Thực hiện pháp luật hình sự và hoạt động áp dụng pháp luật hình sự: Những vấn đề lý luận

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VÀ HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG  
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN  
HỒ SỸ SƠN*  
Thực hiện pháp luật hình sự và hoạt động áp dụng pháp luật hình sự là những vấn  
đề mới mẻ trong khoa học luật hình sự của nước ta. Bài viết nghiên cứu những vấn đề lý  
luận về thực hiện và áp dụng pháp luật hình sự để đi tới một số nhận thức thống nhất  
trong các nội dung nêu trên.  
Từ khóa: Pháp luật hình sự, thực hiện pháp luật hình sự, áp dụng pháp luật hình sự.  
Ngày nhận bài: 16/3/2021; Biên tập xong: 24/3/2021; Duyệt đăng: 09/4/2021  
Criminal law implementation and application are new issues in our science of  
criminal law. This article studies theoretical issues about the implementation and  
application of criminal law to make uniꢀed perception in these mentioned maꢁers.  
Keywords: Criminal law, criminal law implementation, criminal law application.  
ấn đề thực hiện pháp luật đã được pháp luật hình sự của một số cá nhân, cơ  
đề cập nhiều trong lý luận chung  
về pháp luật, nhưng chưa được  
quan nhà nước có thẩm quyền, xét đến  
cùng cũng là hệ lụy của nhiều cách hiểu  
khác nhau, t thống nhất, thậm chí thiếu  
chính xác về thực hiện pháp luật hình sự  
cũng như về hoạt động áp dụng pháp  
luật hình sự. Chính yêu cầu bảo vệ công  
lý, bảo vệ quyền con người, quyền công  
dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo  
vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích  
hợp pháp của tổ chức, cá nhân đã đặt ra  
nhu cầu nghiên cứu một cách thấu đáo  
tất cả các khía cạnh lý luận của thực hiện  
pháp luật hình sự và của hoạt động áp  
dụng pháp luật hình sự. Bài viết dưới đây  
được thực hiện nhằm góp phần phúc đáp  
nhu cầu bức thiết nói trên.  
V
nghiên cứu trong các khoa học pháp lý  
chuyên ngành, trong đó có khoa học luật  
hình sự. Cho mãi đến thời gian gần đây,  
trong khoa học luật hình sự nước ta mới  
xuất hiện một số công trình nghiên cứu về  
áp dụng pháp luật hình sự1 vốn được biết  
đến như một hình thức thực hiện pháp  
luật hình sự. Bꢀi vậy, một số vấn đề lý  
luận về thực hiện pháp luật hình sự cũng  
như về hoạt động áp dụng pháp luật hình  
sự chưa được nhận thức một cách đầy  
đủ và thống nhất đã và đang tác động  
không tốt đến chất lượng hoạt động áp  
dụng pháp luật hình sự ꢀ nước ta. Tình  
trạng không tuân thủ pháp luật, không  
thi hành pháp luật, không sử dụng (vận  
dụng) pháp luật trong hoạt động áp dụng  
1. Khái niệm và đặc điểm của thực  
hiện pháp luật hình sự  
Để có thể nhận thức một cách thấu  
đáo về thực hiện pháp luật hình sự, trước  
hết cần làm sáng tỏ khái niệm “thực hiện  
pháp luật”. Cho đến nay, trong khoa học  
1ꢁ Xem:* Hồ Sỹ Sơn, Áp dụng pháp luật hình sự: Một số  
vấn đề lý luận, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, số  
2/2018, tr. 3-12.  
* Võ Khánh Vinh, Áp dụng pháp luật hình sự: Những  
vấn đề lý luận và thực tiễn (Kỳ I), Tạp chí Khoa học  
Kiểm sát, số 03 (38) 2020, tr. 6-15; (Kỳ II), số 04(40)  
2020, tr. 3-14.  
* Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Phó Giám đốc Học viện  
Khoa học xã hội  
Số 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát  
3
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VÀ HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG...  
pháp lý trong và ngoài nước, “thực hiện vi nào nguy hiểm cho xã hội là tội phạm;  
pháp luật” được hiểu theo nhiều cách quy định ranh giới tội phạm và hình phạt;  
quy định các loại hành vi hợp pháp riêng  
biệt của công dân, chứ không hướng tới  
“xây dựng” những hình thức hoạt động  
thực tiễn của con người. Nói cách khác,  
pháp luật hình sự không chú trọng đến  
việc điều chỉnh và việc thực hiện hành  
vi hợp pháp, có ích của con người cho xã  
hội vốn được nhấn mạnh trong các quan  
điểm trên đây về thực hiện pháp luật. Sự  
điều chỉnh của pháp luật hình sự không  
hẳn là cho phép chủ thể thực hiện hành  
vi hợp pháp, có ích cho xã hội (đó chỉ là  
một khía cạnh nhưng không phải là quan  
trọng nhất của sự điều chỉnh pháp luật  
hình sự) mà chủ yếu là cấm chủ thể thực  
hiện hành vi tội phạm chống lại xã hội.  
Điều chỉnh hành vi có nghĩa là đưa hành  
vi nào đó vào hệ thống và trật tự hóa nó  
theo những quy tắc nhất định. Điều chỉnh  
hành vi chỉ xảy ra khi mà chủ thể hành vi  
nhận thức được rằng hành vi đó bị pháp  
luật hình sự cấm thực hiện.  
Tất nhiên, chủ thể không thể nhận thức  
được điều đó nếu không có các quy phạm  
pháp luật hình sự thuộc Phần các tội phạm  
cụ thể của Bộ luật hình sự (BLHS). Về vấn  
đề này, có thể chia sẻ với quan điểm cho  
rằng “pháp luật hình sự điều chỉnh khi bảo  
vệ; khi bảo vệ, pháp luật hình sự điều chỉnh”6.  
