Những điểm mới về tổ chức lại doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp năm 2020

NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ TỔ CHỨC LẠI DOANH NGHIỆP...  
THEO LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2020  
LÊ NGỌC HUYỀN*  
Luật Doanh nghiệp (LDN) năm 2020 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 đã có nhiều điểm mới  
mang tính đột phá, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp không chỉ trong việc thành lập  
mà cả quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Một trong những điểm mới nổi bật trong LDN  
sửa đổi lần này là những thay đổi tích cực, thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong việc tổ chức  
lại doanh nghiệp.  
Từ khóa: Luật Doanh nghiệp, tổ chức lại doanh nghiệp.  
Ngày nhận bài: 18/9/2020; Biên tập xong: 30/9/2020; Duyệt đăng: 02/12/2020  
The2020EnterpriseLawputintoeffectfromJanuary1,2021hasmanynewbreakthroughs  
that creates conditions for enterprises not only in the establishment but also during the  
business process. One of the prominent new points in this revised Enterprise Law is the  
positive and more favorable changes for enterprises in reorganizing enterprises.  
Keywords: The Enterprise Law, reorganizing enterprises.  
1. Khái quát chung về tổ chức lại đó nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị  
doanh nghiệp  
trường và giúp doanh nghiệp hoạt động  
hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, việc tổ chức  
lại doanh nghiệp cũng có thể đặt ra khi  
các chủ sở hữu của doanh nghiệp phát  
sinh mẫu thuẫn, bất đồng không thể  
tiếp tục hợp tác hoặc bởi những lý do  
chủ quan, khách quan nào đó mà doanh  
nghiệp không đảm bảo được số lượng  
thành viên theo quy định của pháp luật,  
dẫn tới việc tổ chức lại là biện pháp cần  
thiết nhằm tránh cho doanh nghiệp rơi  
vào tình trạng trì trệ về hoạt động hay  
phải giải thể bắt buộc.  
Tổ chức lại doanh nghiệp (hay cải tổ  
doanh nghiệp) được hiểu là một biện  
pháp nhằm thay đổi quy mô hay loại  
hình doanh nghiệp theo quyết định của  
chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp  
luật nhằm đáp ứng được nhu cầu và điều  
kiện thực tế của doanh nghiệp trong quá  
trình hoạt động. Tổ chức lại doanh nghiệp  
là một trong những nội dung cơ bản của  
quyền tự do kinh doanh của các nhà đầu  
tư được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.  
Đồng thời, đây là một thủ tục mang tính  
chất hành chính bởi khi tiến hành tổ chức  
Việc tổ chức lại doanh nghiệp có thể  
lại doanh nghiệp, chủ sở hữu phải đăng làm thay đổi quy mô kinh doanh của  
kí với cơ quan đăng kí kinh doanh theo doanh nghiệp (ví dụ từ công ty có quy  
quy định của pháp luật về doanh nghiệp. mô lớn thành công ty có quy mô nhỏ hơn  
và ngược lại); hình thành các doanh nghiệp  
mới và chấm dứt các doanh nghiệp đang  
tồn tại; làm thay đổi mô hình pháp lý hiện  
tại của doanh nghiệp và tạo ra những ảnh  
hưởng nhất định trong quá trình cạnh tranh  
giữa các doanh nghiệp trên thị trường.  
Nguyên nhân dẫn tới việc tổ chức lại  
doanh nghiệp thường xuất phát từ chính  
mong muốn, nguyện vọng của các chủ  
sở hữu. Trong quá trình hoạt động, một  
doanh nghiệp có thể có những thay đổi  
về chiến lược kinh doanh hoặc thay đổi  
về nhu cầu quản trị doanh nghiệp, dẫn  
tới mong muốn tổ chức lại quy mô và  
mô hình pháp lý của doanh nghiệp, qua  
* Thạc sĩ, Khoa Pháp luật dân sự và Kiểm sát dân sự,  
Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội.  
Số 06 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 49  
NHỮNG ĐiỂM MỚi VỀ TỔ CHỨC LẠi dOANH NGHiỆP...  
