Tiếp cận dựa trên hiểu biết về sang chấn tâm lý của nạn nhân bị mua bán trong các vụ án mua bán người

TIẾP CẬN DỰA TRÊN HIỂU BIẾT VỀ SANG CHẤN TÂM LÝ...  
CỦA NẠN NHÂN BỊ MUA BÁN TRONG CÁC VỤ ÁN MUA BÁN NGƯỜI  
LƯU THỊ LỊCH* - TRẦN THU HƯƠNG**  
Nạn nhân của tội phạm mua bán người (MBN) sau khi thoát khỏi tình trạng bị bóc lột  
sẽ có một số dấu hiệu tổn thương cả về thể chất và tinh thần. Để bảo vệ và đảm bảo quyền,  
lợi ích hợp pháp của nạn nhân cũng như giúp quá trình điều tra, truy tố và giải quyết các vụ  
án MBN được thuận lợi, đòi hỏi cán bộ điều tra, nhân viên hỗ trợ cần có hiểu biết về những  
tổn thương tâm lý của nạn nhân và phương pháp tiếp cận phù hợp.  
Từ khóa: Vụ án mua bán người, nạn nhân, sang chấn tâm lý, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán.  
Ngày nhận bài: 24/6/2021; Biên tập xong: 30/6/2021; Duyệt đăng: 30/6/2021  
Victims of human trafficking, aꢀer escaping exploitation, will show signs of both  
physical and emotional trauma. In order to protect and ensure the legitimate rights  
and interests of the victims, as well as to facilitate the investigation, prosecution  
and adjudication of human trafficking cases; investigators and support staff need to  
understand the psychological trauma of victims and have the appropriate approaches  
to support them.  
Keywords: Human trafficking cases, victims, psychological trauma, trafficking  
victims assistance.  
1. Đặt vấn đề  
giấy tờ tùy thân, ép buộc sử dụng các chất  
kích thích, bị cô lập, bóc lột tình dục và  
cưỡng bức lao động (WHO, 2012). Ngoài  
ra, những tổn thương tâm lý của nạn nhân  
còn xuất hiện trước khi quá trình MBN  
diễn ra do tác động của gia đình, điều kiện  
kinh tế và môi trường sống trước đó.  
Mua bán người là hành vi vi phạm  
quyền con người xảy ra trên khắp thế giới.  
MBN liên quan đến việc “tuyển mộ, vận  
chuyển, chuyển giao, chứa chấp” nạn nhân  
thường bằng cách “đe dọa, sử dụng bạo  
lực hoặc vũ lực, ép buộc hoặc lừa dối nhằm  
mục đích bóc lột hoặc lạm dụng nạn nhân”  
(Nghị định thư Palemo)1. Nạn nhân của tội  
phạm MBN sau khi thoát khỏi tình trạng bị  
bóc lột, bao gồm cả tình dục và cưỡng bức  
lao động, sẽ có một số dấu hiệu tổn thương  
cả về thể chất và tinh thần. Tổn thương tâm  
lý của nạn nhân thường xuất phát từ những  
trải nghiệm đau thương trong quá trình bị  
mua bán như đe dọa, tấn công, bạo lực, bị  
trao đổi qua nhiều nhà chứa, thu giữ các  
Hiểu và nắm rõ được những tổn  
thương tâm lý của nạn nhân đóng một vai  
trò quan trọng trong quá trình điều tra,  
truy tố và giải quyết các vụ án MBN, đồng  
thời giúp bảo vệ và đảm bảo quyền và lợi  
ích hợp pháp của nạn nhân. Theo một số  
nghiên cứu, trong các vụ án MBN, những  
nạn nhân bị mua bán thường sẽ cần được  
điều trị và hỗ trợ trước khi quyết định có  
* Tiến sĩ, Viện Nghiên cứu Con người, Viện Hàn lâm  
Khoa học xã hội Việt Nam  
** Thạc sĩ, Chương trình Chương trình hợp tác  
ASEAN-Ô-xtrây-li-a về phòng, chống mua bán  
người (ASEAN-ACT) tại Việt Nam.  
1ꢀ Nghị định thư về Phòng ngừa, trấn áp và trừng  
trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ  
em được thông qua và mở cho các quốc gia ký, phê  
chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết số 55/25 ngày  
15/11/2000 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc.  
38 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 02 - 2021  
LƯU THỊ LỊCH - TRẦN THU HƯƠNG  
tham gia quá trình điều tra và tố tụng hay hoặc kinh hoàng2.  
không (IOM, 2007). Đảm bảo nạn nhân  
được đối xử tôn trọng và những nỗ lực để  
hỗ trợ nạn nhân trong việc tham gia quá  
trình giải quyết các vụ án MBN không  
chỉ là hành động mang tính nhân đạo  
mà còn nhằm tăng cường sự hợp tác và  
tham gia của nạn nhân trong các vấn đề  
tư pháp hình sự. Việc thực thi pháp luật  
hiệu quả nhất khi các cán bộ thực thi pháp  
luật được nâng cao năng lực để nhận diện  
và giải quyết những tổn thương tâm lý,  
tình cảm của nạn nhân do hậu quả của  
quá trình MBN (Hiệp hội Cảnh sát trưởng  
quốc gia, 2010).  
Trải nghiệm MBN thường là một trải  
nghiệm đau thương và ám ảnh đối với  
nhiều nạn nhân bị mua bán, gây ra sang  
chấn tâm lý cho họ. Những người bị buôn  
bán trở về có sức khoẻ tinh thần thấp hơn  
rõ rệt so với phần đông dân số nói chung  
(Kara và Elizabeth, 2019). Khi trở về, nạn  
nhân đã gặp phải những vấn đề tâm lý  
như căng thẳng, lo âu, trầm cảm (Susan  
và cộng sự, 2015; Kiss và cộng sự, 2015;  
Kara và Elizabeth, 2019); rối loạn căng  
thẳng sau sang chấn (PTSD) (Tsutsumi và  
cộng sự, 2008; Hiệp hội Cảnh sát trưởng  
quốc gia, 2010; Williamson và cộng sự,  
2016).  
Thông qua việc tổng quan các tài liệu  
nghiên cứu, các báo cáo về công tác phòng,  
chống MBN của các nhà khoa học, các cơ  
quan tham gia vào công tác phòng, chống  
MBN của quốc tế cũng như Việt Nam, bài  
viết này sẽ phân tích một số biểu hiện tổn  
thương tâm lý của nạn nhân bị mua bán  
khi trở về cũng như một số rào cản tâm lý  
của nạn nhân khi tham gia vào quá trình  
tư pháp hình sự. Từ đó, bài viết cũng đưa  
ra một số khuyến nghị về phương pháp  
tiếp cận khi làm việc với nạn nhân bị mua  
bán nhằm tăng cường hiệu quả của công  
tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án MBN.  
Cả nạn nhân là nam giới, phụ nữ và trẻ  
em đều có thể gặp phải những vấn đề tổn  
thương tâm lý. Ví dụ như nghiên cứu về  
sức khoẻ tâm thần của nạn nhân bị mua  
bán ở Tiểu vùng sông Mekong mở rộng,  
bằng việc sử dụng một bộ công cụ sàng  
lọc tiêu chuẩn, kết quả đã chỉ ra 61% nam  
giới, 67% phụ nữ và 57% trẻ em có các triệu  
chứng biểu hiện của trầm cảm (Kiss và  
cộng sự, 2015). Ngoài ra, tổn thương tâm  
lý của nạn nhân thường có những biểu  
hiện và mức độ khác nhau tùy thuộc vào  
hình thức bóc lột, lạm dụng và những trải  
nghiệm trước và trong quá trình bị mua  
bán của từng người (Antonio và cộng sự,  
2017). Nạn nhân nữ bị bóc lột tình dục có  
mức độ lo âu, trầm cảm và PTSD cao hơn  
những nạn nhân bị bóc lột vì những mục  
đích khác (Tsutsumi và cộng sự, 2008).  
