Quyền bề mặt trong pháp luật dân sự và quyền sử dụng đất trong pháp luật đất đai của Việt Nam

BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
QUYỀN BỀ MẶT TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT  
TRONG PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI CỦA VIỆT NAM  
Nguyễn Diệu Anh*  
*ThS. Phòng Pháp chế và Tuân thủ Ngân hàng GPBank  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Quyền bề mặt là một quyền mới được quy định trong Bộ luật Dân sự năm  
2015. Khác với nhiều nước trên thế giới ghi nhận quyền bề mặt gắn với  
chế độ tư hữu về đất đai, Việt Nam thực hiện chế độ sở hữu toàn dân về đất  
đai. Theo đó, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và trên cơ sở thẩm quyền  
luật định, Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho các chủ thể khác sử dụng.  
Trong phạm vi bài viết này, tác giả so sánh quyền bề mặt trong Bộ luật Dân  
sự năm 2015 và quyền sử dụng đất trong Luật Đất đai năm 2013, từ đó đề  
xuất kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Dân sự về quyền bề mặt.  
Từ khóa: Quyền bề mặt, quyền  
sử dụng đất, Bộ luật Dân sự năm  
2015, Luật Đất đai năm 2013.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 05/3/2021  
: 25/3/2021  
: 28/3/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
The surface right is a new provision stipulated in the Civil Code of 2015.  
Unlike many countries in the world that recognize the surface right  
associated with private ownership of land, Vietnam takes the enforcement  
of the land ownership of the whole people. Accordingly, the State is the  
representative of the owner and on the basis of statutory authority, the  
State grants land use rights to other subjects to use. Within the scope of this  
article, the author makes a comparision of the surface rights in the Civil  
Code of 2015 and land use rights in the Law on Land of 2013, thereby  
proposing recommendations to improve the provisions on surface right in  
the Civil Code.  
Keywords: Surface rights, land  
use rights, Civil Code of 2015,  
Law on Land of 2013.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 05 Mar. 2021  
: 25 Mar. 2021  
: 28 Mar. 2021  
Approved  
Mã cổ đại trước công nguyên1. Do chịu ảnh  
1. Dẫn nhập  
hưởng từ Luật La Mã, nhiều quốc gia châu  
Âu cũng sớm ghi nhận quyền bề mặt trong  
pháp luật dân sự của họ2. Trải qua các giai  
đoạn lịch sử, pháp luật châu Âu lại tiếp tục  
ảnh hưởng đến pháp luật các quốc gia khác.  
Theo cách hiểu của Luật La Mã, quyền bề  
mặt gắn với chế độ tư hữu về đất đai, và  
mang nội dung là quyền sử dụng bề mặt đất  
Quyền bề mặt là một quyền mới được  
quy định tại Bộ luật Dân sự (BLDS) năm  
2015. BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005  
đều không quy định về loại quyền này. Tuy  
nhiên, trong hệ thống pháp luật ở nhiều  
quốc gia trên thế giới, quyền bề mặt không  
phải là một quyền mới. Thuật ngữ “Quyền  
bề mặt” (Superficies) bắt nguồn từ Luật La  
1 Nguyễn Thị Nhung, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Nghệ An, Tìm hiểu về quyền bề mặt theo  
Tim-hieu-ve-Quyen-be-mat-theo-quy.aspx, truy cập ngày 08/02/2021.  
2 PGS.TS. Trần Thị Huệ, Trường Đại học Luật Hà Nội, Một số khía cạnh pháp lý về quyền bề mặt trong quy  
dinh-cua-blds-2015/, truy cập ngày 08/02/2021.  
Số 09(433) - T5/2021  
17  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
để tạo lập các tài sản gắn liền với đất. Căn  
cứ để xác lập quyền bề mặt là từ thỏa thuận  
và trả chi phí “thuê đất” với chủ sở hữu thửa  
đất đó3.  
thể khác. Đặc điểm đặc trưng của quyền  
bề mặt là quyền này được xác lập trên tài  
sản thuộc sở hữu của chủ thể khác (quyền  
sử dụng đất của người có quyền sử dụng  
đất). Đặc điểm này giúp phân biệt quyền  
bề mặt nói riêng, các quyền khác đối với  
tài sản nói chung với quyền sở hữu - vật  
quyền chính đối với tài sản4. Đây cũng  
là đặc điểm cho thấy tính phụ thuộc của  
quyền bề mặt. Mặt khác, chủ thể mang  
quyền bề mặt được trực tiếp chiếm hữu,  
sử dụng - khai thác quyền sử dụng đất.  