Như vậy, có cơ sꢀ để nói về cơ chế bảo vệ  
của pháp luật hình sự nhiều hơn là nói về  
cơ chế điều chỉnh của pháp luật hình sự.  
Trong mọi trường hợp, điều quan trọng  
trước hết là xác định trước những quan  
hệ xã hội nào cần được bảo vệ bằng pháp  
luật hình sự, chứ không làm ngược lại là  
xác định những quan hệ xã hội nào cần  
điều chỉnh bằng pháp luật hình sự. Điều  
chỉnh và bảo vệ, xét về thực chất cũng chỉ  
là hai bình diện khác nhau của cơ chế tác  
khác nhau. Chẳng hạn, có quan điểm cho  
rằng, “thực hiện pháp luật” được hiểu  
“là hoạt động, hành vi của các chủ thể pháp  
luật phù hợp các quy định của pháp luật”2.  
Thực hiện pháp luật, theo một quan điểm  
khác “là việc thực hiện những khả năng pháp  
luật mà Nhà nước quy định và bảo đảm để  
đưa chúng vào cuộc sống thông qua hành vi  
của con người và hoạt động của cơ quan, tổ  
chức”3. Cũng có quan điểm khẳng định:  
“Thực hiện pháp luật là việc chuyển tải nội  
dung của hành vi hợp pháp của các chủ thể  
dưới hình thức sử dụng các quyền thuộc về  
họ, thi hành các nghĩa vụ và tuân theo các điều  
cấm nhằm thỏa mãn nhu cầu và lợi ích của các  
chủ thể pháp luật, đạt được mục đích của pháp  
luật”4. Lại có quan điểm cho rằng “Thực  
hiện pháp luật là hành vi xã hội của các chủ thể  
pháp luật, vốn hàm chứa trong các quy phạm  
pháp luật, là hoạt động thực tiễn nhằm thực  
hiện các quyền và thi hành các nghĩa vụ”5.  
Kết quả phân tích nội dung của các  
quan điểm trên đây về thực hiện pháp  
luật cho thấy, chúng không thỏa mãn đầy  
đủ các yêu cầu của thực hiện pháp luật  
hình sự. Vấn đề là ꢀ chỗ, cùng với việc  
bảo vệ các quan hệ xã hội nền tảng, pháp  
luật hình sự thực hiện nhiệm vụ bảo vệ  
quyền con người, quyền công dân, mà xét  
đến cùng là bảo vệ quyền pháp lý, bảo  
đảm quyền được hành động hợp pháp  
của họ bằng cách quy định những hành  
2ꢁ Xem: Võ Khánh Vinh, (Chủ biên), Giáo trình Lý  
luận chung về Nhà nước và Pháp luật, NXB Công an  
nhân dân, Hà Nội, 2008, tr. 334.  
3ꢁ Xem: Leushin V. N, Thực hiện và áp dụng pháp  
luật, trong sách “Lý luận về Nhà nước và Pháp luật”,  
Mátxcova, 2000, tr.392 (Tiếng Nga).  
4ꢁ Xem: Aphanax’ev V. S, Các khái niệm cơ bản về  
pháp luật và các hiện tượng pháp lý, Matxcova, 1997,  
tr.40 (Tiếng Nga).  
5ꢁ Xem:Vengherov A.B, Lý luận về Nhà nước và pháp 6ꢁ Xem: Koghan V.M., Cơ chế xã hội của sự tác động của  
luật, Matxcova, 2000, tr. 428 (Tiếng Nga)  
pháp luật hình sự, Matxcova, 1983, tr. 144 (Tiếng Nga)  
4
Khoa học Kiểm sát  
Số 02 - 2021  
HỒ SỸ SƠN  
động thống nhất của pháp luật hình sự. pháp luật hình sự thể hiện sớm hơn so  
Hơn thế nữa, sự tác động đó được bắt đầu với thời điểm xuất hiện của tình huống xã  
ngay từ thời điểm BLHS có hiệu lực pháp hội cụ thể trong đời sống xã hội. Vai trò  
luật vì quy phạm pháp luật hình sự không xã hội của quy phạm pháp luật hình sự  
chỉ chứa đựng quy tắc hành vi (cách xử  
sự) mà còn chứa đựng cả chế tài được dự  
liệu đối với sự vi phạm quy tắc hành vi  
đó. Chủ thể vi phạm quy tắc hành vi, vì  
vậy không thể không chịu hậu quả pháp  
lý bất lợi (tiêu cực) tương thích với chế tài  
của quy phạm pháp luật hình sự. Chính  
vì vậy, các bình diện trên đây của sự tác  
động của pháp luật hình sự không thể  
tách rời nhau mà thống nhất với nhau.  
thể hiện ꢀ sự định hướng trước cho chủ  
thể (cá nhân hoặc pháp nhân thương mại)  
“cách” thực hiện quy tắc hành vi đã được  
ghi nhận trong quy phạm pháp luật hình  
sự khi giải quyết tình huống xã hội tướng  
ứng, ngăn chặn chủ thể gây hậu quả nguy  
hiểm cho xã hội do không tuân thủ quy  
tắc hành vi đã được ghi nhận trong quy  
phạm pháp luật hình sự.  