Một số biểu hiện bất ổn tâm lý điển hình  
của các nạn nhân đã được ghi nhận trong  
một số nghiên cứu và báo cáo là:  
2. Sang chấn tâm lý của nạn nhân bị  
mua bán khi trở về  
Sang chấn tâm lý là một phản ứng về  
cảm xúc của một người khi đã từng trải  
qua hoặc chứng kiến sự kiện liên quan đến  
tử vong, có nguy cơ tử vong, tổn thương  
nghiêm trọng hoặc đe dọa tới tính toàn  
vẹn về thể chất của bản thân hoặc người  
khác. Theo Hiệp hội tâm lý Hoa Kỳ APA,  
sang chấn tâm lý còn được cho là phản  
ứng của cá nhân liên quan đến trạng thái  
2ꢀ Hiệp Hội tâm lý Hoa Kỳ (APA), Sang chấn và các  
vấn đề liên quan đến sang chấn. Xem tại: hꢁps://  
căng thẳng, sợ hãi dữ dội, vô vọng, bất lực www.apa.org/topics/trauma  
Số chuyên đề 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 39  
TIẾP CẬN DỰA TRÊN HIỂU BIẾT VỀ SANG CHẤN TÂM LÝ...  
Rối loạn giấc ngủ  
dục và cưỡng bức lao động bởi người chủ  
hay khách hàng, thậm chí là người chồng,  
người trong gia đình chồng. Những ám  
ảnh về những điều đã xảy ra quá sức chịu  
đựng của nạn nhân và khiến họ không thể  
ngủ, sinh hoạt và làm việc bình thường,  
thậm chí rất khó khăn để thoát ra khỏi  
cảm giác này (Susan và cộng sự, 2015).  
Một số nạn nhân bị mua bán gặp vấn  
đề rối loạn giấc ngủ và lặp lại các cơn ác  
mộng thường xuyên. Rối loạn giấc ngủ  
thường xuất hiện ở thời gian đầu khi nạn  
nhân mới trở về hoặc được giải cứu và có  
thể giảm dần sau năm đầu tiên (Susan và  
cộng sự, 2015). Theo một kết quả khảo sát  
của Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa  
Liên tục hồi tưởng lại quá khứ kinh  
Kỳ tiến hành năm 2008, 67% nạn nhân bị hoàng hoặc gặp các cơn ác mộng về trải  
MBN có những vấn đề về rối loạn giấc nghiệm khi bị mua bán khiến nạn nhân  
ngủ và thường xuyên trải qua các cơn ác nhạy cảm và thường né tránh các kích  
mộng về giai đoạn họ bị mua bán (Erin và thích liên quan đến sang chấn tâm lý. Họ  
cộng sự, 2008).  
thường cố gắng tránh suy nghĩ hay nói  
những chuyện liên quan đến các sự kiện,  
hoạt động, địa điểm, âm thanh, và màu  
sắc có thể gợi nhớ đến những sự kiện đã  
từng xảy ra.  
Các cơn ác mộng của nạn nhân thường  
gặp là sống lại những trải nghiệm bị mua  
bán hoặc rơi vào tình trạng bị tái mua  
bán. Nạn nhân thường có giấc mơ về việc  
họ vẫn đang ở tại các cơ sở mại dâm, nơi  
cưỡng bức lao động hoặc nơi giam giữ  
trái phép và lặp lại những hình ảnh đau  
thương. Một số nạn nhân chia sẻ rằng khi  
gặp giấc mơ đáng sợ, họ thường có biểu  
hiện run rẩy và sợ hãi, khó chìm vào giấc  
ngủ một lần nữa. Cũng theo nghiên cứu  
của Erin và cộng sự (2008), việc nạn nhân  
từng sử dụng các chất kích thích như ma  
túy và cần sa cũng một yếu tố tác động  
đến việc nạn nhân gặp các vấn đề sức  
khỏe tinh thần, trong đó có chứng rối loạn  
giấc ngủ.  
Lo ngại bị kì thị  
Những người từng bị mua bán thường  
lo sợ bị gia đình hoặc cộng đồng ngại tiếp  
xúc hoặc xa lánh vì họ đã từng bị mua  
bán (Moskowitz, 2008; UNODC, 2008).  
Nhìn nhận của cộng đồng về những nạn  
nhân bị mua bán là một trong những yếu  
tố khiến nạn nhân lo ngại bị kì thị khi  
trở về. Thực tế qua công tác hỗ trợ nạn  
nhân cũng như các kết quả nghiên cứu, có  
nhiều nạn nhân đã phải trải qua cảm giác  
bị kì thị bởi chính gia đình và cộng đồng  
của mình. Những người ở tuổi vị thành  
niên trở về bị ảnh hưởng nặng nề nhất  
khi hàng xóm và gia đình cho rằng họ đã  
tham gia hoạt động mại dâm.  
Ám ảnh về quá khứ bị mua bán  
Một số nạn nhân khi đã thoát khỏi  
tình trạng bị mua bán, trở về địa phương  
vẫn bị ám ảnh bởi quá khứ. Họ liên tục  
Sự kì thị từ gia đình và cộng đồng  
hồi tưởng lại quá khứ đau thương và cảm khiến những người bị mua bán không  
giác kinh hoàng như thể họ vẫn đang ở muốn công nhận hoặc thừa nhận bản thân  
trong giai đoạn bị mua bán. Một số người là nạn nhân. Một số người muốn được  
vẫn nhớ lại rất rõ ràng những điều đã nhìn nhận là người di cư trái phép hoặc  
xảy ra trong quá trình mua bán như họ bị kém may mắn trong quá trình di cư, chứ  
đánh đập, tra tấn bằng vũ lực, bóc lột tình họ không muốn được coi là nạn nhân bị  
40 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 02 - 2021  
LƯU THỊ LỊCH - TRẦN THU HƯƠNG  
mua bán. Sự kì thị đối với các nạn nhân Họ thấy mình thấp kém hơn người khác  
có thể được giải thích thông qua lăng kính  
giới và chuẩn mực xã hội khác biệt đối với  
nam và nữ (Jean, 2002).  
(Kara và Elizabeth, 2019). Theo nghiên  
cứu từ những nạn nhân đã trở về, Cathy  
and Nicola (2013) đã chỉ ra rằng, nạn  
nhân thường tự trách bản thân vì đã “ngu  
ngốc”, “cả tin” hoặc “đã mắc sai lầm rất  
lớn” vì đã tin theo lời dụ dỗ và lừa gạt của  
những kẻ MBN.  
Có nạn nhân nam cho rằng, việc họ  
được coi là nạn nhân bị mua bán nghe  
giống như một sự xúc phạm, những người  
xung quanh có thể chế nhạo họ (ICMPD,  
2007). Điều này cũng có thể do những  
định kiến về nam tính và họ cảm thấy  
miễn cưỡng khi coi mình là “nạn nhân”  
cần được hỗ trợ (IOM, 2007).  
Mức độ và cảm giác tội lỗi, xấu hổ này  
của từng nạn nhân cũng khác nhau tùy  
thuộc theo giới tính, hình thức bị bóc lột  
và lạm dụng mà họ đã trải qua. Một số nạn  
nhân nam thường bị bắt ép làm công việc  
trái phép hoặc vi phạm pháp luật, và có  
thể đã trở thành “tội phạm” với tội danh  
được quy định. Khi trở về quê hương, nạn  
nhân thường cảm thấy mặc cảm, đau khổ  
vì họ đã mắc sai lầm và cảm thấy mình tội  
lỗi vì đã mang tiếng xấu hoặc rắc rối cho  
gia đình, dòng họ (UNODC, 2008). Đối với  
nạn nhân nữ, đa phần bị mua bán với hình  
thức bóc lột tình dục, họ cảm thấy mình  
không còn “sạch sẽ”, “trong trắng” vì đã  
từng tham gia các dịch vụ mại dâm. Họ  
thường có cảm tội lỗi tột độ, không xứng  
đáng khi được giúp đỡ, hỗ trợ từ tổ chức,  
gia đình và những người xung quanh tại  
cộng đồng (Cathy and Nicola, 2013).  