So với chủ thể sở hữu quyền sử dụng đất,  
chủ thể có quyền bề mặt không có quyền  
định đoạt đối với quyền sử dụng đất như  
chủ thể sở hữu. Tuy nhiên, việc sử dụng,  
khai thác đất đai của chủ thể mang quyền  
bề mặt cũng có tính độc lập, không phụ  
thuộc ý chí của chủ sở hữu trong suốt thời  
hạn có hiệu lực của quyền.  
Việt Nam thực hiện chế độ sở hữu toàn  
dân về đất đai; Nhà nước là đại diện chủ sở  
hữu, trao quyền sử dụng đất cho các chủ thể  
khác nhau trong xã hội. Do đó, khi áp dụng  
quyền bề mặt vào pháp luật dân sự, Việt  
Nam cần có sự linh hoạt trong nhận thức  
và ứng dụng để tránh nhầm lẫn với quyền  
sử dụng đất được quy định trong Luật Đất  
đai năm 2013. Ví dụ: A ký hợp đồng thuê  
đất của B. Thực tế A là người đang sử dụng  
đất một cách hợp pháp nhưng A lại không  
được thừa nhận với tư cách là “người sử  
dụng đất” mà phải là B, người đứng tên trên  
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó,  
A chỉ có thể thuê để sử dụng đất, xây dựng,  
khai thác, thế chấp các tài sản trên đất chứ  
không thể giao kết các hợp đồng khác như  
chuyển nhượng, tặng cho, để lại thừa kế  
quyền sử dụng đất được bởi những quyền  
năng này thuộc về B.  
Bên cạnh đó, quyền bề mặt còn có một  
số đặc điểm khác khi so sánh với quyền  
hưởng dụng, quyền đối với bất động sản  
liền kề, cụ thể:  
Ví dụ trên cho thấy sự cần thiết phải phân  
biệt để làm rõ hai khái niệm quyền bề mặt  
trong pháp luật dân sự và quyền sử dụng đất  
trong pháp luật đất đai trong thực tiễn thực  
thi pháp luật ở Việt Nam.  
- Về phạm vi tác động của quyền bề mặt  
Quyền bề mặt chỉ xác lập phạm vi trên  
quyền sử dụng đất của người được Nhà  
nước trao quyền sử dụng đất (chủ sở hữu).  
Trong khi đó, phạm vi của các quyền tài sản  
khác được quy định rộng hơn, như: phạm vi  
quyền hưởng dụng có thể xác lập trên mọi  
tài sản, phạm vi quyền đối với bất động sản  
liền kề có thể xác lập trên quyền sử dụng  
đất của người khác.  
2. Nhận diện quyền bề mặt trong pháp  
luật dân sự và quyền sử dụng đất trong  
pháp luật đất đai tại Việt Nam  
2.1. Nhận diện quyền bề mặt trong Bộ  
luật Dân sự năm 2015  
- Về căn cứ xác lập quyền bề mặt  
Theo quy định của BLDS năm 2015,  
quyền bề mặt là quyền của một chủ thể  
đối với mặt đất, mặt nước, khoảng không  
gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất  
mà quyền sử dụng đất đó thuộc về chủ  
Theo quy định của Điều 268 BLDS năm  
2015, quyền bề mặt được xác lập theo quy  
định của luật, theo thỏa thuận hoặc theo di  
chúc. Đây cũng là căn cứ xác lập của quyền  
3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), Giáo trình luật La Mã, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.  
4 PGS.TS. Trần Thị Huệ, Trường Đại học Luật Hà Nội, Một số khía cạnh pháp lý về quyền bề mặt trong quy  
dinh-cua-blds-2015/, truy cập ngày 08/02/2021.  
18  
Số 09(433) - T5/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
hưởng dụng. Tuy nhiên, quyền đối với bất  
động sản liền kề có thể xác lập theo ba căn  
cứ này và theo địa thế tự nhiên (Điều 246  
BLDS năm 2015).  
một cách hiệu quả, góp phần xử lý tài sản  
nhanh chóng hơn tại các tổ chức tín dụng.  