Việc tăng cường vai trò xã hội của pháp  
luật hình sự chủ yếu gắn với việc “đưa”  
đến đâu các tình huống xã hội vào quy  
phạm pháp luật hình sự và thông tin đến  
đâu nội dung của quy phạm pháp luật đó  
cho chủ thể. Việc giải quyết những tình  
huống xã hội đó cuối cùng lại tùy thuộc  
vào việc chủ thể có tuân thủ hay không  
tuân thủ hoặc vi phạm trật tự mà quy  
phạm pháp luật hình sự đã quy định. Tuy  
nhiên, chủ thể giải quyết các tình huống  
xã hội đó trên cơ sꢀ ý thức pháp luật vốn  
được hình thành (thường là khá lâu trước  
khi xuất hiện các tình huống xã hội tương  
ứng) dưới sự tác động pháp lý - đạo đức  
của pháp luật hình sự. Khꢀi điểm của sự  
tác động đó, xét về mặt thời gian, trùng  
khớp với khꢀi điểm có hiệu lực của BLHS.  
Các quan hệ điều chỉnh và các quan  
hệ bảo vệ cố nhiên xuất hiện từ thời điểm  
BLHS có hiệu lực pháp luật. Những quan  
hệ này hướng về tương lai vì định hướng  
chính của chúng là chủ thể thực hiện hành  
vi có ích cho xã hội hoặc kiềm chế, không  
thực hiện hành vi tội phạm. Việc thực hiện  
bất kỳ hành vi tội phạm cụ thể nào đó đều  
chứng tỏ có sự vi phạm quy tắc hành vi (tức  
quan hệ điều chỉnh của luật hình sự) đã  
được ghi nhận trong quy phạm pháp luật  
hình sự tương ứng. Đối với chủ thể có lỗi  
trong việc thực hiện hành vi tội phạm, hình  
Tương tự, các quan hệ điều chỉnh và  
các quan hệ bảo vệ của pháp luật hình  
sự cũng thống nhất với nhau. Tuy nhiên,  
trong các mối quan hệ điều chỉnh - bảo vệ  
của pháp luật hình sự, quan hệ điều chỉnh  
của pháp luật hình sự có trước quan hệ  
bảo vệ của nó. Về vấn đề này, không thể  
không chia sẻ với quan điểm cho rằng,  
“các quan hệ điều chỉnh bắt đầu xuất hiện từ  
khi xuất hiện các tình huống cụ thể có tính  
điển hình và có ý nghĩa về mặt pháp luật được  
quy định trong bộ phận giả định của quy phạm  
pháp luật hình sự. Những tình huống đó hình  
thành trong các lĩnh vực khác nhau của đời  
sống xã hội. Cùng với sự xuất hiện của các  
tình huống xã hội cụ thể, quy phạm pháp luật  
hình sự bắt đầu thực hiện vai trò xã hội của  
mình: đối với đa số hành vi của con người,  
quy phạm pháp luật hình sự xác lập trật tự  
đã được nhà làm luật mô hình hóa trong quy  
phạm pháp luật hình sự”7. Trong khi đó, mô  
hình của tất cả những tình huống xã hội  
có tính điển hình và có ý nghĩa về mặt  
pháp luật cần phải được nhà làm luật quy  
định trong quy phạm pháp luật hình sự  
trước khi chúng xuất hiện trên thực tế.  
Chính vì vậy, vai trò xã hội của quy phạm  
7ꢁ Xem: Prokhorov V.S., Cơ chế điều chỉnh của luật  
hình sự: Quy phạm, quan hệ pháp luật, trách nhiệm;  
Krasnodar, 1989, tr.75 (Tiếng Nga)  
Số 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát  
5
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VÀ HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG...  
phạt được quy định trước trong quy phạm sự mang tính chất phục vụ và trực thuộc.  
pháp luật hình sự cụ thể dường như không Bꢀi lẽ, pháp luật hình sự được định hướng  
có hiệu quả, không kiềm chế được chủ thể bảo vệ các quan hệ xã hội có tính nền tảng,  
đó thực hiện tội phạm, nghĩa là không bảo việc thực hiện pháp luật hình sự đi trước  
đảm được các điều kiện an toàn của khách hành vi hợp pháp khi tạo ra các điều kiện  
thể bảo vệ của pháp luật hình sự.  
thuận lợi cho công dân thực hiện những  
khả năng được ghi nhận trong những  
ngành pháp luật nói trên. Vì vậy, đối với  
hành vi hợp pháp, nếu việc thực hiện các  
khả năng được ghi nhận trong pháp luật  
Hiến pháp, pháp luật Dân sự, pháp luật  
Lao động… thường đòi hỏi hành vi tích  
cực từ phía chủ thể (như khả năng được  
bầu cử vào các cơ quan quyền lực, sử  
dụng tài sản của mình, ký kết hợp đồng  
lao động…), thì trong phần lớn trường  
hợp, thực hiện pháp luật hình sự đòi hỏi  
chủ thể dưới sự tác động của pháp luật  
hình sự, chỉ kiềm chế không thực hiện  
hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS  
quy định là tội phạm. Việc công bố BLHS  
có hiệu lực pháp luật, vì vậy là thời điểm  
bắt đầu xác định hành vi hợp pháp trong  
quá trình thực hiện pháp luật hình sự.  
Còn mức độ thuyết phục được mọi người  
kiềm chế, không thực hiện tội phạm đến  
đâu lại là chuyện khác, tùy thuộc vào cơ  
sꢀ xã hội và tính công bằng của BLHS.  
Tuy nhiên, đây là vấn đề về tính hiệu quả  
của pháp luật hình sự chứ không phải về  
cơ chế thực hiện nó.  
