Bồi thường trong hợp đồng bảo hiểm tài sản theo pháp luật Việt Nam

BỒI THƢỜNG TRONG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TÀI SẢN  
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM  
Lê Thị Thảo  
Người phản biện: TS. Đào Mộng Điệp  
Tóm tắt: Bồi thƣờng bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm là mục tiêu hƣớng đến  
của bên tham gia bảo hiểm nhằm bảo đảm an toàn và nguồn tài chính cho tài sản của  
mình khi có rủi ro xảy ra. Thực tiễn quy định của pháp luật Việt Nam đã có quy định  
về vấn đề bồi thƣờng bảo hiểm tài sản, tuy nhiên, trong thực tế về thực hiện hợp đồng  
bảo hiểm tài sản và giải quyết yêu cầu bồi hoàn đối với tài sản bảo hiểm gặp nhiều khó  
khăn. Trong phạm vi bài viết này tác giả đề cập về quy định của pháp luật về bồi  
thƣờng trong hợp đồng bảo hiểm tài sản, một số vấn đề vƣớng mắc trong quá trình  
thực thi quy định này và kiến nghị một số giải pháp góp phần hoàn thiện.  
Từ khóa: bảo hiểm, tài sản, hợp đồng bảo hiểm, bồi thƣờng.  
Résumé : Dans les contrats d‟assurance, l‟indemnité d‟assurance vise à garantir  
la sureté et les ressources financières de ses actifs en cas de risque. En réalité, la  
législation vietnamienne contienne des dispositions pour la question de l'indemnisation  
en matière d'assurance des biens. Pourtant, la mise en œuvre des contrats d'assurance  
des biens et la résolution des réclamations de remboursement pour les actifs assurés  
rencontrent des difficultés. Dans le cadre de cet article, l'auteur se réfère aux  
dispositions sur l'indemnisation dans les contrats d'assurance de la propriété , certains  
problèmes lors de la mise en œuvre de ces règlements et enfin, propose des solutions  
pour contribuer à la perfectionnement le cadre juridique.  
Mots-clés: assurance, propriété, contrats d'assurance, indemnisation  
Đặt vấn đề  
Bồi thƣờng trong quan hệ bảo hiểm tài sản là sự bù đắp của bên bảo hiểm (doanh  
nghiệp bảo hiểm) đối với những tổn thất, thiệt hại về tài sản của ngƣời tham gia bảo  
hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra. Trong quan hệ bảo hiểm tài sản, thuật ngữ “bồi  
thƣờng” đóng vai trò hết sức quan trọng, nó xác định phạm vi trách nhiệm tài chính  
của doanh nghiệp bảo hiểm. Bồi thƣờng đƣợc coi là sự đền bù “chính xác” về tài  
TS.GV Trƣờng Đại học Luật  
181  
chính, đủ để khôi phục tình trạng tài chính ban đầu của ngƣời đƣợc bảo hiểm nhƣ  
trƣớc khi xảy ra tổn thất.  
Trong hợp đồng bảo hiểm tài sản: “Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm tài sản là  
tài sản, bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá bằng tiền và các quyền tài sản”163, do  
vậy, thƣờng dễ xảy ra việc trục lợi trong bồi thƣờng bảo hiểm, tức ngƣời đƣợc bảo  
hiểm muốn đƣợc hƣởng lợi cao hơn thiệt hại thực tế xảy ra, bên đƣợc bảo hiểm khai  
tăng tổn thất đối với tài sản bảo hiểm để đƣợc hƣởng một quyền lợi vật chất nhiều hơn  
những gì mình mất. Theo nguyên tắc bồi thƣờng đối với bảo hiểm tài sản, khi có tổn  
thất xảy ra, ngƣời bảo hiểm phải bồi thƣờng đảm bảo cho ngƣời đƣợc bảo hiểm có một  
khoản tài chính bù đắp nhƣ thỏa thuận trong hợp đồng tƣơng ứng giá trị tài sản tại thời  
điểm giao kết hợp đồng nhằm khôi phục lại một phần hoặc toàn bộ tình trạng tài chính  
nhƣ trƣớc khi xảy ra tổn thất cho ngƣời đƣợc bảo hiểm. Khi có thiệt hại do rủi ro đƣợc  
bảo hiểm gây ra công ty bảo hiểm bồi thƣờng số tiền cho bên đƣợc bảo hiểm không  
vƣợt quá giá trị của tài sản bảo hiểm tại thời điểm và nơi xảy ra tổn thất. Trong phạm  
vi bài viết, tác giả đề cập đến những vấn đề vƣớng mắc, thực tiễn áp dụng về bồi  
thƣờng trong hợp đồng bảo hiểm tài sản và đề xuất các giải pháp hoàn thiện.  