LDN hiện hành ghi nhận quyền tổ đổi doanh nghiệp tư nhân (DNTN) sang  
chức lại doanh nghiệp của chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH)  
cũng như đặt ra các căn cứ, trường hợp, nên phương thức này vô hình chung được  
điều kiện và trình tự thủ tục tổ chức lại gọi tên là chuyển đổi hình thức doanh  
doanh nghiệp, qua đó tạo điều kiện tối đa nghiệp. Tuy nhiên, cách đặt tên khái quát  
cho doanh nghiệp được chọn lựa phương như vậy dẫn tới một thực tế là không ít  
thức hoạt động hiệu quả nhất, đáp ứng người nhầm phương thức chia, tách, hợp  
nhu cầu, quy mô kinh doanh trong các nhất, sáp nhập cũng có thể áp dụng đối  
thời điểm cụ thể.  
với doanh nghiệp tư nhân, hay rộng hơn  
là tất cả các mô hình doanh nghiệp hiện  
tại, dù 4 phương thức này tuy đã mở rộng  
thêm đối tượng nhưng cũng chỉ áp dụng  
đối với các loại hình công ty (tùy từng  
phương thức sẽ quy định áp dụng cho các  
loại hình công ty cụ thể).  
Kế thừa quy định trong LDN năm  
2014, Chương IX LDN năm 2020 tiếp tục  
quy định các phương thức tổ chức lại  
doanh nghiệp, theo đó doanh nghiệp có  
thể lựa chọn các phương thức như chia,  
tách, hợp nhất, sáp nhập hay chuyển đổi  
mô hình pháp lý. Tuy nhiên, so với quy  
Tới LDN năm 2020, các quy định về  
định trong LDN năm 2014 thì LDN năm tổ chức lại doanh nghiệp cơ bản vẫn giữ  
2020 đã nhiều đổi mới tích cực, thể hiện nguyên 5 phương thức là chia, tách, hợp  
tính logic trong kỹ thuật lập pháp cũng nhất, sáp nhập và chuyển đổi hình thức  
như có tính ứng dụng cao trên thực tế, tạo pháp lý. Đồng thời, các phương thức chia,  
nhiều thuận lợi hơn cho doanh nghiệp.  
2. QuyđịnhmớicủaLuậtdoanhnghiệp  
năm 2020 về tổ chức lại doanh nghiệp  
tách, hợp nhất, sáp nhập trong LDN năm  
2020 cũng có quy định tương tự so với  
LDN năm 2014. Tuy nhiên, cách gọi tên  
cho các phương thức (hay tên Điều luật)  
đã được thay đổi một cách phù hợp với  
đối tượng áp dụng, cụ thể gồm chia công  
ty (Điều 198), tách công ty (Điều 199) –  
áp dụng cho công ty TNHH và công ty  
cổ phần; hợp nhất công ty (Điều 200),  
sáp nhập công ty (Điều 201) – áp dụng  
cho tất cả các loại hình công ty và chuyển  
đổi hình thức giữa các loại hình doanh  
nghiệp cụ thể (từ Điều 202 đến Điều 205).  
Với cách thay đổi này, LDN năm 2020  
đã khắc phục được bất cập về tên gọi như  
đã nêu của LDN năm 2014, tạo sự hợp lý  
giữa tên của điều luật với nội dung của  
điều luật và tạo thuận lợi cho các chủ  
thể kinh doanh trong việc lựa chọn, áp  
dụng điều luật và phương thức tổ chức  
lại doanh nghiệp.  
2.1. Thay đổi tên gọi các phương thức  
tổ chức lại doanh nghiệp  
LDN năm2014quyđịnh 5phươngthức  
tổ chức lại doanh nghiệp gồm: Chia doanh  
nghiệp (Điều 192), tách doanh nghiệp  
(Điều 193), hợp nhất doanh nghiệp (Điều  
194), sáp nhập doanh nghiệp (Điều 195) và  
chuyển đổi hình thức doanh nghiệp (Điều  
196, 197, 198, 199 và khoản 3 Điều 53,  
khoản 3 Điều 87). Cách gọi này về cơ bản  
tạo được sự thống nhất giữa tên chương  
và tất cả các phương thức cụ thể bởi trước  
đó, LDN năm 2005 quy định về tổ chức  
lại doanh nghiệp gọi tên các phương thức  
gồm chia, tách, hợp nhất, sáp nhập doanh  
nghiệp và chuyển đổi hình thức pháp lý,  
nhưng tất cả các phương thức này đều chỉ  
áp dụng cho các loại hình công ty nhất  
định. Trên thực tế, LDN năm 2014 cũng  
không gọi tên cụ thể cho phương thức  
chuyển đổi hình thức pháp lý mà bởi sự  
2.2. Quy định cụ thể hơn về căn cứ tổ  
chức lại doanh nghiệp  
LDN năm 2020 đã ghi nhận rõ hai căn  
xuất hiện của quy định cho phép chuyển cứ cụ thể là quyền tự quyết định của chủ  