Như vậy, không nên đồng nhất các  
quan hệ xã hội hợp thành khách thể bảo  
vệ của pháp luật hình sự (mà trước đây  
thường được hiểu là những quan hệ nền  
tảng) với các quan hệ điều chỉnh và bảo  
vệ của pháp luật hình sự. Các quan hệ xã  
hội hợp thành khách thể bảo vệ của pháp  
luật hình sự bị quyết định bꢀi các nguyên  
nhân kinh tế - xã hội và xét về thực chất  
không lệ thuộc vào pháp luật hình sự,  
còn các quan hệ điều chỉnh và bảo vệ của  
pháp luật hình sự hình thành trên cơ sꢀ  
pháp luật hình sự để bảo vệ một cách có  
hiệu quả hơn các quan hệ nền tảng. Một  
loại khách thể (đối tượng) bảo vệ của  
pháp luật hình sự là những giá trị xã hội  
quan trọng hơn như tính mạng, sức khỏe,  
nhân phẩm, danh dự, sꢀ hữu, trật tự an  
toàn xã hội, lợi ích của Nhà nước… Loại  
khách thể (đối tượng) bảo vệ khác của  
pháp luật hình sự là cách xử sự (hành vi)  
của con người đối với các giá trị xã hội  
nêu trên. Trên phương diện này, các quan  
hệ điều chỉnh và bảo vệ rõ ràng có ý nghĩa  
trực thuộc và phục vụ. Tuy nhiên, khi  
“phác họa” phạm vi hành vi tội phạm và  
Khi luận về “hiệu lực của pháp luật”,  
xác định phạm vi hành vi hợp pháp, luật có quan điểm cho rằng “Nhìn từ góc độ khoa  
hình sự không ảnh hưꢀng đến nội dung học, hiệu lực của pháp luật được lý giải bằng  
của hành vi hợp pháp. Nội dung của hệ vấn đề rộng lớn hơn thực hiện pháp luật.  
hành vi hợp pháp cũng như những khả Để nghiên cứu hiệu lực của pháp luật, một  
năng, hình thức hoạt động thực tiễn của mặt, phải có tầm nhìn rộng lớn về pháp luật  
con người, nhìn chung bị quyết định bꢀi đang hoạt động trong xã hội tương ứng, mặt  
nội dung của các quan hệ xã hội nền tảng, khác không chỉ chú ý đến phương diện pháp  
được điều chỉnh trên cơ sꢀ các quy phạm lý của vấn đề mà còn phải chú ý đến sự thay  
của luật Hiến pháp, luật Dân sự và các đổi mà pháp luật mang đến hoặc có thể mang  
quy phạm của các ngành luật khác vốn đến cho đời sống xã hội của xã hội. Sự thay đổi  
được bảo vệ bằng luật hình sự. Từ đó có mà nội dung của nó thường được người ta thể  
thể thấy rằng, trong mối quan hệ với các hiện một cách khuôn mẫu trong khái niệm về  
ngành luật đó, thực hiện pháp luật hình cơ chế tác động của pháp luật trong xã hội xã  
6
Khoa học Kiểm sát  
Số 02 - 2021  
HỒ SỸ SƠN  
hội chủ nghĩa. Khái niệm thực hiện pháp luật dụng pháp luật, một số nhà luật học cho  
gắn nhiều hơn với nhóm vấn đề riêng (đặc  
thù) của pháp luật. Hệ vấn đề của thực hiện  
pháp luật đòi hỏi trước hết sự chuyển động  
nội tại của vấn đề pháp luật, bản thân pháp  
luật, các khuynh hướng và tính quy luật của  
pháp luật, sự thể hiện (thi hành) những gì mà  
đạo luật đã quy định vào hoạt động của mọi  
người”8. Nhìn từ góc độ “ảnh hưꢀng” hay  
“tác động” của pháp luật hình sự đến ý  
thức pháp luật xã hội nói chung và ý thức  
pháp luật của các công dân nói riêng, hiệu  
lực của pháp luật hình sự bắt đầu từ thời  
điểm đạo luật hình sự có hiệu lực pháp  
luật, mang lại những thay đổi nhất định  
trong đời sống xã hội, trong đó có sự xuất  
hiện của các quan hệ điều chỉnh và các  
quan hệ bảo vệ của pháp luật hình sự như  
là những thực tiễn mới của xã hội. Đồng  
thời, tuy mang tính chất bộ phận nhưng  
những thay đổi như vậy trong xã hội là  
thực hiện pháp luật hình sự, là thi hành,  
là đưa pháp luật hình sự vào cuộc sống.  
rằng, đặc trưng chung của ba hình thức  
này là pháp luật do chính các chủ thể -  
các bên tham gia quan hệ tương ứng (có  
quyền và nghĩa vụ pháp lý) thực hiện. Thế  
nhưng, trong một loạt trường hợp, xuất  
hiện cơ quan, cá nhân có thẩm quyền - chủ  
thể “xen vào” quá trình thực hiện pháp  
luật, bảo đảm cho quá trình đó được thực  
hiện một cách trọn vẹn, đưa các quy phạm  
pháp luật đã ban hành vào cuộc sống một  
cách đầy đủ và đúng đắn. Đây là trường  
hợp đặc biệt của hoạt động pháp luật - áp  
dụng pháp luật (hoặc về nguyên tắc là áp  
dụng đạo luật). Như vậy, “Áp dụng pháp  
luật là hoạt động có tổ chức - quyền lực của  
cơ quan, cá nhân có thẩm quyền bảo đảm thực  
hiện các quy phạm pháp luật trong những  
trường hợp cụ thể của cuộc sống”10.  