1. Thực trạng quy định về bồi thường trong hợp đồng bảo hiểm tài sản  
- Căn cứ bồi thường và giới hạn bồi thường trong hợp đồng bảo hiểm tài sản164  
là khi sự kiện rủi ro bảo hiểm xảy ra và theo nguyên tắc:  
Số tiền bồi thƣờng mà doanh nghiệp bảo hiểm trả cho ngƣời đƣợc bảo hiểm  
không vƣợt quá số tiền bảo hiểm, trừ trƣờng hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng  
bảo hiểm. Số tiền bồi thƣờng đƣợc xác định trên cơ sở giá thị trƣờng của tài sản đƣợc  
bảo hiểm tại thời điểm, nơi xảy ra tổn thất và mức độ thiệt hại thực tế, trừ trƣờng hợp  
có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm, bao gồm chi phí để xác định giá thị  
trƣờng và mức độ thiệt hại do doanh nghiệp bảo hiểm chịu. Đối với những tổn thất do  
hao mòn tự nhiên hoặc do bản chất vốn có của tài sản doanh nghiệp bảo hiểm sẽ  
không phải chị trách nhiệm trừ trƣờng hợp có thỏa thuận.  
Tuy nhiên, thực tế xác định giá thị trƣờng trong bồi thƣờng bảo hiểm chƣa có  
tiêu chí thống nhất:  
163 Điều 40 Luật kinh doanh bảo biểm 2000, Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi bổ sung năm 2010.  
164 Điều 46 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi bổ sung năm 2010.  
182  
+ Trên nguyên tắc là bồi thƣờng phải đƣợc giải quyết theo giá thị trƣờng của tài  
sản khi xảy ra thiệt hại và không vƣợt quá số tiền bảo hiểm, nhƣng trên thực tế thƣờng  
tồn tại cách xác định bồi thƣờng theo ba trƣờng hợp sau: (i) bảo hiểm có xác định giá  
trị tài sản. Đây là trƣờng hợp hợp đồng bảo hiểm đã xác định và ghi rõ giá trị của tài  
sản đƣợc bảo hiểm. Do vậy, khi thiệt hại xảy ra thì phải bồi thƣờng trong phạm vi giá  
trị của tài sản đƣợc ghi trong hợp đồng dù tổn thất thực tế có lớn hơn giá trị đƣợc xác  
định trong hợp đồng. Trƣờng hợp này đảm bảo ngƣời tham gia bảo hiểm sẽ nhận đƣợc  
đúng với giá trị tài sản đã đƣợc ghi trong hợp đồng. Với phƣơng thức này đã đƣợc thỏa  
thuận rõ mức phí bảo hiểm với giá trị tài sản đƣợc bảo hiểm và giá trị tổn thất đƣợc  
bồi thƣờng khi sự kiện rủi ro bảo hiểm xảy ra; (ii) bảo hiểm không xác định giá trị của  
tài sản. Đây là trƣờng hợp mà hợp đồng bảo hiểm chỉ xác định số tiền bảo hiểm còn  
giá trị bảo hiểm lại đƣợc xác định sau khi thiệt hại đã xảy ra. Nhƣ vậy, mặc dù trách  
nhiệm bồi thƣờng của doanh nghiệp bảo hiểm tuân theo đúng nguyên tắc là không  
vƣợt quá số tiền bảo hiểm nhƣng đây là trƣờng hợp khá bất lợi cho ngƣời tham gia bảo  
hiểm. Vì số tiền bảo hiểm sẽ không tăng dù giá trị tài sản tăng lên theo giá trị trƣờng,  
nhƣng lại giảm khi giá trị tài sản giảm khi có thiệt hại. Giả sử A mua bảo hiểm cho  
chiếc xe của mình với số tiền bảo hiểm là 800 triệu đồng. Sau một năm đã xảy ra tai  
nạn và có tổn thất. Nếu vào thời điểm xảy ra tai nạn chiếc xe có giá trị 1 tỷ đồng thì  
doanh nghiệp cũng chỉ phải bồi thƣờng 800 triệu đồng nhƣng nếu trị giá xe này trên thị  
trƣờng chỉ còn 500 triệu đồng thì chỉ phải bồi thƣờng 500 triệu đồng; (iii) bảo hiểm giá  
trị tài sản mua sắm lại. Đây là trƣờng hợp có sự thỏa thuận giữa hai bên về việc xác  
định số tiền bồi thƣờng đủ để mua sắm lại tài sản mới nếu đối tƣợng bảo hiểm bị thiệt  
hại.  