50 Khoa học Kiểm sát  
Số 06 - 2020  
LÊ NGỌC HUYỀN  
sở hữu doanh nghiệp và theo quy định của Luật này”; hay tại quy định về giải thể  
của pháp luật. Đối với các phương thức doanh nghiệp tại điểm c khoản 1 Điều 201,  
tổ chức lại là chia công ty, tách công ty, theo đó doanh nghiệp bị giải thể trong trường  
hợp nhất công ty và sáp nhập công ty,  
căn cứ áp dụng hoàn toàn dựa vào ý chí  
của chủ sở hữu. Bởi lẽ, các phương thức  
này về cơ bản sẽ làm thay đổi quy mô, tổ  
chức, số lượng thành viên hay lĩnh vực  
kinh doanh so với công ty ban đầu; đồng  
thời luôn dẫn tới sự ra đời hoặc chấm dứt  
của một hoặc một số công ty (phụ thuộc  
vào từng phương thức cụ thể). Do đó, các  
nhà làm luật không thể áp đặt ý chí của  
mình thay cho các chủ sở hữu của công  
ty trong các phương thức cải tổ này. Bên  
cạnh đó, đối với phương thức chuyển đổi  
mô hình pháp lý, LDN cũng thừa nhận  
quyền quyết định của chủ doanh nghiệp  
khi tiến hành chuyển đổi, thông qua việc  
định hướng cho chủ doanh nghiệp một  
số cách thức tiến hành chuyển đổi (Ví dụ  
tại khoản 2 Điều 202; điểm a, b khoản 1  
Điều 203 hay điểm a, b, c khoản 1 Điều  
204 LDN năm 2020).  
Tuy nhiên, về căn cứ chuyển đổi theo  
quy định của pháp luật, LDN năm 2014  
hiện hành chỉ ghi nhận rải rác tại một số  
điều luật có liên quan như khoản 3 Điều 53:  
“Trường hợp (công ty TNHH hai thành viên  
trở lên) chuyển nhượng hoặc thay đổi phần vốn  
góp của các thành viên dẫn đến chỉ còn một  
thành viên trong công ty, công ty phải tổ chức  
hoạt động theo loại hình công ty trách nhiệm  
hữu hạn một thành viên và đồng thời thực  
hiện đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh  
nghiệp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hoàn  
thành việc chuyển nhượng”; khoản 3 Điều 87:  
“Trường hợp (công ty TNHH một thành viên)  
tăng vốn điều lệ bằng việc huy động thêm phần  
vốn góp của người khác, công ty phải tổ chức  
quản lý theo một trong hai loại hình sau đây: a)  
Công ty trách nhiệm hai thành viên trở lên và  
công ty phải thông báo thay đổi nội dung đăng  
hợp công ty không còn đủ số lượng thành viên  
tối thiểu theo quy định của Luật này trong thời  
hạn 06 tháng liên tục mà không làm thủ tục  
chuyển đổi loại hình doanh nghiệp.  
Các quy định này không trực tiếp  
được quy định trong Chương về tổ chức  
lại doanh nghiệp, do đó gây khó khăn cho  
việc nghiên cứu pháp luật cũng như khiến  
cho căn cứ pháp lý để chuyển đổi hình  
thức doanh nghiệp không được ghi nhận  
một cách đầy đủ. Bởi lẽ, thực tế trong quá  
trình hoạt động, có rất nhiều trường hợp  
có thể dẫn tới số lượng thành viên công ty  
thay đổi bên cạnh việc tăng hay giảm vốn  
điều lệ. Tuy nhiên, LDN năm 2020 đã khắc  
phục được điều này khi đã quy định rất  
rõ trường hợp công ty không còn đáp ứng  
được điều kiện thành viên theo quy định  
thì phải tiến hành chuyển đổi mô hình cho  
phù hợp. Ví dụ, điểm c khoản 1 Điều 203  
quy định công ty cổ phần có thể chuyển  
đổi thành công ty TNHH 01 thành viên  
khi công ty chỉ còn lại 01 cổ đông; điểm  
d khoản 1 Điều 204 quy định cổ phần có  
thể chuyển đổi thành công ty TNHH 02  
thành viên trở lên khi công ty chỉ còn lại  
02 cổ đông. Quy định này không đòi hỏi  
xác định lý do công ty cổ phần chỉ còn lại  
01 hay 02 cổ đông mà chỉ dựa trên thực  
tế tình trạng công ty không còn đáp ứng  
được điều kiện về mặt số lượng cổ đông  
để duy trì mô hình pháp lý hiện tại, qua  
đó đòi hỏi công ty phải tiến hành chuyển  
đổi sang một mô hình pháp lý phù hợp để  
tiếp tục hoạt động, tránh việc có thể dẫn  
tới giải thể.  
