Tiếp cận dựa trên hiểu biết về sang chấn tâm lý của nạn nhân bị mua bán trong các vụ án mua bán người
TIẾP CẬN DỰA TRÊN HIỂU BIẾT VỀ SANG CHẤN TÂM LÝ...
CỦA NẠN NHÂN BỊ MUA BÁN TRONG CÁC VỤ ÁN MUA BÁN NGƯỜI
LƯU THỊ LỊCH* - TRẦN THU HƯƠNG**
Nạn nhân của tội phạm mua bán người (MBN) sau khi thoát khỏi tình trạng bị bóc lột
sẽ có một số dấu hiệu tổn thương cả về thể chất và tinh thần. Để bảo vệ và đảm bảo quyền,
lợi ích hợp pháp của nạn nhân cũng như giúp quá trình điều tra, truy tố và giải quyết các vụ
án MBN được thuận lợi, đòi hỏi cán bộ điều tra, nhân viên hỗ trợ cần có hiểu biết về những
tổn thương tâm lý của nạn nhân và phương pháp tiếp cận phù hợp.
Từ khóa: Vụ án mua bán người, nạn nhân, sang chấn tâm lý, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán.
Ngày nhận bài: 24/6/2021; Biên tập xong: 30/6/2021; Duyệt đăng: 30/6/2021
Victims of human trafficking, aꢀer escaping exploitation, will show signs of both
physical and emotional trauma. In order to protect and ensure the legitimate rights
and interests of the victims, as well as to facilitate the investigation, prosecution
and adjudication of human trafficking cases; investigators and support staff need to
understand the psychological trauma of victims and have the appropriate approaches
to support them.
Keywords: Human trafficking cases, victims, psychological trauma, trafficking
victims assistance.
1. Đặt vấn đề
giấy tờ tùy thân, ép buộc sử dụng các chất
kích thích, bị cô lập, bóc lột tình dục và
cưỡng bức lao động (WHO, 2012). Ngoài
ra, những tổn thương tâm lý của nạn nhân
còn xuất hiện trước khi quá trình MBN
diễn ra do tác động của gia đình, điều kiện
kinh tế và môi trường sống trước đó.
Mua bán người là hành vi vi phạm
quyền con người xảy ra trên khắp thế giới.
MBN liên quan đến việc “tuyển mộ, vận
chuyển, chuyển giao, chứa chấp” nạn nhân
thường bằng cách “đe dọa, sử dụng bạo
lực hoặc vũ lực, ép buộc hoặc lừa dối nhằm
mục đích bóc lột hoặc lạm dụng nạn nhân”
(Nghị định thư Palemo)1. Nạn nhân của tội
phạm MBN sau khi thoát khỏi tình trạng bị
bóc lột, bao gồm cả tình dục và cưỡng bức
lao động, sẽ có một số dấu hiệu tổn thương
cả về thể chất và tinh thần. Tổn thương tâm
lý của nạn nhân thường xuất phát từ những
trải nghiệm đau thương trong quá trình bị
mua bán như đe dọa, tấn công, bạo lực, bị
trao đổi qua nhiều nhà chứa, thu giữ các
Hiểu và nắm rõ được những tổn
thương tâm lý của nạn nhân đóng một vai
trò quan trọng trong quá trình điều tra,
truy tố và giải quyết các vụ án MBN, đồng
thời giúp bảo vệ và đảm bảo quyền và lợi
ích hợp pháp của nạn nhân. Theo một số
nghiên cứu, trong các vụ án MBN, những
nạn nhân bị mua bán thường sẽ cần được
điều trị và hỗ trợ trước khi quyết định có
* Tiến sĩ, Viện Nghiên cứu Con người, Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam
** Thạc sĩ, Chương trình Chương trình hợp tác
ASEAN-Ô-xtrây-li-a về phòng, chống mua bán
người (ASEAN-ACT) tại Việt Nam.
1ꢀ Nghị định thư về Phòng ngừa, trấn áp và trừng
trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ
em được thông qua và mở cho các quốc gia ký, phê
chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết số 55/25 ngày
15/11/2000 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc.
38 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 02 - 2021
LƯU THỊ LỊCH - TRẦN THU HƯƠNG
tham gia quá trình điều tra và tố tụng hay hoặc kinh hoàng2.
không (IOM, 2007). Đảm bảo nạn nhân
được đối xử tôn trọng và những nỗ lực để
hỗ trợ nạn nhân trong việc tham gia quá
trình giải quyết các vụ án MBN không
chỉ là hành động mang tính nhân đạo
mà còn nhằm tăng cường sự hợp tác và
tham gia của nạn nhân trong các vấn đề
tư pháp hình sự. Việc thực thi pháp luật
hiệu quả nhất khi các cán bộ thực thi pháp
luật được nâng cao năng lực để nhận diện
và giải quyết những tổn thương tâm lý,
tình cảm của nạn nhân do hậu quả của
quá trình MBN (Hiệp hội Cảnh sát trưởng
quốc gia, 2010).
Trải nghiệm MBN thường là một trải
nghiệm đau thương và ám ảnh đối với
nhiều nạn nhân bị mua bán, gây ra sang
chấn tâm lý cho họ. Những người bị buôn
bán trở về có sức khoẻ tinh thần thấp hơn
rõ rệt so với phần đông dân số nói chung
(Kara và Elizabeth, 2019). Khi trở về, nạn
nhân đã gặp phải những vấn đề tâm lý
như căng thẳng, lo âu, trầm cảm (Susan
và cộng sự, 2015; Kiss và cộng sự, 2015;
Kara và Elizabeth, 2019); rối loạn căng
thẳng sau sang chấn (PTSD) (Tsutsumi và
cộng sự, 2008; Hiệp hội Cảnh sát trưởng
quốc gia, 2010; Williamson và cộng sự,
2016).
Thông qua việc tổng quan các tài liệu
nghiên cứu, các báo cáo về công tác phòng,
chống MBN của các nhà khoa học, các cơ
quan tham gia vào công tác phòng, chống
MBN của quốc tế cũng như Việt Nam, bài
viết này sẽ phân tích một số biểu hiện tổn
thương tâm lý của nạn nhân bị mua bán
khi trở về cũng như một số rào cản tâm lý
của nạn nhân khi tham gia vào quá trình
tư pháp hình sự. Từ đó, bài viết cũng đưa
ra một số khuyến nghị về phương pháp
tiếp cận khi làm việc với nạn nhân bị mua
bán nhằm tăng cường hiệu quả của công
tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án MBN.
Cả nạn nhân là nam giới, phụ nữ và trẻ
em đều có thể gặp phải những vấn đề tổn
thương tâm lý. Ví dụ như nghiên cứu về
sức khoẻ tâm thần của nạn nhân bị mua
bán ở Tiểu vùng sông Mekong mở rộng,
bằng việc sử dụng một bộ công cụ sàng
lọc tiêu chuẩn, kết quả đã chỉ ra 61% nam
giới, 67% phụ nữ và 57% trẻ em có các triệu
chứng biểu hiện của trầm cảm (Kiss và
cộng sự, 2015). Ngoài ra, tổn thương tâm
lý của nạn nhân thường có những biểu
hiện và mức độ khác nhau tùy thuộc vào
hình thức bóc lột, lạm dụng và những trải
nghiệm trước và trong quá trình bị mua
bán của từng người (Antonio và cộng sự,
2017). Nạn nhân nữ bị bóc lột tình dục có
mức độ lo âu, trầm cảm và PTSD cao hơn
những nạn nhân bị bóc lột vì những mục
đích khác (Tsutsumi và cộng sự, 2008).
