Những bất cập tồn tại về chế định án treo theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành

NHỮNG BẤT CẬP TỒN TẠI VỀ CHẾ ĐỊNH ÁN TREO...  
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH  
NGUYỄN THỊ TRÂM ANH*  
Chế định án treo hiện đang được áp dụng phổ biến trong pháp luật hình sự nước ta  
nhưng chế định này vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định. Bài viết phân tích quy định  
của pháp luật hình sự Việt Nam về án treo và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện  
các quy định này.  
Từ khóa: Án treo, chấp hành hình phạt tù, pháp luật hình sự.  
Ngày nhận bài: 09/9/2020; Biên tập xong: 12/9/2020; Duyệt đăng: 15/9/2020.  
Although suspended sentence has been applying in Vietnamese criminal laws,  
it still faces to several limitations. This article clarifies our criminal regulations on  
suspened sentence as well as proposes recommendations to complete them.  
Keywords: Suspended sentence, serve prison sentence, criminal laws.  
n treo là biện pháp miễn chấp  
hành hình phạt tù có điều kiện  
cho người bị kết án phạt tù,  
Án treo là một trong những chế định  
của luật hình sự, từ các quy định trong Bộ  
luật hình sự (BLHS) năm 2015, sửa đổi bổ  
sung năm 2017 cũng như Nghị quyết của  
Hội đồng Thẩm phán (HĐTP) Tòa án nhân  
dân tối cao hướng dẫn về áp dụng án treo  
có thể đưa ra khái niệm khoa học về án treo  
như sau: Án treo là một chế định pháp lý đặc  
Á
không buộc họ phải chấp hành hình phạt  
tù giam tại trại giam khi có những điều  
kiện nhất định, nhằm khuyến khích họ tự  
cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã  
hội. Đây là một chế định pháp lý hình sự  
ra đời từ rất sớm và được ghi nhận đầu biệt hay còn là biện pháp miễn chấp hành hình  
phạt tù có điều kiện do Toà án quyết định trên  
cơ sở căn cứ vào hình phạt tù đã tuyên đối với  
người phạm tội không quá ba năm, căn cứ vào  
nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm  
nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS)  
thì Toà án cho người đó được hưởng án treo,  
không phải chấp hành hình phạt tại trại giam;  
đồng thời ấn định thời gian thử thách từ 01  
đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong  
thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi  
tiên trong Sắc lệnh số 21 ngày 14/02/1946  
của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt  
Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Chế định này  
được kế thừa và phát triển cho đến nay bởi  
quan điểm của Đảng, Nhà nước trong việc  
áp dụng pháp luật hình sự là nghiêm minh,  
nhân đạo, nghiêm trị nhưng khoan hồng.  
Chế định án treo và áp dụng án treo là một  
biểu hiện rõ nét sự kết hợp hài hoà giữa  
phương châm trừng trị với khoan hồng,  
đồng thời cũng thể hiện sự tham gia của  
nhân dân vào việc giám sát người phạm tội  
tự giáo dục, cải tạo để trở thành người có  
ích cho xã hội.  
1
hành án hình sự (THAHS).  
BLHS năm 2015 ghi nhận tại Điều 65  
về án treo như sau: 1. Khi xử phạt tù không  
quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người  
*ꢀTòa án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà  
Nội  
1. Quy định của pháp luật hình sự Việt  
Nam hiện hành về án treo  
28 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
NGUYỄN THỊ TRÂM ANH  
phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy  
đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi  
làm việc.  
không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì  
Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian  
thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện  
các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy  
định của Luật THAHS.  
2. Trong thời gian thử thách, Tòa án giao  
người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức  
nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa  
phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo  
dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm  
phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa  
phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.  
3. Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với  
người được hưởng án treo hình phạt bổ sung  
nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình  
phạt này.  
4. Người được hưởng án treo đã chấp hành  
được một phần hai thời gian thử thách và có  
nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ  
chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án  
có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.  