Không chỉ có nam giới, một số nạn  
nhân nữ cũng không muốn coi mình là  
nạn nhân bị mua bán. Nguyên nhân có  
thể do quan niệm sai lầm rằng, MBN là  
liên quan đến bóc lột tình dục mà loại trừ  
các hình thức bóc lột lao động khác (IOM  
2007). Thêm vào đó, nạn nhân nữ bị mua  
bán thường e ngại việc bị mua bán có thể  
ảnh hưởng tới cuộc sống hôn nhân của họ  
khi trở về. Họ lo ngại người chồng hiện tại  
hoặc người chồng tương lai có thể không  
chấp nhận; hoặc khi cuộc sống vợ chồng  
có mâu thuẫn, người chồng có thể đem  
chuyện quá khứ bị mua bán ra để phán  
xét, đánh giá tiêu cực về họ. Từ những  
lo ngại này, họ băn khoăn không biết có  
nên nói với người bạn đời của mình về  
quá khứ bị mua bán hay không và nói vào  
thời điểm nào thì hợp lý. Thậm chí, có nạn  
nhân không muốn kết hôn vì nghĩ rằng  
cuộc sống của họ sẽ tốt hơn khi không kết  
hôn (Susan và cộng sự, 2015).  
Sựgắnkếtđauthương(traumabonding)  
Trong một số trường hợp MBN, mối  
quan hệ giữa nạn nhân và đối tượng  
MBN có thể tạo ra sự gắn kết đau thương  
(trauma bonding) hay “hội chứng  
Stockholm” ở nạn nhân bị mua bán. Hội  
chứng này là một phản ứng tâm lý mà  
ở đó, nạn nhân có thể trở nên gắn bó về  
mặt tình cảm, cảm thông với những kẻ  
bắt giữ họ và trung thành bảo vệ họ (Hiệp  
Đánh giá bản thân thấp và cảm giác  
tội lỗi  
Hầu hết các nạn nhân bị mua bán nhìn  
nhận và đánh giá bản thân thấp kém và có  
cảm giác tội lỗi. Họ tự cho mình là không hội Cảnh sát trưởng quốc gia, 2010). Tuy  
có giá trị và không có gì để khao khát nhiên, hiện nay vẫn chưa có những thông  
trong tương lai (Susan và cộng sự, 2015). tin chính xác về mức độ phổ biến của hiện  
Số chuyên đề 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 41  
TIẾP CẬN DỰA TRÊN HIỂU BIẾT VỀ SANG CHẤN TÂM LÝ...  
tượng này ở trong các trường hợp MBN kẻ MBN cũng có thể có tác động tới nạn  
và không phải tất cả nạn nhân bị mua bán nhân khiến họ đáp ứng lại bằng lòng biết  
ơn và sự gắn bó.  
đều trải qua hội chứng này.  
Có một số yếu tố có thể làm phát  
triển mối liên hệ phụ thuộc và gắn kết  
của nạn nhân với kẻ MBN. Ví dụ như  
việc nạn nhân thiếu khả năng tiếp cận  
với các nguồn lực hỗ trợ, dịch vụ như  
nhà ở, chăm sóc y tế, việc làm, thu nhập,  
giáo dục có thể khiến họ phải phụ thuộc  
vào kẻ MBN nhiều hơn. Hay hoàn cảnh  
kinh tế và xã hội gặp nhiều khó khăn  
của nạn nhân như sự nghèo đói, hoàn  
cảnh bị bạo hành, xâm hại ở quá khứ có  
thể góp phần củng cố cảm giác tin tưởng  
và lòng trung thành của nạn nhân với kẻ  
MBN.  
Sự gắn kết đau thương được hiểu một  
cách phổ biến nhất là việc đối tượng MBN  
sử dụng các phần thưởng và hình phạt  
trong quá trình lạm dụng, bóc lột nạn  
nhân để tăng cường mối liên kết tình cảm  
mạnh mẽ với nạn nhân. Đối tượng MBN  
có thể đảm nhận vai trò người bảo vệ để  
kiểm soát nạn nhân, điều này đã tạo ra sự  
nhầm lẫn và phát triển mối quan hệ hoặc  
sự gắn bó với nạn nhân, có thể khiến nạn  
nhân cảm thấy trung thành hoặc yêu kẻ  
buôn người. Sự gắn kết đau thương này  
trở nên đặc biệt mạnh mẽ khi nỗi sợ hãi về  
kẻ buôn người đi đôi với lòng biết ơn đối  
với bất kỳ lòng tốt nào được thể hiện ở họ  
(Liên bang Hoa Kỳ, 2020).  
Khi rời khỏi mối quan hệ gắn kết đau  
thương, nạn nhân có thể cảm thấy mất an  
toàn. Họ có thể giận dữ, buồn bã và tê liệt,  
suy nghĩ tiêu cực về tương lai, rối loạn về  
tâm trí và nạn nhân có thể quay trở lại với  
kẻ MBN. Do đó, việc nạn nhân “tái mua  
bán” với kẻ buôn người nên được xem xét  
trong kế hoạch hỗ trợ.  
Tiếp xúc với chấn thương nhiều lần có  
thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển  
của não và cách suy nghĩ của một người,  
thường dẫn đến việc nạn nhân trở nên tê  
liệt và mất kết nối với chính họ. Đôi khi,  
việc bị lạm dụng và bị làm tổn thương  
được lặp đi lặp lại nhiều đến mức nạn  
nhân có thể cảm thấy quen thuộc và nảy  
sinh tình cảm đối với đối tượng MBN.  
Chính điều này cũng có thể làm giảm  
những ảnh hưởng tiêu cực của sang chấn  
tâm lý vì những khoảnh khắc nạn nhân  
cảm thấy được yêu thương, được chăm  
sóc từ đối tượng MBN có thể bù đắp cho  
những trải nghiệm lo lắng, sợ hãi.  
Hiện tượng gắn kết đau thương này  
có thể khiến nạn nhân có các hành vi như  
bảo vệ kẻ mua bán, chậm khai báo hay  
không sẵn sàng hợp tác với các cơ quan  
chức năng. Những phản ứng này có thể  
khiến cơ quan chức năng nhìn nhận đây  
như một sự “đồng phạm” hoặc không  
hợp tác của nạn nhân.  
Tức giận, oán hận kẻ mua bán  
Phát triển lòng biết ơn và sự gắn bó với  
kẻ MBN như một cơ chế phản ứng của cơ  
thể để nạn nhân có thể tồn tại trong bối  
cảnh họ bị kẻ MBN cô lập, đe doạ khiến  
họ cảm thấy kiệt sức và cảm thấy bất lực,  
không thể trốn thoát. Do đó, khi có bất kì  
Đối với kẻ MBN, nạn nhân khi trở về  
vẫn còn những cảm xúc tức giận, bất bình,  
và oán hận kẻ mua bán họ. Họ muốn  
đánh, muốn tống những kẻ MBN vào tù.  
Có những nạn nhân cảm thấy rằng họ  
không bao giờ có thể quên và tha thứ cho  
một sự “giúp đỡ” hay “lòng tốt” nào của những việc đã xảy ra với họ (Susan và  
42 Khoa học Kiểm sát Số chuyên đề 02 - 2021  
LƯU THỊ LỊCH - TRẦN THU HƯƠNG  
cộng sự, 2015). Điều này thường xảy ra đối  
Nghiên cứu của Greene Ross W và J.  
với những nạn nhân đã từng trải qua thời Stuart Ablon (2006) chỉ ra rằng, sang chấn  
tâm lý tác động tới sự phát triển của não  
cũng như hành vi của trẻ em và vị thành  
niên. Điều này có thể ảnh hưởng đến các  
kỹ năng giao tiếp như khả năng diễn tả  
cảm xúc, điều chỉnh cảm xúc hay thể hiện  
cảm xúc phù hợp với tình huống, kỹ năng  
tổ chức, lập kế hoạch cũng như các kỹ  
năng xã hội như nhận biết tác động của  
hành vi đối với người khác.  
gian dài bị bóc lột tình dục, cưỡng bức lao  
động và sự uy hiếp, thủ đoạn của những  
kẻ MBN đối với gia đình và bản thân nạn  
nhân. Mức độ tức giận với kẻ MBN thường  
tăng lên sau những lần chạy trốn không  
thành công hoặc mất hy vọng tại những  
nơi giam giữ và mua bán nạn nhân.  