Một số biểu hiện bất ổn tâm lý điển hình
của các nạn nhân đã được ghi nhận trong
một số nghiên cứu và báo cáo là:
2. Sang chấn tâm lý của nạn nhân bị
mua bán khi trở về
Sang chấn tâm lý là một phản ứng về
cảm xúc của một người khi đã từng trải
qua hoặc chứng kiến sự kiện liên quan đến
tử vong, có nguy cơ tử vong, tổn thương
nghiêm trọng hoặc đe dọa tới tính toàn
vẹn về thể chất của bản thân hoặc người
khác. Theo Hiệp hội tâm lý Hoa Kỳ APA,
sang chấn tâm lý còn được cho là phản
ứng của cá nhân liên quan đến trạng thái
2ꢀ Hiệp Hội tâm lý Hoa Kỳ (APA), Sang chấn và các
vấn đề liên quan đến sang chấn. Xem tại: hꢁps://
Số chuyên đề 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 39
TIẾP CẬN DỰA TRÊN HIỂU BIẾT VỀ SANG CHẤN TÂM LÝ...
Rối loạn giấc ngủ
dục và cưỡng bức lao động bởi người chủ
hay khách hàng, thậm chí là người chồng,
người trong gia đình chồng. Những ám
ảnh về những điều đã xảy ra quá sức chịu
đựng của nạn nhân và khiến họ không thể
ngủ, sinh hoạt và làm việc bình thường,
thậm chí rất khó khăn để thoát ra khỏi
cảm giác này (Susan và cộng sự, 2015).
Một số nạn nhân bị mua bán gặp vấn
đề rối loạn giấc ngủ và lặp lại các cơn ác
mộng thường xuyên. Rối loạn giấc ngủ
thường xuất hiện ở thời gian đầu khi nạn
nhân mới trở về hoặc được giải cứu và có
thể giảm dần sau năm đầu tiên (Susan và
cộng sự, 2015). Theo một kết quả khảo sát
của Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa
Liên tục hồi tưởng lại quá khứ kinh
Kỳ tiến hành năm 2008, 67% nạn nhân bị hoàng hoặc gặp các cơn ác mộng về trải
MBN có những vấn đề về rối loạn giấc nghiệm khi bị mua bán khiến nạn nhân
ngủ và thường xuyên trải qua các cơn ác nhạy cảm và thường né tránh các kích
mộng về giai đoạn họ bị mua bán (Erin và thích liên quan đến sang chấn tâm lý. Họ
cộng sự, 2008).
thường cố gắng tránh suy nghĩ hay nói
những chuyện liên quan đến các sự kiện,
hoạt động, địa điểm, âm thanh, và màu
sắc có thể gợi nhớ đến những sự kiện đã
từng xảy ra.
Các cơn ác mộng của nạn nhân thường
gặp là sống lại những trải nghiệm bị mua
bán hoặc rơi vào tình trạng bị tái mua
bán. Nạn nhân thường có giấc mơ về việc
họ vẫn đang ở tại các cơ sở mại dâm, nơi
cưỡng bức lao động hoặc nơi giam giữ
trái phép và lặp lại những hình ảnh đau
thương. Một số nạn nhân chia sẻ rằng khi
gặp giấc mơ đáng sợ, họ thường có biểu
hiện run rẩy và sợ hãi, khó chìm vào giấc
ngủ một lần nữa. Cũng theo nghiên cứu
của Erin và cộng sự (2008), việc nạn nhân
từng sử dụng các chất kích thích như ma
túy và cần sa cũng một yếu tố tác động
đến việc nạn nhân gặp các vấn đề sức
khỏe tinh thần, trong đó có chứng rối loạn
giấc ngủ.
Lo ngại bị kì thị
Những người từng bị mua bán thường
lo sợ bị gia đình hoặc cộng đồng ngại tiếp
xúc hoặc xa lánh vì họ đã từng bị mua
bán (Moskowitz, 2008; UNODC, 2008).
Nhìn nhận của cộng đồng về những nạn
nhân bị mua bán là một trong những yếu
tố khiến nạn nhân lo ngại bị kì thị khi
trở về. Thực tế qua công tác hỗ trợ nạn
nhân cũng như các kết quả nghiên cứu, có
nhiều nạn nhân đã phải trải qua cảm giác
bị kì thị bởi chính gia đình và cộng đồng
của mình. Những người ở tuổi vị thành
niên trở về bị ảnh hưởng nặng nề nhất
khi hàng xóm và gia đình cho rằng họ đã
tham gia hoạt động mại dâm.
Ám ảnh về quá khứ bị mua bán
Một số nạn nhân khi đã thoát khỏi
tình trạng bị mua bán, trở về địa phương
vẫn bị ám ảnh bởi quá khứ. Họ liên tục
Sự kì thị từ gia đình và cộng đồng
hồi tưởng lại quá khứ đau thương và cảm khiến những người bị mua bán không
giác kinh hoàng như thể họ vẫn đang ở muốn công nhận hoặc thừa nhận bản thân
trong giai đoạn bị mua bán. Một số người là nạn nhân. Một số người muốn được
vẫn nhớ lại rất rõ ràng những điều đã nhìn nhận là người di cư trái phép hoặc
xảy ra trong quá trình mua bán như họ bị kém may mắn trong quá trình di cư, chứ
đánh đập, tra tấn bằng vũ lực, bóc lột tình họ không muốn được coi là nạn nhân bị
40 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 02 - 2021
LƯU THỊ LỊCH - TRẦN THU HƯƠNG
mua bán. Sự kì thị đối với các nạn nhân Họ thấy mình thấp kém hơn người khác
có thể được giải thích thông qua lăng kính
giới và chuẩn mực xã hội khác biệt đối với
nam và nữ (Jean, 2002).
(Kara và Elizabeth, 2019). Theo nghiên
cứu từ những nạn nhân đã trở về, Cathy
and Nicola (2013) đã chỉ ra rằng, nạn
nhân thường tự trách bản thân vì đã “ngu
ngốc”, “cả tin” hoặc “đã mắc sai lầm rất
lớn” vì đã tin theo lời dụ dỗ và lừa gạt của
những kẻ MBN.
Có nạn nhân nam cho rằng, việc họ
được coi là nạn nhân bị mua bán nghe
giống như một sự xúc phạm, những người
xung quanh có thể chế nhạo họ (ICMPD,
2007). Điều này cũng có thể do những
định kiến về nam tính và họ cảm thấy
miễn cưỡng khi coi mình là “nạn nhân”
cần được hỗ trợ (IOM, 2007).
Mức độ và cảm giác tội lỗi, xấu hổ này
của từng nạn nhân cũng khác nhau tùy
thuộc theo giới tính, hình thức bị bóc lột
và lạm dụng mà họ đã trải qua. Một số nạn
nhân nam thường bị bắt ép làm công việc
trái phép hoặc vi phạm pháp luật, và có
thể đã trở thành “tội phạm” với tội danh
được quy định. Khi trở về quê hương, nạn
nhân thường cảm thấy mặc cảm, đau khổ
vì họ đã mắc sai lầm và cảm thấy mình tội
lỗi vì đã mang tiếng xấu hoặc rắc rối cho
gia đình, dòng họ (UNODC, 2008). Đối với
nạn nhân nữ, đa phần bị mua bán với hình
thức bóc lột tình dục, họ cảm thấy mình
không còn “sạch sẽ”, “trong trắng” vì đã
từng tham gia các dịch vụ mại dâm. Họ
thường có cảm tội lỗi tột độ, không xứng
đáng khi được giúp đỡ, hỗ trợ từ tổ chức,
gia đình và những người xung quanh tại
cộng đồng (Cathy and Nicola, 2013).