2.3. Quy định đầy đủ và phù hợp hơn  
về điều kiện tổ chức lại doanh nghiệp  
Bên cạnh căn cứ, điều kiện cũng là  
ký doanh nghiệp trong thời hạn 10 ngày, kể từ yếu tố quan trọng để các chủ sở hữu có  
ngày hoàn thành việc thay đổi vốn điều lệ; b) thể tiến hành tổ chức lại doanh nghiệp.  
Công ty cổ phần theo quy định tại Điều 196 So với LDN năm 2014, LDN năm 2020  
Số 06 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 51  
NHỮNG ĐiỂM MỚi VỀ TỔ CHỨC LẠi dOANH NGHiỆP...  
đã có một số điều chỉnh cho phù hợp với quan tới pháp luật cạnh tranh được đặt  
các văn bản Luật hiện hành cũng như ra tương thích với quy định trong Luật  
tạo nhiều thuận lợi hơn cho chủ doanh  
nghiệp khi tiến hành chuyển đổi. Trong  
từng phương thức tổ chức lại, LDN năm  
2020 cũng đã có quy định về điều kiện áp  
dụng, cụ thể:  
Cạnh tranh năm 2004. Đến khi Luật Cạnh  
tranh năm 2018 ra đời thay thế cho Luật  
Cạnh tranh năm 2004, các quy định liên  
quan trong LDN năm 2014 về hợp nhất/  
sáp nhập doanh nghiệp đã không còn  
phù hợp nữa. Và LDN năm 2020 đã khắc  
phục được hạn chế này.  
Thứ nhất, về điều kiện để tiến hành  
hợp nhất/sáp nhập công ty. Khoản 3 Điều  
200 và khoản 3 Điều 201 LDN năm 2020  
về hợp nhất công ty và sáp nhập công ty  
có quy định các công ty khi tiến hành hợp  
nhất, sáp nhập phải đảm bảo tuân thủ  
quy định của Luật Cạnh tranh. Theo đó,  
Luật Cạnh tranh hiện hành năm 2018 quy  
định các hình thức hợp nhất, sáp nhập  
doanh nghiệp là hoạt động tập trung  
kinh tế cùng với nhiều quy định cụ thể  
liên quan tới hoạt động tập trung kinh tế  
nói chung. Đặc biệt, Điều 30 Luật Cạnh  
tranh năm 2018 đã quy định về việc tập  
trung kinh tế bị cấm, cụ thể là trường hợp  
doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh  
tế gây tác động hoặc có khả năng gây tác  
động hạn chế cạnh tranh một cách đáng  
kể trên thị trường Việt Nam, và việc đánh  
giá này sẽ do Ủy ban Cạnh tranh quốc  
gia đánh giá theo các quy định cụ thể  
của pháp luật1. Trước đó, LDN năm 2014  
cũng có quy định về trường hợp hợp  
nhất/sáp nhập doanh nghiệp mà theo đó,  
công ty hợp nhất có thị phần từ 30% đến  
50% trên thị trường liên quan thì đại diện  
hợp pháp của công ty bị hợp nhất/sáp  
nhập phải thông báo cho cơ quan quản lý  
cạnh tranh trước khi tiến hành hợp nhất/  
sáp nhập và cấm các trường hợp hợp  
nhất/sáp nhập mà theo đó, công ty hợp  
nhất/sáp nhập có thị phần trên 50% trên  
thị trường có liên quan, trừ trường hợp  
Luật cạnh tranh có quy định khác.2 Tuy  
nhiên, tại thời điểm LDN năm 2014 được  
xây dựng và ban hành, các quy định liên  
Thứ hai, về điều kiện chuyển đổi hình  
thức doanh nghiệp. Trước đó, LDN năm  
2014 đã có một số quy định về điều kiện  
như tại khoản 2 Điều 197 quy định khi  
chuyển đổi công ty cổ phần thành công  
ty TNHH một thành viên thì “việc chuyển  
nhượng hoặc nhận góp vốn đầu tư bằng cổ  
phần, phần vốn góp quy trình tại khoản 1 Điều  
này phải thực hiện theo giá thị trường, giá  
được định theo phương pháp tài sản, phương  
pháp dòng tiền chiết khấu hoặc phương pháp  
khác”; hay tại khoản 1 Điều 199 về chuyển  
đổi doanh nghiệp tư nhân sang công ty  