+ Căn cứ để xem xét bồi thƣờng trong hợp đồng bảo hiểm tài sản là giá thị  
trƣờng của tài sản đƣợc bảo hiểm tại thời điểm, nơi xảy ra tổn thất và mức độ thiệt hại  
thực tế. Tuy nhiên, vấn đề xác định giá thị trƣờng là một việc khá khó khăn. Giá thị  
trƣờng thƣờng tính đƣợc đối với những tài sản còn mới, trong khi đó, tài sản rơi vào  
trƣờng hợp bảo hiểm tài sản thƣờng là tài sản đã qua sử dụng. Vì vậy, việc xác định  
thiệt hại thực tế xảy ra đối với tài sản bảo hiểm chỉ mang tính ƣớc đoán.  
+ Căn cứ để xác định việc bồi thƣờng – số tiền bồi thƣờng, đây là căn cứ quan  
trọng nhất để có thể chống trục lợi bảo hiểm. Số tiền bảo hiểm là số tiền ngƣời đƣợc  
183  
bảo hiểm yêu cầu bảo hiểm cho tài sản đó và đƣợc bảo hiểm chấp nhận165. Nhà làm  
luật lại cho phép các bên thỏa thuận về số tiền bồi thƣờng mà không dựa vào căn cứ  
bồi thƣờng với quy định “trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo  
hiểm”. Nhƣ vậy, vẫn sẽ có những tình huống trục lợi phát sinh qua việc quy định này.  
- Thời điểm phát sinh hiệu lực bồi thường trong hợp đồng bảo hiểm tài sản:  
+ Hợp đồng bảo hiểm đã đƣợc giao kết và bên mua bảo hiểm đã đóng đủ phí bảo  
hiểm. Trong trƣờng hợp này quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo hiểm  
đã phát sinh hiệu lực, do vậy khi phát sinh sự kiện bảo hiểm, bên bảo hiểm phải bồi  
thƣờng bảo hiểm cho bên đƣợc bảo hiểm theo mức bảo hiểm do các bên thỏa thuận.  
+ Hợp đồng bảo hiểm đã đƣợc giao kết, trong đó có thỏa thuận giữa doanh  
nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm về việc bên mua bảo hiểm nợ phí bảo hiểm.  
Trong trƣờng hợp này, trƣờng hợp phí bảo hiểm chƣa đóng đủ theo hợp đồng nhƣng  
phát sinh sự kiện bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm vẫn bồi thƣờng bảo hiểm cho  
bên đƣợc bảo hiểm từ ngày xảy ra sự kiện bảo hiểm mà không phụ thuộc vào việc bên  
đƣợc bảo hiểm đã đóng đủ phí hảo hiểm hay chƣa. Đối với trƣờng hợp bên mua bảo  
hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm trong thời gian gia hạn đóng phí bảo hiểm theo thỏa  
thuận trong hợp đồng bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải chịu trách nhiệm  
bồi thƣờng cho ngƣời đƣợc bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra trong thời gian gia  
hạn đóng phí. Và bên mua bảo hiểm vẫn phải đóng phí bảo hiểm cho đến hết thời gian  
gia hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm tài sản.  
+ Có bằng chứng về việc hợp đồng bảo hiểm đã đƣợc giao kết và bên mua bảo  
hiểm đã đóng đủ phí bảo hiểm.  
Theo Thông tƣ 50/2017/TT-BTC ngày 15/5/2017 Hƣớng dẫn thi hành nghị định  
số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành luật kinh  
doanh bảo hiểm, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm quy  
định: “Khi hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết và doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân  
thọ, chi nhánh nước ngoài có thỏa thuận cho bên mua bảo hiểm nợ phí bảo hiểm, việc  
nợ phí phải được quy định trong hợp đồng bảo hiểm và chỉ được áp dụng khi bên mua  
bảo hiểm có tài sản bảo đảm hoặc bảo lãnh thanh toán phí bảo hiểm.” Nhƣ vậy,  
thông tƣ đã bổ sung thay thế cho quy định về “Trường hợp doanh nghiệp kinh doanh  
165 Điều 41 Luật Kinh doanh Bảo hiểm năm 2006, Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi, bổ sung năm 2010.  