Không chỉ có nam giới, một số nạn
nhân nữ cũng không muốn coi mình là
nạn nhân bị mua bán. Nguyên nhân có
thể do quan niệm sai lầm rằng, MBN là
liên quan đến bóc lột tình dục mà loại trừ
các hình thức bóc lột lao động khác (IOM
2007). Thêm vào đó, nạn nhân nữ bị mua
bán thường e ngại việc bị mua bán có thể
ảnh hưởng tới cuộc sống hôn nhân của họ
khi trở về. Họ lo ngại người chồng hiện tại
hoặc người chồng tương lai có thể không
chấp nhận; hoặc khi cuộc sống vợ chồng
có mâu thuẫn, người chồng có thể đem
chuyện quá khứ bị mua bán ra để phán
xét, đánh giá tiêu cực về họ. Từ những
lo ngại này, họ băn khoăn không biết có
nên nói với người bạn đời của mình về
quá khứ bị mua bán hay không và nói vào
thời điểm nào thì hợp lý. Thậm chí, có nạn
nhân không muốn kết hôn vì nghĩ rằng
cuộc sống của họ sẽ tốt hơn khi không kết
hôn (Susan và cộng sự, 2015).
Sựgắnkếtđauthương(traumabonding)
Trong một số trường hợp MBN, mối
quan hệ giữa nạn nhân và đối tượng
MBN có thể tạo ra sự gắn kết đau thương
(trauma bonding) hay “hội chứng
Stockholm” ở nạn nhân bị mua bán. Hội
chứng này là một phản ứng tâm lý mà
ở đó, nạn nhân có thể trở nên gắn bó về
mặt tình cảm, cảm thông với những kẻ
bắt giữ họ và trung thành bảo vệ họ (Hiệp
Đánh giá bản thân thấp và cảm giác
tội lỗi
Hầu hết các nạn nhân bị mua bán nhìn
nhận và đánh giá bản thân thấp kém và có
cảm giác tội lỗi. Họ tự cho mình là không hội Cảnh sát trưởng quốc gia, 2010). Tuy
có giá trị và không có gì để khao khát nhiên, hiện nay vẫn chưa có những thông
trong tương lai (Susan và cộng sự, 2015). tin chính xác về mức độ phổ biến của hiện
Số chuyên đề 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 41
TIẾP CẬN DỰA TRÊN HIỂU BIẾT VỀ SANG CHẤN TÂM LÝ...
tượng này ở trong các trường hợp MBN kẻ MBN cũng có thể có tác động tới nạn
và không phải tất cả nạn nhân bị mua bán nhân khiến họ đáp ứng lại bằng lòng biết
ơn và sự gắn bó.
đều trải qua hội chứng này.
Có một số yếu tố có thể làm phát
triển mối liên hệ phụ thuộc và gắn kết
của nạn nhân với kẻ MBN. Ví dụ như
việc nạn nhân thiếu khả năng tiếp cận
với các nguồn lực hỗ trợ, dịch vụ như
nhà ở, chăm sóc y tế, việc làm, thu nhập,
giáo dục có thể khiến họ phải phụ thuộc
vào kẻ MBN nhiều hơn. Hay hoàn cảnh
kinh tế và xã hội gặp nhiều khó khăn
của nạn nhân như sự nghèo đói, hoàn
cảnh bị bạo hành, xâm hại ở quá khứ có
thể góp phần củng cố cảm giác tin tưởng
và lòng trung thành của nạn nhân với kẻ
MBN.
Sự gắn kết đau thương được hiểu một
cách phổ biến nhất là việc đối tượng MBN
sử dụng các phần thưởng và hình phạt
trong quá trình lạm dụng, bóc lột nạn
nhân để tăng cường mối liên kết tình cảm
mạnh mẽ với nạn nhân. Đối tượng MBN
có thể đảm nhận vai trò người bảo vệ để
kiểm soát nạn nhân, điều này đã tạo ra sự
nhầm lẫn và phát triển mối quan hệ hoặc
sự gắn bó với nạn nhân, có thể khiến nạn
nhân cảm thấy trung thành hoặc yêu kẻ
buôn người. Sự gắn kết đau thương này
trở nên đặc biệt mạnh mẽ khi nỗi sợ hãi về
kẻ buôn người đi đôi với lòng biết ơn đối
với bất kỳ lòng tốt nào được thể hiện ở họ
(Liên bang Hoa Kỳ, 2020).
Khi rời khỏi mối quan hệ gắn kết đau
thương, nạn nhân có thể cảm thấy mất an
toàn. Họ có thể giận dữ, buồn bã và tê liệt,
suy nghĩ tiêu cực về tương lai, rối loạn về
tâm trí và nạn nhân có thể quay trở lại với
kẻ MBN. Do đó, việc nạn nhân “tái mua
bán” với kẻ buôn người nên được xem xét
trong kế hoạch hỗ trợ.
Tiếp xúc với chấn thương nhiều lần có
thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển
của não và cách suy nghĩ của một người,
thường dẫn đến việc nạn nhân trở nên tê
liệt và mất kết nối với chính họ. Đôi khi,
việc bị lạm dụng và bị làm tổn thương
được lặp đi lặp lại nhiều đến mức nạn
nhân có thể cảm thấy quen thuộc và nảy
sinh tình cảm đối với đối tượng MBN.
Chính điều này cũng có thể làm giảm
những ảnh hưởng tiêu cực của sang chấn
tâm lý vì những khoảnh khắc nạn nhân
cảm thấy được yêu thương, được chăm
sóc từ đối tượng MBN có thể bù đắp cho
những trải nghiệm lo lắng, sợ hãi.
Hiện tượng gắn kết đau thương này
có thể khiến nạn nhân có các hành vi như
bảo vệ kẻ mua bán, chậm khai báo hay
không sẵn sàng hợp tác với các cơ quan
chức năng. Những phản ứng này có thể
khiến cơ quan chức năng nhìn nhận đây
như một sự “đồng phạm” hoặc không
hợp tác của nạn nhân.
Tức giận, oán hận kẻ mua bán
Phát triển lòng biết ơn và sự gắn bó với
kẻ MBN như một cơ chế phản ứng của cơ
thể để nạn nhân có thể tồn tại trong bối
cảnh họ bị kẻ MBN cô lập, đe doạ khiến
họ cảm thấy kiệt sức và cảm thấy bất lực,
không thể trốn thoát. Do đó, khi có bất kì
Đối với kẻ MBN, nạn nhân khi trở về
vẫn còn những cảm xúc tức giận, bất bình,
và oán hận kẻ mua bán họ. Họ muốn
đánh, muốn tống những kẻ MBN vào tù.
Có những nạn nhân cảm thấy rằng họ
không bao giờ có thể quên và tha thứ cho
một sự “giúp đỡ” hay “lòng tốt” nào của những việc đã xảy ra với họ (Susan và
42 Khoa học Kiểm sát Số chuyên đề 02 - 2021
LƯU THỊ LỊCH - TRẦN THU HƯƠNG
cộng sự, 2015). Điều này thường xảy ra đối
Nghiên cứu của Greene Ross W và J.
với những nạn nhân đã từng trải qua thời Stuart Ablon (2006) chỉ ra rằng, sang chấn
tâm lý tác động tới sự phát triển của não
cũng như hành vi của trẻ em và vị thành
niên. Điều này có thể ảnh hưởng đến các
kỹ năng giao tiếp như khả năng diễn tả
cảm xúc, điều chỉnh cảm xúc hay thể hiện
cảm xúc phù hợp với tình huống, kỹ năng
tổ chức, lập kế hoạch cũng như các kỹ
năng xã hội như nhận biết tác động của
hành vi đối với người khác.
gian dài bị bóc lột tình dục, cưỡng bức lao
động và sự uy hiếp, thủ đoạn của những
kẻ MBN đối với gia đình và bản thân nạn
nhân. Mức độ tức giận với kẻ MBN thường
tăng lên sau những lần chạy trốn không
thành công hoặc mất hy vọng tại những
nơi giam giữ và mua bán nạn nhân.