TNHH quy định các điều kiện cần thiết là:  
a) Có đủ các điều kiện theo quy định tại khoản  
1 Điều 28 của Luật này; b) Chủ doanh nghiệp  
tư nhân phải là chủ sở hữu công ty (đối với  
trường hợp chuyển đổi thành công ty trách  
nhiệm hữu hạn một thành viên do cá nhân làm  
chủ sở hữu) hoặc thành viên (đối với trường  
hợp chuyển đổi thành công ty trách nhiệm  
hữu hạn hai thành viên trở lên); c) Chủ doanh  
nghiệp tư nhân cam kết bằng văn bản chịu  
trách nhiệm cá nhân bằng toàn bộ tài sản của  
mình đối với tất cả các khoản nợ chưa thanh  
toán của doanh nghiệp tư nhân và cam kết  
thanh toán đủ số nợ khi đến hạn; d) Chủ doanh  
nghiệp tư nhân có thỏa thuận bằng văn bản  
với các bên của hợp đồng chưa thanh lý về việc  
công ty trách nhiệm hữu hạn được chuyển đổi  
tiếp nhận và thực hiện các hợp đồng đó; đ) Chủ  
doanh nghiệp tư nhân cam kết bằng văn bản  
hoặc có thỏa thuận bằng văn bản với các thành  
viên góp vốn khác về việc tiếp nhận và sử dụng  
lao động hiện có của doanh nghiệp tư nhân”.  
1ꢀ Điều 30, 31 Luật Cạnh tranh năm 2018  
2ꢀ Khoản 3 Điều 194 và khoản 3 Điều 195 Luật doanh  
nghiệp năm 2014  
Kế thừa hai quy định trên từ LDN năm  
2014, LDN năm 2020 vẫn tiếp tục đặt ra  
52 Khoa học Kiểm sát  
Số 06 - 2020  
LÊ NGỌC HUYỀN  
quy định về điều kiện để chuyển đổi đối hai thành viên trở lên và chuyển đổi từ  
với trường hợp chuyển đổi từ công ty cổ DNTN sang công ty TNHH. Có thể nói,  
phần sang công ty TNHH 1 thành viên3 đây là một bước tiến lớn của LDN năm  
và chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân 2014 so với LDN năm 2005 khi ghi nhận  
sang các loại hình công ty4. Tuy nhiên, thêm một chủ thể được chuyển đổi hình  
điều kiện để chuyển đổi từ DNTN sang thức pháp lý là DNTN. Tuy nhiên, quyền  
các loại hình công ty đã được rút gọn và chuyển đổi của chủ DNTN vẫn chỉ dừng  
sửa đổi theo hướng thuận lợi hơn. Theo lại ở mô hình công ty TNHH.  
đó, không còn quy định chủ DNTN phải  
trở thành thành viên trong công ty sau  
khi chuyển đổi mà chỉ cần đáp ứng được  
các điều kiện: a) Doanh nghiệp được chuyển  
đổi phải có đủ các điều kiện theo quy định tại  
khoản 1 Điều 27 của Luật này; b) Chủ doanh  
nghiệp tư nhân cam kết bằng văn bản chịu  
trách nhiệm cá nhân bằng toàn bộ tài sản của  
mình đối với tất cả khoản nợ chưa thanh toán  
và cam kết thanh toán đủ số nợ khi đến hạn;  
c) Chủ doanh nghiệp tư nhân có thỏa thuận  
bằng văn bản với các bên của hợp đồng chưa  
thanh lý về việc công ty được chuyển đổi tiếp  
nhận và tiếp tục thực hiện các hợp đồng đó; d)  
Chủ doanh nghiệp tư nhân cam kết bằng văn  
bản hoặc có thỏa thuận bằng văn bản với các  
thành viên góp vốn khác về việc tiếp nhận và  
sử dụng lao động hiện có của doanh nghiệp  
tư nhân5. Quy định mới này thực sự tạo  
thuận lợi cho DNTN trong việc chuyển  
đổi mô hình pháp lý, đặc biệt trao quyền  
tự chủ hơn cho chủ doanh nghiệp khi  
quyết định việc tiếp tục tham gia hoạt  
động kinh doanh hay không.  
Đến khi LDN năm 2020 ban hành, quy  
định về chuyển đổi hình thức của DNTN  
đã được mở rộng. Theo đó, tại Điều  
205 LDN năm 2020 đã cho phép DNTN  
chuyển đổi thành công ty TNHH, công ty  
cổ phần và công ty hợp danh.  