184  
bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài cho bên mua bảo hiểm gia hạn nợ phí bảo hiểm thì  
phải lập thành phụ lục hợp đồng bảo hiểm trong thời gian hợp đồng bảo hiểm còn  
hiệu lực và trước ngày xảy ra tổn thất.”166. Theo Thông tƣ 50/2017/TT-BTC ngày  
15/5/2017 Hƣớng dẫn thi hành nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của  
Chính Phủ quy định chi tiết thi hành luật kinh doanh bảo hiểm, luật sửa đổi, bổ sung  
một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm thì “việc nợ phí phải được quy định trong  
hợp đồng bảo hiểm và chỉ được áp dụng khi bên mua bảo hiểm có tài sản bảo đảm  
hoặc bảo lãnh thanh toán phí bảo hiểm. Trường hợp nợ phí có tài sản bảo đảm, doanh  
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh nước ngoài và bên mua bảo hiểm thực hiện  
theo quy định pháp luật về giao dịch bảo đảm. Trường hợp nợ phí có bảo lãnh thanh  
toán phí bảo hiểm, tổ chức thực hiện bảo lãnh thanh toán phí bảo hiểm phải có chức  
năng cung cấp dịch vụ bảo lãnh và phải có hợp đồng bảo lãnh thanh toán phí bảo  
hiểm.”. Tuy nhiên, quy định này chƣa quy định về thời gian kí hợp đồng bảo đảm tài  
sản, bảo lãnh thanh toán phí bảo hiểm sẽ không thống nhất trong thời hạn gia hạn nợ  
phí chƣa đƣợc bảo đảm tài sản hay bão lanh nộp phí bảo hiểm mà sự kiện bảo hiểm  
xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ phải bồi thƣờng bảo hiểm 100% theo cam kết hay  
bồi thƣờng bảo hiểm tƣơng ứng trên số phí bảo hiểm đã đóng theo thỏa thuận trong  
hợp đồng. Trƣờng hợp sự kiện bảo hiểm xảy ra khi các bên chƣa có bảo đảm tài sản,  
bảo lãnh thục hiện phí bảo hiểm để gia hạn phí bảo hiểm sau đó bên đƣợc bảo hiểm đã  
nộp phí bảo hiểm và sự kiện bảo hiểm xảy ra vào thời điểm chƣa đóng phí bảo hiểm  
thì doanh nghiệp bảo hiểm chi trả bảo hiểm trên cơ sở số phí bảo hiểm đã đóng hay  
trên toàn bộ giá trị hợp đồng bảo hiểm?  
- Thời hạn yêu cầu bồi thường, thời hạn trả tiền bồi thường: thời hạn yêu cầu bồi  
thường là một năm, kể từ ngày xảy ra sự kiện bảo hiểm. Thời gian xảy ra sự kiện bất  
khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác sẽ không tính vào thời hạn yêu cầu trả tiền  
bảo hiểm hoặc bồi thƣờng. Trong trƣờng hợp bên mua bảo hiểm chứng minh đƣợc  
rằng bên mua bảo hiểm không biết thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm thì thời hạn quy  
định tại khoản 1 Điều 28 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Luật sửa đổi bổ sung  
năm 2010 đƣợc tính từ ngày bên mua bảo hiểm biết việc xảy ra sự kiện bảo hiểm đó.  
166 Thông tƣ 125/2012/TT-BTC ngày 30/7/2012 Hƣớng dẫn chế dộ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm,  
doanh nghiệp tái bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ  
nƣớc ngoài.  
185  
Căn cứ Điều 29 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Luật sửa đổi bổ sung năm  
2010 thì thời hạn trả tiền bồi thƣờng đƣợc quy định nhƣ sau: Khi xảy ra sự kiện bảo  
hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thƣờng theo thời hạn đã  
thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm; trong trƣờng hợp không có thoả thuận về thời  
hạn thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thƣờng trong thời hạn  
15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc đầy đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc  
bồi thƣờng. Đây là thời gian ấn định để doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện nghĩa vụ bồi  
thƣờng của mình. Đồng thời quy định này cũng có ý nghĩa ngăn ngừa việc doanh  
nghiệp bảo hiểm cố tính không đƣa điều khoản về thời hạn trả tiền bồi thƣờng trong  
hợp đồng nhằm kéo dài thời gian sử dụng vốn của ngƣời đƣợc bảo hiểm. Trong trƣờng  
hợp doanh nghiệp bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ này về nguyên tắc phải trả thêm tiền lãi  
cho ngƣời đƣợc bảo hiểm hoặc ngƣời thụ hƣởng bảo hiểm.  