Sang chấn tâm lý ở nạn nhân là trẻ em  
Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra vấn nạn  
MBN đã để lại những sang chấn tâm lý  
cho nạn nhân là trẻ em ở các mức độ khác  
nhau. Khi bị mua bán, trẻ bị tách khỏi gia  
đình và cộng đồng, trẻ bị lạm dụng thể  
chất, tình cảm và tình dục; trẻ bị đe doạ,  
cô lập hay chứng kiến cảnh người khác bị  
lạm dụng (Mitchels, 2004).  
Qua các nghiên cứu cho thấy, sang  
chấn tâm lý ở nạn nhân bị MBN là rất phổ  
biến với các mức độ biểu hiện, ảnh hưởng  
khác nhau ở từng nhóm nạn nhân. Cần  
đánh giá mức độ nghiêm trọng và thời  
gian của các lạm dụng, bóc lột của tình  
trạng MBN và có thời gian phục hồi phù  
hợp (Mazeda và cộng sự, 2010).  
Các tổn thương tâm lý được ghi nhận  
ở những trẻ bị bỏ rơi, bị lạm dụng thể  
chất, tâm lý và tình dục thường thấy như  
trẻ bị trầm cảm, lo âu, căng thẳng (Browne  
3. Một số rào cản tâm lý của nạn nhân  
khi tham gia vào quá trình tư pháp hình  
sự của các vụ án mua bán người  
Nạn nhân bị mua bán thường trải qua  
sang chấn tâm lý ở mức độ khác nhau.  
Những tổn thương tâm lý này có thể có  
ảnh hưởng sâu sắc, lâu dài đến nạn nhân,  
do đó họ có thể không hỗ trợ và tham gia  
vào quá trình tố tụng hình sự, ít nhất là  
trong giai đoạn đầu (UNODC, 2009a).  
Phần này sẽ phân tích một số yếu tố cản  
trở việc nạn nhân tham gia vào quá trình  
tư pháp hình sự trong các vụ án MBN.  
&
Finkelhor, 1986; Kendall-Tackeꢁ,  
Williams, và Finkelhor, 2001; ECPAT,  
2006a; Kiss và cộng sự, 2015); có ý định  
tự sát (Kiss và cộng sự, 2015; Dykman  
và cộng sự, 1997; Kaufman, 1991; Nelson  
và cộng sự, 2002; Sneddon, 2003); rối  
loạn căng thẳng sau sang chấn (Browne  
&
Finkelhor, 1986; Kendall-Tackeꢁ,  
Williams, & Finkelhor, 2001; Dykman và  
cộng sự, 1997; Kaufman, 1991; Nelson và  
cộng sự, 2002; Sneddon, 2003); đánh giá  
bản thân thấp, thiếu tự tin và thu mình  
(ECPAT, 2006a; Bousha & Twentyman,  
1984). Nếu trẻ bị mua bán hoặc bị mua bán  
nhiều lần khi còn nhỏ có nhiều nguy cơ  
mắc các bệnh tâm thần khi trưởng thành  
(Read, 1997; Edwards, Holden, Feliꢁi, &  
Anda, 2003; Horwitz, Widom, Loughlin,  
& White, 2001; Widom, 1999).  
Sợ chính quyền  
Trong quá trình bị mua bán, nạn nhân  
thường rơi vào tình trạng không có giấy  
phép cư trú, giấy phép lao động hoặc  
tham gia vào các hoạt động trái phép như  
mại dâm, sử dụng ma túy, trồng cần sa  
trái phép,… Trong một số trường hợp, kẻ  
MBN đã đưa ra các thông tin khiến nạn  
nhân sợ chính quyền như nạn nhân sẽ bị  
Số chuyên đề 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 43  
TIẾP CẬN DỰA TRÊN HIỂU BIẾT VỀ SANG CHẤN TÂM LÝ...  
bắt bỏ tù, trục xuất, bị truy tố vì tình trạng dẫn tới việc họ không muốn mình được  
cư trú bất hợp pháp hoặc các hoạt động nhìn nhận như những nạn nhân bị mua  
bất hợp pháp mà họ tham gia vào trong bán, hoặc không muốn tiếp tục tham gia  
quá trình bị mua bán (UNODC, 2009a). Do các quá trình tư pháp hình sự (UNODC,  
đó, họ lo sợ bị ngược đãi, trục xuất hoặc 2008; Moskovitz, 2008).  
những rủi ro đối với sự an toàn cá nhân  
của bản thân hoặc gia đình họ (ICMPD  
Để an toàn và tránh những rắc rối, nạn  
2006; IOM 2007; UNODC 2009b).  
Sợ bị trả thù  
nhân sẽ thường từ chối không tham gia  
Ngoài ra, trong quá trình tư pháp hình  
vào các quá trình điều tra, tố giác tội phạm  
sự, nạn nhân thường cảm thấy sợ hãi, lo  
MBN. Đa phần nạn nhân cảm thấy lo sợ  
lắng khi tiếp xúc và làm việc với các cán  
nếu trình báo với cơ quan chính quyền  
bộ điều tra. Sau chấn thương, nạn nhân  
và tố giác tội phạm sẽ bị những kẻ buôn  
thường đưa ra những thông tin thiếu nhất  
người trừng phạt, trả thù bản thân và gây  
quán hoặc không đầy đủ. Họ cũng có thể  
hại cho gia đình (Đội đặc nhiệm Quốc gia  
tìm cách che giấu hoặc giảm thiểu các  
hành vi không tốt vì sợ rằng họ sẽ không  
được tin tưởng hoặc rằng họ sẽ bị đổ lỗi  
cho hành vi của mình. Việc cán bộ điều  
tra nghi ngờ hay chất vấn những thông  
tin không nhất quán này có thể làm ảnh  
hưởng không tốt tới tâm lý của nạn nhân  
và hiệu quả của các cuộc điều tra (Tổ chức  
theo dõi quyền con người, 2013).  
về Phòng chống MBN)3.  
Ngoài ra, tội phạm MBN thường là  
người thân thiết, quen biết hoặc có mối  
quan hệ gia đình với nạn nhân. Do đó,  
nạn nhân thường ngại ngần và tránh  
tham gia quá trình tư pháp hình sự để  
bảo vệ người thân trong gia đình mặc  
dù họ đã trải qua những đau thương  
trong suốt quá trình MBN.  
Sợ bị lộ thông tin cá nhân và quá khứ  
bị mua bán  
Sang chấn và tái sang chấn tâm lý  
Việc kể lại sự việc bị mua bán có thể  
khiến nạn nhân có những căng thẳng  
tâm lý, hồi tưởng lại quá khứ khiến nạn  
nhân hoảng sợ, tái sang chấn, hiếu động  
(mất ngủ, tức giận bộc phát hoặc cáu  
kỉnh, cảnh giác quá mức, v.v.) (Susan và  
cộng sự, 2015). Do đó, sự sẵn sàng hợp  
tác của nạn nhân bị mua bán trong quá  
trình tố tụng hình sự cũng có thể bị ảnh  
hưởng bởi những lo ngại liên quan đến  
việc kể lại trải nghiệm trong quá trình  
trở thành nạn nhân (Moskowitz, 2008;  
UNODC, 2008). Trong quá trình điều  
Theo UNODC (2009b), một trong số các  
rào cản khiến nạn nhân không chấp nhận  
tham gia vào các quá trình tư pháp hình  
sự là bị lộ danh tính, thông tin cá nhân và  
gia đình. Một số trường hợp, danh tính và  
thông tin cá nhân của nạn nhân đã vô tình  
bị tiết lộ trong quá trình điều tra, làm việc  
tại địa phương; hoặc trong quá trình khởi  
tố và xét xử do cán bộ chuyên trách hoặc  
các đơn vị báo chí.  
Ngoài ra, nạn nhân cũng thường lo sợ  
về quá khứ bị mua bán của mình sẽ bị  
công khai, bị cộng đồng xã hội kỳ thị và  
xa lánh, đặc biệt là các nạn nhân bị cưỡng  
bức lao động và bóc lột tình dục. Chính  
3ꢀ Đội đặc nhiệm Quốc gia về Phòng, chống mua bán  
người, Thông tin chung về mua bán người. Xem tại:  
hꢁps://nj.gov/oag/dcj/humantrafficking/downloads/  
tâm lý này và việc bị kì thị tại cộng đồng NJHTTF_FS_Understanding-Victims.pdf.  
