vào tình trạng mất khả  
năng thanh toán, không đang trong quá trình  
giải quyết phá sản thì vẫn có thể tham gia vào  
giao dịch mua lại phần vốn góp với thành viên  
của công ty.  
sổ ghi chép và theo dõi các giao dịch, sổ kế  
toán, báo cáo tài chính hằng năm của công ty.  
Như vậy, thành viên sở hữu tỷ lệ thấp hơn sẽ  
rất khó đánh giá được khả năng thanh toán của  
công ty khi công ty không thực hiện việc mua  
lại phần vốn góp khi họ có yêu cầu.  
Từ những phân tích trên, chúng tôi kiến  
nghị:  
Thứ nhất, quy định về quyền yêu cầu mua  
lại phần vốn góp của thành viên công ty TNHH  
hai thành viên trở lên tại Điều 51 Luật DN năm  
2020 cần bảo đảm được ý nghĩa cốt lõi của nó  
đối với lợi ích của thành viên: một khi thành  
viên đã rơi vào các trường hợp phát sinh quyền  
yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp, đã tuân  
thủ đúng hình thức, quy trình và thời hạn thực  
hiện yêu cầu theo Luật định thì công ty phải  
có nghĩa vụ mua lại. Một bên có quyền thì đối  
ứng với bên kia là nghĩa vụ, việc giải phóng  
công ty khỏi nghĩa vụ mua lại đồng nghĩa với  
việc chối bỏ quyền của thành viên. Nếu việc  
thanh toán phần vốn góp được mua lại ảnh  
hưởng đến khả năng thanh toán các khoản  
nợ và nghĩa vụ khác của công ty thì công ty  
có thể không thực hiện việc thanh toán ngay  
thời điểm đó mà có thể thực hiện khi nào tình  
hình tài chính của công ty cho phép. Nghĩa vụ  
mua lại của công ty không nên được bãi bỏ  
khi công ty nhất thời chưa đảm bảo được khả  
năng thanh toán, chỉ khi nào công ty bị mất  
khả năng thanh toán (theo quy định của Luật  
Phá sản) hoặc thành viên chủ động từ bỏ yêu  
cầu mua lại thì khi có công ty mới không còn  
nghĩa vụ này.  
Hai là, xuất phát từ ý nghĩa của quyền được  
yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp, quyền  
này được trao cho thành viên như một cách  
thức giúp họ rút vốn và rời khỏi công ty khi  
một quyết định trong công ty khiến lợi ích của  
việc duy trì sở hữu trong công ty của họ không  
còn. Vậy, câu hỏi được đặt ra là, nếu công ty  
không có nghĩa vụ mua lại thì ngược lại chủ sở  
hữu không có quyền yêu cầu? Vì công ty nhất  
thời không thỏa mãn điều kiện thanh toán các  
khoản nợ khác nên nghĩa vụ mua lại không còn  
đặt ra cho công ty và thành viên vẫn phải duy  
trì tư cách và đồng vốn của mình trong một  
công ty không còn mang lại lợi ích cho họ? Rõ  
ràng, ý nghĩa của quyền này không còn được  
đảm bảo.  
Ba là, Điều 51 Luật DN năm 2020 không  
ràng buộc trách nhiệm của công ty chứng  
minh, giải trình cho thành viên có yêu cầu  
mua lại về việc thanh toán phần vốn góp sẽ  
làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nợ và  
các nghĩa vụ tài sản khác của công ty. Do đó,  
khi công ty (mặc dù có khả năng nhưng không  
muốn mua lại) có thể “né” nghĩa vụ mua lại  
với lý do đơn thuần là không đảm bảo được  
việc thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ  
khác. Về phía thành viên, theo quy định của  
Điều 49 Luật DN năm 2020, chỉ thành viên và  
nhóm thành viên sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở  
lên mới được quyền kiểm tra, xem xét, tra cứu  
Thứ hai, cần sửa đổi Điều 51 Luật DN năm  
2020 hoặc ban hành văn bản hướng dẫn thi  
hành Luật DN năm 2020 nhằm bổ sung trách  
nhiệm của công ty chứng minh, giải trình về  
việc không đáp ứng được điều kiện thanh toán  
phần vốn góp được yêu cầu mua lại. Điều này  
sẽ giúp cho thành viên vừa hiểu được tình hình  
của công ty vừa chủ động đưa ra các quyết  
định hoặc tiến hành các cách thức khác để bảo  
vệ quyền lợi của chính mình  
52  
Số 06(430) - T3/2021  
pdf 4 trang Thùy Anh 10360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên theo luật doanh nghiệp năm 2020", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquyen_yeu_cau_cong_ty_mua_lai_phan_von_gop_cua_thanh_vien_co.pdf