- Trách nhiệm chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn  
Điều 49 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010  
quy định: Trong trƣờng hợp ngƣời thứ ba có lỗi gây thiệt hại cho ngƣời đƣợc bảo hiểm  
và doanh nghiệp bảo hiểm đã trả tiền bồi thƣờng cho ngƣời đƣợc bảo hiểm thì ngƣời  
đƣợc bảo hiểm phải chuyển quyền yêu cầu ngƣời thứ ba bồi hoàn khoản tiền mà mình  
đã nhận bồi thƣờng cho doanh nghiệp bảo hiểm. Trong trƣờng hợp ngƣời đƣợc bảo  
hiểm từ chối chuyển quyền cho doanh nghiệp bảo hiểm, không lƣu hoặc từ bỏ quyền  
yêu cầu ngƣời thứ ba bồi thƣờng thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền khấu trừ số tiền  
bồi thƣờng tùy theo mức độ lỗi của ngƣời đƣợc bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm  
không đƣợc yêu cầu cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột của ngƣời đƣợc bảo  
hiểm bồi hoàn khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm đã trả cho ngƣời đƣợc bảo hiểm,  
trừ trƣờng hợp những ngƣời này cố ý gây ra tổn thất. Tuy nhiên, luật hiện hành vẫn  
còn một số điểm chƣa rõ ràng đó là:  
+ Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền khấu trừ số tiền bồi thƣờng tùy theo mức độ  
lỗi của ngƣời đƣợc bảo hiểm. Vậy lỗi của ngƣời đƣợc bảo hiểm ở đây là lỗi đối với sự  
kiện bảo hiểm xảy ra hay là lỗi đối với việc ngƣời đƣợc bảo hiểm phải làm nhƣng họ  
đã không làm là từ chối chuyển quyền cho doanh nghiệp bảo hiểm, không bảo lƣu  
hoặc từ bỏ quyền yêu cầu ngƣời thứ ba bồi thƣờng. Nên xác định rõ lỗi ở đây cần xác  
định là lỗi trong sự kiện bảo hiểm xảy ra.  
186  
+ Trƣờng hợp tổn thất xảy ra cho đối tƣợng bảo hiểm do lỗi cố ý của cha, mẹ, vợ,  
chồng, con, anh, chị, em ruột của ngƣời đƣợc bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có  
phải bồi thƣờng không? Nếu có bồi thƣờng trong trƣờng hợp này và ngƣời đƣợc bảo  
hiểm phải chuyển yêu cầu bồi hoàn cho doanh nghiệp bảo hiểm thì trong nhiều trƣờng  
hợp ngƣời đƣợc bảo hiểm vẫn thiệt hại.  
- Về hình thức bồi thường trong hợp đồng bảo hiểm tài sản  
Về các hình thức bồi thƣờng của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm167, khi một  
sự kiện bảo hiểm xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm có ít nhất ba phƣơng thức có thể chọn  
lựa để bồi thƣờng. Bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có thể thỏa thuận một  
trong những hình thức bồi thƣờng sau:  
Một là, sửa chữa tài sản bị thiệt hại: Theo cách này, doanh nghiệp bảo hiểm tự  
đứng ra lo việc sửa chữa hoặc thanh toán chi phí mà bên đƣợc bảo hiểm bỏ ra để sữa  
chữa tài sản bị thiệt hại. Cách bồi thƣờng này thƣờng đƣợc áp dụng đối với những tài  
sản mà doanh nghiệp bảo hiểm có dịch vụ sửa chữa hiện đại, đảm bảo khôi phục đƣợc  
công dụng của tài sản một cách tốt nhất, chẳng hạn nhƣ trong bảo hiểm xe cơ giới, bảo  
hiểm thân tàu... Phƣơng thức bồi thƣờng này có ƣu điểm là các bên không cần phải  
thiết lập các chứng từ trong sửa chữa tài sản vì do chính doanh nghiệp bảo hiểm thực  
hiện công việc này; do đó, vấn đề trục lợi khi áp dụng phƣơng thức này rất khó xảy ra.  
Hai là, thay thế tài sản bị thiệt hại bằng tài sản khác: Với hình thức này, doanh  
nghiệp bảo hiểm chủ động hoặc có thể ủy quyền cho ngƣời đƣợc bảo hiểm thay tài sản  
bị hƣ hỏng hoặc bị mất bằng một tài sản khác cùng loại, cùng tính năng tác dụng...  