Đối với áp dụng pháp luật hình sự,  
quan điểm thứ hai đã nêu trên đây, thiết  
nghĩ có tính thuyết phục cao hơn vì “sự  
xen vào” quá trình thực hiện pháp luật  
hình sự của cơ quan, cá nhân có thẩm  
quyền là hiện tượng bình thường; mỗi  
một lần “xen vào” quá trình thực hiện  
pháp luật, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền  
không chỉ xác định những gì xảy ra trong  
quá trình thực hiện tội phạm cụ thể mà  
còn xác định cả những gì nằm ngoài quá  
trình thực hiện tội phạm cụ thể đó. Trong  
một tổng thể, cách sắp xếp theo thứ hạng  
các hình thức thực hiện pháp luật và áp  
dụng pháp luật với tính cách là “trường  
hợp hoạt động đặc biệt của pháp luật”, là  
“trường hợp đặc biệt của thực hiện pháp  
luật” như trên là hữu ích, bꢀi nó cho phép  
phân biệt hành vi hợp pháp và hành vi bất  
hợp pháp (tội phạm) của công dân, hoạt  
động áp dụng pháp luật và hành vi có ý  
nghĩa về mặt pháp luật hình sự.  
2. Các hình thức thực hiện pháp luật  
hình sự  
Đối với thực hiện pháp luật hình sự,  
các vấn đề pháp lý chuyên ngành cũng  
có ý nghĩa quan trọng, vì vậy không thể  
không phân tích các hình thức thực hiện  
pháp luật hình sự.  
Hiện nay, trong khoa học pháp lý đang  
tồn tại hai (nhóm) quan điểm không hoàn  
toàn giống nhau về phân loại hình thức  
thực hiện pháp luật. Một số nhà luật học  
phân biệt “bốn hình thức của hoạt động thực  
hiện pháp luật là tuân thủ pháp luật, thi hành  
pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp  
luật”9. Trong khi đó, khi khẳng định ba  
hình thức của thực hiện pháp luật là tuân  
thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử  
8ꢁ Xem: Grevxov Ju.I., Các quan hệ pháp luật và thực  
hiện pháp luật, Leningrad, 1987, tr.60-61 (Tiếng Nga). 10ꢁ Xem: Alekseev S.S., Pháp luật: Điều sơ đẳng - Lý  
9ꢁ Xem: Vengherov A.B., Lý luận về Nhà nước và pháp luận - Triết học. Kinh nghiệm nghiên cứu tổng thể,  
luật, tr. 428 (Tiếng Nga).  
tr.115 (Tiếng Nga).  
Số 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát  
7
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VÀ HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG...  
Liên quan đến vấn đề này, có quan và các yêu cầu của pháp luật quốc tế, mà xét  
điểm cho rằng “chỉ có cơ quan, người có về thực chất, còn là lập trường (quan điểm)  
pháp lý có cơ sở và đáng tin cậy của chúng  
ta”13. Sự chống trả một cách tích cực đối  
với hành vi trái pháp luật của người khác  
trong trường hợp phòng vệ chính đáng,  
thiết nghĩ không phải là cái gì khác ngoài  
việc công dân sử dụng quyền cơ bản của  
mình trên cơ sꢀ quy định của Hiến pháp  
và được quy định (cụ thể hóa) tại Điều 22  
BLHS năm 2015 về phòng vệ chính đáng.  
Ở hình thức thứ nhất - tuân thủ pháp  
luật hình sự (hay còn gọi tuân thủ các điều  
cấm hình sự), các quy phạm cấm thực hiện  
của pháp luật hình sự được hiện thực hóa.  
Tuân thủ pháp luật hình sự là việc chủ thể  
(cá nhân hoặc pháp nhân thương mại) tự  
kiềm chế, không thực hiện điều cấm hình  
sự (tội phạm). Tuân thủ pháp luật hình sự,  
vì vậy là hành vi mang tính chất thụ động,  
chức vụ có thẩm quyền mới áp dụng pháp  
luật. Các công dân không áp dụng pháp luật  
mặc dù trong một số trường hợp họ được  
trao quyền chống trả một cách tích cực hành  
vi trái pháp luật của người khác, chẳng hạn  
như trong trường hợp phòng vệ chính đáng  
khi tính mạng, sức khỏe của họ hay của những  
người thân thích bị xâm phạm hoặc đe dọa trực  
tiếp xâm phạm”11. Vậy mà, khi phân tích  
nội dung của luận điểm trên đây, có quan  
điểm đã nhận xét: “Từ lời văn của luận điểm  
trên đây hoàn toàn có thể kết luận rằng, dường  
như Nhà nước đôi khi trao cho công dân thẩm  
quyền áp dụng pháp luật giống như trao cho  
người có chức vụ có thẩm quyền, vì cho phép  
công dân “chống trả một cách tích cực hành vi  
trái pháp luật của người khác”12. Tuy nhiên,  
kết luận mang tính chất võ đoán về công  
dân được trao thẩm quyền áp dụng pháp nhưng đúng pháp luật (hợp pháp), vì chủ  
luật hình sự trong trường hợp phòng vệ thể thực hiện đầy đủ các đòi hỏi của pháp  
luật hình sự, không thực hiện hành vi tội  
phạm - hành vi bị nghiêm cấm thực hiện.  
Hầu hết các quy phạm pháp luật hình sự  
là quy phạm cấm thực hiện hành vi mà  
BLHS coi là tội phạm cụ thể. Bꢀi vậy, tuân  
thủ pháp luật hình sự là hình thức chủ  
yếu của thực hiện pháp luật hình sự.  