Sang chấn tâm lý ở nạn nhân là trẻ em
Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra vấn nạn
MBN đã để lại những sang chấn tâm lý
cho nạn nhân là trẻ em ở các mức độ khác
nhau. Khi bị mua bán, trẻ bị tách khỏi gia
đình và cộng đồng, trẻ bị lạm dụng thể
chất, tình cảm và tình dục; trẻ bị đe doạ,
cô lập hay chứng kiến cảnh người khác bị
lạm dụng (Mitchels, 2004).
Qua các nghiên cứu cho thấy, sang
chấn tâm lý ở nạn nhân bị MBN là rất phổ
biến với các mức độ biểu hiện, ảnh hưởng
khác nhau ở từng nhóm nạn nhân. Cần
đánh giá mức độ nghiêm trọng và thời
gian của các lạm dụng, bóc lột của tình
trạng MBN và có thời gian phục hồi phù
hợp (Mazeda và cộng sự, 2010).
Các tổn thương tâm lý được ghi nhận
ở những trẻ bị bỏ rơi, bị lạm dụng thể
chất, tâm lý và tình dục thường thấy như
trẻ bị trầm cảm, lo âu, căng thẳng (Browne
3. Một số rào cản tâm lý của nạn nhân
khi tham gia vào quá trình tư pháp hình
sự của các vụ án mua bán người
Nạn nhân bị mua bán thường trải qua
sang chấn tâm lý ở mức độ khác nhau.
Những tổn thương tâm lý này có thể có
ảnh hưởng sâu sắc, lâu dài đến nạn nhân,
do đó họ có thể không hỗ trợ và tham gia
vào quá trình tố tụng hình sự, ít nhất là
trong giai đoạn đầu (UNODC, 2009a).
Phần này sẽ phân tích một số yếu tố cản
trở việc nạn nhân tham gia vào quá trình
tư pháp hình sự trong các vụ án MBN.
&
Finkelhor, 1986; Kendall-Tackeꢁ,
Williams, và Finkelhor, 2001; ECPAT,
2006a; Kiss và cộng sự, 2015); có ý định
tự sát (Kiss và cộng sự, 2015; Dykman
và cộng sự, 1997; Kaufman, 1991; Nelson
và cộng sự, 2002; Sneddon, 2003); rối
loạn căng thẳng sau sang chấn (Browne
&
Finkelhor, 1986; Kendall-Tackeꢁ,
Williams, & Finkelhor, 2001; Dykman và
cộng sự, 1997; Kaufman, 1991; Nelson và
cộng sự, 2002; Sneddon, 2003); đánh giá
bản thân thấp, thiếu tự tin và thu mình
(ECPAT, 2006a; Bousha & Twentyman,
1984). Nếu trẻ bị mua bán hoặc bị mua bán
nhiều lần khi còn nhỏ có nhiều nguy cơ
mắc các bệnh tâm thần khi trưởng thành
(Read, 1997; Edwards, Holden, Feliꢁi, &
Anda, 2003; Horwitz, Widom, Loughlin,
& White, 2001; Widom, 1999).
Sợ chính quyền
Trong quá trình bị mua bán, nạn nhân
thường rơi vào tình trạng không có giấy
phép cư trú, giấy phép lao động hoặc
tham gia vào các hoạt động trái phép như
mại dâm, sử dụng ma túy, trồng cần sa
trái phép,… Trong một số trường hợp, kẻ
MBN đã đưa ra các thông tin khiến nạn
nhân sợ chính quyền như nạn nhân sẽ bị
Số chuyên đề 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 43
TIẾP CẬN DỰA TRÊN HIỂU BIẾT VỀ SANG CHẤN TÂM LÝ...
bắt bỏ tù, trục xuất, bị truy tố vì tình trạng dẫn tới việc họ không muốn mình được
cư trú bất hợp pháp hoặc các hoạt động nhìn nhận như những nạn nhân bị mua
bất hợp pháp mà họ tham gia vào trong bán, hoặc không muốn tiếp tục tham gia
quá trình bị mua bán (UNODC, 2009a). Do các quá trình tư pháp hình sự (UNODC,
đó, họ lo sợ bị ngược đãi, trục xuất hoặc 2008; Moskovitz, 2008).
những rủi ro đối với sự an toàn cá nhân
của bản thân hoặc gia đình họ (ICMPD
Để an toàn và tránh những rắc rối, nạn
2006; IOM 2007; UNODC 2009b).
Sợ bị trả thù
nhân sẽ thường từ chối không tham gia
Ngoài ra, trong quá trình tư pháp hình
vào các quá trình điều tra, tố giác tội phạm
sự, nạn nhân thường cảm thấy sợ hãi, lo
MBN. Đa phần nạn nhân cảm thấy lo sợ
lắng khi tiếp xúc và làm việc với các cán
nếu trình báo với cơ quan chính quyền
bộ điều tra. Sau chấn thương, nạn nhân
và tố giác tội phạm sẽ bị những kẻ buôn
thường đưa ra những thông tin thiếu nhất
người trừng phạt, trả thù bản thân và gây
quán hoặc không đầy đủ. Họ cũng có thể
hại cho gia đình (Đội đặc nhiệm Quốc gia
tìm cách che giấu hoặc giảm thiểu các
hành vi không tốt vì sợ rằng họ sẽ không
được tin tưởng hoặc rằng họ sẽ bị đổ lỗi
cho hành vi của mình. Việc cán bộ điều
tra nghi ngờ hay chất vấn những thông
tin không nhất quán này có thể làm ảnh
hưởng không tốt tới tâm lý của nạn nhân
và hiệu quả của các cuộc điều tra (Tổ chức
theo dõi quyền con người, 2013).
về Phòng chống MBN)3.
Ngoài ra, tội phạm MBN thường là
người thân thiết, quen biết hoặc có mối
quan hệ gia đình với nạn nhân. Do đó,
nạn nhân thường ngại ngần và tránh
tham gia quá trình tư pháp hình sự để
bảo vệ người thân trong gia đình mặc
dù họ đã trải qua những đau thương
trong suốt quá trình MBN.
Sợ bị lộ thông tin cá nhân và quá khứ
bị mua bán
Sang chấn và tái sang chấn tâm lý
Việc kể lại sự việc bị mua bán có thể
khiến nạn nhân có những căng thẳng
tâm lý, hồi tưởng lại quá khứ khiến nạn
nhân hoảng sợ, tái sang chấn, hiếu động
(mất ngủ, tức giận bộc phát hoặc cáu
kỉnh, cảnh giác quá mức, v.v.) (Susan và
cộng sự, 2015). Do đó, sự sẵn sàng hợp
tác của nạn nhân bị mua bán trong quá
trình tố tụng hình sự cũng có thể bị ảnh
hưởng bởi những lo ngại liên quan đến
việc kể lại trải nghiệm trong quá trình
trở thành nạn nhân (Moskowitz, 2008;
UNODC, 2008). Trong quá trình điều
Theo UNODC (2009b), một trong số các
rào cản khiến nạn nhân không chấp nhận
tham gia vào các quá trình tư pháp hình
sự là bị lộ danh tính, thông tin cá nhân và
gia đình. Một số trường hợp, danh tính và
thông tin cá nhân của nạn nhân đã vô tình
bị tiết lộ trong quá trình điều tra, làm việc
tại địa phương; hoặc trong quá trình khởi
tố và xét xử do cán bộ chuyên trách hoặc
các đơn vị báo chí.
Ngoài ra, nạn nhân cũng thường lo sợ
về quá khứ bị mua bán của mình sẽ bị
công khai, bị cộng đồng xã hội kỳ thị và
xa lánh, đặc biệt là các nạn nhân bị cưỡng
bức lao động và bóc lột tình dục. Chính
3ꢀ Đội đặc nhiệm Quốc gia về Phòng, chống mua bán
người, Thông tin chung về mua bán người. Xem tại:
hꢁps://nj.gov/oag/dcj/humantrafficking/downloads/
tâm lý này và việc bị kì thị tại cộng đồng NJHTTF_FS_Understanding-Victims.pdf.