Nhìn chung, hình thức này thƣờng không đƣợc các doanh nghiệp bảo hiểm áp dụng  
nhiều. Đó là do việc tìm đƣợc một tài sản tƣơng xứng để thay thế là điều rất khó, bởi  
vì tài sản đƣợc bảo hiểm thì đã qua sử dụng, trong khi đó, để thay thế thì bên đƣợc bảo  
hiểm hoặc doanh nghiệp bảo hiểm thƣờng mua ngoài thị trƣờng tài sản mới, mà điều  
này, ở góc độ nào đó nó vi phạm nguyên tắc bồi thƣờng. Tuy nhiên, doanh nghiệp bảo  
hiểm thƣờng lựa chọn phƣơng thức bồi thƣờng này trong trƣờng hợp tài sản tổn thất có  
giá trị thấp, chi phí thay thế tài sản nhỏ…  
167 Khoản 1, Điều 47, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi bổ sung năm  
2010.  
187  
Tuy nhiên, về mức bồi thƣờng trong trƣờng hợp thay thế bằng tài sản khác: Khi  
xảy ra sự kiện bảo hiểm, khách hàng thay thế phụ tùng khác chính hảng với giá của  
hảng thông báo nhƣng không đƣợc doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận. Trong trƣờng  
hợp này doanh nghiệp bảo hiểm xác định một tổn thất khác với mức giá khác với tài  
sản sửa chửa thay thế. Ví dụ trƣờng hợp168 Bà Dƣơng Thị Xuân Lan (phƣờng 3,  
TP.Vũng Tàu) mua bảo hiểm thân xe cho chiếc xe ô tô của mình và mua thêm 2 bảo  
hiểm bổ sung là “Bảo hiểm mới thay cũ” và “Bảo hiểm lựa chọn garage nhà sản xuất”  
của Công ty CP Bảo hiểm AAA. Thế nhƣng, khi xe bà bị tai nạn phải sửa chữa, bảo  
hiểm AAA đã không thực hiện chi trả chi phí bồi thƣờng nhƣ đã cam kết khi ký hợp  
đồng bảo hiểm. Bà Dƣơng Thị Xuân Lan cho biết, ngày 26-3-2014, khi mua chiếc xe  
ôtô nhãn hiệu MAZDA CX5, đời 2014, bà Lan đã mua bảo hiểm “thiệt hại vật chất xe”  
của Công ty CP Bảo hiểm AAA (gọi tắt là Bảo hiểm AAA) cho xe của mình, với mức  
phí 17.902.500 đồng/1 năm. Ngày 24-3-2015, khi đi qua xã Long Sơn, TP.Vũng Tàu,  
xe bà Lan bị đá văng vỡ kính trƣớc. Bà Lan đã viết đơn yêu cầu Bảo hiểm AAA thanh  
toán chi phí thay mới kính trƣớc cho bà, nhƣng Bảo hiểm AAA chỉ phê duyệt chi phí  
sửa chữa là 3,5 triệu đồng, trong khi đó chi phí thay thế mới hàng chính hãng đƣợc báo  
giá là 10,447 triệu đồng. “Theo nội dung Điều khoản AU005.AAA trong hợp đồng bảo  
hiểm xe của Công ty Bảo hiểm AAA quy định, trƣờng hợp xe bị thiệt hại do tai nạn  
thuộc phạm vi bảo hiểm, ngƣời đƣợc bảo hiểm có quyền đƣợc lựa chọn xƣởng sửa  
chữa (garage) để sửa chữa các thiệt hại do tai nạn gây ra”. Trong vụ việc này, các bên  
đang có tranh chấp về “chi phí thay thế phụ tùng chính hãng”. Tại Điều khoản  
AU005.AAA mà các bên đã thỏa thuận chỉ quy định ngƣời đƣợc bảo hiểm có  
quyền đƣợc lựa chọn xƣởng sửa chữa để sửa chữa các thiệt hại do tai nạn gây ra,  
nhƣng không có thỏa thuận quy định áp dụng bồi thƣờng theo mức chi phí thay  
thế phụ tùng chính hãng do xƣởng sửa chữa này chỉ định (xƣởng sửa chữa chỉ  
định chi phí thay thế mới hàng chính hãng với giá là 10,447 triệu đồng, còn phía  
Công ty bảo hiểm cho rằng chi phí này chỉ là 3,5 triệu đồng). Do đó Công ty bảo  
hiểm có quyền từ chối thanh toán mức chi phí thay thế phụ tùng chính hãng do  
xƣởng sửa chữa báo giá.”  