Bởi lẽ, trên thực tế xảy ra nhiều trường hợp  
thuê đất theo các quy định của pháp luật  
dân sự và pháp luật đất đai của nước ta  
trước khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu  
lực thi hành; bên thuê quyền sử dụng đất  
chỉ có nhu cầu khai thác mặt đất mà không  
có nhu cầu khai thác lòng đất cũng như  
không gian bên trên. Trong khi đó, phần  
không gian bên trên và lòng đất bên dưới  
hoàn toàn có thể sử dụng độc lập với quá  
trình sử dụng mặt đất và việc sử dụng này  
không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất  
của bên thuê đất. Tính hiệu quả kinh tế của  
quyền bề mặt được thể hiện thông qua ví  
dụ sau: A là chủ sở hữu quyền sử dụng đất,  
A cấp cho B quyền bề mặt nuôi cá và trồng  
hoa sen trong ao nằm trên mảnh đất của  
A, cho C quyền bề mặt xây nhà sàn, kinh  
doanh ăn uống trên mặt ao, cho D quyền  
xây cầu vượt phía trên mảnh đất. Như vậy,  
từ bề mặt, không gian bên trên, lòng đất  
đều được sử dụng và khai thác tối đa. Đây  
cũng là một trong những ưu điểm của chế  
định quyền bề mặt mà những quy định về  
quyền sử dụng đất hiện hành theo pháp  
luật đất đai không có được.  
- Về thời hạn của quyền bề mặt  
BLDS năm 2015 quy định thời hạn của  
quyền bề mặt được xác định theo quy định  
của pháp luật, theo thỏa thuận hoặc theo di  
chúc nhưng không vượt quá thời hạn của  
quyền sử dụng đất. Có thể thấy rằng, nhằm  
tạo sự đảm bảo cho người có quyền bề mặt  
có thời gian dài ổn định tạo lập tài sản gắn  
liền với đất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc  
kinh doanh, sản xuất trên đất mà pháp luật  
dân sự không chỉ Việt Nam mà cả các quốc  
gia khác trên thế giới đều quy định quyền bề  
mặt có tính dài hạn. Ví dụ, Bộ luật Dân sự  
Nhật Bản quy định thời hạn này tối đa là 50  
năm, Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái  
Lan quy định thời hạn này là cả đời chủ sở  
hữu hoặc của người có quyền bề mặt,5 …  
- Xử lý tài sản sau khi quyền bề mặt  
chấm dứt  
Trường hợp chủ thể quyền bề mặt không  
xử lý tài sản trước khi quyền bề mặt chấm  
dứt thì quyền sở hữu tài sản đó thuộc về chủ  
thể có quyền sử dụng đất kể từ thời điểm  
quyền bề mặt chấm dứt, trừ trường hợp chủ  
thể có quyền sử dụng đất không nhận tài sản  
đó (khoản 2 Điều 273 BLDS năm 2015).  
Đây là một trong những vấn đề phức tạp  
nhất khi áp dụng trong thực tiễn của quyền  
bề mặt.  
Bên cạnh đó, quy định của Điều 273  
BLDS năm 2015 về xử lý tài sản khi quyền  
bề mặt chấm dứt sẽ góp phần giải quyết  
những vấn đề phát sinh trong thực tiễn như:  
xử lý tài sản trên đất trong trường hợp thu  
hồi đất khi hết thời hạn thuê đất; xử lý tài  
sản bảo đảm khi thu hồi nợ xấu do Ngân  
hàng thực hiện theo Nghị quyết số 42/2017/  
QH14 ngày 21/6/2017 quy định về thí điểm  
xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng do  
Quốc hội ban hành; tranh chấp trong quản  
lý, sử dụng nhà chung cư;…  
Việc ghi nhận quyền bề mặt có ý nghĩa  
nhất định đối với pháp luật Việt Nam và  
được đánh giá sẽ có tác động tích cực đến  
nền kinh tế nói chung và ngành bất động  
sản nói riêng. Quy định này giúp giá trị  
kinh tế của đất đai luôn được khai thác  
5 ThS. Lê Đăng Khoa - Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Quyền bề mặt theo quy định của BLDS năm 2015  
và dự báo một số vướng mắc, bất cập, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/giai-dap-phap-luat/vi-vay-viec-tiep-can-  
o-cac-goc-do-khac-nhau-ca-ve-mat-ly-luan-quy-dinh-cua-phap-luat-cac-quy-dinh-quoc-te-co-lien-quan-nhu-  
cong-uoc-newyork-luat-mau-uncitral-binh-luan-an-la-rat-can-thie, truy cập ngày 08/02/2021;  
Số 09(433) - T5/2021  
19  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
2.2. Nhận diện quyền sử dụng đất trong  
Luật Đất đai năm 2013  
đặc điểm đặc trưng tiêu biểu của quyền sử  
dụng đất trong pháp luật đất đai Việt Nam.  
Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai ở  
nước ta phù hợp với chế độ chính trị, mục  
tiêu xã hội của Nhà nước trong giai đoạn  
nhất định7. Nhằm hạn chế những tranh  
chấp, khiếu kiện đối với đất đai, cần phải  
có những chính sách pháp luật đúng đắn để  
khuyến khích người sử dụng đất đầu tư, cải  
tạo đất và có chính sách về giá đất phù hợp  
với từng thời kỳ và sát với giá cả thị trường.  