44 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 02 - 2021
LƯU THỊ LỊCH - TRẦN THU HƯƠNG
tra, xét xử, các cơ quan chức năng cần này cũng có thể liên quan đến những
lấy lời khai của nạn nhân về các sự việc trải nghiệm không tốt của nạn nhân khi
tham gia vào các quá trình tư pháp hình
sự trước đây (Đội đặc nhiệm Quốc gia về
Phòng, chống MBN).
đã diễn ra để làm bằng chứng kết tội kẻ
MBN. Việc kể lại những trải nghiệm này
có thể khiến nạn nhân cảm thấy căng
thẳng, bất an hay tái sang chấn. Thậm
chí, một số nạn nhân chỉ cần nghe tên
hoặc nhìn hình ảnh của kẻ mua bán cũng
trở nên mất kiểm soát, không tập trung
và tổn thương tâm lý.
4. Phương pháp tiếp cận nạn nhân bị
mua bán trong quá trình điều tra, xét xử
và giải quyết các vụ án mua bán người
Từ những kết quả nghiên cứu và các
hoạt động can thiệp với nạn nhân bị mua
bán trong công tác phòng, chống MBN, các
nhà nghiên cứu, lập pháp và hoạt động xã
hội trên thế giới đã đưa ra một số cách tiếp
cận có hiệu quả với nạn nhân bị mua bán.
Bằng những cách tiếp cận này, công tác hỗ
trợ nạn nhân và điều tra xét xử vụ án về
MBN sẽ trở nên có hiệu quả hơn.
Do ảnh hưởng của các tổn thương tâm
lý, nạn nhân thường bị trí nhớ gián đoạn,
khó hồi tưởng lại những diễn biến trong
quá khứ, không tập trung, có thể nhớ sai
lệch, dẫn đến việc không tự tin khi tham
gia quá trình tư pháp hình sự.
Mất niềm tin vào cơ quan chức năng
và các tổ chức trợ giúp
Áp dụng phương pháp tiếp cận lấy nạn
nhân làm trung tâm
Do trong quá trình bị mua bán, nạn
nhân bị kẻ MBN và người môi giới lừa
dối trong thời gian dài nên đã mất niềm
tin vào bản thân, vào các cơ sở trợ giúp
và các lực lượng chức năng. Theo báo cáo
của Bộ Y tế và dịch vụ Nhân sinh Hoa
Kỳ, những kẻ MBN thường dùng nhiều
thủ đoạn và hình thức khác nhau để “tẩy
não” nạn nhân, làm họ hiểu sai lệch về
các đơn vị thực thi pháp luật (Heather
và cộng sự, 2008). Điều này đã có những
tác động tiêu cực tới niềm tin của nạn
nhân vào tương lai và vào người khác,
ngay cả với cán bộ của các cơ quan chức
năng đang cố gắng giúp đỡ họ. Những
tổn thương đã trải qua có thể khiến nạn
nhân mất lòng tin với các cơ quan chức
năng (ICMPD 2006; IOM 2007; UNODC
2009b). Họ không tin tưởng việc tham
gia vào quá trình tư pháp hình sự có thể
mang lại công bằng cho họ và có thể giúp
họ vượt qua được những khó khăn mà
Phương pháp tiếp cận lấy nạn nhân
làm trung tâm là cách tiếp cận dựa trên
hiểu biết về nhu cầu của nạn nhân và vì
lợi ích tốt nhất của nạn nhân. Nạn nhân
của tội phạm có nhu cầu được an toàn,
nhu cầu được chia sẻ về cảm xúc và nhu
cầu được biết về “điều gì sẽ xảy ra tiếp theo”
khi tham gia vào quá trình điều tra, truy
tố, xét xử (Hiệp hội Cảnh sát trưởng quốc
gia, 2010). Tiếp cận dựa trên hiểu biết về
nhu cầu và lợi ích của nạn nhân sẽ giúp
cán bộ điều tra, xét xử tránh được việc
vô tình đưa ra những bình luận hay đặt
câu hỏi gây tổn thương cho nạn nhân
hay đổ lỗi cho nạn nhân (Hiệp hội Cảnh
sát trưởng quốc gia, 2010). Khi nạn nhân
được tôn trọng, được quan tâm nhu cầu
và được bảo vệ lợi ích, họ sẽ tin tưởng
và hợp tác với cơ quan chức năng trong
việc cung cấp các thông tin về tội phạm
để giúp cơ quan chức năng kết tội được
họ đang phải đối mặt. Ngoài ra, điều kẻ phạm tội.
Số chuyên đề 02 - 2021 Khoa học Kiểm sát 45
TIẾP CẬN DỰA TRÊN HIỂU BIẾT VỀ SANG CHẤN TÂM LÝ...
Sự sẵn sàng khai báo tội phạm và tham có hành vi nào từ phía nạn nhân có thể
gia vào quá trình điều tra tội phạm của cho phép kẻ nghi phạm tấn công và bóc
nạn nhân bị mua bán thường phụ thuộc lột họ.
vào cách ứng xử của các cán bộ thực thi
pháp luật và sự sẵn sàng hỗ trợ của các cơ
Được đảm bảo quyền riêng tư và bí mật:
Những thông tin của cá nhân cần được
quan thực thi pháp luật. Do đó, tổ chức
IOM khuyến khích sự chuyển đổi từ cách
tiếp cận thực thi pháp luật truyền thống
sang cách tiếp cận tập trung vào lợi ích
của nạn nhân như một phương tiện tốt
nhất để đảm bảo công lý (IOM, 2009).
đảm bảo giữ bí mật và được tuân thủ bởi
tất cả các cán bộ tư pháp hình sự và những
người có liên quan hoặc làm việc trực tiếp
với nạn nhân.
Được tiếp cận và thông báo những thông
tin liên quan đến quyền của nạn nhân và quá
trình tư pháp hình sự: Những thông tin về
quyền lợi và nghĩa vụ của nạn nhân và
trình tự quá trình tư pháp hình sự phải
được thông báo đầy đủ với nạn nhân bằng
văn bản hoặc lời nói. Đảm bảo rằng họ đã
cung cấp thông tin đầy đủ trước khi tiến
hành các quá trình xác định, điều tra, truy
tố và bảo vệ nạn nhân.
ASEAN (2011) đã xây dựng các hướng
dẫn thực hành tốt nhất cho các chủ thể
thực thi pháp luật làm việc với nạn nhân
bị mua bán. Hướng dẫn khuyến khích các
quan chức đảm bảo các quyền và nhu cầu
của những người bị mua bán được đáp
ứng trong suốt quá trình điều tra và bất
kỳ thủ tục tố tụng tiếp theo của Tòa án.
Theo hướng dẫn của tiến trình Bali dành
cho việc hỗ trợ và bảo vệ nạn nhân bị MBN
tại khu vực châu Á Thái Bình Dương4, cách
tiếp cận lấy nạn nhân làm trung tâm nhấn
mạnh một số lưu ý sau đây:
Tiếp cận dựa trên hiểu biết về sang
chấn tâm lý
Tiếp cận dựa trên hiểu biết về sang
chấn tâm lý là việc thừa nhận sự hiện diện
của sang chấn tâm lý và những hậu quả
mà chấn thương tâm lý gây ra đối với nạn
nhân và gia đình của họ. Các phản ứng tư
pháp hình sự dựa trên hiểu biết về sang
chấn tâm lý có thể giúp tránh gây tái sang
chấn tâm lý cho nạn nhân, tăng sự an toàn
cho nạn nhân và giúp hỗ trợ cho quá trình
hồi phục của nạn nhân.