Việc cho phép DNTN được chuyển  
đổi sang tất cả các loại hình công ty khác  
đã cho thấy sự tiến bộ của LDN năm 2020,  
bởi quy định này đã thực sự trao quyền  
tự chủ rộng rãi cho chủ DNTN trong việc  
lựa chọn quy mô kinh doanh và cách thức  
quản lý mong muốn. Qua đó, LDN năm  
2020 cũng đã giải quyết tốt hơn các vấn  
đề pháp lý liên quan khi chuyển đổi hình  
thức pháp lý của DNTN như vấn đề trách  
nhiệm tài sản của chủ doanh nghiệp khi  
doanh nghiệp tiến hành chuyển đổi hình  
thức; quyền và lợi ích của các chủ thể có  
liên quan như đối tác, người lao động của  
doanh nghiệp…  
2.5. Xóa bỏ quy định về các cách thức  
chia và tách công ty  
Theo quy định tại LDN năm 2014,  
công ty TNHH và công ty cổ phần có  
thể chia/tách theo các cách thức mà luật  
định. Ví dụ như công ty TNHH, công ty  
cổ phần có thể chia các cổ đông, thành  
viên và tài sản công ty để thành lập hai  
hoặc nhiều công ty mới trong một trong  
các trường hợp: a) Một phần phần vốn góp,  
cổ phần của các thành viên, cổ đông cùng  
với tài sản tương ứng với giá trị phần vốn  
góp, cổ phần được chia sang cho các công ty  
mới theo tỷ lệ sở hữu trong công ty bị chia  
và tương ứng giá trị tài sản được chuyển  
cho công ty mới; b) Toàn bộ phần vốn góp,  
2.4. Bổ sung thêm trường hợp chuyển  
đổi hình thức doanh nghiệp  
Liên quan tới chuyển đổi hình thức  
doanh nghiệp, LDN năm 2014 ghi nhận  
các trường hợp chuyển đổi gồm: chuyển  
đổi từ công ty TNHH sang công ty cổ  
phần; chuyển đổi từ công ty cổ phần sang  
công ty TNHH (một thành viên/hai thành  
viên trở lên); chuyển đổi giữa công ty  
TNHH một thành viên và công ty TNHH  
3ꢀ Khoản 2 Điều 203 Luật Doanh nghiệp năm 2020  
4ꢀ Khoản 1 Điều 205 Luật Doanh nghiệp năm 2020  
5ꢀ Khoản 1 Điều 205 Luật Doanh nghiệp năm 2020  
Số 06 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 53  
NHỮNG ĐiỂM MỚi VỀ TỔ CHỨC LẠi dOANH NGHiỆP...  
cổ phần của một hoặc một số thành viên, cổ với 4 tỷ đồng, và công ty Z có 3 thành viên,  
đông cùng với tài sản tương ứng với giá trị mỗi người nắm giữ 33,33% vốn điều lệ cũng  
cổ phần, phần vốn góp họ được chuyển sang tương đương với 4 tỷ đồng.  
cho các công ty mới; c) Kết hợp cả hai trường  
hợp quy định tại điểm a và điểm b6. Điều này  
tương tự với trường hợp tách công ty tại  
khoản 1 Điều 193 LDN năm 2014. Tuy  
nhiên, các cách thức được liệt kê trong hai  
điều khoản này vô tình lại giới hạn quyền  
tự quyết định của các thành viên và cổ  
đông trong công ty khi tiến hành chia/  
tách công ty. Bởi lẽ, việc chia/tách công  
ty được diễn ra trên cơ sở là Nghị quyết  
chia/tách công ty, và trong Nghị quyết sẽ  
xác định rõ nguyên tắc, cách thức và thủ  
tục chia/tách công ty, và nguyên tắc cách  
thức chia/tách sẽ do các chủ sở hữu của  
công ty toàn quyết quyết định và thống  
nhất. Như vậy, việc áp đặt cho công ty  
ba cách thức chia/tách tại khoản 1 Điều  
192 và khoản 1 Điều 193 LDN năm 2014  
khiến cho các công ty có thể bị động hoặc  
áp dụng không đúng hay máy móc khi  
tiến hành chia tách công ty.  
