Giáo trình Luật biển quốc tế

Chương I  
TỔNG QUAN VỀ LUẬT BIỂN VÀ CÔNG ƯỚC  
LUẬT BIỂN 1982  
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬT BIỂN  
1. Khái niệm về Luật biển  
Luật biển là một trong những ngành của Luật quốc tế xuất hiện từ thời xa xưa và  
có vai trò quan trọng trong đời sống quan hệ quốc tế. Lúc đầu mới hình thành, Luật biển  
chỉ tồn tại dưới dạng những tập quán được một số ít quốc gia thừa nhận và vận dụng. Về  
sau, trãi qua thời gian dài hợp tác và đấu tranh giữa các quốc gia, Luật biển ngày càng  
phát triển và hoàn thiện tạo nên môi trường pháp lý cho cộng đồng quốc tế trong việc  
quản lý, khai thác và sử dụng biển có hiệu quả.  
Luật biển quốc tế trước hết là một ngành luật điều chỉnh trong việc sử dụng và  
quản lý không gian biển. Ở khía cạnh này, Luật biển quy định quyền hạn và nghĩa vụ của  
các quốc gia (có biển hoặc không có biển), điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các  
quốc gia và các chủ thể khác của Luật quốc tế ở những vùng biển với các chế độ pháp lý  
khác nhau. Mặt khác, Luật biển cũng đồng thời là một ngành luật mang tính chức năng.  
Các chức năng này phát triển và thay đổi cùng với sự phát triển của quan hệ quốc tế trong  
lĩnh vực biển. Một thời gian dài, các chức năng này gắn liền với việc thực thi chủ quyền  
trên một vùng biển hẹp như: chiến tranh và xung đột vũ trang, đăng ký quốc tịch cho tàu  
thuyền.,v.v. Dần dần, các thẩm quyền Nhà nước được mở rộng ra phía biển và được bổ  
sung thêm những chức năng mang tính cộng đồng như: bảo vệ môi trường biển, nghiên  
cứu khoa học biển, khai thác tài nguyên biển...  
Một cách khái quát, có thể định nghĩa Luật biển là tổng thể các nguyên tắc và quy  
phạm pháp lý quốc tế được các chủ thể của Luật quốc tế thoả thuận xây dựng nên nhằm  
điều chỉnh các quan hệ nãy sinh giữa các chủ thể trong quá trình khai thác, sử dụng và  
quản lý biển.  
2. Mối quan hệ giữa Luật biển với các ngành luật khác của Luật quốc tế.  
Là một bộ phận của Luật quốc tế, Luật biển có quan hệ mật thiết với các ngành  
luật và chế định khác của Luạt quốc tế. Trước hết, Luật biển có quan hệ với những  
nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế. Đây là mối quan hệ giữa các nguyên tắc cơ bản của  
một hệ thống pháp luật với một ngành luật trong hệ thống đó. Mối quan hệ này thể hiện ở  
chổ, các quy định của Luật biển quốc tế được xây dựng trên cơ sở phhù hợp với các  
nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế. Trong quan hệ với các ngành luật khác của Luật  
quốc tế, Luật biển có quan hệ mật thiết trước hết với các ngành khác như Luật quốc tế về  
biên giới lãnh thổ, Luật hàng không quốc tế, Luật quốc tế về môi trường.  
Giáo trình Luật biển quốc tế  
2.1. Luật biển với luật quốc tế về lãnh thổ và biên giới quốc gia  
Luật quốc tế về lãnh thổ và biên giới quốc-một ngành của Luật quốc tế, là tổng  
thể các nguyên tắc và quy phạm pháp lý quốc tế điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể  
của Luật quốc tế liên quan đến lãnh thổ và biên giới quốc gia.  
Mối quan hệ giữa Luật biển quốc tế và Luật quốc tế về biên lãnh thổ và biên giới  
quốc gia là mối quan hệ giữa luật về cái chung (lãnh thổ, biên giới) và luật về cái bộ phận  
(biển). Như chúng ta đã biết, lãnh thổ quốc gia được xác định bao gồm bốn bộ phận là  
vùng đất, vùng lòng đất, vùng trời và vùng nước trong đó biển là một bộ phận của vùng  
nước. Do vậy những quy chế của biển được xây dựng trước hết phải dựa trên những  
nguyên tắc tổng quát của lãnh thổ quốc gia nói chung. Chẳng hạn như khi xây dựng quy  
chế pháp lý cho vùng lãnh hải và nội thuỷ, các quốc gia phải dựa vào quy chế pháp lý vè  
lãnh thổ quốc gia. Ngược lại, Luật biển quốc tế lại có những tác động nhất định đến Luật  
quốc tế về lãnh thổ và biên giới quốc gia. Luật biển quốc tế có vai trò quan trọng trong  
việc xác định ranh giới trên biển của lãnh thổ quốc gia-đó là ranh giới ngoài của vùng  
lãnh hải. Mặt khác, chế độ pháp lý của các vùng lãnh thổ quốc gia trên biển phải được  
xác định dựa trên cơ sở Luật biển quốc tế.  
Ngoài ra, cũng như Luật biển quốc tế, Luật quốc tế về biên giới, lãnh thổ cũng  
chịu sự tác động của các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế nói chung. Đây là sự tác  
động giữa cái chung đến cái bộ phận tồn tại trong một thể thống nhất.  
2.2. Luật biển với luật hàng không quốc tế  
Luật hàng không là một ngành độc lập của Luật quốc tế, bao gồm các nguyên tắc  
và qy phạm pháp lý quốc tế điều chỉnh các quan hệ pháp lý phát sinh giữa các chủ thể của  
Luật quốc tế trong việc sử dụng và quản lý không phận phục vụ cho hàng không dân  
dụng.  
Vùng biển và vùng trời là hai bộ phận của lãnh thổ quốc gia do đó, mối quan hệ  
giữa Luật biển và Luật hàng không quốc tế là quan hệ giữa hai luật bộ phận. Vùng biển là  
một trong những căn cứ để xác định vùng trời trên biển và như vậy, quy chế pháp lý của  
vùng trời ít nhiều bị ảnh hưởng bởi quy chế pháp lý của các vùng biển. Chẳng hạn như  
vùng trời ở trên vùng lãnh hải và nội thuỷ thì được xác định là vùng không phận quốc gia.  
Ngược lại, vùng trời nằm phía trên các vùng biển khác sẽ được coi là vùng không phận  
quốc tế với các quy chế pháp lý khác nhau.  
2.3. Luật biển với luật môi trường quốc tế  
Luật quốc tế về môi trường là tổng hợp những nguyên tắc và quy phạm pháp lý  
quốc tế điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể của Luật quốc tế phát sinh liên quan đến sử  
dụng và bảo vệ môi trường. Giữa Luật quốc tế về môi trường và Luật biển tồn tại một  
mối quan hệ mật thiết. Suy cho cùng thì biển cũng là một bộ phận của môi trường, do vậy  
bảo vệ biển cũng chính là góp phần bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó thì việc bảo vệ môi  
trường biển lại phụ thuộc rất nhiều vào việc khai thác, sử dụng và bảo tồn tài nguyên biển.  
Giáo trình Luật biển quốc tế  
Chính vì vậy, Luật biển quốc tế dành nhiều quy định cho vấn đề bảo vệ môi trường biển  
và đây cũng chính là một bộ phận của Luật quốc tế về môi trường. Đến lượt mình, các  
quy định của Luật quốc tế về môi trường lại có tác động đến sự hình thành và phát triển  
các quy định của Luật biển trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển.  
3. Các nguyên tắc cơ bản của Luật biển quốc tế  
Là một ngành của Luật quốc tế, Luật biển hình thành và phát triển dựa trên những  
nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế nói chung: bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia;  
cấm sử dụng vũ lực và đe doạ sử dụng vũ lực; giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế;  
không can thiệp vào công việc nội bộ; các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác; dân tộc tự quyết;  
và tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế. Tuy nhiên biển là một lĩnh vực có những  
điểm đặc thù cho nên Luật biển cũng có những nguyên tắc riêng, đặc trưng của mình.  
3.1. Nguyên tắc tự do biển cả  
Đây là một nguyên tắc cơ bản, hình thành từ lâu đời của Luật biển. Theo đó, biển  
cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia, có biển hay không có biển được khai thác, sử  
dụng và quản lý. Công ước Luật biển 1982 cũgn tạo ra cơ sở pháp lý để các quốc gia  
được thự hiện quyền tự do biển cả trong nhiều lĩnh vực khác nhau: tự do hàng hải, tự do  
hàng không, tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm, tự do xây dựng các đảo nhân tạo, tự do  
đánh bắt hải sản, tự do nghiên cứu khoa học.  
