Quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về bị hại, đương sự
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015
VỀ BỊ HẠI, ĐƯƠNG SỰ
Thái Chí Bình*
*ThS. Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Từ khóa: Bị hại, đương sự, Bộ
luật Tố tụng hình sự.
Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày, phân tích những điểm mới
trong các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về bị hại, đương
sự; chỉ ra những hạn chế, bất cập và đề xuất kiến nghị hoàn thiện các quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về bị hại, đương sự.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 18/10/2021
: 20/10/2021
: 21/10/2021
Article Infomation:
Abstract:
Within the scope of this article, the author provides both discussions and
analysis of new contents in the provisions of the Criminal Procedure Code
of 2015 on victims and litigants; and also points out the shortcomings,
inadequacies and proposes a number of recommendations to improve the
provisions of the Criminal Procedure Code of 2015 on victims and litigants.
Keywords:Victims; litigants; the
Criminal Procedure Code
Article History:
Received
Edited
: 18 Oct. 2021
: 20 Oct. 2021
: 21 Oct. 2021
Approved
1. Những điểm mới trong quy định của Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2015 về bị hại,
đương sự
tư cách nguyên đơn dân sự. Quy định này
chưa tạo sự bình đẳng giữa các cá nhân và cơ
quan, tổ chức bị tội phạm trực tiếp xâm phạm
trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ.
Để khắc phục hạn chế này, khoản 1 Điều 62
Bộ luật TTHS năm 2015 quy định bị hại là
cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh
thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt
hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc
đe dọa gây ra.
Trên cơ sở kế thừa các quy định của Bộ
luật Tố tụng hình sự (TTHS) năm 2003 về
người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân
sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án, Bộ luật TTHS năm 2015 có một
quy định mới về bị hại, đương sự sau đây:
Thứ nhất, bổ sung, thay đổi tên gọi bị hại,
đương sự cho phù hợp với tư cách tham gia tố
tụng mới và giải thích rõ thuật ngữ đương sự.
Bên cạnh đó, Bộ luật TTHS năm 2003
không giải thích rõ thế nào là đương sự gây
khó khăn trong việc hiểu, áp dụng. Trên thực
tế, đương sự được hiểu ở các phạm vi: (i)
bao gồm người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị
đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án; (ii) chỉ bao gồm nguyên đơn
dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi,
Khoản 1 Điều 51 Bộ luật TTHS năm 2003
quy định người bị hại chỉ là cá nhân, không
bao gồm cơ quan, tổ chức. Nếu cơ quan,
tổ chức bị tội phạm trực tiếp xâm phạm thì
chủ thể này chỉ có thể tham gia tố tụng với
Số 20(444) - T10/2021
35
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
nghĩa vụ liên quan đến vụ án; (iii) bao gồm
người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân
sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án và người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Để khắc phục hạn chế này, điểm g khoản 1
Điều 4 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định,
“đương sự” gồm nguyên đơn dân sự, bị đơn
dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án hình sự.
hại với lợi ích chung. Theo quy định của
Điều 62 Bộ luật TTHS năm 2015, bị hại và
người đại diện theo pháp luật của họ được
bổ sung các quyền sau: (i) được cơ quan tố
tụng thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ
của họ; (ii) đưa ra chứng cứ; (iii) trình bày ý
kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan
và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng kiểm tra, đánh giá; (iv) đề nghị giám
định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người
định giá, người dịch thuật; (v) đề nghị chủ
tọa phiên tòa hỏi bị cáo và người tham gia
phiên tòa và một số quyền khác.
Thứ hai, bổ sung khái niệm người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
thể là người không liên quan đến việc thực
hiện tội phạm nhưng các cơ quan tiến hành
tố tụng phải xử lý theo pháp luật những vấn
đề có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của
họ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án có thể là người có lợi ích vật chất
hoặc tinh thần có liên quan đến hành vi phạm
tội của người bị buộc tội và được cơ quan
tiến hành tố tụng công nhận; người mà hành
vi của họ có liên quan đến tội phạm do người
bị buộc tội thực hiện và theo quy định của
pháp luật, họ phải có trách nhiệm về hành vi
của mình, trách nhiệm có thể là trách nhiệm
vật chấthoặc trách nhiệm về mặt tinh thần.
Bên cạnh đó, nhằm tăng cường trách
nhiệm của họ trong việc phối hợp với cơ
quan có thẩm quyền tố tụng trong việc phát
hiện, xử lý tội phạm, Bộ luật TTHS năm 2015
còn quy định rõ hơn nghĩa vụ và trách nhiệm
của bị hại. Đó là các nghĩa vụ: (i) chấp hành
các quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm
quyền; (ii) trường hợp cố ý vắng mặt hoặc có
hành vi gây khó khăn, cản trở hoạt động điều
tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải.
Việc quy định người bị hại sẽ bị dẫn giải
nếu vắng mặt hoặc có hành vi gây khó khăn,
cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử góp
phần tháo gỡ nhiều khó khăn mà thực tiễn
gặp phải.