44 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 02 - 2021  
LƯU THỊ LỊCH - TRẦN THU HƯƠNG  
tra, xét xử, các cơ quan chức năng cần này cũng có thể liên quan đến những  
lấy lời khai của nạn nhân về các sự việc trải nghiệm không tốt của nạn nhân khi  
tham gia vào các quá trình tư pháp hình  
sự trước đây (Đội đặc nhiệm Quốc gia về  
Phòng, chống MBN).  
đã diễn ra để làm bằng chứng kết tội kẻ  
MBN. Việc kể lại những trải nghiệm này  
có thể khiến nạn nhân cảm thấy căng  
thẳng, bất an hay tái sang chấn. Thậm  
chí, một số nạn nhân chỉ cần nghe tên  
hoặc nhìn hình ảnh của kẻ mua bán cũng  
trở nên mất kiểm soát, không tập trung  
và tổn thương tâm lý.  
4. Phương pháp tiếp cận nạn nhân bị  
mua bán trong quá trình điều tra, xét xử  
và giải quyết các vụ án mua bán người  
Từ những kết quả nghiên cứu và các  
hoạt động can thiệp với nạn nhân bị mua  
bán trong công tác phòng, chống MBN, các  
nhà nghiên cứu, lập pháp và hoạt động xã  
hội trên thế giới đã đưa ra một số cách tiếp  
cận có hiệu quả với nạn nhân bị mua bán.  
Bằng những cách tiếp cận này, công tác hỗ  
trợ nạn nhân và điều tra xét xử vụ án về  
MBN sẽ trở nên có hiệu quả hơn.  
Do ảnh hưởng của các tổn thương tâm  
lý, nạn nhân thường bị trí nhớ gián đoạn,  
khó hồi tưởng lại những diễn biến trong  
quá khứ, không tập trung, có thể nhớ sai  
lệch, dẫn đến việc không tự tin khi tham  
gia quá trình tư pháp hình sự.  
Mất niềm tin vào cơ quan chức năng  
và các tổ chức trợ giúp  
Áp dụng phương pháp tiếp cận lấy nạn  
nhân làm trung tâm  
Do trong quá trình bị mua bán, nạn  
nhân bị kẻ MBN và người môi giới lừa  
dối trong thời gian dài nên đã mất niềm  
tin vào bản thân, vào các cơ sở trợ giúp  
và các lực lượng chức năng. Theo báo cáo  
của Bộ Y tế và dịch vụ Nhân sinh Hoa  
Kỳ, những kẻ MBN thường dùng nhiều  
thủ đoạn và hình thức khác nhau để “tẩy  
não” nạn nhân, làm họ hiểu sai lệch về  
các đơn vị thực thi pháp luật (Heather  
và cộng sự, 2008). Điều này đã có những  
tác động tiêu cực tới niềm tin của nạn  
nhân vào tương lai và vào người khác,  
ngay cả với cán bộ của các cơ quan chức  
năng đang cố gắng giúp đỡ họ. Những  
tổn thương đã trải qua có thể khiến nạn  
nhân mất lòng tin với các cơ quan chức  
năng (ICMPD 2006; IOM 2007; UNODC  
2009b). Họ không tin tưởng việc tham  
gia vào quá trình tư pháp hình sự có thể  
mang lại công bằng cho họ và có thể giúp  
họ vượt qua được những khó khăn mà  
Phương pháp tiếp cận lấy nạn nhân  
làm trung tâm là cách tiếp cận dựa trên  
hiểu biết về nhu cầu của nạn nhân và vì  
lợi ích tốt nhất của nạn nhân. Nạn nhân  
của tội phạm có nhu cầu được an toàn,  
nhu cầu được chia sẻ về cảm xúc và nhu  
cầu được biết về “điều gì sẽ xảy ra tiếp theo”  
khi tham gia vào quá trình điều tra, truy  
tố, xét xử (Hiệp hội Cảnh sát trưởng quốc  
gia, 2010). Tiếp cận dựa trên hiểu biết về  
nhu cầu và lợi ích của nạn nhân sẽ giúp  
cán bộ điều tra, xét xử tránh được việc  
vô tình đưa ra những bình luận hay đặt  
câu hỏi gây tổn thương cho nạn nhân  
hay đổ lỗi cho nạn nhân (Hiệp hội Cảnh  
sát trưởng quốc gia, 2010). Khi nạn nhân  
được tôn trọng, được quan tâm nhu cầu  
và được bảo vệ lợi ích, họ sẽ tin tưởng  
và hợp tác với cơ quan chức năng trong  
việc cung cấp các thông tin về tội phạm  
để giúp cơ quan chức năng kết tội được  
họ đang phải đối mặt. Ngoài ra, điều kẻ phạm tội.  
Số chuyên đề 02 - 2021 Khoa học Kiểm sát 45  
TIẾP CẬN DỰA TRÊN HIỂU BIẾT VỀ SANG CHẤN TÂM LÝ...  
Sự sẵn sàng khai báo tội phạm và tham có hành vi nào từ phía nạn nhân có thể  
gia vào quá trình điều tra tội phạm của cho phép kẻ nghi phạm tấn công và bóc  
nạn nhân bị mua bán thường phụ thuộc lột họ.  
vào cách ứng xử của các cán bộ thực thi  
pháp luật và sự sẵn sàng hỗ trợ của các cơ  
Được đảm bảo quyền riêng tư và bí mật:  
Những thông tin của cá nhân cần được  
quan thực thi pháp luật. Do đó, tổ chức  
IOM khuyến khích sự chuyển đổi từ cách  
tiếp cận thực thi pháp luật truyền thống  
sang cách tiếp cận tập trung vào lợi ích  
của nạn nhân như một phương tiện tốt  
nhất để đảm bảo công lý (IOM, 2009).  
đảm bảo giữ bí mật và được tuân thủ bởi  
tất cả các cán bộ tư pháp hình sự và những  
người có liên quan hoặc làm việc trực tiếp  
với nạn nhân.  
Được tiếp cận và thông báo những thông  
tin liên quan đến quyền của nạn nhân và quá  
trình tư pháp hình sự: Những thông tin về  
quyền lợi và nghĩa vụ của nạn nhân và  
trình tự quá trình tư pháp hình sự phải  
được thông báo đầy đủ với nạn nhân bằng  
văn bản hoặc lời nói. Đảm bảo rằng họ đã  
cung cấp thông tin đầy đủ trước khi tiến  
hành các quá trình xác định, điều tra, truy  
tố và bảo vệ nạn nhân.  
ASEAN (2011) đã xây dựng các hướng  
dẫn thực hành tốt nhất cho các chủ thể  
thực thi pháp luật làm việc với nạn nhân  
bị mua bán. Hướng dẫn khuyến khích các  
quan chức đảm bảo các quyền và nhu cầu  
của những người bị mua bán được đáp  
ứng trong suốt quá trình điều tra và bất  
kỳ thủ tục tố tụng tiếp theo của Tòa án.  
Theo hướng dẫn của tiến trình Bali dành  
cho việc hỗ trợ và bảo vệ nạn nhân bị MBN  
tại khu vực châu Á Thái Bình Dương4, cách  
tiếp cận lấy nạn nhân làm trung tâm nhấn  
mạnh một số lưu ý sau đây:  
Tiếp cận dựa trên hiểu biết về sang  
chấn tâm lý  
Tiếp cận dựa trên hiểu biết về sang  
chấn tâm lý là việc thừa nhận sự hiện diện  
của sang chấn tâm lý và những hậu quả  
mà chấn thương tâm lý gây ra đối với nạn  
nhân và gia đình của họ. Các phản ứng tư  
pháp hình sự dựa trên hiểu biết về sang  
chấn tâm lý có thể giúp tránh gây tái sang  
chấn tâm lý cho nạn nhân, tăng sự an toàn  
cho nạn nhân và giúp hỗ trợ cho quá trình  
hồi phục của nạn nhân.  