Không phán xét: Một trong những rào
cản hạn chế nạn nhân tham gia vào quá
trình tư pháp hình sự là sợ bị đánh giá,
sợ bị đổ lỗi và sợ bị kết tội. Do đó, các
cán bộ tham gia vào quá trình điều tra
cần tạo ra một môi trường không phán
xét bằng cách trấn an nạn nhân. Cần cho
nạn nhân biết rằng, cán bộ ở đó không
phải để phán xét hành vi của nạn nhân,
và khẳng định với nạn nhân rằng không
Các cán bộ tham gia vào quá trình tư
pháp hình sự cần được đào tạo để có hiểu
biết về sang chấn tâm lý của nạn nhân
và tác động của sang chấn tâm lý đối với
nạn nhân và gia đình họ. Cán bộ cần nhận
thức rằng nạn nhân cũng có thể đã trải
qua sang chấn nặng trong quá khứ, họ có
thể đã vượt qua hoặc hiện tại vẫn bị ảnh
hưởng bởi những sang chấn này; từ đó,
cán bộ điều tra, xét xử có những phản ứng
4ꢀ Tiến trình Bali, Nâng cao và củng cố cách tiếp cận lấy
nạn nhân làm trung tâm, Tài liệu hướng dẫn dành
cho cán bộ, người thực thi pháp luật trong quá trình
xác định, hỗ trợ và bảo vệ nạn nhân bị mua bán
tại Khu vực Châu Á, Thái Bình Dương, xuất bản
baliprocess/File/RSO-CIFAL-curriculum%20
Enhancing%20a%20Victim-Centered%20Approach_
A4_Final_2017-02-14_for-web.pdf
46 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 02 - 2021
LƯU THỊ LỊCH - TRẦN THU HƯƠNG
phù hợp, tránh gây tái sang chấn tâm lý đưa vào luật pháp hoặc chính sách của
cho nạn nhân.
quốc gia để chống lại nạn MBN, bất kể
nạn nhân có sẵn sàng hỗ trợ tố tụng hình
sự ban đầu hay không (ASEAN, 2011).
“Các nạn nhân nên được ổn định trước khi
họ được phỏng vấn chi tiết về những gì đã xảy
ra với họ” - điều này có nghĩa là họ có thể
cần tiếp cận một loạt các dịch vụ chăm sóc
sức khỏe, hỗ trợ xã hội, nhà ở ổn định và
an toàn, hỗ trợ tài chính (UNODC, 2009a).
Để hạn chế phải kể lại nhiều lần trải
nghiệm bị mua bán có thể khiến nạn nhân
căng thẳng, hoảng sợ hoặc tái sang chấn,
cơ quan điều tra, xét xử có thể ghi âm lại
các cuộc phỏng vấn lấy lời khai của nạn
nhân. Ngoài ra, việc ghi âm quá trình lấy
lời khai của nạn nhân cũng giúp cho cán
bộ điều tra ghi lại những phản ứng tức
thời của nạn nhân do sang chấn tâm lý (Tổ
chức theo dõi quyền con người, 2013).
Những cân nhắc đặc biệt khác
Nhạy cảm về giới: Các hướng dẫn thực
hành tốt về tiếp cận nạn nhân trong quá
trình tư pháp hình sự chỉ ra rằng, cần có
sự nhạy cảm về giới trong việc tiếp cận
với nạn nhân. IOM (2018) cũng có khuyến
nghị về việc nên áp dụng cách tiếp cận về
giới để trong quá trình giải quyết tất cả
các vụ án MBN, áp dụng với tất cả các nạn
nhân, và cần được đảm bảo rằng các nạn
nhân đều được đối xử công bằng, không
phân biệt giới tính của họ. Ví dụ như việc
lựa chọn giới tính của cán bộ tiếp xúc và
làm việc với nạn nhân cũng là một cân
nhắc quan trọng đối với các cơ quan chức
năng liên quan. Theo Hiệp hội Cảnh sát
trưởng Mỹ (2010), cảnh sát đã sử dụng
người phiên dịch là nữ không phải là cán
bộ địa phương hay thuộc cơ quan điều tra
trong các cuộc phỏng vấn với nạn nhân
nữ. Hay trong quá trình tiếp cận với nạn
nhân nữ có những phản ứng nhạy cảm với
nam giới, cần phân công cán bộ nữ hoặc
có cán bộ nữ tham gia vào quá trình làm
việc với nạn nhân. Do đó, nhiều tổ chức,
chương trình quốc tế cũng đề nghị các cán
bộ thực thi pháp luật phải được đào tạo
Trong quá trình tham gia điều tra,
truy tố, xét xử, nạn nhân có thể phải đối
mặt với kẻ MBN. Việc đối mặt này có thể
gây ra tâm lý sợ hãi cho nạn nhân. Dự án
Phòng, chống MBN khu vực châu Á đã
xác định một loạt các biện pháp có thể
được sử dụng để khắc phục tâm lý sợ hãi
của nạn nhân bị mua bán khi có mặt của
kẻ buôn người, để giảm bớt tổn thương
cho nạn nhân của tội phạm tình dục khi
đang làm chứng trong các quy trình của
Tòa án. Các biện pháp bao gồm: Dựng một
màn hình tạm thời tại tòa để bảo vệ nhân
chứng tránh phải khai trực diện trước bị
cáo, cho phép họ làm chứng từ xa thông
qua liên kết video, tiến hành các thủ tục
của phiên tòa trong camera và cho phép
nộp tiền trước khi xét xử, giúp loại bỏ sự
cần thiết phải xuất hiện của người bị mua
bán trong quá trình xét xử (Smith, 2010).
Nạn nhân là nhân chứng quan trọng
nhất để cung cấp bằng chứng trong quá
trình tố tụng hình sự chống lại những kẻ
MBN và để kết tội kẻ tội phạm (UNODC,
2008a). Để tăng sự sẵn sàng và khả năng
tham gia của nạn nhân trong việc hỗ trợ về cách tiếp cận nhạy cảm giới nhằm giúp
phát hiện và truy tố kẻ MBN, tất cả nạn quá trình tư pháp hình sự được thuận lợi,
nhân bị mua bán cần được hỗ trợ và điều đồng thời bảo vệ quyền của nạn nhân một
trị tâm lý. Điều này nên được chính thức
cách tốt nhất (IOM, 2018).
Số chuyên đề 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 47
TIẾP CẬN DỰA TRÊN HIỂU BIẾT VỀ SANG CHẤN TÂM LÝ...
Những cân nhắc đặc biệt đến trẻ em: thức được tính phổ biến, mức độ nghiêm
Mặc dù nhiệm vụ của các cơ quan thực
thi pháp luật là đưa tội phạm MBN ra
trước vành móng ngựa và chịu những
trừng phạt thích đáng về hành vi của
họ, nhưng đơn vị này vẫn phải làm việc
chặt chẽ với các cơ quan bảo vệ trẻ em để
đảm bảo quyền của trẻ em là nạn nhân
của các vụ án MBN vẫn được xem xét và
cân nhắc (IOM, 2018). Một số lưu ý và
cân nhắc đặc biệt dành cho nạn nhân bị
mua bán là trẻ em bao gồm: a) Lợi ích tốt
nhất của trẻ em là điều tối quan trọng
và cần được cân nhắc mọi lúc, mọi thời
điểm; b) Tất cả vụ án MBN liên quan đến
trẻ em đều có yếu tố nhạy cảm và đòi
hỏi mức độ chăm sóc đặc biệt; c) Sự an
toàn và nhu cầu của trẻ em luôn được
ưu tiên hơn các nhu cầu về điều tra vụ
án MBN; d) Trong quá trình bảo vệ và
hỗ trợ trong các vụ án MBN, cán bộ thực
thi pháp luật cần đảm bảo rằng không
một nạn nhân nào là trẻ em bị bỏ lại và
lãng quên; e) Nên có những lưu tâm cẩn
trọng trong quá trình điều tra, truy tố vụ
án MBN, đảm bảo rằng trẻ em sẽ không
bị tổn thương tâm lý hoặc tái sang chấn
(IOM, 2018; IOM, 2007).
trọng và ảnh hưởng của sang chấn tâm lý
ở nạn nhân bị MBN. Từ đó, đưa ra những
đáp ứng dựa trên hiểu biết về sang chấn
tâm lý của nạn nhân để tránh làm tổn
thương thêm và gây tái sang chấn tâm lý
cho nạn nhân.