5. Trong thời gian thử thách, nếu người  
được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo  
quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần  
trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người  
đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã  
cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành  
vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải  
chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng  
hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định  
tại Điều 56 của Bộ luật này.  
Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày  
15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của  
BLHS về án treo quy định về điều kiện cho  
người bị kết án phạt tù nhưng cho hưởng  
án treo tại Điều 2: Người bị xử phạt tù có thể  
được xem xét cho hưởng án treo khi đủ các điều  
kiện sau đây:  
Đối với người đã bị kết án nhưng thuộc  
trường hợp được coi là không có án tích, người  
bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã  
bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ  
luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi  
phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến  
ngày phạm tội lần này đã quá 06 tháng, nếu xét  
thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được  
thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng  
hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò  
không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều  
kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo.”  
3. Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ TNHS trở lên,  
trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ TNHS  
quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS và không  
có tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại khoản 1  
Điều 52 của BLHS.  
Trường hợp có tình tiết tăng nặng TNHS thì  
số tình tiết giảm nhẹ TNHS phải nhiều hơn số  
tình tiết tăng nặng TNHS từ 02 tình tiết trở lên,  
trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ TNHS  
quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS.  
4. Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định  
để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.  
Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc  
thường trú có địa chꢀ được xác định cụ thể theo  
quy định của Luật cư trú mà người được hưởng  
án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau  
khi được hưởng án treo.  
Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm  
tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo  
hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ  
quan, tổ chức có thẩm quyền.  
5. Xét thấy không cần phải bắt chấp hành  
hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng  
tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không  
gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng  
xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.”  
1. Bị xử phạt tù không quá 03 năm.  
2. Có nhân thân tốt.  
Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-  
Được coi là có nhân thân tốt nếu ngoài lần HĐTP ngày 15/5/2018 của HĐTP Tòa án  
phạm tội này, người phạm tội luôn chấp hành nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều  
Số chuyên đề 03 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 29  
NHỮNG BẤT CẬP TỒN TẠI VỀ CHẾ ĐỊNH ÁN TREO...  
65 của BLHS về án treo quy định những tội phạm ít nghiêm trọng thì mức cao nhất  
trường hợp không cho hưởng án:  
của khung hình phạt quy định trong BLHS  
là từ 03 năm tù trở xuống; đối với tội phạm  
nghiêm trọng thì khung hình phạt là từ 03  
năm đến 07 năm tù. Tuy nhiên, thực tiễn  
xét xử cho thấy quy định như hiện nay là  
rất khoa học và giải quyết triệt để trong  
việc quyết định hình phạt đối với trường  
hợp đồng phạm với vai trò không đáng kể  
trong vụ án.  
1. Người phạm tội là người chủ mưu, cầm  
đầu, chꢀ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng  
thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp,  
lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố ý  
gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.  
2. Người thực hiện hành vi phạm tội bꢁ  
trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng đề  
nghị truy nã.  
3. Một số kiến nghị  
Thứ nhất, cần pháp điển hóa các quy định  
về án treo  
3. Người được hưởng án treo phạm tội mới  
trong thời gian thử thách; người đang được  
hưởng án treo bị xét xử về một tội phạm khác  
thực hiện trước khi được hưởng án treo.  
4. Người phạm tội bị xét xử trong cùng một  
lần về nhiều tội, trừ trường hợp người phạm  
tội là người dưới 18 tuổi.  
5. Người phạm tội nhiều lần, trừ trường  
hợp người phạm tội là người dưới 18 tuổi.  
6. Người phạm tội thuộc trường hợp tái  
phạm, tái phạm nguy hiểm.  