Không phán xét: Một trong những rào  
cản hạn chế nạn nhân tham gia vào quá  
trình tư pháp hình sự là sợ bị đánh giá,  
sợ bị đổ lỗi và sợ bị kết tội. Do đó, các  
cán bộ tham gia vào quá trình điều tra  
cần tạo ra một môi trường không phán  
xét bằng cách trấn an nạn nhân. Cần cho  
nạn nhân biết rằng, cán bộ ở đó không  
phải để phán xét hành vi của nạn nhân,  
và khẳng định với nạn nhân rằng không  
Các cán bộ tham gia vào quá trình tư  
pháp hình sự cần được đào tạo để có hiểu  
biết về sang chấn tâm lý của nạn nhân  
và tác động của sang chấn tâm lý đối với  
nạn nhân và gia đình họ. Cán bộ cần nhận  
thức rằng nạn nhân cũng có thể đã trải  
qua sang chấn nặng trong quá khứ, họ có  
thể đã vượt qua hoặc hiện tại vẫn bị ảnh  
hưởng bởi những sang chấn này; từ đó,  
cán bộ điều tra, xét xử có những phản ứng  
4ꢀ Tiến trình Bali, Nâng cao và củng cố cách tiếp cận lấy  
nạn nhân làm trung tâm, Tài liệu hướng dẫn dành  
cho cán bộ, người thực thi pháp luật trong quá trình  
xác định, hỗ trợ và bảo vệ nạn nhân bị mua bán  
tại Khu vực Châu Á, Thái Bình Dương, xuất bản  
baliprocess/File/RSO-CIFAL-curriculum%20  
Enhancing%20a%20Victim-Centered%20Approach_  
A4_Final_2017-02-14_for-web.pdf  
46 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 02 - 2021  
LƯU THỊ LỊCH - TRẦN THU HƯƠNG  
phù hợp, tránh gây tái sang chấn tâm lý đưa vào luật pháp hoặc chính sách của  
cho nạn nhân.  
quốc gia để chống lại nạn MBN, bất kể  
nạn nhân có sẵn sàng hỗ trợ tố tụng hình  
sự ban đầu hay không (ASEAN, 2011).  
“Các nạn nhân nên được ổn định trước khi  
họ được phỏng vấn chi tiết về những gì đã xảy  
ra với họ” - điều này có nghĩa là họ có thể  
cần tiếp cận một loạt các dịch vụ chăm sóc  
sức khỏe, hỗ trợ xã hội, nhà ở ổn định và  
an toàn, hỗ trợ tài chính (UNODC, 2009a).  
Để hạn chế phải kể lại nhiều lần trải  
nghiệm bị mua bán có thể khiến nạn nhân  
căng thẳng, hoảng sợ hoặc tái sang chấn,  
cơ quan điều tra, xét xử có thể ghi âm lại  
các cuộc phỏng vấn lấy lời khai của nạn  
nhân. Ngoài ra, việc ghi âm quá trình lấy  
lời khai của nạn nhân cũng giúp cho cán  
bộ điều tra ghi lại những phản ứng tức  
thời của nạn nhân do sang chấn tâm lý (Tổ  
chức theo dõi quyền con người, 2013).  
Những cân nhắc đặc biệt khác  
Nhạy cảm về giới: Các hướng dẫn thực  
hành tốt về tiếp cận nạn nhân trong quá  
trình tư pháp hình sự chỉ ra rằng, cần có  
sự nhạy cảm về giới trong việc tiếp cận  
với nạn nhân. IOM (2018) cũng có khuyến  
nghị về việc nên áp dụng cách tiếp cận về  
giới để trong quá trình giải quyết tất cả  
các vụ án MBN, áp dụng với tất cả các nạn  
nhân, và cần được đảm bảo rằng các nạn  
nhân đều được đối xử công bằng, không  
phân biệt giới tính của họ. Ví dụ như việc  
lựa chọn giới tính của cán bộ tiếp xúc và  
làm việc với nạn nhân cũng là một cân  
nhắc quan trọng đối với các cơ quan chức  
năng liên quan. Theo Hiệp hội Cảnh sát  
trưởng Mỹ (2010), cảnh sát đã sử dụng  
người phiên dịch là nữ không phải là cán  
bộ địa phương hay thuộc cơ quan điều tra  
trong các cuộc phỏng vấn với nạn nhân  
nữ. Hay trong quá trình tiếp cận với nạn  
nhân nữ có những phản ứng nhạy cảm với  
nam giới, cần phân công cán bộ nữ hoặc  
có cán bộ nữ tham gia vào quá trình làm  
việc với nạn nhân. Do đó, nhiều tổ chức,  
chương trình quốc tế cũng đề nghị các cán  
bộ thực thi pháp luật phải được đào tạo  
Trong quá trình tham gia điều tra,  
truy tố, xét xử, nạn nhân có thể phải đối  
mặt với kẻ MBN. Việc đối mặt này có thể  
gây ra tâm lý sợ hãi cho nạn nhân. Dự án  
Phòng, chống MBN khu vực châu Á đã  
xác định một loạt các biện pháp có thể  
được sử dụng để khắc phục tâm lý sợ hãi  
của nạn nhân bị mua bán khi có mặt của  
kẻ buôn người, để giảm bớt tổn thương  
cho nạn nhân của tội phạm tình dục khi  
đang làm chứng trong các quy trình của  
Tòa án. Các biện pháp bao gồm: Dựng một  
màn hình tạm thời tại tòa để bảo vệ nhân  
chứng tránh phải khai trực diện trước bị  
cáo, cho phép họ làm chứng từ xa thông  
qua liên kết video, tiến hành các thủ tục  
của phiên tòa trong camera và cho phép  
nộp tiền trước khi xét xử, giúp loại bỏ sự  
cần thiết phải xuất hiện của người bị mua  
bán trong quá trình xét xử (Smith, 2010).  
Nạn nhân là nhân chứng quan trọng  
nhất để cung cấp bằng chứng trong quá  
trình tố tụng hình sự chống lại những kẻ  
MBN và để kết tội kẻ tội phạm (UNODC,  
2008a). Để tăng sự sẵn sàng và khả năng  
tham gia của nạn nhân trong việc hỗ trợ về cách tiếp cận nhạy cảm giới nhằm giúp  
phát hiện và truy tố kẻ MBN, tất cả nạn quá trình tư pháp hình sự được thuận lợi,  
nhân bị mua bán cần được hỗ trợ và điều đồng thời bảo vệ quyền của nạn nhân một  
trị tâm lý. Điều này nên được chính thức  
cách tốt nhất (IOM, 2018).  
Số chuyên đề 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 47  
TIẾP CẬN DỰA TRÊN HIỂU BIẾT VỀ SANG CHẤN TÂM LÝ...  
Những cân nhắc đặc biệt đến trẻ em: thức được tính phổ biến, mức độ nghiêm  
Mặc dù nhiệm vụ của các cơ quan thực  
thi pháp luật là đưa tội phạm MBN ra  
trước vành móng ngựa và chịu những  
trừng phạt thích đáng về hành vi của  
họ, nhưng đơn vị này vẫn phải làm việc  
chặt chẽ với các cơ quan bảo vệ trẻ em để  
đảm bảo quyền của trẻ em là nạn nhân  
của các vụ án MBN vẫn được xem xét và  
cân nhắc (IOM, 2018). Một số lưu ý và  
cân nhắc đặc biệt dành cho nạn nhân bị  
mua bán là trẻ em bao gồm: a) Lợi ích tốt  
nhất của trẻ em là điều tối quan trọng  
và cần được cân nhắc mọi lúc, mọi thời  
điểm; b) Tất cả vụ án MBN liên quan đến  
trẻ em đều có yếu tố nhạy cảm và đòi  
hỏi mức độ chăm sóc đặc biệt; c) Sự an  
toàn và nhu cầu của trẻ em luôn được  
ưu tiên hơn các nhu cầu về điều tra vụ  
án MBN; d) Trong quá trình bảo vệ và  
hỗ trợ trong các vụ án MBN, cán bộ thực  
thi pháp luật cần đảm bảo rằng không  
một nạn nhân nào là trẻ em bị bỏ lại và  
lãng quên; e) Nên có những lưu tâm cẩn  
trọng trong quá trình điều tra, truy tố vụ  
án MBN, đảm bảo rằng trẻ em sẽ không  
bị tổn thương tâm lý hoặc tái sang chấn  
(IOM, 2018; IOM, 2007).  
trọng và ảnh hưởng của sang chấn tâm lý  
ở nạn nhân bị MBN. Từ đó, đưa ra những  
đáp ứng dựa trên hiểu biết về sang chấn  
tâm lý của nạn nhân để tránh làm tổn  
thương thêm và gây tái sang chấn tâm lý  
cho nạn nhân.  