Nạn nhân khi tham gia vào quá trình
điều tra, truy tố, xét xử có nhu cầu được
đảm bảo an toàn, bí mật danh tính, được
nói lên tiếng nói của mình và được cung
cấp thông tin đầy đủ về quá trình tham
gia của họ. Sự hợp tác và phối hợp của
nạn nhân trong các quá trình này cũng
tùy thuộc một phần lớn vào thái độ và
cách ứng xử của cán bộ chức năng. Cách
tiếp cận dựa trên nhu cầu và lợi ích của
nạn nhân đã chỉ ra là có hiệu quả tốt nhất
giúp nạn nhân tham gia tích cực vào việc
truy tố tội phạm. Do đó, cán bộ các cơ
quan liên quan cần được đào tạo để hiểu
biết về những tác động của MBN đến
tâm lý, nhu cầu của nạn nhân và phương
pháp làm việc tập trung vào lợi ích của
nạn nhân.
Mặc dù các khuyến nghị của các tổ
chức quốc tế đưa ra là nạn nhân cần được
trị liệu tâm lý trước khi tham gia vào
quá trình tư pháp hình sự nhưng tại Việt
Nam, việc hỗ trợ và phục hồi về sức khỏe
tinh thần cho các nạn nhân còn gặp nhiều
khó khăn do còn thiếu các chuyên gia và
dịch vụ hỗ trợ tâm lý có chất lượng. Do
đó, các cơ quan chức năng cần đặc biệt
quan tâm việc tăng cường khả năng ứng
phó với sang chấn tâm lý cho nạn nhân bị
MBN. Điều này sẽ hỗ trợ cho các cơ quan
thực thi pháp luật thực hiện nhiệm vụ của
mình hiệu quả hơn thông qua sự hợp tác
5. Kết luận và một số đề xuất
Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy
những biểu hiện sang chấn tâm lý tồn
tại khá phổ biến ở nạn nhân bị mua bán.
Sang chấn tâm lý có ở cả nạn nhân nam,
nạn nhân nữ, đặc biệt nghiêm trọng với
nạn nhân là trẻ em. Tác động của MBN
đến tâm lý của mỗi cá nhân là khác nhau
tùy thuộc vào độ tuổi, giới tính và hình
thức bóc lột, lạm dụng và thời gian bị bóc
lột, lạm dụng.
Các cán bộ tham gia vào quá trình tư của nạn nhân cũng như khả năng phục
pháp hình sự của các vụ án MBN cần nhận
hồi của nạn nhân./.
48 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 02 - 2021
LƯU THỊ LỊCH - TRẦN THU HƯƠNG
TÀI LIỆU THAM KHẢO
8. Heather, C, Amy, S & Lisa, G, 2008,
“Điều trị những tổn thương tiềm ẩn:
Điều trị sang chấn tâm lý và phục hồi sức
khỏe tâm thần dành cho nạn nhân bị mua
bán người”, Bộ Y tế và dịch vụ dân sinh
Hoa Kỳ.
1. Andrevski,H,Larsen,J&Lyneham,
S 2013, “Những rào cản trong quá trình
tham gia tố tụng hình sự của nạn nhân
bị mua bán – Nghiên cứu điển hình tại
In-đô-nê-xi-a”, Các xu hướng và vấn đề
liên quan tới tội phạm và tư pháp hình sự,
Viện Nghiên cứu Quốc gia Ô-xtrây-li-
a về Tội phạm học, số. 451. Xem hꢀps://
9. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
(ASEAN) 2011, “Báo cáo tiến độ về các ứng
phó tư pháp hình sự đối với buôn bán người
trong khu vực ASEAN”, Jakarta, ASEAN.
2. Andrew, K 2009, “Nghiên cứu về
những tác động của Bạo lực gia đình hiện
nay: Dành cho cơ quan thực thi pháp
luật, cơ quan truy tố, và thẩm phán”, Báo
cáo nghiên cứu Viện tư pháp quốc gia. Xem
10. Hiệp hội cảnh sát trưởng quốc gia
2010, “Ứng phó ban đầu với nạn nhân là tội
phạm MBN: Sách hướng dẫn cho cán bộ thực
thi pháp luật”, Truy cập ngày 27/5/2021,
Xem: hꢀp://ojp.gov/ovc/publications/infores/
pdꢃxt/FirstResponseGuidebook.pdf.
3. Antonio, P, Jean, K, & Orrin- Porter,
M 2019, “Làm việc cùng với nạn nhân bị
mua bán”, Tạp chí Trị liệu tâm lý đương đại,
số. 47, tr. 51-59.
11. Jean, C 2002, “Buôn bán người:
Quan điểm về giới và quyền”, Văn phòng
Liên Hợp Quốc về ma túy và tội phạm
(UNODC), số. 8.
4. BộngoạigiaoHoaKỳ,2020,Báocáovề
gov/wp-content/uploads/2020/06/2020-
TIP-Report-Complete-062420-FINAL.pdf
12. Jeaneꢁe, H, Colleen, O, Hanna, L,
Lilly,Y, Evelyn, M, Abbey, F, & Kyla,W
2015, “Hướng tới công lý: Các nhận thức về
công lý những nạn nhân bị mua bán”, Văn
phòng dịch vụ về tham chiếu Tư pháp
hình sự quốc gia, Chương trình Quốc
gia về tư pháp hình sự, truy cập ngày
ꢂles1/nꢃ/grants/251631.pdf.
5. Cathy, Z & Nicola, P, 2013, “Mua
bán người và Sức khỏe tâm thần: Những
vết thương của tôi ở bên trong tôi –
Chúng không biểu hiện bên ngoài”, Tạp
chí Brown về các vấn đề thế giới, tập. 19, số.
2, tr. 265-280.
13. John, M 2014, “Giải quyết các vụ án
MBN tại Tòa án tiểu bang: Bối cảnh và cách
tiếp cận” trong Hướng dẫn về mua bán người
dành cho Tòa án Tiểu bang, Human trafficking
and the state counts collaborative, tr. 5-36.
6. Erin, W, Nicloe, D & Heather, C
2008, “Điều trị sức khỏe tâm thần dựa
trên bằng chứng dành cho nạn nhân bị
MBN”, Bộ Y tế và dịch vụ dân sinh Hoa Kỳ,
tr.1-13.
7. Greene, W & Stuart, A2016, “Cách tiếp
14. Kara, A & Elizabeth, Y 2019, “Thắp
cận dựa trên trên việc phối hợp giải quyết vấn sáng Hy vọng: Di cư, bóc lột và nạn buôn bán
đề”, Tạp chí Guilford , New York, tr. 9-18.
trẻ em và thanh thiếu niên ở Việt Nam”.
Số chuyên đề 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 49
TIẾP CẬN DỰA TRÊN HIỂU BIẾT VỀ SANG CHẤN TÂM LÝ...
15. Kerr, L 2016, “Điều trị sang chấn
trong bối cảnh MBN: sự giao thoa của các
yếu tố tâm lý, xã hội và văn hóa”, trong
Ghafoori B, Caspi Y, Smith S, Quan điểm
quốc tế về căng thẳng và sang chấn, Nhà
xuất bản Khoa Học Nova, New York, tr.
199–221.