Về mặt lập pháp, các quy định về án  
treo trong Luật hình sự Việt Nam còn chưa  
thống nhất. Chế định này được quy định  
tại Điều 65 BLHS năm 2015 và các văn bản  
hướng dẫn thi hành. Vì vậy, yêu cầu pháp  
điển hóa các quy định này là việc làm cấp  
thiết đặc biệt. Chế định án treo nên được  
quy định lại rõ ràng, chặt chẽ hơn, cụ thể là  
nên tập hợp các quy định đã có về án treo  
thành một chương riêng trong BLHS. Tác  
giả hy vọng trong lần sửa đổi BLHS tiếp  
theo, vấn đề này sẽ được xem xét ở mức độ  
cần thiết và thấu đáo hơn.  
Thứ hai, cần có hướng dẫn cụ thể và thống  
nhất về căn cứ xét hưởng án treo  
Thực tiễn áp dụng án treo còn nhiều  
vấn đề vướng mắc cần giải quyết, nhất là  
về căn cứ xét hưởng án treo bao gồm:  
- Các quy định về điều kiện nhân thân  
của người phạm tội chỉ cần thỏa mãn nhân  
thân tốt là chưa có tiền án tiền sự. Bởi lẽ  
trên thực tế, cơ quan tiến hành tố tụng  
không xác minh việc người phạm tội luôn  
chấp hành đúng chính sách, pháp luật và  
thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công  
dân ở nơi cư trú, nơi làm việc. Còn đối với  
trường hợp người phạm tội có nhân thân  
xấu (có tiền án đã xóa và tiền sự hết thời  
hiệu), điều kiện áp dụng cho hưởng án  
2. Các quy định mới về án treo và  
bình luận  
Về cơ bản, nội dung về án treo theo  
BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017  
vẫn giữ nguyên như bộ luật cũ và bổ sung  
thêm một quy định mới tại khoản 5 Điều  
65 BLHS.  
BLHS năm 2015 và văn bản hướng dẫn  
áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo có  
nhiều nội dung mới. Tuy nhiên, quá trình  
thực tiễn xét xử vẫn tồn tại những hạn chế.  
Việc tiếp tục hoàn thiện những hạn chế  
này là đòi hỏi mang tính cấp thiết. Về mặt  
lí luận, có nhiều ý kiến cho rằng nên bãi bỏ  
chế định án treo nhưng theo tác giả, việc  
duy trì chế định án treo là đúng đắn. Có rất  
nhiều bài viết của các tác giả luật học cho  
rằng quy định điều kiện cho hưởng án treo  
khi bị xử phạt tù không quá 03 năm, không  
phân biệt tội phạm ít nghiêm trọng, tội  
phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm  
trọng… là không phù hợp, bởi lẽ đối với treo cần quy định chặt chẽ hơn và chỉ được  
30 Khoa học Kiểm sát Số chuyên đề 03 - 2020  
NGUYỄN THỊ TRÂM ANH  
áp dụng khi thuộc trường hợp ít nghiêm thân của người phạm tội khi xem xét áp  
trọng hoặc đồng phạm với vai trò không  
đáng kể.  
dụng án treo. Tuy nhiên, hướng dẫn này  
tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP còn  
chung chung. Trên thực tế xảy ra trường  
hợp người được xét án treo có đồng thời cả  
điều kiện “nơi cư trú rõ ràng” và “nơi làm  
việc ổn định”, như vậy trong trường hợp  
này thì thứ tự ưu tiên áp dụng sẽ như thế  
nào. Theo quan điểm tác giả, việc quy định  
theo Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP có  
thể ngầm hiểu căn cứ “nơi cư trú rõ ràng”  
sẽ được ưu tiên áp dụng hơn, nhưng quy  
định hiện nay lại không thể hiện đúng như  
vậy. Do đó, nên sửa đổi điều kiện lại như  
- Điều kiện về tình tiết giảm nhẹ TNHS  
còn bất cập. Điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS  
năm 2015 quy định về tình tiết tăng nặng  
trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên.  