Ví dụ: Công ty cổ phần A có 05 cổ đông,  
vốn điều lệ là 20 tỷ đồng và mỗi cổ đông nắm  
giữ 20% cổ phần. Trong quá trình hoạt động,  
công ty có nhu cầu chia công ty thành 2 công  
ty Y và Z. Theo quy định tại khoản 1 Điều  
192 LDN thì công ty có thể chia theo một  
trong các cách thức sau:  
Cách 1: Chia vốn điều lệ ban đầu của công  
ty X là 20 tỷ đồng sang cho hai công ty mới,  
giả sử công ty Y là 15 tỷ và công ty Z là 5 tỷ  
và các cổ đông cũng chia đều cổ phần sang hai  
công ty mới theo tỷ lệ tương ứng, tuy nhiên  
vẫn là mỗi cổ đông sở hữu 20% cổ phần (hay  
phần vốn góp nếu công ty mới chuyển đổi  
sang công ty TNHH) trong các công ty mới.  
Cách 3: Kết hợp cách 1 và cách 2, 1 cổ đông  
cùng toàn bộ cổ phần trong công ty X (tương  
đương 4 tỷ đồng) sẽ chuyển sang công ty Y,  
còn 4 thành viên còn lại trong công ty X sẽ  
phải chia cổ phần của mình trong công ty X  
sang hai công ty Y và Z theo tỷ lệ nhất định  
(ví dụ tỉ lệ 2/3).  
Với 3 cách chia nêu trên, rõ ràng các  
thành viên vẫn bị áp đặt vào tỉ lệ phần  
vốn góp/cổ phần trong công ty ban đầu  
mà không được lựa chọn phần vốn góp/cổ  
phần chuyển sang cho các công ty mới. Về  
bản chất, sau khi chia sẽ dẫn tới thành lập  
các công ty mới độc lập, quyền/nghĩa vụ  
các thành viên trong công ty mới sẽ được  
phân bố lại theo tỉ lệ phần vốn góp/cổ phần  
sở hữu mới tùy theo quyết định của thành  
viên/cổ đông khi chia công ty. Thậm chí  
có trường hợp thành viên/cổ đông trong  
công ty bị chia không nhất trí với Nghị  
quyết chia công ty có thể yêu cầu công ty  
mua lại phần vốn góp/cổ phần của mình,  
và khi đó việc chia công ty sẽ không diễn  
ra đúng như nội dung trong Nghị quyết.  
Khắc phục hạn chế này, LDN năm  
2020 đã lược bỏ quy định về cách thức  
tiến hành chia/tách công ty, theo đó chỉ  
quy định công ty TNHH và công ty cổ phần  
có thể chia tài sản, quyền và nghĩa vụ, thành  
viên, cổ đông của công ty hiện có để thành  
lập hai hoặc nhiều công ty mới7 hay Công ty  
TNHH, công ty cổ phần có thể tách bằng cách  
chuyển một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ,  
thành viên, cổ đông của công ty hiện có (sau  
đây gọi là công ty bị tách) để thành lập một  
hoặc một số công ty TNHH, công ty cổ phần  
mới (sau đây gọi là công ty được tách) mà  
không chấm dứt tồn tại của công ty bị tách8.  
Cách 2: Chia thành viên trong công ty  
ban đầu cùng toàn bộ cổ phần và tài sản theo  
tỉ lệ tương ứng sang các công ty mới, ví dụ  
công ty Y có 2 thành viên mới, mỗi thành  
viên nắm giữ 50% vốn điều lệ tương đương  
Như vậy, các chủ sở hữu công ty có  
quyền rộng rãi trong việc quyết định cách  
7ꢀ Khoản 1 Điều 198 Luật Doanh nghiệp năm 2020  
8ꢀ Khoản 1 Điều 199 Luật Doanh nghiệp năm 2020  
6ꢀ Khoản 1 Điều 192 Luật Doanh nghiệp năm 2014  
54 Khoa học Kiểm sát  
Số 06 - 2020  
LÊ NGỌC HUYỀN  
thức, nguyên tắc khi chia/tách công ty nghiệp. Thay vào đó, luật nên trao quyền  
mà không bị phụ thuộc vào các quy định  
máy móc của Luật.  
chủ động cho các chủ sở hữu và các nhà  
đầu tư trong việc định đoạt “số phận” cho  
doanh nghiệp; cho phép họ tự quyết định  
quyền, lợi ích hợp pháp của mình cũng  
như việc san sẻ, gánh chịu rủi ro khi tiến  
hành tổ chức lại doanh nghiệp. Tất nhiên,  
việc trao quyền tự chủ cho các chủ sở hữu  
và các nhà đầu tư vẫn phải đảm bảo các  
điều kiện nhất định như: đảm bảo được  
quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba  
(bao gồm thành viên công ty, người lao  
động trong công ty, các chủ nợ của công  
ty cũng như các đối tác của công ty); đảm  
bảo về mặt thời gian, thủ tục tiến hành  
chuyển đổi mô hình doanh nghiệp; hay  
đảm bảo việc chuyển đổi không được  
phép chống lại các trật tự công cộng, đạo  
đức xã hội và vi phạm các điều cấm của  
pháp luật…, qua đó tránh ảnh hưởng tới  
quyền lợi chung của nhà nước và các chủ  
thể có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.  