Nguyên tắc tự do biển cả đóng vai trò là cơ sở pháp lý cho việc xác định và thiết  
lập chế độ pháp lý của các vùng biển khác nhau. Ở đây có thể thấy, ở các vùng biển khác  
một số quyền tự do tương tự quyền tự do biển cả cũng được thừa nhận như quyền tự do  
hàng hải, tự do hàng không, tự do lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm ở vùng đặc quyền  
kinh tế và thềm lục địa Ngoài ra, nguyên tắc này còn đóng vai trò quan trọng trong việc  
điều chỉnh pháp lý đối với các hoạt đọng khai thác tìa nguyên thiên nhiên ở biển cả và  
đáy đại dương. Mặt khác, nguyên tắc tự do biển cả là cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn  
đề về khai thác tài nguyên thiên hiên ở thềm lục địa, đáy biển và vùng đặc quyền kinh  
tế. Cuối cùng, nguyên tắc này cũng là cơ sở để thiết lập chế độ bay tự do trên biển cả và  
eo biển quốc tế theo quy chế của không phận quốc tế.  
3.2. Nguyên tắc sử dụng hợp lý và bảo tồn tài nguyên biển  
Có thể nói, biển đã và đang đóng góp rất lớn vào đời sống của loài người. Tuy  
vậy, đứng trước sự khai thác, sử dụng biển quá mức và vô kế hoạch như hiện nay, tài  
nguyên biển đang có nguy cơ bị cạn kiệt. Một số loài sinh vật sống đang có nguy cơ bị  
tuyệt chủng và sẽ không bao giờ khôi phục lại được. Chính vì lẽ đó, nguyên tắc sử dụng  
hợp lý và bảo vệ tài nguyên biển thực sự có ý nghĩa trong luật biển, đặc biệt là trong giai  
đoạn hiện nay. Nguyên tắc này yêu cầu các quốc gia có nghĩa vụ đảm bảo sao cho hoạt  
động khai thác và sử dụng biển phải được tiến hành một cách hợp lý và kèm theo hoạt  
động bảo tồn.  
Giáo trình Luật biển quốc tế  
Nguyên tắc này được gián tiếp ghi nhận tại điều 116 của Công ước 1982: “Tất cả  
các quốc gia đều có quyền cho phép công dân của mình đánh bắt hải sản ở biển cả, với  
điều kiện: tuân thủ các nghĩa vụ được ghi nhận trong Công ước, tôn trọng các quyền và  
lợi ích của quốc gia ven biển...”. Một số quy định khác của Công ước 1982 cũng ghi  
nhận nghĩa vụ của các quốc gia trong việc bảo tồn biển. Điều 117 ghi nhận nghĩa vụ của  
các quốc gia có các biện pháp bảo tồn tài nguyên sinh vật biển cả đối với các công dân  
của mình; Điều 118 ghi nhận sự hợp tác của các quốc gia trong việc bảo tồn và quản lý  
tài nguyên sinh vật trên biển; điều 119 ghi nhận việc bảo tồn tài nguyên sinh vật của biển  
cả; và điều 120 ghi nhận việc bảo tồn và quản lý các loài có vú ở biển.  
3.3. Nguyên tắc bảo vệ môi trường biển  
Biển là nguồn cung cấp thức ăn, nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội, đồng thời  
biển cũng là môi trường sống của con người. Theo đà phát triển kinh biển, môi trường  
biển đang bị suy thoái và ô nhiểm nghiêm trọng. Chính vì vậy, bảo vệ môi trường biển là  
góp phần vảo việc bảo vệ môi trường sống và tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững  
của xã hội loài người. Để làm được điều đó đòi hỏi không chỉ sự nỗ lực của từng quốc gia  
riêng lẻ mà còn là sự hợp tác của cộng đồng quốc tế. Trong thời gian qua, nhiều thảo  
thuận đa phương đã được ghi nhận trong việc bảo vệ môi trường biển. Chẳng hạn Công  
ước 1954 về ngăn ngừa ô nhiểm dầu trên biển; Công ước London năm 1972 về ngăn  
ngừa ô nhiểm biển tù các chất thải do tàu và các chất thải khác; Công ước 1973 về ngăn  
ngừa ô nhiểm từ các chất thải do tàu; Công ước Bruc-xen năm 1969 về các biện pháp  
chống ô nhiểm do các vụ tai nạn trên biển cả...  
Xác định bảo vệ môi trường biển cũng là một trong những vấn đề sống còn của  
nhân loại, Công ước luật biển 1982 cũng quy định về nguyên tắc này. Theo đó, các quốc  
gia có nghĩa vụ bảo vệ và giữ gìn môi trường biển. Để thực hiện việc bảo vệ môi trường  
biển, Công ước có nhiều quy định: xác định các biện pháp nhằm ngăn ngừa, hạn chế và  
chế ngựô nhiểm môi trường biển; hợp tác trên phạm vi thế giới và khu vực nhằm bảo vệ  
và giữu gìn môi trường biển; trợ giúp kỷ thuật cho các nước đang phát triển trong việc  
bảo vệ và giữu gìn môi trường biển; giám sát việc đánh cá và sinh thái biển.  
Nguyên tắc bảo vệ môi trường biển cũng là một sự thể hiện mối quan hệ giữa sử  
dụng và bảo tồn trong khai thác môi trường nói chung và môi trường biển nói riêng. Do  
vậy, việc hiểu và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc này của các quốc gia có ý nghĩa to lớn  
trong việc bào tồn và duy trì một môi trường sống bền vững cho xã hội loài người.  
3.4. Nguyên tắc sử dụng biển cả vì mục đích hoà bình  
Biển cả hay biển quốc tế là vùng biển chung của cộng đồng, có diện tích rộng lớn,  
có nguồn tài nguyên phong phú. Đây cũng là nơi mà hoạt động đánh bắt, khai thác của  
con người diễn ra khá hạn chế do nhiều nguyên nhân về mặt kỷ thuật, công nghệ. Tuy  
vậy, biển cả cũng chính là nơi dễ dẫn đến tình trạng suy thoái, cạn kiệt tài nguyên vì theo  
nguyên tắc chung, biển cả không thuộc về ai cả. Chính vì vậy, biển cả cần phải được sử  
dụng đúng mục đích là vì hoà bình và lợi ích chung của nhân loại.  
Giáo trình Luật biển quốc tế  
Một trong những nội dung của nguyên tắc này là các quốc gia không được sử  
dụng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực ở vùng biển cả. Điều này có nghĩa là cấm mọi hoạt  
động quân sự ở biển cả. Trên cơ sở nguyên tắc này, Hiệp định về cấm phổ biến vũ khí hạt  
nhân và vũ khí giết người hàng loạt khác ở đáy biển và biển cả được ký kết năm 1971.  
Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều nhà chuyên môn thì các quy định của Công ước 1982  
về vấn đề này vẫn chưa cụ thể và chưa có một cơ chế để thực thi trên thực tế. Ví dụ trên  
thực tế nhiều cường quốc vẫn triển khai các tàu ngầm hạt nhân và tàu ngầm quân sự để  
nhằm kiểm soát vùng biển cả.  
Ngoài ra, nguyên tắc này cũng phải được hiểu thêm ở một khía cạnh khác đó là  
việc khai thác, sử dụng biển cả đòi hỏi phải có sự hợp tác giữa các quốc gia và hơn hết là  
phải có quy hoạch, kế hoạch nhằm đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng quốc tế.  
3.5. Nguyên tắc giữ gìn di sản chung của nhân loại  
Đây là một nguyên tắc đặc thù của luật biển, đặc biệt áp dụng cho vùng đáy biển  
và vùng lòng đất dưới đáy biển-vùng biển được xem là di sản chung của nhân loại. Theo  
nguyên tắc chung, vùng biển này là của chung, không thuộc về quyền sở hữu của bất kỳ  
một quốc gia hay tổ chức quốc tế nào. Trong thực tế thì việc khai thác và sử dụng vùng  
biển di sản này vẫn còn nhiều hạn chế do nhiều lý do. Vấn đề quan trọng nhất đó là với  
khả năng công nghệ hiện tại của cong người, họ chưa thể tìm hiểu và đi xuống những độ  
sâu của vùng biển di sản. Chính vị lẽ đó, hiện tại chúng ta vẫn chưa biết được chính xác ở  
vùng biển di sản tồn tại những loại tài nguyên gì, trữ lượng ra sao...  