Tuy nhiên, Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/  
NQ-HĐTP quy định một trong những  
trường hợp không cho hưởng án treo là  
người phạm tội nhiều lần, trừ trường hợp người  
phạm tội là người dưới 18 tuổi. Theo tác giả,  
đây là quy định chưa hợp lý, chưa đảm bảo  
tính công bằng bởi tình tiết “nhiều lần” đã  
được quy định là tình tiết tăng nặng trách sau: “Có nơi cứ trú rõ ràng. Trong trường hợp  
nhiệm hình sự. Hơn nữa, phạm tội nhiều không xác định được nơi cư trú thì có thể căn  
lần chưa hẳn phản ánh tính chất và mức độ  
nghiêm trọng của hành vi nguy hiểm cho xã  
hội. Ví dụ như 02 trường hợp sau:  
cứ vào nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức  
có thẩm quyền giám sát, giáo dục.”  
- Bên cạnh đó, cũng cần bổ sung quy  
định cụ thể về thủ tục chuyển đổi giữa các  
cơ quan, tổ chức giám sát tại các địa phương  
với nhau khi xử lý vấn đề nơi làm việc của  
người đang hưởng án treo có sự thay đổi  
hoặc người đang hưởng án treo không còn  
làm việc và trở lại nơi cư trú sinh sống.  
Trường hợp 1: A trộm cắp tài sản của B  
một chiếc điện thoại di động trị giá 5 triệu  
đồng, sau đó trộm cắp của C chiếc xe máy trị  
giá 6 triệu đồng. Tổng giá trị tài sản Achiếm  
đoạt là 11 triệu đồng và A bị truy tố về tội  
trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1  
Điều 173 BLHS năm 2015 với tình tiết tăng  
nặng là phạm tội 02 lần trở lên theo quy  
định tại điểm g Điều 52 BLHS năm 2015.  
Thứ ba, cần hướng dẫn việc áp dụng án treo  
dành riêng cho người dưới 18 tuổi  
Theo quan điểm tác giả, người dưới  
18 tuổi cần phải có sự khác biệt trong  
việc áp dụng án treo so với người từ đủ  
18 tuổi, bởi lẽ nếu áp dụng theo những  
điều kiện trên sẽ là rất khó khăn trong  
việc áp dụng án treo dành cho nhóm đối  
tượng này. Bên cạnh đó, đối tượng này  
cũng nhận được nhiều chính sách pháp  
luật khoan hồng khi họ là người bị kết án  
phạt tù. Điều kiện áp dụng án treo hiện  
nay không phân biệt đối tượng áp dụng  
là ai. Do vậy, nếu chỉ xét riêng cho người  
dưới 18 tuổi thì có những điều kiện  
không thực sự phù hợp, gây ảnh hưởng  
đến việc xem xét án treo cho họ; đồng  
thời ảnh hưởng đến mục đích của hình  
Trường hợp 2: B trộm cắp tài sản của H  
một chiếc xe máy SH trị giá 55 triệu đồng  
và B bị truy tố về tội trộm cắp tài sản theo  
quy định tại khoản điểm c khoản 2 Điều  
173 BLHS năm 2015.  
Theo quy định của pháp luật hiện  
hành, A thuộc trường hợp không cho  
hưởng án treo mặc dù có nhiều tình tiết  
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định  
tại khoản 1, 2 Điều 51 BLHS năm 2015;  
trong khi đó B có thể được cho hưởng án  
treo nếu đủ điều kiện.  
- Về các điều kiện có nơi cư trú rõ ràng  
hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ  
chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.  
Đây là căn cứ nhằm xác định nhân phạt khi đây là đối tượng dễ giáo dục,  
Số chuyên đề 03 - 2020 Khoa học Kiểm sát 31  
NHỮNG BẤT CẬP TỒN TẠI VỀ CHẾ ĐỊNH ÁN TREO...  
dễ cải tạo nhưng pháp luật lại không rõ quy định hoàn toàn mới, có ảnh hưởng rất  
ràng, buộc họ phải chấp hành án phạt tù lớn đến quyền lợi của người được hưởng án  
tại trại giam. Điều đó có thể sẽ gây tiêu treo nên cần thiết phải được ghi nhận chi  
cực đến việc hình thành nhân cách cũng tiết vào chương riêng biệt. Trường hợp bản  
như sự giáo dục, cải tạo người bị kết án án cho hưởng án treo do Tòa án nhân dân  
phạt tù.  