Ở hình thức thứ hai - thi hành (chấp  
hành) pháp luật hình sự, chủ thể thi hành  
(chấp hành) nghĩa vụ phải thực hiện đã  
được ghi nhận trong phần quy định của  
quy phạm pháp luật hình sự. Bꢀi vậy,  
thi hành (chấp hành) pháp luật hình sự  
là hành vi mang tính chủ động của chủ  
thể thực hiện pháp luật. Trong luật hình  
sự, các quy phạm bắt buộc thực hiện ít  
hơn nhiều so với các quy phạm cấm thực  
hiện; vì vậy, hình thức thi hành hay chấp  
chính đáng, thiết nghĩ là sai lầm, bꢀi lẽ  
quyền được phòng vệ chính đáng là hợp  
phần của quyền được sống (Điều 19 Hiến  
pháp năm 2013), của quyền bất khả xâm  
phạm về thân thể, được pháp luật bảo  
hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm  
(Điều 20 Hiến pháp năm 2013), quyền bất  
khả xâm phạm tự do cá nhân (các điều 21,  
23, 24, 25 Hiến pháp năm 2013). Với vấn  
đề này, có quan điểm cho rằng “Chính việc  
kết hợp hai yếu tố: pháp luật - xã hội (pháp  
luật và tự do của con người là giá trị cao nhất)  
và pháp luật - tự nhiên (các quyền và tự do  
của con người mang tính tự nhiên không  
thể bị tước đoạt), trong tư duy về pháp luật  
Hiến pháp cho phép khẳng định những định  
hướng (nguyên tắc) pháp lý mang tính nền  
tảng được ghi nhận trong Hiến pháp về quyền  
và tự do của con người, không đơn thuần là hành pháp luật hình sự ít bắt gặp hơn so  
sự cân nhắc bài học quá khứ của đất nước với hình thức tuân thủ pháp luật hình sự.  
11ꢁ Xem: chú thích 8, tr.431.  
13ꢁ Xem: Nhersesjanx V.S., Triết học của pháp luật,  
12ꢁXem: Từ điển Bách khoa thư pháp lý , tr.277 (Tiếng Nga). Matxcova, 1997, tr.375 (Tiếng Nga).  
8
Khoa học Kiểm sát  
Số 02 - 2021  
HỒ SỸ SƠN  
Nghĩa vụ thực hiện thường được quy định quy phạm về miễn trách nhiệm hình sự  
đối với những người có chức vụ, quyền đối với những chủ thể đã thực hiện những  
hạn, chẳng hạn người có chức vụ, quyền hành vi nhất định nhưng do hội đủ những  
hạn trong Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt điều kiện được quy định trong pháp luật  
hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ hình sự nên được miễn truy cứu trách  
chức, doanh nghiệp (Điều 179 BLHS năm nhiệm hình sự. Ví dụ: Hành vi của người  
2015), hay trong Tội thiếu trách nhiệm gây đã nhận làm gián điệp nhưng không thực  
hậu quả nghiêm trọng (Điều 360 BLHS hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành  
năm 2015). Nghĩa vụ thực hiện có thể xuất khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có  
phát từ chính hoạt động nghề nghiệp của thẩm quyền trong Tội gián điệp (Điều 110  
chủ thể như hành vi không cấp cứu bệnh BLHS năm 2015). Trong những trường  
nhân gây tổn hại cho sức khỏe của họ của hợp đó, các quyền chủ thể được được ghi  
bác sĩ trực cấp cứu, trong Tội vô ý gây nhận trong các quy phạm này được hiện  
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe thực hóa không bꢀi hành vi hợp pháp của  
của người khác do vi phạm quy tắc nghề chủ thể mà bꢀi hành vi đáng được khoan  
nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 139 hồng của họ sau khi đã thực hiện tội phạm.  
BLHS năm 2015); từ trách nhiệm của công Chính vì vậy, việc sử dụng (vận dụng) các  
dân phải cứu giúp người khác trong Tội quyền đó cũng chỉ là một dạng của miễn  
không cứu giúp người khác trong tình trách nhiệm hình sự, chứ hoàn toàn không  
trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều phải là hình thức thực hiện các quyền chủ  
132 BLHS năm 2015); hoặc từ những mối thể của công dân trong quan hệ pháp luật  
quan hệ thân thuộc như nghĩa vụ của hình sự - thực hiện hành vi hợp pháp.  
người mẹ với con mới đẻ trong Tội giết  
hoặc vứt con mới đẻ (Điều 124 BLHS năm  
2015). Không ít trường hợp, ngoài việc đòi  
hỏi chủ thể phải kiềm chế, quy phạm cấm  
cũng đòi hỏi chủ thể phải thực hiện hành  
vi nhất định, song chủ thể đã không thực  
hiện, ví dụ hành vi của con cái không cho  
cha (mẹ) ăn, uống làm cha (mẹ) chết trong  
Tội giết người (Điều 123 BLHS năm 2015).  
Trong trường hợp này, hành vi giết người  
được thực hiện bằng không hành động.  
Áp dụng pháp luật, như đã nhấn  
mạnh, là hoạt động của các cơ quan có  
thẩm quyền (điều tra, truy tố, xét xử) bảo  
đảm cho các quy phạm pháp luật hình sự  
và các quy phạm pháp luật tố tụng hình  
sự được thực hiện trong những trường  
hợp cụ thể của cuộc sống. Trong những  
tình huống phức tạp của việc tuân thủ  
điều cấm hình sự và thi hành (chấp hành)  
nghĩa vụ chủ thể đã được ghi nhận trong  
các quy phạm pháp luật hình sự, các cơ  
Ở hình thức thứ ba - sử dụng (vận dụng) quan có thẩm quyền xác định (phân biệt  
pháp luật hình sự, chủ thể sử dụng (vận rõ) hành vi của chủ thể là hợp pháp hay là  
dụng) quyền chủ thể đã được ghi nhận tội phạm và khẳng định trong văn bản áp  
trong phần quy định của quy phạm pháp dụng pháp luật có hay không có cấu thành  
luật hình sự. Trong BLHS, các quy phạm tội phạm. Bꢀi lẽ, việc sử dụng các quyền  
cho phép chủ thể sử dụng (vận dụng) chủ thể thuộc sự điều chỉnh của pháp luật  
quyền chủ thể của mình chiếm tỷ lệ không hình sự chỉ diễn ra trong những trường  
lớn. Các quy phạm cho phép (giao quyền), hợp có gây ra thiệt hại cho khách thể bảo  
vì vậy được giới hạn ꢀ những trường hợp vệ của pháp luật (nói cách khác, việc sử  
loại trừ trách nhiệm hình sự (các điều từ dụng các quyền đó được thực hiện ngoài  
Điều 22 đến Điều 26 BLHS năm 2015). Mặc phạm vi của pháp luật hình sự), nên phải  
dù về nội dung, chúng rất gần với những ban hành văn bản quy phạm phân biệt  
Số 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát  
9
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VÀ HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG...  