Tuy vậy, việc quy định nguyên tắc giữ gìn di sản chung của nhân loại có ýnghĩa  
quan trọng trong việc hình thành và thực hiện chế độ pháp lý về khai thác tài nguyên  
thiên hiên ở đáy biển và vùng lòng đất dưới đáy biển. Nguyên tắc này bao gồm những nội  
dung sau:  
- Không một quốc gia nào có thể đòi thực hiện chủ quyền hay các quyền thuộc  
chủ quyền khác ở một phần nào đó của vùng đáy biển và vùng lòng đất dưới đáy biển  
- Không một quốc gia, pháp nhân hay cá nhân nào có thể chiếm đoạt bất cứ phần  
nào đó của vùng biển di sản.  
- Toàn thể loài người mà cơ quan Quyền lực quốc tế là đại diện có thẩm quyền tổ  
chức khai thác, quản lý và kiểm soát việc thực hiện các quyền đối với tài nguyên của  
vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển.  
- Hoạt động ở vùng đày biển và lòng đất dưới đáy biển được tiến hành vì lợi ích  
chung của nhân loại;  
- Vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển chỉ có thể được sử dụng vào mục đích  
hoà bình.  
Giáo trình Luật biển quốc tế  
II. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN 1982  
Công ước 1982 về Luật biển (sau đây gọi là Công ước 1982 hoặc Công ước Luật  
biển) được thông qua tại Hội nghị quốc tế lần thứ 3 về biển, là một văn kiện toàn diện về  
biển. Công ước không chỉ được các quốc gia có biển mà ngay cả các quốc gia không có  
biển cũng rất qua tâm. Nó không chỉ bao gồm các điều khoản mang tính điều ước mà còn  
là vă bản pháp điển hoá các quy định manh tính tập quán. Chính điều này đã giải thích vì  
sao Công ước 1982 được các quốc gia viện dẫn và áp dụng một cách rộng rãi ngay cả khi  
nó còn chưa có hiệu lực. Với 320 điề khoản chứa đựng trong 17 phần và 9 phụ lục, Công  
ước 1982 thực sự là một bản hiến pháp về biển của cộng đồng quốc tế và là một trong  
những thành tựu có ý nghĩa trong lĩnh vực luật quốc tế của thế ký XX. Lần đầu tiên trong  
lịch sử, Công ước 1982 đưa ra các quy định tổng thể cá tính chất bao trùm trong hầu hết  
các lĩnh vực biển: cách xác định các vùng biển, chế độ pháp lý của các vùng biển; các  
quy định về hàng hải và hàng không; sử dụng, khai thác và quản lý các tài nguyên biển,  
sinh vật và không sinh vật; bảo vệ môi trường biển; nghiên cứu khoa học biển; an ninh  
trật tự trên biển, đấu tranh chống các tội phạm trên biển; vấn đề phân định biển và giải  
quyết các tranh chấp quốc tế liên quan đến biển.  
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia thì Công ước 1982 là một công ước tương  
đối bình đẳng và tiến bộ, thể hiện quá trình đầu tranh và nhượng bộ giữa hai trường phái:  
tự do biển cả và chủ quyền quốc gia. Công ước Luật biển vừa là cơ sở pháp lý quốc tế  
quan trọng giúp các quốc gia trong việc quản lý, khai thác và sử dụng biển có hiệu quả và  
bảo vệ nguồn tài nguyên biển vừa là cơ sở pháp lý cho các quốc gia giải quyết các tranh  
chấp phát sinh liên quan đến biển.  
Tuy vậy, Công ước 1982 không phải là một “văn bản chết”. Trong thời gian tồn  
tại của Công ước 1982, vẫn luôn có những phát triển, thay đổi, bổ sung và hoàn thiện  
khung pháp lý biển mà Công ước đã thiết lập. Có nhiều công ước và thoả thuận của cộng  
đồng quốc tế như Thoả thuận ngày 29/7/1994 về thực hiện Phần XI của Công ước Luật  
biển 1982, Công ước áp dụng các điều khoản của Công ước Luật biển năm 1982 liên qua  
đến bảo tồn và quản lý các đàn cá xuyên biên giới và các đàn cá di cư xa, Công ước về  
trấn áp các hành động không hợp pháp chống lại an toàn hàng hải nà Nghị định thư về  
trấn áp các hành động không hợp pháp chống lại an toàn các giàn khoan cố định trong  
thềm lục địa năm 1999. Việc thực thi một cách thiện chí Công ước Luật biển năm 1982  
đã trở thành nghĩa vụ đối với các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có biển.  
Công ước luật biển 1982 có hiệu lực kể từ ngày 16 tháng 11 năm 1994, tức là sau 12  
tháng kể từ ngày nước Guyana (nước thứ 60) phê chuẩn Công ước vào ngày 16 tháng 11  
năm 1993. Đến tháng 11 năm 1996 Công ước đã có 108 nước phê chuẩn[1]. Công ước  
luật biển 1982 vừa là cơ sở pháp lý quốc tế quan trọng giúp các quốc gia trong việc quản  
lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ có hiệu qủa nguồn tài nguyên thiên nhiên của biển cả vừa  
là cơ sở pháp lý cho các quốc gia trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ biển cả.  
Công ước luật biển 1982 bao gồm một số nội dung cơ bản sau đây:  
Giáo trình Luật biển quốc tế  
1. Các vùng biển và quy chế pháp lý của chúng  
Công ước luật biển năm 1982 đã định ra khung pháp lý cho các quốc gia trong việc xác  
định các vùng biển và Quy chế pháp lý của chúng; xác định ranh giới, biên giới trên biển  
giữa các quốc gia. Theo Công ước thì mỗi quốc gia ven biển có năm vùng biển, bao gồm:  
nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Ngoài  
năm vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia ven biển ra thì Công  
ước còn quy định các vấn đề về Biển cả và Vùng (di sản chung của loài người), trên đó  
tất cả các quốc gia đều có quyền tự do sử dụng, khai thác, v.v… với điều kiện không làm  
phương hại hoặc đe doạ làm phương hại tới các nước khác, vì mục đích hoà bình và bảo  
vệ, giữ gìn môi trường biển.  
1.1.Nội thuỷ  
Nội thuỷ là vùng nước nằm phía bên trong của đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh  
hải, tại đó các quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ như  
trên lãnh thổ đất liền. Điều 8 Công ước quy định: “Trừ trường hợp đã được quy định ở  
phần IV, các vùng nước ở phía bên trong đường cơ sở của lãnh hải thuộc nội thuỷ của  
quốc gia”. Phần IV - phần được loại trừ ở đây là phần quy định về quốc gia quần đảo,  
quy định: “Ở phía trong vùng nước quần đảo, quốc gia quần đảo có thể vạch những  
đường khép kín để hoạch định ranh giới nội thuỷ của mình theo đúng các điều 9, Điều 10,  
Điều 11” (Điều 50 của Công ước về hoạch định ranh giới nội thủy).  
Vùng nước nội thuỷ bao gồm các vùng nước cảng biển, các vũng tàu, cửa sông, các vịnh,  
các vùng nước nằm kẹp giữa lãnh thổ đất liền và đường cơ sở dùng để tính chiều rộng  
lãnh hải.  
Việc xác định đường cơ sở của quốc gia ven biển phải tuân thủ đúng Công ước về cách  
xác định đường cơ sở thông thường (Điều 5); về cách xác định đường cơ sở thẳng (Điều  
7). Nếu việc xác định đường cơ sở sai so với công ước thì tàu thuyền nước ngoài vẫn  
được quyền đi qua không gây hại trên vùng nước đó theo quy định tại khoản 2 Điều 8  
Công ước: “Khi một đường cơ sở được vạch ra theo đúng phương pháp được nói ở Điều  
7 gộp vào nội thủy các vùng nước trước đó chưa được coi là nội thuỷ thì quyền đi qua  
không gây hại nói trong Công ước vẫn được áp dụng ở các vùng nước đó”.  