Cần hướng dẫn các điều kiện áp dụng  
án treo dành cho người dưới 18 tuổi có thể  
chỉ cần các điều kiện sau:  
cấp tỉnh tuyên phạt mà Tòa án nhân dân  
cấp huyện ra quyết định buộc người được  
hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù  
của bản án Tòa án nhân dân cấp tỉnh cho  
hưởng án treo thì có phù hợp với quy định  
không?  
Tóm lại, áp dụng án treo thể hiện sự  
đúng đắn, hợp lý của đường lối, chính sách  
pháp luật của nhà nước, sức sống của pháp  
luật hình sự trên thực tế. Mặt khác, qua  
hoạt động áp dụng án treo, các cơ quan có  
thẩm quyền cũng phát hiện những bất cập,  
vướng mắc, thiếu sót của các quy phạm  
pháp luật hình sự để đưa ra các biện pháp  
bảo đảm áp dụng thống nhất trên thực tế.  
Do đó, việc hoàn thiện các quy định pháp  
luật về án treo là đòi hỏi mang tính cấp  
“1. Bị xử phạt tù không quá 03 năm.  
2. Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm  
hình sự trở lên (không phân biệt giữa tình tiết  
tại khoản 1 hay khoản 2 Điều 51).  
…
4. Có nơi cư trú rõ ràng hoặc đang học tại  
tại các cơ sở giáo dục, đào tạo nghề thuận lợi  
cho việc giám sát, giáo dục.  
5. Xét thấy không cần phải bắt chấp hành  
hình phạt tù, việc cho họ hưởng án treo không  
gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng  
xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.”  
Như vậy, theo quan điểm cá nhân, nên thiết, cần được quan tâm hợp lý để nhanh  
loại bỏ điều kiện “nhân thân tốt”, bởi lẽ  
nhân thân của người dưới 18 tuổi không  
nên được đánh giá ở độ tuổi này. Việc đánh  
giá này là quá khắt khe đối với người dưới  
18 tuổi. Ngoài ra, chỉ cần có đủ 2 tình tiết  
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không phân  
biệt có hay không tình tiết khoản 1 Điều 51  
BLHS. Ngoài ra, thay thế cụm từ “đang có  
công việc ổn định” bằng “đang học tại các cơ  
sở giáo dục, đào tạo nghề” cho phù hợp với  
người dưới 18 tuổi.  
Thứ tư, các bất cập trong quy định và áp  
dụng quy định mới về nghĩa vụ phải chấp hành  
hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo  
khi có vi phạm  
Khoản 5 Điều 65 của BLHS năm 2015  
quy định: “Trong thời gian thử thách, người  
được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần  
trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người  
được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt  
tù của bản án đã cho hưởng án treo”. Đây là  
chóng hoàn thiện./.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 18/10/1990  
của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao,  
Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018  
của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao  
hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về  
án treo hướng dẫn.  
2. Báo pháp luật thành phố Hồ Chí Minh:  
Hướng dẫn xử án treo của Tòa án tối cao: hꢁps://  
plo.vn/phap-luat/huong-dan-xu-an-treo-cua-toa-  
toi-cao-van-chua-on-737711.html  
3. Tòa án nhân dân tối cao (2016), Một số vấn  
đề về chế định án treo trong góp ý dự thảo Bộ luật  
hình sự sửa đổi.  
4. Trần Văn Trí (2016), Quy định mới về án treo  
của Bộ luật hình sự năm 2015, Viện kiểm sát nhân  
dân huyện Yên Thế.  
32 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
pdf 5 trang Thùy Anh 11460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Những bất cập tồn tại về chế định án treo theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhung_bat_cap_ton_tai_ve_che_dinh_an_treo_theo_phap_luat_hin.pdf