21. “Cải thiện ứng phó tư pháp chon
anh nhân là nhân chứng: Các tài liệu dành
cho công tố viên về Bạo lực đối với phụ
nữ”, Aequitas, truy cập ngày 27/5/2021,
Xem: hꢁp://aequitasresource.org/Improving-
the-Justice-System-Response-to-Witness-
Intimidation.cfm.
22. Smith, G 2010, “Ứng phó tư pháp
hình sự đối với MBN: Sự phát triển gần đây
ở tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng”, UNIAP,
Thái Lan.
16. Kiss, L, Pocock, N & Naisanguansri,
V 2015, “Sức khỏe của nam giới, nữ giới và
trẻ em hậu MBN tại Cam-pu-chia, Thái Lan
và Việt Nam”, Tạp chí sức khỏe thế giới
Lancet, số. 3, tr. 154–161.
23. Susan, K, Madhavi, L, Janelle,
K, Lich. L, Hanh. T, & Chinh. N, 2015,
“Những nạn nhân bị MBN tại Miền Bắc
Việt Nam: Hậu quả về tâm lý và xã hội”.
24. Temilosa, S, Mollie, G, John, C, &
Phuong, N 2018, “Liệu pháp thường được
sử dụng trong việc điều trị các di chứng
tâm lý do sang chấn của nạn nhân bị mua
bán?”, Tạp chí Tâm lý thực hành, tập.
24, số. 2.
17. Livia, O, Patrick, S, Hitesh, S, Daniel,
S, Johnny, D & Sian, O 2018, “Hậu quả
tâm lý của mua bán trẻ em: Một nghiên cứu
thuần về các trẻ em là nạn nhân của MBN
tiếp xúc với các dịch vụ sức khỏe tâm thần
thứ cấp”, Tạp chí PLoS One., tập 13, số. 3
DOI: 10.1371/journal.pone.0192321.
18. Macias-Konstantopoulos, W 2016,
“Mua bán người: Vai trò của y học trong việc
làm gián đoạn chu kỳ lạm dụng và bạo lực”,
25. Tổ chức di cư quốc tế (IOM)
2007, “Sổ tay hướng dẫn hỗ trợ trực
Ann Intern Med, số. 165(8), tr. 582- 588, tiếp cho nạn nhân bị mua bán người”.
IOM, Geneva. Xem: hꢁps://publications.
iom.int/books/iom-handbook-direct-
assistance-victims-trafficking-0.
26. Tổ chức di cư quốc tế (IOM) 2009,
“Hướng dẫn thực thi pháp luật và bảo vệ
nạn nhân bị mua bán trong các vụ án mua
bán người”, IOM, Jakarta, Indonesia.
jsp?lang=eng
DOI:10.7326/M16-0094.
19. Mazeda, H, Cathy, Z, Melanie,
A, Miriam, L, & Charloꢁe, W 2010, “Mối
quan hệ của chấn thương và rối loạn tâm thần
của trẻ em gái và phụ nữ là nạn nhân bị mua
bán và bóc lột tình dục”, Am J Public Health.,
số. 100(12), tr. 2442–2449. Xem: hꢁps://
ajph.aphapublications.org/doi/10.2105/
AJPH.2009.173229.
27. Tổ chức di cư quốc tế (IOM) 2018,
“Điều tra các vụ án mua bán người bằng
cách tiếp cận lấy nạn nhân làm trung tâm:
20. Moskowitz, A 2008, “Những thách
thức và ưu tiên trong việc truy tố và xử lý các
vụ án mua bán người”. Diễn đàn nghiên cứu Sổ tay hướng dẫn giảng viên về phòng,
chống mua bán người, để nâng cao năng
lục thực thi pháp luật tại Antigua and
và dữ liệu về mua bán người, truy cập ngày
org/artip-project/documents/Paper_J&P- Barbuda, Belize, Jamaica, and Trinidad
Challenges-TIP_22Oct08_fnl.pdf
and Tobago”.
50 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 02 - 2021
LƯU THỊ LỊCH - TRẦN THU HƯƠNG
28. Tổ chức theo dõi quyền con người
(HRW) 2013, “Cải thiện cách ứng phó của
cảnh sát đối với tấn công tình dục”, truy cập
org/sites/default/ꢂles/reports/improving-
SAInvest_0.pdf.
34. Văn phòng Liên Hợp Quốc về Ma
túy và Tội phạm (UNODC) 2008b, “Bộ
công cụ về phòng chống mua bán người”,
Vienna: UNODC, truy cập ngày 21/5/2021,
human-trafficking/HT_Toolkit08_
English.pdf
29. Tsutsumi A, Izutsu T, Poudyal AK,
Kato S & Marui E 2008, “Sức khỏe tinh thần
của nạn nhân bị bị mua bán tại Nê-pan”. Tạp
chí Soc Sci Med, số 8, tr. 1841–1847
35. Văn phòng Liên Hợp Quốc về Ma
túy và Tội phạm (UNODC), “Cẩm nang
phòng chống mua bán người dành cho
những cán bộ tư pháp hình sự, Chương
30. Trung tâm phát triển chính sách di
cư quốc tế (ICMPD) 2007, “Lắng nghe từ 12; Bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân trong các
nạn nhân: Kinh nghiệm từ việc xác định,
trao trả và hỗ trợ tại Đông Nam ChâuÂu”’,
Xem hꢁps://nexushumantrafficking.ꢂles.
wordpress.com/2015/03/listening-to-
victims.pdf
vụ án mua bán người, Chương 13; Nhu
cầu của nạn nhân trong quá trình tố tụng
hình sự trong các vụ án mua bán người,
Chương 11”.
36. Viktoria Kristiansson
&
Olga
31. Văn phòng Liên Hợp Quốc về Ma
túy và Tội phạm (UNODC) 2009b, “Luật
mẫu về phòng chống MBN” truy cập
org/documents/ human-trafficking/UNO-
DC_Model_Law_on_ Trafficking_in_Per-
sons.pdf
Trujillo, “Tích hợp cách ứng phó với sang
chấn”, xem video được ghi lại: hꢁp://
cfm?id=112.
37. Williamson, E, Dutch, N, & Claw-
son, H 2017, “Điều trị sức khỏe dựa trên
bằng chứng dành cho nạn nhân mua bán
người”, Bộ Y tế và dân sinh Hoa Kỳ,
Washington DC, truy cập ngày 31/5/2021,
based-mental-health-treatment-victims-
human-trafficking
32. Văn phòng Liên Hợp Quốc về Ma
túy và Tội phạm (UNODC) 2009a. “Sổ
tay hướng dẫn dành cho cán bộ tư pháp”.
Vienna: UNODC. Truy cập ngày
org/unodc/en/human-trafficking/2009/
anti-human-traffick.
38. Yvonne, R 2008, “Tác động của buôn
bán trẻ em, góc độ tâm lý, chính sách và xã
hội”, tập. 2, số. 1, tr. 13–18.
33. Văn phòng Liên Hợp Quốc về Ma
túy và Tội phạm (UNODC) 2008a, “Hành
trình đến công lý – Cẩm nang về can
thiệp tâm lý”, truy cập ngày 25/5/2021,
humantrafficking/India_Training_material/
Journey_to_Justice_-_Manual_on_
Psychosocial_Intervention.pdf
39. Zimmerman, C, Hossain, M, &
Waꢁs C 2011, “Mua bán người và sức khỏe:
Một mô hình khái niệm để cung cấp thông tin
về chính sách can thiệp và nghiên cứu”, Soc
Sci Med., số. 73, tr. 327–335.
Số chuyên đề 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 51
Bạn đang xem tài liệu "Tiếp cận dựa trên hiểu biết về sang chấn tâm lý của nạn nhân bị mua bán trong các vụ án mua bán người", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tiep_can_dua_tren_hieu_biet_ve_sang_chan_tam_ly_cua_nan_nhan.pdf