Trong vùng nước nội thuỷ, mặc dù quốc gia ven biển có chủ quyền tuyệt đối, hoàn toàn  
và đầy đủ như trên đất liền. Tuy nhiên, chủ quyền này chỉ được áp dụng đối với con tàu  
chứ không phải đối với cá nhân, pháp nhân, người nước ngoài ở trên tàu đó. Trong vùng  
nước nội thuỷ quốc gia ven biển không được thực hiện quyền tài phán hình sự và dân sự  
trên tàu, nếu có sự vi phạm thì chỉ phải chịu xử phạt vi phạm hành chính hoặc bồi thường  
thiệt hại. Quốc gia ven biển chỉ được thực hiện quyền tài phán hình sự, dân sự trong các  
trường hợp: khi chủ tàu, thuyền trưởng yêu cầu; cơ quan lãnh sự của quốc gia mà tàu  
mang cờ yêu cầu can thiệp hoặc khi sự vi phạm hoặc hậu quả của sự vi phạm ảnh hưởng  
nghiêm trọng đến trật tự công cộng của quốc gia ven biển. Điều này dựa trên cơ sở được  
quy định tại khoản 2 Điều 25 về quyền bảo vệ của quốc gia ven biển: “Đối với tàu thuyền  
đi vào vùng nội thuỷ hoặc vào một công trình cảng ở bên ngoài vùng nội thuỷ đó, quốc  
Giáo trình Luật biển quốc tế  
gia ven biển cũng có quyền thi hành những biện pháp cần thiết để ngăn ngừa mọi sự vi  
phạm đối với các điều kiện mà tàu thuyền này buộc phải tuân theo để được phép vào  
vùng nội thuỷ hay công trình cảng nói trên” và Điều 218 về các quyền hạn của quốc gia  
có cảng: “Khi một chiếc tàu tự ý có mặt ở trong một cảng hay ở một công trình cảng cuối  
cùng ngoài khơi, quốc gia có cảng có thể mở một cuộc điều tra và khi có các chứng cứ để  
chứng minh, có thể khởi tố đối với bất kỳ sự thải đổ nào do chiếc tàu tiến hành ở ngoài  
nội thuỷ, lãnh hải hay vùng đặc quyền kinh tế của mình, vi phạm các luật và quy phạm  
quốc tế có thể áp dụng, được xây dựng qua trung gian của tổ chức quốc tế có thẩm quyền  
hay qua một Hội nghị ngoại giao chung” (khoản 1); “khi một con tàu tự ý có mặt ở trong  
một cảng hay ở một công trình cảng cuối cùng ngoài khơi, quốc gia có cảng cố gắng chấp  
nhận những đơn yêu cầu điều tra của bất kỳ quốc gia nào khác về việc thải đổ có khả  
năng gây ra vụ vi phạm đã nêu ở khoản 1 có thể đã xảy ra trong nội thuỷ, lãnh hải hay  
vùng đặc quyền về kinh tế của quốc gia yêu cầu, và có thể đã gây ra ô nhiễm hay có nguy  
cơ gây ô nhiễm cho các vùng này. Quốc gia có cảng cũng cố gắng chấp nhận đơn yêu cầu  
điều tra của quốc gia mà tàu mang cờ về những vi phạm như thế, bất kể các vụ vi phạm  
này đã có xảy ra ở đâu” (khoản 3).  
1.2. Lãnh hải  
Chủ quyền của quốc gia ven biển được mở rộng ra ngoài lãnh thổ và nội thuỷ của mình,  
và trong mọi trường hợp một quốc gia quần đảo, ra ngoài vùng nước quần đảo đến một  
vùng biển tiếp liền gọi là lãnh hải. Chủ quyền này được mở rộng đến vùng trời trên lãnh  
hải, cũng như đến đáy và lòng đất dưới đáy của vùng biển này (Điều 2 Công ước);  
Mọi quốc gia đều có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải của mình; chiều rộng này không  
vượt quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở được vạch ra theo đúng Công ước (Điều 3 Công  
ước);  
Ranh giới phía ngoài của lãnh hải là một đường mà mỗi điểm ở trên đường đó cách điểm  
gần nhất của đường cơ sở một khoảng cách bằng chiều rộng lãnh hải (Điều 4 Công ước);  
Trong lãnh hải, quốc gia ven biển được quyền thực hiện chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ  
nhưng không là tuyệt đối, bởi trên lãnh hải thì tàu thuyền nước ngoài được quyền đi qua  
vô hại. Quyền qua lại tức là quyền đi ở trong lãnh hải, nhằm mục đích:  
- Đi ngang qua nhưng không đi vào nội thuỷ, không đậu lại trong một vũng tàu hoặc một  
công trình cảng ở bên ngoài nội thuỷ; hoặc  
- Đi vào hoặc rời khỏi nội thuỷ; hoặc đậu lại hay rời khỏi một vũng tàu hoặc một công  
trình cảng ở ngoài nội thuỷ nêu trên.  
Việc đi qua phải liên tục và nhanh chóng. Tuy nhiên, việc đi qua bao gồm cả việc dừng  
lại và thả neo, nhưng chỉ trong trường hợp gặp phải những sự cố thông thường về hàng  
hải hoặc vì một trường hợp bất khả kháng hay mắc nạn hoặc vì mục đích cứu giúp người,  
tàu thuyền hay phương tiện bay đang lâm nguy hoặc mắc nạn (Điều 18 Công ước).  
Giáo trình Luật biển quốc tế  
Việc qua lại được coi là không gây hại chừng nào nó không làm phương hại đến hoà bình,  
trật tự hoặc an ninh của quốc gia ven biển.  
Việc đi qua của một tàu thuyền nước ngoài bị coi là gây hại đến hoà bình, trật tự hay an  
ninh của quốc gia ven biển, nếu như ở trong lãnh hải, tàu thuyền này tiến hành một trong  
bất kỳ hoạt động nào sau đây:  
a) Đe doạ hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị  
của quốc gia ven biển hay dùng mọi cách khác trái với các nguyên tắc của pháp luật quốc  
tế đã được nêu trong Hiến chương Liên hợp quốc;  
b) Luyện tập hoặc diễn tập với bất kỳ kiểu loại vũ khí nào;  
c) Thu thập tình báo gây thiệt hại cho quốc phòng hay an ninh của quốc gia ven biển;  
d) Tuyên truyền nhằm làm hại đến quốc phòng hay an ninh của quốc gia ven biển;  
e) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện bay;  
f) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện quân sự;  
g) Xếp hoặc dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuống hàng trái với các luật và quy  
định về hải quan, thuế khoá, y tế hoặc nhập cư của quốc gia ven biển;  
h) Gây ô nhiễm cố ý và nghiêm trọng, vi phạm Công ước;  
i) Đánh bắt hải sản;  
j) Nghiên cứu hay đo đạc;  
k) Làm rối loạn hoạt động của mọi hệ thống giao thông liên lạc hoặc mọi trang thiết bị  
hay công trình khác của quốc gia ven biển;  
l) Mọi hoạt động khác không trực tiếp liên quan đến việc đi qua” (Điều 19 Công ước).  
Trong lãnh hải, quốc gia ven biển được quyền thực hiện quyền tài phán hình sự, dân sự  
với một số điều kiện hạn chế quy định tại Điều 27, Điều 28 Công ước luật biển 1982.  
Quốc gia ven biển thực hiện quyền tài phán hình sự đối với tàu thuyền nước ngoài trong  
lãnh hải của mình trong các trường hợp:  
- Nếu hậu quả của vụ vi phạm đó mở rộng đến quốc gia ven biển;  
- Nếu vụ vi phạm có tính chất phá hoại hoà bình của đất nước hay trật tự trong vùng nước  
nội thuỷ;  
Giáo trình Luật biển quốc tế  
- Nếu thuyền trưởng hay một viên chức ngoại giao hoặc một viên chức lãnh sự của quốc  
gia mà tàu mang cờ yêu cầu sự giúp đỡ của các nhà đương cục địa phương;  
- Nếu các biện pháp này là cần thiết để trấn áp việc buôn lậu chất ma tuý hay các chất  
kích thích khác.  
Tuy nhiên, quốc gia ven biển không được thực hiện một biện pháp nào ở trên một con tàu  
nước ngoài khi một vụ vi phạm hình sự xảy ra trước khi tàu đi vào lãnh hải hay chỉ đi qua  
lãnh hải mà không vào nội thuỷ. Ngược lại, quốc gia ven biển lại có quyền áp dụng các  
biện pháp trừng phạt hay bảo đảm về mặt dân sự hay hình sự trong nước của quốc gia ven  
biển quy định đối với một tàu thuyền nước ngoài đang đậu trong lãnh hải hay đi qua lãnh  
hải sau khi đã rời khỏi nội thuỷ. Tại đây, quốc gia ven biển được vận dụng quyền truy  
đuổi ra ngoài ranh giới lãnh hải.  
Trong lãnh hải, tàu thuyền quân sự nước ngoài được hưởng quyền miến trừ về thẩm  
quyền tài phán dân sự và hình sự nhưng không được hưởng quyền miễn trừ pháp lý. Tàu  
quân sự nước ngoài như tất cả các tàu thuyền khác phải tôn trọng luật lệ của quốc gia ven  
biển liên quan tới quyền qua lại không gây hại[2].  
1.3. Vùng tiếp giáp lãnh hải  
Vùng biển tiếp giáp với lãnh hải gọi là vùng tiếp giáp. Vùng tiếp giáp rộng 24 hải lý tính  
từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải (Điều 33 Công ước).  
Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển thuộc quyền tài phán của quốc gia, bao gồm quyền  
tài phán nhằm ngăn ngừa và quyền tài phán trừng trị những vi phạm trong các lĩnh vực về  
hải quan; thuế khoá; y tế; nhập cư trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình (Điều 33  
Công ước).  