Theo quy định của Luật Đất đai năm  
2013, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà  
nước đại diện chủ sở hữu. Nhà nước trao  
quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất  
thông qua hoạt động giao đất, cho thuê đất,  
công nhận quyền sử dụng đất. Theo quy  
định của Luật Đất đai năm 2013, quyền sử  
dụng đất mang một số đặc điểm sau đây:  
- Quyền sử dụng đất là quyền phái sinh  
từ quyền sở hữu toàn dân về đất đai.  
3. Phân biệt quyền bề mặt trong pháp  
luật dân sự và quyền sử dụng đất trong  
pháp luật đất đai  
- Quyền sử dụng đất phát sinh trên cơ sở  
quy định của pháp luật đất đai. Có thể thấy  
rằng, căn cứ, hình thức làm phát sinh và  
chấm dứt quyền sử dụng đất là do pháp luật  
đất đai quy định. Bên cạnh đó, những quyền  
năng chung của quyền sử dụng đất như:  
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng  
đất; hưởng thành quả lao động, kết quả đầu  
tư trên đất; được Nhà nước bảo hộ khi người  
khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về  
đất đai của mình và những quyền năng riêng  
của quyền sử dụng đất phụ thuộc vào loại đất  
cụ thể và hình thức làm phát sinh quyền sử  
dụng đất như chuyển đổi, chuyển nhượng,  
cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp  
vốn quyền sử dụng đất… cũng đều do pháp  
luật đất đai quy định rõ ràng, cụ thể6.  
3.1. Về chủ thể  
Chủ thể quyền sử dụng đất bao gồm 07  
nhóm chủ thể được Nhà nước giao, cho thuê,  
công nhận quyền hoặc chuyển quyền. Chủ  
thể của quyền bề mặt rộng hơn. Hầu hết mọi  
chủ thể đều có thể có quyền bề mặt thông  
qua các căn cứ xác lập quyền theo thỏa thuận  
hoặc theo di chúc. Sự khác nhau này có thể  
dẫn tới trường hợp một số chủ thể theo pháp  
luật đất đai không được cấp quyền sử dụng  
đất nhưng vẫn có thể thông qua quyền bề  
mặt để khai thác và sử dụng đất như quyền  
năng sử dụng đất của chủ sở hữu.  
3.2. Về quyền năng của chủ thể được  
cấp quyền  
- Quyền sử dụng đất bị giới hạn trong  
thời hạn sử dụng đất đối với từng loại đất cụ  
thể. Khi hết thời hạn sử dụng đất mà không  
được Nhà nước gia hạn thì quyền sử dụng  
đất của các chủ thể bị chấm dứt.  
Như đã phân tích ở trên, người sở hữu  
quyền sử dụng đất và người được cấp quyền  
bề mặt là hai chủ thể tách biệt nhau. Hai chủ  
thể này có thể là một, và khi đó quyền bề  
mặt sẽ chấm dứt (khoản 2 Điều 272 BLDS  
năm 2015). Chủ sở hữu quyền sử dụng  
đất được thực hiện 3 quyền năng là quyền  
Có thể thấy rằng, chế độ sở hữu toàn  
dân về đất đai là nguồn gốc dẫn đến các  
6 Nguyễn Thành Luân, Đoàn 871, Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng, Bản chất pháp lý của quyền sử dụng  
o-viet-nam, truy cập ngày 02/3/2021.  
7
ThS. Lê Hồng Hạnh, Đại học Vinh, Bản chất pháp lý của quyền sử dụng đất trong pháp luật Việt Nam,  
http://tuphaptamky.gov.vn/2014/news/Van-ban-phap-luat/Quyet-dinh-48-2014-QD-UBND-cua-UBND-tinh-  
Quang-Nam-Ban-hanh-quy-dinh-ve-gia-dat-bang-gia-dat-thoi-ky-2015-2019-tren-dia-ban-tinh-1061.html,  
truy cập ngày 02/3/2021.  