hành vi gây thiệt hại cho khách thể bảo vệ sự”14. Chính nhu cầu giải quyết đến tận  
cùng vấn đề về thiếu cơ sꢀ để hình thành  
quan hệ trách nhiệm hình sự đòi hỏi  
trong hoạt động áp dụng pháp luật phải  
xác định (phân biệt) hành vi hợp pháp và  
hành vi tội phạm trong những tình huống  
phức tạp của việc tuân thủ các điều cấm  
và thi hành (chấp hành) các nghĩa vụ, đòi  
hỏi phải áp dụng các quy phạm về sử  
dụng (vận dụng) các quyền chủ thể (như  
trong các trường hợp loại trừ trách nhiệm  
hình sự ghi nhận tại các điều từ Điều 22  
đến Điều 26 BLHS năm 2015), hoặc liên  
quan đến việc gây thiệt hại khách quan  
như gây thiệt hại trong sự kiện bất ngờ  
(Điều 20 BLHS năm 2015).  
Như vậy, hoạt động áp dụng pháp luật  
hình sự không chỉ bao hàm những văn bản  
có các quy phạm pháp luật hình sự được áp  
dụng trực tiếp, mà còn bao hàm cả những  
văn bản có quy phạm liên quan đến sự  
đánh giá chung của pháp luật hình sự đối  
với các hành vi của con người cũng như  
đối với hoạt động của tổ chức (pháp nhân  
thương mại) là hợp pháp hoặc là tội phạm.  
Sự đánh giá sơ bộ vấn đề trách nhiệm hình  
sự hoặc hình phạt đối với chủ thể làm cho  
nó trꢀ thành “bước” (công đoạn) đầu tiên  
của thực hiện quy phạm pháp luật hình sự  
trong hoạt động áp dụng pháp luật hình sự.  
Nếu từ góc độ đánh giá chung của pháp luật  
hình sự, các cơ quan bảo vệ pháp luật kết  
luận trong hành vi của chủ thể có các dấu  
hiệu của cấu thành tội phạm (có cơ sꢀ hình  
thành quan hệ trách nhiệm pháp lý hình  
sự), hoạt động áp dụng pháp luật hình sự  
chuyển sang bước (công đoạn) thứ hai. Tại  
bước (công đoạn) này, vấn đề có hoặc không  
có cơ sꢀ miễn trách nhiệm hình sự, áp dụng  
hay không áp dụng thời hiệu truy cứu trách  
nhiệm hình sự (Điều 27 BLHS năm 2015)  
được giải quyết. Khi giải quyết vấn đề theo  
là hợp pháp hay tội phạm. Việc tiến hành  
điều tra, xác minh thiệt hại đó theo trình  
tự, thủ tục của quá trình áp dụng pháp  
luật, vì vậy cũng là hiển nhiên và dễ hiểu.  
Khi xác nhận sự kiện của hành vi hợp  
pháp (tức xác nhận không có mối quan  
hệ trách nhiệm giữa chủ thể có hành vi và  
Nhà nước) trong quá trình áp dụng pháp  
luật, các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền  
đưa ra sự đánh giá của mình đối với sự  
kiện đã xảy ra làm sao để hoạt động hợp  
pháp của chủ thể không bị cản trꢀ, đồng  
thời để các quyền của họ không bị tiêu tan  
bꢀi các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền.  
Liên quan đến pháp luật hình sự,  
ngoài hành vi hợp pháp và hành vi tội  
phạm, còn có những trường hợp không  
thuộc phạm vi của hai dạng hành vi nói  
trên. Xét theo bản chất, những trường hợp  
này không thể điều chỉnh bằng các quy  
phạm pháp luật hình sự (như gây thiệt  
hại trong trường hợp không có lỗi, hành  
vi của những người không có năng lực  
trách nhiệm pháp lý, trong đó có hành vi  
của những người không đạt độ tuổi chịu  
trách nhiệm hình sự) và tất nhiên không  
thể đánh giá từ góc độ hành vi hợp pháp  
và hành vi tội phạm. Những trường hợp  
này có thể được gọi một cách có quy ước  
là “phạm vi” gây thiệt hại khách quan, mà  
mỗi một trường hợp cụ thể, theo quy định  
của pháp luật, do các cơ quan áp dụng  
pháp luật xác định.  
Khi phân tích tính đặc thù của quy  
phạm pháp luật hình sự, có quan điểm  
cho rằng “việc áp dụng quy phạm pháp luật  
hình sự chỉ gắn với quyết định cuối cùng  
(khẳng định và phủ nhận) đối với vấn đề về  
trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt đối với  
chủ thể. Vì vậy, không phải mỗi văn bản tố  
tụng hình sự gắn với định tội danh, đồng thời  
14ꢁ Xem: Naumov A.B., Áp dụng quy phạm pháp luật  
là văn bản áp dụng quy phạm pháp luật hình hình sự, Volgograd, 1973, tr. 69 (Tiếng Nga).  