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 303 Công ước quy định về các hiện vật khảo cổ và lịch  
sử được phát hiện ở biển thì: “Các quốc gia có nghĩa vụ bảo vệ các hiện vật có tính chất  
khảo cổ hay lịch sử được phát hiện ở biển, các quốc gia hợp tác với nhau vì mục đích ấy;  
Để kiểm soát việc mua bán hiện vật này, bằng cách áp dụng Điều 33 (Vùng tiếp giáp)  
quốc gia ven biển có thể coi việc lấy các hiện vật đó từ đáy biển trong vùng nói ở điều đó  
mà không có sự thoả thuận của mình là sự vi phạm các luật và quy định của quốc gia ven  
biển ở trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình đã được nêu ở Điều 33”.  
1.4. Vùng đặc quyền kinh tế  
Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải,  
đặt dưới chế độ pháp lý riêng quy định trong phần này, theo đó quyền và quyền tài phán  
của quốc gia ven biển và các quyền tự do của các quốc gia khác đều do các quy định  
thích hợp của Công ước điều hành (Điều 55 Công ước).  
Trong vùng đặc quyền kinh tế thì quốc gia ven biển có quyền chủ quyền về kinh tế và  
quyền tài phán. Quyền chủ quyền về kinh tế bao gồm các quyền đối với khai thác tài  
Giáo trình Luật biển quốc tế  
nguyên sinh vật (Điều 62), tài nguyên không sinh vật của cột nước bên trên đáy biển, của  
đáy biển và lòng đất dưới đáy biển. Hoạt động khai thác tài nguyên trên vùng đặc quyền  
kinh tế đem lại lợi ích cho quốc gia ven biển như khai thác năng lượng nước, hải lưu, gió,  
v.v…  
Mọi tổ chức, cá nhân nước ngoài muốn khai thác tài nguyên trên vùng đặc quyền kinh tế  
phải có sự xin phép và đồng ý của quốc gia ven biển.  
Quyền tài phán trên vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển bao gồm quyền lắp đặt,  
sửa chữa các đảo nhân tạo, công trình, thiết bị trên biển; quyền nghiên cứu khoa học biển;  
quyền bảo vệ môi trường.  
Các quốc gia khác có các quyền tự do biển cả như: quyền tự do hàng hải; quyền tự do  
bay; quyền tự do lắp đặt dây cáp, ống dẫn ngầm; các quyền tự do khác phù hợp với quy  
định của Công ước.  
Các quốc gia ven biển phải ra tuyên bố để xác lập vùng đặc quyền kinh tế của mình.  
1.5. Thềm lục địa  
Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, bên  
ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền  
của quốc gia đó cho đến mép ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để  
tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi mép ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó có  
khoảng cách gần hơn (khoản 1 Điều 76 Công ước).  
Bản chất pháp lý của thểm lục địa theo Công ước được xác định trên nguyên tắc “đất  
thống trị biển”; quyền chủ quyền của quốc gia trên thềm lục địa là chủ quyền đương  
nhiên và ngay từ ban đầu (có quốc gia ven biển là có thềm lục địa), nó không phụ thuộc  
vào bất kỳ sự chiếm hữu thật sự hay danh nghĩa nào. Điều này khác với vùng đặc quyền  
kinh tế, tại vùng đặc quyền kinh tế nếu quốc gia ven biển khai thác không hết thì các  
quốc gia khác có quyền yêu cầu khai thác phần còn lại dư ra, còn thểm lục địa thì các  
quốc gia khác không có quyền này.  
Các quốc gia ven biển không cần phải ra tuyên bố về việc xác lập quyền chủ quyền trên  
thềm lục địa, nếu có tuyên bố chỉ là làm rõ thêm tính chất quản lý nhà nước của quốc gia  
ven biển mà thôi.  
Tính chất pháp lý trên thềm lục địa: Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với tài  
nguyên khoáng sản không sinh vật (chủ yếu dầu khí, kim loại, cát sỏi, v.v…) và tài  
nguyên sinh vật thuộc loài định cư; quốc gia ven biển có quyền chủ quyền trong việc  
khoan, đào, nổ, v.v… trên thềm lục địa.  
Quốc gia ven biển có quyền tài phán đối với các đảo nhân tạo, nghiên cứu khoa học biển,  
bảo vệ môi trường biển, lắp đặt các công trình, thiết bị trên biển, v.v…  
Giáo trình Luật biển quốc tế  
Đối với các quốc gia khác trên thềm lục địa có các quyền về tự do hàng hải; tự do bay; tự  
do đặt dây cáp, ống dẫn ngầm song phải có sự thông báo trước với quốc gia ven biển.  
1.6. Biển cả  
Biển cả là vùng biển không nằm trong vùng đặc quyền kinh tế, lãnh hải hay nội thuỷ của  
một quốc gia ven biển cũng như không nằm trong vùng nước quần đảo của một quốc gia  
quần đảo (Điều 86 Công ước).  
Trên biển cả với mục đích hoà bình, tất cả các quốc gia có quyền tự do hàng hải; tự do  
bay; tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm; tự do đánh bắt; tự do nghiên cứu khoa học; tự  
do lắp đặt các đảo nhân tạo, công trình, thiết bị trên biển đồng thời có các nghĩa vụ trấn  
áp buôn bán nô lệ; trấn áp buôn bán, vận chuyển, mua bán chất ma tuý; trấn áp tất cả các  
hoạt động phát sóng không được phép từ biển cả; trấn áp cướp biển; bảo vệ môi trường.  
Các quốc gia ven biển có quyền truy đuổi: việc truy đuổi có thể ra đến biển cả, chỉ chấm  
dứt khi nó chạy vào lãnh hải của quốc gia khác; việc truy đuổi phải liên tục nhưng không  
nhất thiết bằng một con tàu, phương tiện của mình mà có quyền liên hệ với các phương  
tiện khác để truy đuổi; lực lượng truy đuổi phải chính quy.  
Quốc gia ven biển có quyền can thiệp ở biển cả, và bắt giữ, sử dụng các biện pháp nhằm  
ngăn chặn ô nhiễm môi trường biển.  
1.7. Đáy biển (Vùng đáy đại dương)  
Vùng và tài nguyên của nó là di sản chung của loài người (Điều 136 Công ước). Vùng  
nằm ngoài rìa lục địa của quốc gia ven biển.  
Chế độ pháp lý của vùng: vì là di sản chung của loài người nên Vùng không thuộc sự  
chiếm hữu của bất kỳ quốc gia nào; tất cả các quốc gia được phép sử dụng Vùng vì mục  
đích hoà bình; tất cả các quốc gia được quyền sử dụng, quản lý, khai thác một cách công  
bằng trên vùng. Quản lý vùng có cơ quan quyền lực đáy đại dương có trụ sở tại jamaica,  
tổ chức điều hành của cơ quan gồm Hội nghị các nước thành viên và Hội đồng gồm 36  
thành viên, trong đó 18 thành viên được phân bổ theo tiêu chuẩn địa lý (như hội đồng bảo  
an) và 18 thành viên được phân chia gồm 4 nước xuất khẩu nhiều nhất về quặng được  
khai thác; 4 nước sản xuất nhiều nhất; 4 nước nhập khẩu nhiều nhất; 6 nước còn lại đại  
diện cho các quyền lợi khác (Điều 161 Công ước). Dưới cơ quan quyền lực đáy đại  
dương có các xí nghiệp.  