Bộ luật TTHS năm 2003 không đưa ra
khái niệm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án nên việc hiểu, áp dụng trên
thực tế không thống nhất. Để khắc phục bất
cập này, khoản 1 Điều 65 Bộ luật TTHS năm
2015 quy định, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án là cá nhân, cơ quan, tổ
chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ
án hình sự.
Thứ tư, bổ sung quyền và nghĩa vụ của
đương sự khi tham gia tố tụng
Để bảo đảm cho đương sự (nguyên đơn
dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án) thực hiện quyền
và nghĩa vụ một cách thuận lợi khi tham gia
tố tụng, Bộ luật TTHS năm 2015 đã bổ sung
một số quyền cho các chủ thể này gồm: (i)
đưa ra chứng cứ; (ii) trình bày ý kiến về chứng
cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra,
đánh giá; (iii) yêu cầu giám định, định giá tài
sản; đề nghị thay đổi người định giá tài sản,
người dịch thuật; (iv) được thông báo kết quả
giải quyết vụ án; (v) đề nghị chủ tọa hỏi những
người tham gia phiên tòa; (vi) tự bảo vệ, nhờ
Thứ ba, bổ sung quyền và nghĩa vụ của
bị hại
Cùng với việc bổ sung diện đối tượng bị
thiệt hại, Bộ luật TTHS năm 2015 còn bổ
sung quyền và nghĩa vụ của bị hại nhằm bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại,
đảm bảo công tác đấu tranh phòng, chống tội
phạm đạt hiệu quả và cân bằng giữa việc bảo
vệ lợi ích của chủ thể bị tội phạm gây thiệt
36
Số 20(444) - T10/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
mình và một số quyền khác.
thực chất chỉ là một chủ thể là người bị tình
nghi, tùy từng giai đoạn tố tụng mà tư cách
của người bị tình nghi thay đổi cho phù hợp.
Đồng thời, Bộ luật TTHS năm 2015 quy
định rõ nghĩa vụ của những chủ thể này
phải chấp hành các quyết định tố tụng của
cơ quan có thẩm quyền nhằm tăng cường
trách nhiệm của họ trong quá trình giải quyết
vụ án, bảo đảm việc giải quyết vụ án nhanh
chóng, kịp thời, đúng pháp luật.
Nhóm thứ hai là những chủ thể có quyền
và nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự
nhưng không phải là người bị buộc tội mà
việc họ tham gia tố tụng để tự bảo vệ lợi
ích hợp pháp của mình và có nghĩa vụ liên
quan đến tội phạm xảy ra bao gồm: bị hại,
nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Mỗi
tư cách tố tụng trong nhóm thứ hai này vừa
có quyền lợi, nghĩa vụ giống nhau, vừa có
quyền, nghĩa vụ riêng biệt.
2. Một số hạn chế, bất cập trong các quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015 về bị hại, đương sự
Thứ nhất, quy định của Bộ luật TTHS
năm 2015 về bị hại, đương sự chưa phù hợp
với Hiến pháp năm 2013.
Như vậy, chủ thể cần được bảo đảm
quyền được bảo vệ lợi ích hợp pháp trong
vụ án hình sự, bên cạnh người bị buộc tội, đó
là bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
vụ án, là những chủ thể có quyền và lợi ích
gắn liền với việc giải quyết vụ án hình sự.
Vì vậy, tác giả cho rằng, thuật ngữ “đương
sự” quy định tại khoản 7 Điều 103 Hiến pháp
năm 2013 cần được hiểu bao gồm cả bị hại
trong đó. Do đó, việc Bộ luật TTHS năm
2015 quy định tách rời “bị hại” ngoài phạm
vi “đương sự” là chưa đúng với tinh thần của
Hiến pháp.
Khoản 7 Điều 103 Hiến pháp năm 2013
khẳng định, “quyền bào chữa của bị can,
bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của
đương sự được bảo đảm”. Quy định này cho
thấy, các quyền bào chữa của bị can, bị cáo,
quyền bảo vệ lợi ích của đương sự là quyền
hiến định. Các văn bản luật cần cụ thể hóa
quy định này của Hiến pháp.
Hiện nay, các văn bản luật tố tụng (hình
sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động, hôn
nhân và gia đình) đều quy định về đương
sự; đó là những chủ thể có quyền và lợi ích
gắn liền với các loại án tương ứng được giải
quyết. Theo đó, trong tố tụng dân sự, đó là
nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan; trong tố tụng hành chính
là người khởi kiện, người bị kiện và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan…
Thứ hai, Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015 chưa xác đinh rõ khái niệm đương sự.
Bộ luật TTHS năm 2015 chỉ liệt kê các
chủ thể tham gia tố tụng với tư cách là
“đương sự” mà chưa nêu khái niệm đương
sự (nội hàm của thuật ngữ “đương sự”).