Có thể nói, các quy định về tổ chức  
lại doanh nghiệp là một bộ phận đặc  
biệt quan trọng của pháp luật về doanh  
nghiệp. Với mong muốn kinh doanh ổn  
định và thành công, các nhà đầu tư cần  
có sự khéo léo và linh hoạt khi tiến hành  
tổ chức lại doanh nghiệp, nhằm đảm bảo  
việc tổ chức lại sẽ giúp hoạt động kinh  
doanh hiệu quả hơn trước khi cải tổ cũng  
như tuân thủ đúng quy định của pháp  
luật. LDN năm 2020 cùng với Luật Đầu  
tư năm 2020 và một số văn bản quy phạm  
pháp luật khác sẽ sớm có hiệu lực thi  
hành, chắc chắn sẽ mở ra một hành lang  
pháp lý thông thoáng và thuận lợi cho các  
nhà đầu tư trong việc lựa chọn phương  
thức cải tổ phù hợp với nhu cầu, nguyện  
vọng và điều kiện thực tế, giúp nâng cao  
chất lượng kinh doanh và tính cạnh tranh  
trên thị trường, qua đó góp phần thúc  
đẩy phát triển kinh tế tại Việt Nam trong  
3. Một số kiến nghị hoàn thiện các  
quy định về tổ chức lại doanh nghiệp  
Thứ nhất, LDN năm 2020 vừa được  
Quốc hội thông qua và sẽ có hiệu lực từ  
đầu năm 2021. Như vậy, tại thời điểm hiện  
tại, chúng ta chưa thể đánh giá rõ tính  
hiệu quả của Luật khi áp dụng trên thực  
tế, mà chỉ ghi nhận được những thay đổi  
mang tính tích cực trong các quy định của  
Luật, trong đó có những quy định về tổ  
chức lại doanh nghiệp. Tuy nhiên, những  
quy định này cũng vẫn cần được hướng  
dẫn một cách cụ thể khi đi vào đời sống.  
Thứhai,vềmặtlýluận,tuycácquyđịnh  
về tổ chức lại doanh nghiệp hiện hành đã  
bổ sung thêm những trường hợp mới so  
với quy định của LDN 2014, nhưng nhiều  
phương thức tổ chức lại chưa áp dụng  
cho tất cả các loại hình doanh nghiệp. Ví  
dụ như chưa cho phép công ty hợp danh  
được chia/tách và đặc biệt là chuyển đổi  
hình thức pháp lý (dẫn tới công ty hợp  
danh rất khó duy trì hoạt động khi không  
đáp ứng được điều kiện về số lượng thành  
viên hợp danh); chưa cho phép sự chuyển  
đổi ngược lại từ các loại hình công ty sang  
doanh nghiệp tư nhân… Theo tác giả, nên  
quy định cho phép các loại hình doanh  
nghiệp được toàn quyền lựa chọn phương  
thức tổ chức lại doanh nghiệp mà mình  
mong muốn, phù hợp với điều kiện kinh  
doanh và tình trạng thực tế, bên cạnh việc  
đặt ra các điều kiện cụ thể khác cho việc  
chuyển đổi, qua đó cũng góp phần hạn  
chế việc nhiều doanh nghiệp bị giải thể bắt  
buộc khi không đáp ứng được điều kiện  
pháp lý.  
Thứ ba, luật cũng không nên quy  
định cụ thể cách thức tiến hành tổ chức  
lại doanh nghiệp trong trường hợp việc  
tổ chức lại xuất phát từ ý chí chủ quan  
và nhu cầu thực tế của chủ sở hữu doanh giai đoạn mới./.  
Số 06 - 2020 Khoa học Kiểm sát 55  
pdf 7 trang Thùy Anh 13380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Những điểm mới về tổ chức lại doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp năm 2020", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhung_diem_moi_ve_to_chuc_lai_doanh_nghiep_theo_luat_doanh_n.pdf