2. Vấn đề bảo vệ và gìn giữ môi trường biển  
Ngoài nghĩa vụ bảo vệ môi trường biển được quy định trong phần các vùng biển thì Công  
ước luật biển năm 1982 đã dành hẳn một phần - phần XII với 46 điều đề cập đến vấn đề  
bảo vệ và giữ gìn môi trường biển, với các nội dung chính bao gồm:  
Giáo trình Luật biển quốc tế  
Công ước xác định nguồn ô nhiễm môi trường biển, phân loại khoa học và thống nhất các  
nguồn ô nhiễm môi trường biển như: ô nhiễm có nguồn gốc từ đất liền, từ các hoạt động  
liên quan đến đáy biển, do nhận chìm các chất nguy hại và các chất khác, do tàu thuyền  
gây ra, từ khí quyển. Công ước yêu cầu các quốc gia tiến hành tất cả các biện pháp cần  
thiết để ngăn ngừa, giảm bớt và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển từ bất kỳ nguồn nào  
(Điều 194 Công ước);  
Công ước đã quy định nghĩa vụ của các quốc gia trong việc bảo vệ và giữ gìn môi trường  
biển và không đi ngược lại lợi ích chính đáng của các quốc gia: “Các quốc gia có quyền  
thuộc chủ quyền khai thác các tài nguyên thiên nhiên của mình theo chính sách về môi  
trường của mình và theo đúng nghĩa vụ bảo vệ và giữ gìn môi trường biển (Điều 193  
Công ước);  
Công ước yêu cầu các quốc gia phải quan tâm làm sao cho luật trong nước của mình có  
những hình thức tố tụng cho phép thu được sự đền bù nhanh chóng và thích đáng, hay sự  
bồi thường khác đối với những thiệt hại nảy sinh từ ô nhiễm môi trường biển do tự nhiên  
nhân hay pháp nhân của mình gây ra (khoản 2 Điều 235 Công ước);  
Các quốc gia cũng được yêu cầu bảo đảm cho các con tàu mang cờ nước họ, hoạt động  
trong nước cũng như nước ngoài, đáp ứng đầy đủ các luật lệ và tiêu chuẩn quốc tế thích  
hợp. Quốc gia mà tàu mang cờ được yêu cầu tiến hành điều tra mọi vi phạm luật lệ về ô  
nhiễm biển mà con tàu đó thực hiện (Điều 217 Công ước);  
Các quốc gia không được đùn đẩy thiệt hại của các nguy cơ gây ô nhiễm biển và không  
được thay thế một kiểu ô nhiễm này bằng một kiểu ô nhiễm khác (Điều 195 Công ước);  
Các quốc gia có nghĩa vụ thông báo cho các quốc gia khác về nguy cơ bị ô nhiễm lan tràn  
đến và các tổ chức quốc tế có thẩm quyền, để kịp thời có những biện pháp ngăn chặn và  
bảo vệ (Điều 198 Công ước);  
Các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với các quốc gia và các tổ chức quốc tế liên quan theo  
khả năng của mình để hạn chế, loại trừ những hậu quả tai hại do ô nhiễm biển gây ra  
(Điều 199 Công ước);  
Các nước phát triển có nghĩa vụ giúp đỡ các nước đang phát triển trong các lĩnh vực khoa  
học, giáo dục, kinh tế và trong các lĩnh vực khác nhằm ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô  
nhiễm môi trường biển (Điều 202 Công ước).  
3. Một số nội dung quan trọng khác của Công ước  
Ngoài các vấn đề cơ bản về Quy chế pháp lý các vùng biển, vấn đề bảo vệ môi trường  
biển, Công ước luật biển năm 1982 còn đề cập đến các vấn đề quan trọng khác như:  
Vấn đề nghiên cứu khoa học biển, Điều 238 Công ước quy định: “Tất cả các quốc gia, bất  
kể vị trí địa lý thế nào, cũng như các tổ chức quốc tế có thẩm quyền, đều có quyền tiến  
hành các cuộc nghiên cứu khoa học biển, với điều kiện tôn trọng các quyền và nghĩa vụ  
Giáo trình Luật biển quốc tế  
của các quốc gia khác như đã được quy định trong Công ước”. Nội dung cụ thể về nghiên  
cứu khoa học biển được Công ước quy định tại phần XIII, từ Điều 238 đến Điều 265.  
Phần này Công ước đã quy định các vấn đề cơ bản như quyền tiến hành nghiên cứu khoa  
học biển; nghĩa vụ của các quốc gia ven biển trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho các  
quốc gia khác tiến hành nghiên cứu khoa học biển; sự hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa  
học biển; các thiết bị, phương tiện phục vụ công tác nghiên cứu khoa học biển; giải quyết  
tranh chấp về nghiên cứu khoa học biển, v.v…  
Vấn đề về phát triển và chuyển giao kỹ thuật biển, Điều 266 Công ước quy định: “1) Các  
quốc gia hợp tác trực tiếp, hoặc thông qua các tổ chức quốc tế có thẩm quyền, trong phạm  
vi khả năng của mình, nhằm tích cực tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và chuyển  
giao khoa học và kỹ thuật biển theo các thể thức và điều kiện công bằng hợp lý; 2) Các  
quốc gia tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển khả năng trong lĩnh vực khoa học và kỹ  
thuật biển của các quốc gia có nhu cầu và yêu cầu được hưởng một sự giúp đỡ về kỹ  
thuật trong lĩnh vực này, nhất là các quốc gia đang phát triển kể cả quốc gia không có  
biển hay bất lợi về mặt địa lý, trong việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý các tài  
nguyên của biển, trong việc bảo vệ và giữ gìn môi trường biển, trong việc nghiên cứu  
khoa học biển và các hoạt động khác tiến hành trong môi trường biển phù hợp với Công  
ước, nhằm thúc đẩy tiến bộ xã hội và kinh tế của các quốc gia đang phát triển; 3) Các  
quốc gia cố gắng giúp tạo ra các điều kiện kinh tế và pháp lý thuận lợi cho việc chuyển  
giao kỹ thuật biển, trên cơ sở công bằng, có lợi cho tất cả các bên hữu quan”. Nội dung  
cụ thể về phát triển và chuyển giao kỹ thuật biển được quy định tại phần XIV, từ Điều  
266 đến Điều 278 Công ước. Phần này quy định về các vấn đề cơ bản như phát triển  
chuyển giao kỹ thuật biển; hợp tác quốc tế về chuyển giao kỹ thuật biển; việc thành lập,  
chức năng, nhiệm vụ của các Trung tâm nghiên cứu khoa học và kỹ thuật biển của các  
quốc gia và khu vực.  
Vấn đề giải quyết tranh chấp về biển, Điều 279 Công ước quy định: “Các quốc gia thành  
viên giải quyết mọi tranh chấp xảy ra giữa họ về việc giải thích hay áp dụng Công ước  
bằng các phương pháp hoà bình theo đúng Điều 2 khoản 3 của Hiến chương Liên hợp  
quốc và, vì mục đích này, cần phải tìm ra giải pháp bằng các phương pháp đã được nêu ở  
Điều 33, khoản 1 của Hiến chương”. Nội dung về giải quyết tranh chấp về biển được quy  
định tại phần XV, từ Điều 279 đến Điều 299 Công ước, bao gồm các vấn đề cơ bản như:  
nguyên tắc giải quyết tranh chấp; trình tự, thủ tục, cơ quan có thẩm quyền giải quyết  
tranh chấp, v.v…  
Giáo trình Luật biển quốc tế  
Chương II  
PHÂN ĐỊNH BIỂN TRONG LUẬT BIỂN QUỐC TẾ  
VÀ THỰC TIẾN  
I. KHÁI NIỆM  
1. Định nghĩa  
Theo quy định của Luật biển quốc tế, tất cả các quốc gia ven biển đều được quyền  
hoạch định các vùng biển của mình như nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế,...Đây  
không những là quyền mà ở một khía cạnh nào đó còn là nghĩa vụ của các quốc gia, đặc  
biệt là các quốc gia thành viên của Công ước 1982, nhằm tạo ra sự ổn định và trật tự  
trong việc sử dụng và quản lý biển. Trong trường hợp vùng biển của quốc gia độc lập,  
không có liên quan đến lợi ích của các quốc gia khác thì ranh giới của các vùng biển do  
các quốc gia ven biển xác địng phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế. Tuy nhiên,  
trong trường hợp vùng biển của quốc gia ven biển lại nằm tiếp liền, đối diện hoặc chồng  
lấn với vùng biển của các quốc gia khác thì việc hoạch định ranh giới biển cần phải có sự  
thoả thuận của các quốc gia liên quan.  
Một cách tổng quát, phân định biển được hiểu là quá trình hoạch định đường ranh  
giới phân chia các vùng biển giữa hai hay nhiều quốc gia hữu quan. Vấn đề phân định  
biển được đặt ra cho các quốc gia có các vùng biển tiếp liền hoặc đối diện nhau. Việc  
phân định biển nhằm mục đích xác định rõ đường biên giới biển phân chia vùng biển  
thuộc chủ quyền quốc gia hoặc xác định đường biên giới phân chia vùng biển thuộc  
quyền chủ quyền quốc gia.  
Phân định biển là một vấn đề quan trọng trong luật biển. Vấn đề này không chỉ có  
ý nghĩa đối với mỗi quốc gia có biển trong xác định biên giới lãnh thổ quốc gia mà còn  
có vai trò đối với việc xác lập trật tự trên biển. Bên cạnh đó, phân định biển cũng là một  
vấn đề có tính nhạy cảm vì liên quan trực tiếp đến chủ quyền và lợi ích quốc gia. Chính  
vì vậy, để tránh tình trang xung đột, việc phân định biển phải được tiến hành một cách  
hợp lý, tôn trọng pháp luật quốc tế và thực tiễn ở các quốc gia.  