Trong khi đó, theo quy định của Bộ luật này,
đương sự tham gia vào nhiều hoạt động tố
tụng vừa với tư cách là nguyên đơn dân sự,
bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án. Bên cạnh đó, quy định
của BLTTHS năm 2015 về nguyên đơn dân
sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến vụ án cho thấy, đây là nhóm
Trong TTHS, chủ thể có quyền và lợi ích
gắn liền với vụ án hình sự tương đối phức tạp
và có thể chia làm 02 nhóm sau:
Nhóm thứ nhất là những chủ thể có quyền
và nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự
nhưng là người bị buộc tội gồm: người bị
bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo1. Mặc
dù, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo là các tư cách tham gia tố tụng nhưng
1 Xem: điểm đ khoản 1 Điều 4 BLTTHS năm 2015.
Số 20(444) - T10/2021
37
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
3. Kiến nghị
chủ thể có quyền và nghĩa vụ liên quan đến
vụ án hình sự nhưng không phải là người bị
buộc tội và việc họ tham gia tố tụng để tự
bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình và có nghĩa
vụ liên quan đến tội phạm xảy ra. Quan hệ
TTHS mà đương sự tham gia là các quan hệ
về dân sự có thể được xác lập giữa đương
sự với những người tham gia tố tụng khác
hoặc giữa các tư cách tham gia tố tụng thuộc
đương sự với nhau.
Để khắc phục những bất cập trong quy
định của Bộ luật TTHS năm 2015 về bị hại,
đương sự, tác giả kiến nghị:
Thứ nhất, sửa đổi điểm g khoản 1 Điều 4 Bộ
luật TTHS năm 2015 theo hướng định nghĩa
làm rõ khái niệm đương sự, đồng thời bổ sung
nội hàm thuật ngữ “đương sự” bao gồm cả bị
hại. Theo đó, điểm g khoản 1 Điều 4 Bộ luật
TTHS năm 2015 được viết lại như sau:
Vì vậy, để bảo đảm cách hiểu thống nhất
về “đương sự” trên thực tế, tác giả cho rằng,
Bộ luật TTHS năm 2015 cần được bổ sung
khái niệm đương sự.
“Đương sự trong tố tụng hình sự là người
tham gia tố tụng có quyền và nghĩa vụ liên
quan đến tội phạm xảy ra, tham gia vào vụ án
hình sự nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp
của mình hoặc chịu nghĩa vụ theo quy định
của pháp luật. Đương sự gồm bị hại, nguyên
đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự”.
Thứ ba, Bộ luật TTHS năm 2015 sử dụng
thuật ngữ “người bị hại” nhưng không giải
thích và phân biệt với thuật ngữ “bị hại”.
Thuật ngữ “người bị hại” chỉ là cá nhân
được Bộ luật TTHS năm 2015 quy định tại
điểm l khoản 1 Điều 4 (về dẫn giải); khoản
1 Điều 71 (về trách nhiệm thông báo, giải
thích và bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa
vụ của người tham gia tố tụng); điểm b
khoản 2 Điều 127 (về áp giải, dẫn giải);
Điều 49 (về các trường hợp phải từ chối
hoặc thay đổi người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng); Điều 50 (về người có quyền
đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng); Điều 417 (về xác định tuổi
của người bị buộc tội, người bị hại là người
dưới 18 tuổi).
Thứ hai, sửa đổi các Điều 62, 63, 64, 65
Bộ luật TTHS năm 2015 theo hướng bỏ các
quyền và nghĩa vụ của bị hại, nguyên đơn
dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan; bổ sung Điều 61a quy
định về quyền và nghĩa vụ của bị hại, nguyên
đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Thứ ba, sửa đổi khoản 1 Điều 62 Bộ luật
TTHS năm 2015 theo hướng bổ sung quy
định “bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại
về thể chất, tinh thần, tài sản”, giả thích rõ
bị hại là cá nhân được gọi là người bị hại.
Theo đó, khoản 1 Điều 62 Bộ luật TTHS
năm 2015 cần được sửa đổi như sau:
Ngoài ra, có trường hợp thuật ngữ “bị
hại”, “người bị hại” được sử dụng trong
cùng một điểm của điều luật. Khoản 5 Điều
62 BLTTHS năm 2015 quy định: “Trường
hợp bị hại chết, mất tích, bị mất hoặc bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự thì người đại
diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người
bị hại quy định tại Điều này.” Như vậy, Bộ
luật TTHS năm 2015 sử dụng hai thuật ngữ
“bị hại” và “người bị hại” nhưng không giải
thích và phân biệt giữa hai thuật ngữ này dẫn
đến cách hiểu, áp dụng không thống nhất
trên thực tiễn.
“Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về
thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan,
tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội
phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra. Bị hại là cá
nhân được gọi là người bị hại”.
Thứ tư, thống nhất sử dụng thuật ngữ “bị
hại”, “người bị hại” trong Bộ luật TTHS năm
2015. Theo đó, thuật ngữ “bị hại” được sử
dụng cho bị hại là cá nhân, cơ quan, tổ chức
hoặc bị hại là cơ quan, tổ chức; “người bị
hại” được sử dụng cho bị hại là cá nhân
38
Số 20(444) - T10/2021
Bạn đang xem tài liệu "Quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về bị hại, đương sự", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
quy_dinh_cua_bo_luat_to_tung_hinh_su_nam_2015_ve_bi_hai_duon.pdf