10 Khoa học Kiểm sát  
Số 02 - 2021  
HỒ SỸ SƠN  
hướng bất lợi đối với chủ thể, hoạt động áp thực hiện pháp luật hình sự diễn ra trong  
dụng pháp luật hình sự chuyển sang bước  
(công đoạn) thứ ba: Quyết định hình phạt.  
Trong bước (công đoạn) này, xuất phát từ  
nội dung của trách nhiệm đã hình thành,  
trên cơ sꢀ các quy phạm pháp luật hình sự  
về quyết định hình phạt (Điều 50, 51, 52, 53,  
56, 102, 103… BLHS năm 2015), Tòa án xác  
định loại và mức hình phạt đối với chủ thể  
thực hiện tội phạm.  
giới hạn của những quan hệ đó bằng hoạt  
động áp dụng các quy phạm pháp luật  
hình sự. Các hình thức của hoạt động này  
là miễn trách nhiệm hình sự, quyết định  
hình phạt và miễn hình phạt vốn được  
quyết định bꢀi nội dung quan hệ trách  
nhiệm, hay nói cách khác là xuất phát từ  
nội dung thực tế của các quan hệ điều  
chỉnh và các quan hệ bảo vệ của pháp luật  
Việc quy định và tách ra ngay trong hình sự bị hành vi nguy hiểm cho xã hội  
BLHS các cơ sꢀ, điều kiện, trình tự miễn  
hình phạt (Điều 27 BLHS năm 2015) chứng  
minh có bước (công đoạn) thứ tư của thực  
hiện pháp luật hình sự trong hoạt động áp  
dụng pháp luật hình sự: miễn hình phạt.  
xâm hại. Tính liên tục trong sự chuyển  
tiếp từ một loại hình thức này sang một  
loại hình thức khác của hoạt động áp  
dụng pháp luật hình sự nhìn chung là  
tương ứng với các bước (công đoạn) xác  
nhận nội dung quan hệ trách nhiệm hình  
sự vốn được là cơ sꢀ để chấm dứt quan hệ  
tương ứng và hoạt động phù hợp với nó./.  
Như vậy, thực hiện pháp luật hình sự  
diễn ra trong hai phạm vi: Phạm vi hành  
vi hợp pháp và phạm vi hành vi tội phạm.  
Trong phạm vi thứ nhất, thực hiện pháp  
luật diễn ra thông qua các quan hệ điều  
chỉnh và các quan hệ bảo vệ của pháp luật  
hình sự và thường không đi đôi với hoạt  
động áp dụng pháp luật hình sự. Hoạt  
động áp dụng pháp luật hình sự chỉ xảy  
ra trong những tình huống phức tạp đòi  
hỏi phải xác định (phân biệt) hành vi hợp  
pháp và hành vi tội phạm, khi gây thiệt  
hại khách quan (hành vi không phải là  
tội phạm). Nếu kết quả của hoạt động đó  
(liên quan đến hành vi hợp pháp) là xác  
nhận không có (không hình thành) quan  
hệ trách nhiệm hoặc phát hiện tính nguyên  
vẹn (không bị phá hủy, không bị tổn hại)  
của các quan hệ điều chỉnh của pháp luật  
và của các quan hệ điều chỉnh của pháp  
luật hình sự, các cơ quan áp dụng pháp  
luật hình sự đưa ra kết luận cuối cùng về  
tính hợp pháp của hành vi này hay hành  
vi khác của con người. Trong phần lớn các  
trường hợp, ngoại trừ áp dụng biện pháp  
chữa bệnh bắt buộc, hoạt động áp dụng  
pháp luật hình sự chấm dứt tại đây.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Grevxov Ju.I., (1987), Các quan hệ pháp luật  
và thực hiện pháp luật, Leningrad (Tiếng Nga).  
2. Hồ Sỹ Sơn, Áp dụng pháp luật hình sự: Một  
số vấn đề lý luận, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội,  
số 2/2018.  
3. Koghan V.M., (1983), Cơ chế xã hội của sự tác  
động của pháp luật hình sự, Mátxcova, (Tiếng Nga).  
4. Leushin V. N, (2000), Thực hiện và áp dụng  
pháp luật, trong sách “Lý luận về Nhà nước và Pháp  
luật”, Mátxcova (Tiếng Nga).  
5. Naumov A.B., (1973), Áp dụng quy phạm  
pháp luật hình sự, Volgograd, (Tiếng Nga).  
6. Nhersesjanx V.S., (1997), Triết học của pháp  
luật, Mátxcova, (Tiếng Nga).  
7. Prokhorov V.S., (1989), Cơ chế điều chỉnh  
của pháp luật hình sự: Quy phạm, quan hệ pháp luật,  
trách nhiệm (1997), Krasnodar, (Tiếng Nga).  
8. Vengherov A.B, (2000), Lý luận về Nhà  
nước và pháp luật, Mátxcova, (Tiếng Nga).  
9. Võ Khánh Vinh, Áp dụng pháp luật hình  
sự: Những vấn đề lý luận và thực tiễn (Kỳ I), Tạp  
chí Khoa học Kiểm sát, số 03 (38)/2020; (Kỳ II), số  
04(40)/2020.  
10. Võ Khánh Vinh, (Chủ biên), (2008), Giáo  
trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Nhà  
Ở phạm vi thứ hai, những trường hợp  
được xác nhận có quan hệ trách nhiệm, xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội.  
Số 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 11  
pdf 9 trang Thùy Anh 9220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực hiện pháp luật hình sự và hoạt động áp dụng pháp luật hình sự: Những vấn đề lý luận", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_hien_phap_luat_hinh_su_va_hoat_dong_ap_dung_phap_luat_h.pdf