2. Các phương pháp phân định biển  
Pháp luật quốc tế và thực tiễn giữa các quốc gia cho thấy rằng việc phân định biển  
thường được tiến hành bằng con đường thoả thuận. Sự thoả thuận giữa các bên liên quan  
này cũng chính là yếu tố quyết định phương pháp và thẩm quyền phân định biển. Theo đó,  
các bên liên quan có thể thoả thuận lựa chọn hình thức đàm phán để cùng phân định biển  
hoặc lựa chọn một bên thứ ba như toà án hoặc trọng tài quốc tế đứng ra phân định biển.  
Chính vì vậy, trong nhiều trường hợp vấn đề phân định biển trở thành một tranh chấp  
quốc tế và việc giải quyết tranh chấp đó phải có sự tham gia của một cơ quan tài phán  
Giáo trình Luật biển quốc tế  
quốc tế. Nhìn chung, phân định biển quá trình phức tạp vì nó liên quan đến nhiều vấn đề  
có tính nhạy cảm như chủ quyền và lợi ích quốc gia. Sự thành công và khoảng thời gian  
yêu cầu cho quá trình phân định biển dài hay ngắn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan  
và chủ quan như: địa hình biển, lập trường, thái độ và sự thiện chí của các quốc gia liên  
quan, vị trí và giá trị của vùng biển phân định,...  
Thực tiễn quan hệ quốc tế cho thấy các quốc gia thường thoả thuận áp dụng các  
phương pháp phân định biển như sau:  
2.1. Phương pháp đường trung tuyến cách đều: đây là phương pháp áp dụng  
trong trường hợp các quốc gia có bờ biển tiếp liền hoặc đối diện nhau. Theo phươngpháp  
này, đường ranh giới để phân định biển chính là đường mà tất cả các điểm nằm trên  
đường đó đều cách đều các điểm gần nhất của đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh  
hải của các quốc gia.  
Phương pháp đường trung tuyến cách đều thường được áp dụng để phân định lãnh  
hải. Tuy nhiên, để áp dụng phương pháp này, các quốc gia phải xem xét một cách thích  
đáng đến những hoàn cảnh cụ thể để đạt được mộ kết quả công bằng.  
2.2. Phương pháp công bằng: theo phương pháp này, trong qua strình phân định  
biển các bên hữu quan cần phải xem xét, cân nhắc các yếu tố cụ thển như: yếu tố hình  
dạng bờ biển, yếu tố đảo, yếu tố hàng hải...để từ đó tìm ra được những giải pháp công  
bằng được các bên công nhận. Các giải pháp đó đương nhiên mang tính đặc thù và thích  
ứng với từng trường hợp phân định cụ thể.  
3. Các trường hợp phân định biển  
Với việc Công ước về Luật biển năm 1982 lần lượt được các nước ký kết và có  
hiệu lực, lần đầu tiên loài người có một văn kiện pháp lý quốc tế tổng hợp toàn diện, đề  
cập những vấn đề quan trọng nhất về chế độ pháp lý của biển và đại dương, qui định rõ  
các quyền lợi và nghĩa vụ trên biển về nhiều mặt của mọi loại quốc gia (có biển cũng như  
không có biển, có chế độ kinh tế, chính trị - xã hội khác nhau, có trình độ phát triển khác  
nhau) đối với các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia cũng như đối với các vùng  
biển quốc tế. Sau Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước luật biển 1982 được coi là văn  
kiện pháp lý đa phương quan trọng nhất trong lịch sử của tổ chức này.  
Có thể nói, một trong những thành quả quan trọng của Công ước Luật biển 1982 là đã  
thiết lập một cách cụ thể và rõ ràng khái niệm, quy chế cũng như phạm vi các vùng biển.  
Giờ đây các quốc gia không chỉ có lãnh hải rộng 12 hải lý mà còn có những vùng biển  
khác như vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý và thềm lục địa rộng tối đa tới 350 hải  
lý tính từ đường cơ sở. Những quy định này của Công ước đã mở rộng một cách đáng kể  
chủ quyền, các quyền thuộc chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven biển  
nhưng đồng thời cũng làm xuất hiện thêm các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa  
các nước có bờ biển nằm tiếp liền hoặc đối diện nhau.  
Giáo trình Luật biển quốc tế  
Cũng như các tranh chấp về biên giới, lãnh thổ khác, tranh chấp về việc xác định phạm vi  
vùng biển giữa các quốc gia là loại tranh chấp phức tạp và chứa đựng nguy cơ bùng nổ  
gây xung đột, chẳng hạn như tranh chấp về phân định vùng biển Ê-giê giữa Hy Lạp và  
Thổ Nhĩ Kỳ kéo dài từ những năm 70 của thế kỷ trước đến nay, hoặc tranh chấp đầu  
tháng 3/2005 giữa Malaixia và Inđônêxia về vùng biển Ambalát…  
Mỗi quốc gia có quyền đơn phương tuyên bố phạm vi các vùng biển và thềm lục địa của  
mình theo các quy định của Công ước Luật biển 1982. Tuy nhiên, nếu hai hay nhiều quốc  
gia có bờ biển nằm tiếp liền hoặc đối diện nhau mà khoảng cách giữa hai bờ biển đối diện  
không đạt tới hai lần chiều rộng của các vùng biển hay thềm lục địa được quy định trong  
Công ước thì sẽ xuất hiện sự chồng lấn về yêu sách phạm vi các vùng biển và thềm lục  
địa. Trong trường hợp này, các quốc gia có liên quan phải tiến hành xác định đường phân  
chia giới hạn không gian thực thi thẩm quyền thông qua thương lượng trực tiếp hay một  
cơ quan tài phán quốc tế. Theo luật biển quốc tế và thực tiễn giữa các quốc gia, có những  
trường hợp phân định biển như sau:  
3.1. Phân định lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải.  
Cho đến nửa đầu thế kỷ XX, đa số các ranh giới lãnh hải được xác định bằng phương  
pháp đường trung tuyến cách đều. Ngoài ra, một số phương pháp kỹ thuật khác cũng  
được sử dụng, như: đường vuông góc với xu hướng chung của bờ biển tại khu vực phân  
định; đường phân giác góc tạo bởi hai bờ biển nằm tiếp liền; đường biên giới trên bộ kéo  
dài ra biển; theo một kinh tuyến hay một vĩ tuyến cụ thể. Những phương pháp kỹ thuật  
này tỏ ra thích hợp trong điều kiện lãnh hải có chiều rộng hạn chế vào thời kỳ đó, thường  
là 3 hải lý.  
Khi phạm vi không gian của lãnh hải được mở rộng ra trên cơ sở các yêu sách về lãnh hải  
rộng 12 hải lý hoặc hơn nữa, đương nhiên sẽ xuất hiện thêm nhiều yếu tố có thể ảnh  
hưởng đến phân định ranh giới lãnh hải như sự hiện diện của các đảo, công trình nhân tạo  
nổi thường xuyên trên mặt nước biển, hoạt động hàng hải, khai thác tài nguyên,v.v... Vì  
vậy, điều 12 khoản 1 của Công ước về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp năm 1958, sau đó  
được nhắc lại đầy đủ trong điều 15 của Công ước Luật biển 1982, quy định:  
"Khi hai quốc gia có bờ biển nằm tiếp liền hoặc đối diện nhau, không một quốc gia nào  
được quyền mở rộng lãnh hải ra quá đường trung tuyến mà mọi điểm trên đó cách đều  
các điểm gần nhất của đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia,  
trừ khi có sự thoả thuận khác. Tuy nhiên, quy định này không áp dụng trong trường hợp  
do có những danh nghĩa lịch sử hoặc các hoàn cảnh đặc biệt khác cần xác định ranh giới  
lãnh hải của hai quốc gia theo cách khác không được trù định trong điều khoản này”.  
Có thể nhận thấy, quy định nêu trên đã ghi nhận cả phương pháp đường trung tuyến cách  
đều lẫn khả năng các quốc gia liên quan thoả thuận về một giải pháp phân định khác trên  
cơ sở tính đến các yếu tố như danh nghĩa lịch sử hoặc hoàn cảnh đặc biệt. Tuy nhiên, cả  
Công ước về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp năm 1958 lẫn Công ước Luật biển 1982 đều  
không có quy định cụ thể về danh nghĩa lịch sử hoặc hoàn cảnh đặc biệt. Điều này đã gây  
ra khó khăn trong việc đạt được thoả thuận về việc thừa nhận có sự hiện diện của danh  
Giáo trình Luật biển quốc tế  
nghĩa lịch sử hay hoàn cảnh đặc biệt, cũng như mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến  
giải pháp phân định ranh giới lãnh hải. Thực tiễn quốc tế phân định lãnh hải và vùng tiếp  
giáp cho thấy các hoàn cảnh đặc biệt có thể được hiểu là:  
- Hình dạng bất thường của bờ biển;  
- Sự hiện diện của các đảo;  
- Tuyến đường và luồng hàng hải.  