Nạn nhân khi tham gia vào quá trình  
điều tra, truy tố, xét xử có nhu cầu được  
đảm bảo an toàn, bí mật danh tính, được  
nói lên tiếng nói của mình và được cung  
cấp thông tin đầy đủ về quá trình tham  
gia của họ. Sự hợp tác và phối hợp của  
nạn nhân trong các quá trình này cũng  
tùy thuộc một phần lớn vào thái độ và  
cách ứng xử của cán bộ chức năng. Cách  
tiếp cận dựa trên nhu cầu và lợi ích của  
nạn nhân đã chỉ ra là có hiệu quả tốt nhất  
giúp nạn nhân tham gia tích cực vào việc  
truy tố tội phạm. Do đó, cán bộ các cơ  
quan liên quan cần được đào tạo để hiểu  
biết về những tác động của MBN đến  
tâm lý, nhu cầu của nạn nhân và phương  
pháp làm việc tập trung vào lợi ích của  
nạn nhân.  
Mặc dù các khuyến nghị của các tổ  
chức quốc tế đưa ra là nạn nhân cần được  
trị liệu tâm lý trước khi tham gia vào  
quá trình tư pháp hình sự nhưng tại Việt  
Nam, việc hỗ trợ và phục hồi về sức khỏe  
tinh thần cho các nạn nhân còn gặp nhiều  
khó khăn do còn thiếu các chuyên gia và  
dịch vụ hỗ trợ tâm lý có chất lượng. Do  
đó, các cơ quan chức năng cần đặc biệt  
quan tâm việc tăng cường khả năng ứng  
phó với sang chấn tâm lý cho nạn nhân bị  
MBN. Điều này sẽ hỗ trợ cho các cơ quan  
thực thi pháp luật thực hiện nhiệm vụ của  
mình hiệu quả hơn thông qua sự hợp tác  
5. Kết luận và một số đề xuất  
Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy  
những biểu hiện sang chấn tâm lý tồn  
tại khá phổ biến ở nạn nhân bị mua bán.  
Sang chấn tâm lý có ở cả nạn nhân nam,  
nạn nhân nữ, đặc biệt nghiêm trọng với  
nạn nhân là trẻ em. Tác động của MBN  
đến tâm lý của mỗi cá nhân là khác nhau  
tùy thuộc vào độ tuổi, giới tính và hình  
thức bóc lột, lạm dụng và thời gian bị bóc  
lột, lạm dụng.  
Các cán bộ tham gia vào quá trình tư của nạn nhân cũng như khả năng phục  
pháp hình sự của các vụ án MBN cần nhận  
hồi của nạn nhân./.  
48 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 02 - 2021  
LƯU THỊ LỊCH - TRẦN THU HƯƠNG  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
8. Heather, C, Amy, S & Lisa, G, 2008,  
“Điều trị những tổn thương tiềm ẩn:  
Điều trị sang chấn tâm lý và phục hồi sức  
khỏe tâm thần dành cho nạn nhân bị mua  
bán người”, Bộ Y tế và dịch vụ dân sinh  
Hoa Kỳ.  
1. Andrevski,H,Larsen,J&Lyneham,  
S 2013, “Những rào cản trong quá trình  
tham gia tố tụng hình sự của nạn nhân  
bị mua bán – Nghiên cứu điển hình tại  
In-đô-nê-xi-a”, Các xu hướng và vấn đề  
liên quan tới tội phạm và tư pháp hình sự,  
Viện Nghiên cứu Quốc gia Ô-xtrây-li-  
a về Tội phạm học, số. 451. Xem hꢀps://  
9. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á  
(ASEAN) 2011, “Báo cáo tiến độ về các ứng  
phó tư pháp hình sự đối với buôn bán người  
trong khu vực ASEAN”, Jakarta, ASEAN.  
2. Andrew, K 2009, “Nghiên cứu về  
những tác động của Bạo lực gia đình hiện  
nay: Dành cho cơ quan thực thi pháp  
luật, cơ quan truy tố, và thẩm phán”, Báo  
cáo nghiên cứu Viện tư pháp quốc gia. Xem  
10. Hiệp hội cảnh sát trưởng quốc gia  
2010, “Ứng phó ban đầu với nạn nhân là tội  
phạm MBN: Sách hướng dẫn cho cán bộ thực  
thi pháp luật”, Truy cập ngày 27/5/2021,  
Xem: hꢀp://ojp.gov/ovc/publications/infores/  
pdꢃxt/FirstResponseGuidebook.pdf.  
3. Antonio, P, Jean, K, & Orrin- Porter,  
M 2019, “Làm việc cùng với nạn nhân bị  
mua bán”, Tạp chí Trị liệu tâm lý đương đại,  
số. 47, tr. 51-59.  
11. Jean, C 2002, “Buôn bán người:  
Quan điểm về giới và quyền”, Văn phòng  
Liên Hợp Quốc về ma túy và tội phạm  
(UNODC), số. 8.  
4. BộngoạigiaoHoaKỳ,2020,Báocáovề  
gov/wp-content/uploads/2020/06/2020-  
TIP-Report-Complete-062420-FINAL.pdf  
12. Jeaneꢁe, H, Colleen, O, Hanna, L,  
Lilly,Y, Evelyn, M, Abbey, F, & Kyla,W  
2015, “Hướng tới công lý: Các nhận thức về  
công lý những nạn nhân bị mua bán”, Văn  
phòng dịch vụ về tham chiếu Tư pháp  
hình sự quốc gia, Chương trình Quốc  
gia về tư pháp hình sự, truy cập ngày  
ꢂles1/nꢃ/grants/251631.pdf.  
5. Cathy, Z & Nicola, P, 2013, “Mua  
bán người và Sức khỏe tâm thần: Những  
vết thương của tôi ở bên trong tôi –  
Chúng không biểu hiện bên ngoài”, Tạp  
chí Brown về các vấn đề thế giới, tập. 19, số.  
2, tr. 265-280.  
13. John, M 2014, “Giải quyết các vụ án  
MBN tại Tòa án tiểu bang: Bối cảnh và cách  
tiếp cận” trong Hướng dẫn về mua bán người  
dành cho Tòa án Tiểu bang, Human trafficking  
and the state counts collaborative, tr. 5-36.  
6. Erin, W, Nicloe, D & Heather, C  
2008, “Điều trị sức khỏe tâm thần dựa  
trên bằng chứng dành cho nạn nhân bị  
MBN”, Bộ Y tế và dịch vụ dân sinh Hoa Kỳ,  
tr.1-13.  
7. Greene, W & Stuart, A2016, “Cách tiếp  
14. Kara, A & Elizabeth, Y 2019, “Thắp  
cận dựa trên trên việc phối hợp giải quyết vấn sáng Hy vọng: Di cư, bóc lột và nạn buôn bán  
đề”, Tạp chí Guilford , New York, tr. 9-18.  
trẻ em và thanh thiếu niên ở Việt Nam”.  
Số chuyên đề 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 49  
TIẾP CẬN DỰA TRÊN HIỂU BIẾT VỀ SANG CHẤN TÂM LÝ...  
15. Kerr, L 2016, “Điều trị sang chấn  
trong bối cảnh MBN: sự giao thoa của các  
yếu tố tâm lý, xã hội và văn hóa”, trong  
Ghafoori B, Caspi Y, Smith S, Quan điểm  
quốc tế về căng thẳng và sang chấn, Nhà  
xuất bản Khoa Học Nova, New York, tr.  
199–221.  