168 http://www.baobariavungtau.com.vn/ban-doc/201505/mot-vu-tranh-chap-ve-viec-chi-tra-boi-thuong-bao-  
hiem-xe-oto-610800/index.htm  
188  
Ba là, trả tiền bồi thường: Hợp đồng bảo hiểm tài sản đƣợc thể hiện dƣới hình  
thức pháp lý là đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm, thực chất là các cam kết  
chi trả tài chính từ phía doanh nghiệp bảo hiểm. Do vậy, hợp đồng bảo hiểm tài sản là  
hợp đồng trả tiền, vì vậy, hầu hết các khiếu nại đều đƣợc thanh toán bằng tiền. Theo  
phƣơng thức này, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tiến hành chi trả cho bên đƣợc bảo hiểm  
một số tiền bằng với giá trị tổn thất của tài sản bảo hiểm, căn cứ vào giá trị theo thị  
trƣờng bên bảo hiểm sẽ trả tiền bồi thƣờng theo đúng giá trị và theo mức độ tổn thất  
của tài sản đó. Thông thƣờng, cả doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm đều  
thích lựa chọn hình thức bồi thƣờng bằng tiền vì tiện lợi cho cả hai bên. Do vậy, pháp  
luật đã quy định, trƣờng hợp doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm không thỏa  
thuận đƣợc về hình thức bồi thƣờng thì việc bồi thƣờng sẽ đƣợc thực hiện bằng tiền.  
Tuy nhiên, hình thức này cũng có điểm bất cập, đó là, bên đƣợc bảo hiểm phải chứng  
minh đƣợc giá trị thiệt hại thực tế xảy ra hoặc doanh nghiệp bảo hiểm phải có căn cứ  
xác định giá trị tổn thất. Để thực hiện đƣợc điều này, thông thƣờng phải mất chi phí  
giám định thiệt hại. Trong trƣờng hợp bồi thƣờng theo hình thức thay thế tài sản bị  
thiệt hại bằng tài sản khác, trả tiền bồi thƣờng thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền thu  
hồi tài sản bị thiệt hại sau khi đã thay thế hoặc bồi thƣờng toàn bộ theo giá thị trƣờng  
của tài sản.  
4. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bồi thường trong hợp đồng bảo  
hiểm tài sản  
Thứ nhất, về đóng phí bảo hiểm tài sản và cơ sở bồi thường. Thông tƣ  
50/2017/TT-BTC ngày 15/5/2017 Hƣớng dẫn thi hành nghị định số 73/2016/NĐ-  
CP ngày 01/7/2016 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành luật kinh doanh bảo hiểm,  
luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm quy định: “Khi hợp  
đồng bảo hiểm đã được giao kết và doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh  
nước ngoài có thỏa thuận cho bên mua bảo hiểm nợ phí bảo hiểm, việc nợ phí phải  
được quy định trong hợp đồng bảo hiểm và chỉ được áp dụng khi bên mua bảo hiểm có  
tài sản bảo đảm hoặc bảo lãnh thanh toán phí bảo hiểm.” Quy định này cần bổ sung  
là “Trong trƣờng hợp bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm hoặc không  
đóng phí bảo hiểm theo thời hạn thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm, mà không gia  
hạn đóng phí bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm sẽ tự chấm dứt hiệu lực bảo hiểm vào ngày  
189  
kế tiếp ngày bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp  
đồng bảo hiểm nếu không bảo đảm tài sản hoặc bảo lãnh nộp phí bảo hiểm.” Với quy  
định này đƣợc hiểu, việc bồi thƣờng bảo hiểm không phát sinh khi hợp đồng bảo hiểm  
đã chấm dứt.  
Mặt khác, bên mua bảo hiểm phải có tài sản đảm bảo hoặc bảo lãnh thanh toán  
phải đƣợc thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm. Theo đó, trƣờng hợp khách hàng nợ phí  
và có tài sản bảo đảm, doanh nghiệp và bên mua bảo hiểm thực hiện theo quy định  
pháp luật về giao dịch bảo đảm. Điều này đồng nghĩa với việc tài sản bảo đảm phải có  
giá trị ít nhất bằng số phí bảo hiểm còn phải nộp và phải có tài liệu chứng minh thuộc  
sở hữu của bên mua bảo hiểm và chƣa đƣợc dùng để thế chấp, cầm cố hoặc đảm bảo  
thực hiện các trách nhiệm khác của bên mua bảo hiểm. Còn nếu nợ phí có bảo lãnh  
thanh toán thì tổ chức thực hiện bảo lãnh phải có chức năng cung cấp dịch vụ bảo lãnh  
và phải có hợp đồng về bảo lãnh thanh toán phí bảo hiểm.  