Một điểm đáng lưu ý là trong Công ước Luật biển 1982 không có những qui định riêng  
biệt về phân định nội thuỷ và vùng tiếp giáp lãnh hải. Như vậy, vấn đề đặt ra là các vùng  
biển này sẽ được phân định như thế nào?  
Đối với phân định nội thuỷ việc áp dụng các qui định của điều 15 Công ước Luật biển  
1982 đã được chấp nhận cả về mặt lý thuyết lẫn thực tiễn quốc tế. Song đối với phân  
định vùng tiếp giáp lãnh hải thì phức tạp hơn. Mặc dù cho đến nay không còn nhiều quốc  
gia ven biển qui định vùng tiếp giáp lãnh hải, song nhu cầu phân định vùng biển này giữa  
các quốc gia cũng như phân định vùng tiếp giáp với vùng đặc quyền kinh tế vẫn được đặt  
ra và cần phải giải quyết. Vấn đề phân định vùng tiếp giáp lãnh hải trở nên phức tạp hơn  
khi các điều khoản về vùng biển này được qui định cùng các điều khoản về lãnh hải  
trong phần II Công ước Luật biển 1982.  
Thực tiễn phân định vùng tiếp giáp lãnh hải giữa các quốc gia trong thời gian gần đây  
cho thấy các quốc gia về cơ bản đã chấp nhận áp dụng những quy định về phân định lãnh  
hải trong điều 15 Công ước luật biển 1982 cho việc phân định vùng tiếp giáp lãnh hải.  
Ngoài ra, do quy chế pháp lý của vùng tiếp giáp lãnh hải gần với vùng đặc quyền kinh tế  
hơn là với lãnh hải nên trong trường hợp xuất hiện nhu cầu phân định ranh giới giữa vùng  
tiếp giáp lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế, việc áp dụng điều 74 Công ước Luật biển  
1982 về phân định vùng đặc quyền kinh tế được coi là hợp lý.  
3.2. Phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.  
Phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế được quy định giống nhau trong hai  
điều 74 và 83 của Công ước Luật biển 1982:  
"Phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế (thềm lục địa) giữa các quốc gia có bờ biển  
nằm tiếp liền hoặc đối diện nhau:  
1. Việc hoạch định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế (thềm lục địa) giữa các quốc gia có  
bờ biển nằm tiếp liền hoặc đối diện nhau được thực hiện bằng con đường thoả thuận theo  
đúng luật pháp quốc tế như đã nêu ở Điều 38 của Qui chế Toà án Quốc tế để đi đến một  
giải pháp công bằng.  
2. Nếu không đi tới được một thoả thuận trong một thời gian hợp lý, các quốc gia hữu  
quan sử dụng các thủ tục nêu ở phần XV.  
Giáo trình Luật biển quốc tế  
3. Trong khi chờ ký kết thoả thuận nói ở khoản 1, các quốc gia hữu quan, trên tinh thần  
hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến các dàn xếp tạm thời có tính chất thực  
tiễn và để không phương hại hay cản trở việc ký kết các thoả thuận dứt khoát trong giai  
đoạn quá độ này. Các dàn xếp tạm thời không phương hại đến việc hoạch định cuối  
cùng.  
4. Khi một điều ước đang có hiệu lực giữa các quốc gia hữu quan, các vấn đề liên quan  
đến việc hoạch định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế (thềm lục địa) được giải quyết  
theo đúng điều ước đó".  
Trong quy định nêu trên, phương pháp "thương lượng" được đề cao, dành ưu tiên cho  
"thoả thuận" giữa các bên hữu quan. Chỉ khi các bên không đạt được thoả thuận thì mới  
sử dụng các thủ tục giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình như quy định trong  
Điều 2, khoản 3 của Hiến chương Liên Hợp Quốc và các bên được quyền chọn các biện  
pháp hoà bình thích hợp. Ngoài ra, các bên có thể lựa chọn một hay nhiều biện pháp  
sau :  
- Toà án quốc tế về luật biển, thành lập theo Phụ lục VI;  
- Toà án công lý Quốc tế;  
- Toà án Trọng tài, thành lập theo Phụ lục VII;  
- Toà án đặc biệt, theo Phụ lục VIII.  
Có thể nhận thấy, khác với phân định lãnh hải, Công ước Luật biển 1982  
không đưa ra một phương pháp phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế cụ thể  
nào. Thay vào đó, Công ước nhấn mạnh đến 2 nguyên tắc: “trên cơ sở luật pháp quốc tế”  
và “giải pháp công bằng”. Như vậy, Công ước đã mở ra khả năng áp dụng rộng rãi tất cả  
các nguồn của luật pháp quốc tế liên quan đến vấn đề này, kể cả tập quán quốc tế cũng  
như các án lệ quốc tế và thực tiễn phân định giữa các quốc gia, để đạt được “thoả thuận”.  
Tuy nhiên, đối với “giải pháp công bằng”-một quy định hết sức bao quát và mang tính  
định hướng, Công ước không giải thích rõ thế nào là công bằng. Thực tiễn phân định của  
các quốc gia và các án lệ quốc tế sau năm 1982 cho thấy không có một tiêu chí cụ thể và  
duy nhất nào về “giải pháp công bằng”. Trong mỗi trường hợp phân định cụ thể, “giải  
pháp công bằng” được coi là giải pháp mà các bên hữu quan có thể chấp nhận được sau  
khi xem xét tất cả các yếu tố liên quan trong khu vực phân định và áp dụng linh hoạt các  
quy định về phân định. Ngoài ra, thực tiễn quốc tế cũng cho thấy không có một giới hạn  
pháp lý nào trong việc xác định các yếu tố liên quan. Các yếu tố này có thể bao gồm:  
- Các đặc điểm địa lý, địa mạo, địa chất,  
- Sự hiện diện của mỏ tài nguyên  
- Tỷ lệ giữa chiều dài bờ biển và diện tích thềm lục địa,  
Giáo trình Luật biển quốc tế  
- Sự hiện diện của đảo,  
- Điểm mút biên giới đất liền,  
- Sự hiện diện của các đường đặc nhượng hay đường cấp phép thăm dò, khai thác dầu khí  
hay các tài nguyên khác,  
- Yếu tố quốc gia bất lợi về địa lý,  
- Lợi ích kinh tế, chính trị, an ninh,  
- Truyền thống đánh cá,  
- Giao thông hàng hải,  
- Yếu tố văn hoá,  
- Các quyền lợi chính đáng khác, v.v...  
Án lệ quốc tế trong lĩnh vực phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa cho thấy  
có sự ưu tiên xem xét các đặc trưng về địa lý, trong đó ba yếu tố thường được ưu tiên và  
có ảnh hưởng nhiều đến giải pháp phân định là:  
i) Hình thái bờ biển,  
ii) Sự hiện diện của đảo,  
iii) Tỷ lệ giữa chiều dài bờ biển và diện tích thềm lục địa.  
Khoản 3 của hai điều 74 và 83 trên thực tế đã pháp điển hóa một thực tiễn khá phổ biến,  
theo đó các bên tranh chấp vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa chồng lấn có thể thoả  
thuận về một "dàn xếp tạm thời" như hợp tác cùng thăm dò, khai thác, bảo vệ tài nguyên  
môi trường... Điểm đáng chú ý là “dàn xếp tạm thờI” không được làm phương hại đến  
giải pháp cuối cùng, tức là "dàn xếp tạm thời" không được ảnh hưởng đến kết quả phân  
định (việc bên này hoặc bên kia nhân nhượng về một khía cạnh nào đó để đạt được “dàn  
xếp tạm thời” không có nghĩa là từ bỏ lập trường của mình và công nhận lập trường của  
bên kia). Thoả thuận về "dàn xếp tạm thời" không có nghĩa chấm dứt đàm phán phân  
định. "Dàn xếp tạm thời" là giải pháp hoà hoãn, góp phần hạn chế những nguy cơ gây  
xung đột, tạo cơ sở cho các bên hợp tác sử dụng, khai thác vùng đặc quyền kinh tế và  
thềm lục địa cũng như bảo vệ môi trường biển ở đó.  
II. THỰC TIỄN PHÂN ĐỊNH BIỂN GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC QUỐC GIA  
LÁNG GIỀNG.  
Từ năm 1977, sau khi thống nhất đất nước và trở thành thành viên Liên Hợp quốc, Việt  
Nam bắt đầu tham gia Hội nghị lần thứ 3 của Liên hợp quốc về Luật biển.  
Giáo trình Luật biển quốc tế  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 68 trang Thùy Anh 12561 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Luật biển quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_luat_bien_quoc_te.pdf