20  
Số 09(433) - T5/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định  
đoạt đối với tài sản của mình. Trong khi đó,  
chủ sở hữu quyền bề mặt chỉ được sử dụng  
quyền năng: chiếm hữu và sử dụng đất và  
tài sản gắn liền với đất.  
nước, khoảng không hay còn gọi là thời  
điểm chuyển giao trên thực tế khi người có  
quyền bề mặt tiếp nhận sử dụng quyền sử  
dụng đất, hoặc theo thỏa thuận, hoặc theo  
quy định của pháp luật có liên quan. Quy  
định này là chưa hợp lý, tác giả cho rằng, vì  
quyền bề mặt gắn với quyền sở hữu tài sản  
gắn liền trên đất, có liên quan tới các quyền  
tài sản khác nên thời điểm có hiệu lực của  
quyền bề mặt cần phải được quy định cứng  
và đồng nhất như quyền sử dụng đất. Theo  
quy định của Điều 5 Luật Công chứng năm  
2014, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử  
dụng đất phải được công chứng, chứng thực  
và có hiệu lực kể từ thời điểm công chứng,  
chứng thực. Tương tự, tác giả cho rằng, hợp  
đồng chuyển giao quyền bề mặt được công  
chứng, chứng thực và quyền bề mặt có hiệu  
lực kể từ thời điểm công chức, chứng thực.  
Khi đã xác lập quyền bề mặt cho chủ thể  
có quyền bề mặt, chủ sở hữu quyền sử dụng  
đất sẽ không còn quyền năng sử dụng đối  
với bề mặt đất nữa. Đối với tài sản gắn liền  
trên đất được tạo lập bởi người có quyền bề  
mặt, chủ sở hữu quyền sử dụng đất không  
có quyền sở hữu đối với những tài sản này.  
Mặt khác, người có quyền bề mặt chỉ có  
thể sử dụng đất để trồng cây, canh tác, xây  
dựng công trình và có quyền sở hữu đối với  
tài sản trên đất nhưng không có quyền sở  
hữu, định đoạt quyền sử dụng đất như chủ  
sở hữu.  
3.3. Thực hiện quyền chuyển nhượng  
của chủ thể  
Thứ hai, pháp luật dân sự hiện hành chưa  
quy định về đăng ký quyền bề mặt. Tác giả  
cho rằng, việc đăng ký quyền bề mặt sẽ  
giúp chủ thể sở hữu quyền được bảo vệ và  
có hiệu lực đối kháng với bên thứ ba, hạn  
chế rủi ro tranh chấp quyền bề mặt. Vì vậy,  
cần bổ sung quy định về đăng ký quyền bề  
mặt; trình tự, thủ tục đăng ký quyền bề mặt  
tương tự các quy định về đăng ký quyền sở  
hữu tài sản hiện hành.  
Pháp luật đất đai quy định khá chặt chẽ  
và cụ thể việc thực hiện chuyển nhượng  
quyền sử dụng đất. Trong khi đó, pháp luật  
dân sự mới chỉ bao hàm những quy định  
chung về quyền bề mặt. Vì vậy, liệu có mâu  
thuẫn không nếu người có quyền bề mặt  
muốn chuyển nhượng nhưng người sở hữu  
quyền sử dụng đất không đồng ý cấp quyền  
bề mặt cho đối tượng mà người có quyền  
bề mặt muốn chuyển nhượng. Bởi lẽ, về  
cơ bản, quyền bề mặt vẫn là một vật quyền  
phụ thuộc.  
Thứ ba, do lợi ích kinh tế của quyền bề  
mặt, trường hợp cùng một quyền sử dụng  
đất nhưng có nhiều chủ thể cùng thực hiện  
khai thác khi phân tách việc sử dụng đất  
thành khai thác trên mặt đất, mặt nước,  
khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước  
và lòng đất. Điều này tất dẫn đến xung đột  
lợi ích giữa các chủ thể khai thác quyền bề  
mặt. Để hạn chế những tranh chấp trong  
quá trình khai thác quyền bề mặt, đồng thời  
tạo cơ sở cho việc giải quyết khi tranh chấp  
phát sinh, cần bổ sung quy định về trách  
nhiệm của các chủ thể đối với bề mặt được  
khai thác và trách nhiệm giữa các chủ thể  
4. Kiến nghị  
Thứ nhất, theo quy định của Điều 269  
BLDS năm 2015, quyền bề mặt có hiệu  
lực từ thời điểm chủ thể có quyền sử  
dụng đất chuyển giao mặt đất, mặt nước,  
khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước  
và lòng đất cho chủ thể có quyền bề mặt,  
trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc  
luật liên quan có quy định khác. Như vậy,  
thời điểm có hiệu lực của quyền bề mặt có  
thể là thời điểm chuyển giao mặt đất, mặt  
được cấp quyền bề mặt  
Số 09(433) - T5/2021  
21  
pdf 5 trang Thùy Anh 11320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quyền bề mặt trong pháp luật dân sự và quyền sử dụng đất trong pháp luật đất đai của Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquyen_be_mat_trong_phap_luat_dan_su_va_quyen_su_dung_dat_tro.pdf