21. “Cải thiện ứng phó tư pháp chon  
anh nhân là nhân chứng: Các tài liệu dành  
cho công tố viên về Bạo lực đối với phụ  
nữ”, Aequitas, truy cập ngày 27/5/2021,  
Xem: hꢁp://aequitasresource.org/Improving-  
the-Justice-System-Response-to-Witness-  
Intimidation.cfm.  
22. Smith, G 2010, “Ứng phó tư pháp  
hình sự đối với MBN: Sự phát triển gần đây  
ở tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng”, UNIAP,  
Thái Lan.  
16. Kiss, L, Pocock, N & Naisanguansri,  
V 2015, “Sức khỏe của nam giới, nữ giới và  
trẻ em hậu MBN tại Cam-pu-chia, Thái Lan  
và Việt Nam”, Tạp chí sức khỏe thế giới  
Lancet, số. 3, tr. 154–161.  
23. Susan, K, Madhavi, L, Janelle,  
K, Lich. L, Hanh. T, & Chinh. N, 2015,  
“Những nạn nhân bị MBN tại Miền Bắc  
Việt Nam: Hậu quả về tâm lý và xã hội”.  
24. Temilosa, S, Mollie, G, John, C, &  
Phuong, N 2018, “Liệu pháp thường được  
sử dụng trong việc điều trị các di chứng  
tâm lý do sang chấn của nạn nhân bị mua  
bán?”, Tạp chí Tâm lý thực hành, tập.  
24, số. 2.  
17. Livia, O, Patrick, S, Hitesh, S, Daniel,  
S, Johnny, D & Sian, O 2018, “Hậu quả  
tâm lý của mua bán trẻ em: Một nghiên cứu  
thuần về các trẻ em là nạn nhân của MBN  
tiếp xúc với các dịch vụ sức khỏe tâm thần  
thứ cấp”, Tạp chí PLoS One., tập 13, số. 3  
DOI: 10.1371/journal.pone.0192321.  
18. Macias-Konstantopoulos, W 2016,  
“Mua bán người: Vai trò của y học trong việc  
làm gián đoạn chu kỳ lạm dụng và bạo lực”,  
25. Tổ chức di cư quốc tế (IOM)  
2007, “Sổ tay hướng dẫn hỗ trợ trực  
Ann Intern Med, số. 165(8), tr. 582- 588, tiếp cho nạn nhân bị mua bán người”.  
IOM, Geneva. Xem: hꢁps://publications.  
iom.int/books/iom-handbook-direct-  
assistance-victims-trafficking-0.  
26. Tổ chức di cư quốc tế (IOM) 2009,  
“Hướng dẫn thực thi pháp luật và bảo vệ  
nạn nhân bị mua bán trong các vụ án mua  
bán người”, IOM, Jakarta, Indonesia.  
jsp?lang=eng  
DOI:10.7326/M16-0094.  
19. Mazeda, H, Cathy, Z, Melanie,  
A, Miriam, L, & Charloꢁe, W 2010, “Mối  
quan hệ của chấn thương và rối loạn tâm thần  
của trẻ em gái và phụ nữ là nạn nhân bị mua  
bán và bóc lột tình dục”, Am J Public Health.,  
số. 100(12), tr. 2442–2449. Xem: hꢁps://  
ajph.aphapublications.org/doi/10.2105/  
AJPH.2009.173229.  
27. Tổ chức di cư quốc tế (IOM) 2018,  
“Điều tra các vụ án mua bán người bằng  
cách tiếp cận lấy nạn nhân làm trung tâm:  
20. Moskowitz, A 2008, “Những thách  
thức và ưu tiên trong việc truy tố và xử lý các  
vụ án mua bán người”. Diễn đàn nghiên cứu Sổ tay hướng dẫn giảng viên về phòng,  
chống mua bán người, để nâng cao năng  
lục thực thi pháp luật tại Antigua and  
và dữ liệu về mua bán người, truy cập ngày  
org/artip-project/documents/Paper_J&P- Barbuda, Belize, Jamaica, and Trinidad  
Challenges-TIP_22Oct08_fnl.pdf  
and Tobago”.  
50 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 02 - 2021  
LƯU THỊ LỊCH - TRẦN THU HƯƠNG  
28. Tổ chức theo dõi quyền con người  
(HRW) 2013, “Cải thiện cách ứng phó của  
cảnh sát đối với tấn công tình dục”, truy cập  
org/sites/default/ꢂles/reports/improving-  
SAInvest_0.pdf.  
34. Văn phòng Liên Hợp Quốc về Ma  
túy và Tội phạm (UNODC) 2008b, “Bộ  
công cụ về phòng chống mua bán người”,  
Vienna: UNODC, truy cập ngày 21/5/2021,  
human-trafficking/HT_Toolkit08_  
English.pdf  
29. Tsutsumi A, Izutsu T, Poudyal AK,  
Kato S & Marui E 2008, “Sức khỏe tinh thần  
của nạn nhân bị bị mua bán tại Nê-pan”. Tạp  
chí Soc Sci Med, số 8, tr. 1841–1847  
35. Văn phòng Liên Hợp Quốc về Ma  
túy và Tội phạm (UNODC), “Cẩm nang  
phòng chống mua bán người dành cho  
những cán bộ tư pháp hình sự, Chương  
30. Trung tâm phát triển chính sách di  
cư quốc tế (ICMPD) 2007, “Lắng nghe từ 12; Bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân trong các  
nạn nhân: Kinh nghiệm từ việc xác định,  
trao trả và hỗ trợ tại Đông Nam ChâuÂu”’,  
Xem hꢁps://nexushumantrafficking.ꢂles.  
wordpress.com/2015/03/listening-to-  
victims.pdf  
vụ án mua bán người, Chương 13; Nhu  
cầu của nạn nhân trong quá trình tố tụng  
hình sự trong các vụ án mua bán người,  
Chương 11”.  
36. Viktoria Kristiansson  
&
Olga  
31. Văn phòng Liên Hợp Quốc về Ma  
túy và Tội phạm (UNODC) 2009b, “Luật  
mẫu về phòng chống MBN” truy cập  
org/documents/ human-trafficking/UNO-  
DC_Model_Law_on_ Trafficking_in_Per-  
sons.pdf  
Trujillo, “Tích hợp cách ứng phó với sang  
chấn”, xem video được ghi lại: hꢁp://  
cfm?id=112.  
37. Williamson, E, Dutch, N, & Claw-  
son, H 2017, “Điều trị sức khỏe dựa trên  
bằng chứng dành cho nạn nhân mua bán  
người”, Bộ Y tế và dân sinh Hoa Kỳ,  
Washington DC, truy cập ngày 31/5/2021,  
based-mental-health-treatment-victims-  
human-trafficking  
32. Văn phòng Liên Hợp Quốc về Ma  
túy và Tội phạm (UNODC) 2009a. “Sổ  
tay hướng dẫn dành cho cán bộ tư pháp”.  
Vienna: UNODC. Truy cập ngày  
21/5/2021, Xem: 2021, hꢁp://www.unodc.  
org/unodc/en/human-trafficking/2009/  
anti-human-traffick.  
38. Yvonne, R 2008, “Tác động của buôn  
bán trẻ em, góc độ tâm lý, chính sách và xã  
hội”, tập. 2, số. 1, tr. 13–18.  
33. Văn phòng Liên Hợp Quốc về Ma  
túy và Tội phạm (UNODC) 2008a, “Hành  
trình đến công lý – Cẩm nang về can  
thiệp tâm lý”, truy cập ngày 25/5/2021,  
humantrafficking/India_Training_material/  
Journey_to_Justice_-_Manual_on_  
Psychosocial_Intervention.pdf  
39. Zimmerman, C, Hossain, M, &  
Waꢁs C 2011, “Mua bán người và sức khỏe:  
Một mô hình khái niệm để cung cấp thông tin  
về chính sách can thiệp và nghiên cứu”, Soc  
Sci Med., số. 73, tr. 327–335.  
Số chuyên đề 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 51  
pdf 14 trang Thùy Anh 16460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tiếp cận dựa trên hiểu biết về sang chấn tâm lý của nạn nhân bị mua bán trong các vụ án mua bán người", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftiep_can_dua_tren_hieu_biet_ve_sang_chan_tam_ly_cua_nan_nhan.pdf