Thứ hai, về định giá tài sản bồi thường. Doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo  
hiểm phải thống nhất về cách thức và biện pháp xác định giá trị của tài sản bảo hiểm  
tại thời điểm và nơi xảy ra tổn thất khi giao kết hợp đồng và ghi nhận cụ thể trong hợp  
đồng bảo hiểm.  
Thứ ba, về phương thức bồi thường. Trƣờng hợp bồi thƣờng theo phƣơng  
thức thay thế thiệt hại tài sản bằng tài sản khác. Trong trƣờng hợp này pháp luật  
phải quy định rõ “trong trƣờng hợp các bên không thỏa thuận đƣợc loại tài sản  
thay thế “chi phí thay thế phụ tùng chính hãng” thì việc bồi thƣờng sẽ áp dụng  
theo mức giá phổ thông phụ tùng chính hãng của nhà sản xuất trên thị trƣờng và  
các bên cần thỏa thuận rõ trong hợp đồng khi giao kết. Để thực hiện đƣợc điều  
này, thông thƣờng phải mất chi phí giám định thiệt hại. Trong trƣờng hợp bồi thƣờng  
theo hình thức thay thế tài sản bị thiệt hại bằng tài sản khác, trả tiền bồi thƣờng thì  
doanh nghiệp bảo hiểm có quyền thu hồi tài sản bị thiệt hại sau khi đã thay thế hoặc  
bồi thƣờng toàn bộ theo giá thị trƣờng của tài sản.  
Thứ tư, về thế quyền bồi hoàn trong bảo hiểm hàng hải. Sửa đổi quy định trong  
Bộ luật hàng hải để đảm bảo cho doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện quyền đòi ngƣời  
thứ ba gây ra thiệt hại phải bồi thƣờng trong bảo hiểm hàng hải. Theo quy định tại  
Khoản 1, Điều 49, Luật Kinh doanh bảo hiểm thì: “Trong trƣờng hợp ngƣời thứ ba có  
190  
lỗi gây thiệt hại cho ngƣời đƣợc bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm đã trả tiền bồi  
thƣờng cho ngƣời đƣợc bảo hiểm thì ngƣời đƣợc bảo hiểm phải chuyển quyền yêu cầu  
ngƣời thứ ba bồi hoàn khoản tiền mà mình đã nhận bồi thƣờng cho doanh nghiệp bảo  
hiểm”, tuy nhiên trong quan hệ bảo hiểm hàng hải, doanh nghiệp nhập khẩu (ngƣời  
đƣợc bảo hiểm) đã không thể thực hiện đƣợc nghĩa vụ bồi thƣờng cho các doanh  
nghiệp nhập khẩu Việt Nam trong quan hệ bảo hiểm hàng hóa nhập khẩu nếu hàng về  
đến cảng bị hƣ hỏng, mất mát.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ tài chính, Thông tƣ 50/2017/TT-BTC ngày 15/5/2017 Hƣớng dẫn thi  
hành Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính Phủ quy định chi tiết  
thi hành luật kinh doanh bảo hiểm, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh  
doanh bảo hiểm  
2. Bộ tài chính, Thông tƣ 125/2012/TT-BTC ngày 30/7/2012 Hƣớng dẫn chế dộ  
tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, doanh nghiệp  
môi giới bảo hiểm và chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nƣớc ngoài.  
3. Chính phủ, Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính Phủ  
quy định chi tiết thi hành luật kinh doanh bảo hiểm, luật sửa đổi, bổ sung một số điều  
của Luật kinh doanh bảo hiểm.  
4. Quốc hội, Luật kinh doanh bảo biểm năm 2000.  
5. Quốc hội, Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi bổ sung năm 2010.  
ve-viec-chi-tra-boi-thuong-bao-hiem-xe-oto-610800/index.htm.  
191  
pdf 11 trang Thùy Anh 12280 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bồi thường trong hợp đồng bảo hiểm tài sản theo pháp luật Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfboi_thuong_trong_hop_dong_bao_hiem_tai_san_theo_phap_luat_vi.pdf