Quản lý nhà nước về cư trú đối với công nhân tại các khu công nghiệp: Thực trạng và giải pháp

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CƯ TRÚ ĐỐI VỚI CÔNG NHÂN...  
TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP  
NGUYỄN XUÂN THỦY* - HOÀNG THỊ HƯỜNG**  
Bài viết tập trung phân tích thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về cư trú đối với  
công nhân làm việc tại các khu công nghiệp. Trên cơ sở đó, chỉ rõ một số tồn tại, hạn chế  
và nguyên nhân, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước  
về cư trú đối với công nhân làm việc tại các khu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay.  
Từ khóa: Quản lý nhà nước, cư trú, công nhân, khu công nghiệp.  
Ngày nhận bài: 10/9/2020; Biên tập xong: 14/9/2020; Duyệt đăng: 15/9/2020  
The article concentrates on analyzing current situation of state management  
on residence for workers working in industrial zones; then specifies a number of  
shortcomings and its causes as well as proposes some solutions to improve the efficiency  
of state management on residence for workers working in industrial zones in Vietnam.  
Keywords: State management, residence, workers, industrial zones.  
1. Thực trạng hoạt động quản lý nhà đăng ký thường trú mới có giảm, với hơn  
nước về cư trú đối với công nhân làm 100.000 hộ tương ứng hơn 240.000 nhân  
việc tại các khu công nghiệp  
khẩu và gần 150.000 nhân khẩu lẻ. Năm  
2010, số hộ được đăng ký thường trú có  
xu hướng giảm. Đây là năm đánh dấu  
sự ra đời của Nghị định 56/2010/NĐ-  
CP của Chính phủ ngày 24/5/2010 sửa  
1.1. Công tác đăng ký, quản lý thường trú  
Qua hơn 10 năm triển khai thực hiện  
Luật Cư trú (kể từ Luật Cư trú năm 2006),  
Công an các đơn vị, địa phương đã thực  
hiện giải quyết đăng ký thường trú cho  
7.672.261 hộ, 32.147.883 nhân khẩu; tách  
sổ hộ khẩu cho 3.401.401 trường hợp;  
cấp mới 4.357.413 sổ hộ khẩu; cấp đổi  
6.829.952 sổ hộ khẩu, cấp lại 2.490.096  
sổ hộ khẩu; điều chỉnh 4.347.884 trường  
hợp có thay đổi trong sổ hộ khẩu. Số  
hộ, nhân khẩu đang thực tế quản lý  
23.776.445 hộ, 94.612.520 nhân khẩu1. Chỉ  
tính riêng năm 2008, đã có hơn 200.000  
hộ được đăng ký thường trú mới với  
hơn 400.000 nhân khẩu và gần 150.000  
nhân khẩu lẻ. Sang năm 2009, số lượng  
2
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định  
107/2007/NĐ-CP ngày 25/6/2007 quy  
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một  
số điều của Luật Cư trú, trong Nghị định  
này đã mở rộng hơn các điều kiện để  
công dân được đăng ký thường trú, đặc  
biệt là các trường hợp đăng ký thường  
trú tại thành phố trực thuộc Trung ương,  
dẫn tới một số lượng lớn công dân được  
đăng ký thường trú mới khi nghị định  
có hiệu lực. Sang năm 2011, số hộ đăng  
ký thường trú tăng mạnh, chỉ tính riêng  
việc đăng ký thường trú khu công ngiệp  
(KCN) ở các tỉnh trung du, đồng bằng  
1ꢀ Bộ Công an, 2019, Báo cáo số: 381/BC-BCA, ngày  
27/5/2019 về Tổng kết thi hành Luật Cư trú năm  
2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2013), Hà Nội.  
ꢀ* Tiến sĩ, Học viện Cảnh sát nhân dân  
** Thạc sĩ, Viện Khoa học Môi trường và Xã hội  
98 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
NGUYỄN XUÂN THỦY - HOÀNG THỊ HƯỜNG  
Bắc Bộ đã là: 37.867 hộ và số nhân khẩu  
đó dẫn tới sự thay đổi nơi cư trú của  
người dân kéo theo nhu cầu cần đăng ký  
thường trú mới. Ngoài ra, đây còn là kết  
quả của quá trình tuyên truyền, giáo dục  
ý thức chấp hành pháp luật cư trú của  
lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính  
(QLHC) về trật tự xã hội (TTXH), giúp  
người dân hiểu được quyền và trách  
nhiệm của mình trong đăng ký, quản lý  
thường trú, chủ động thực hiện các nội  
dung của đăng ký, quản lý thường trú.  
Bên cạnh đó là sự ra đời của các văn bản  
pháp luật về cư trú, sửa đổi hoặc thay thế  
các văn bản cũ, tiếp tục mở rộng và tạo  
điều kiện cho công dân trong đăng ký  
thường trú như Luật số 36/2013/QH13  
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật  
Cư trú; Nghị định số 31/2014/NĐ-CP  
ngày 18/4/2014 thay thế cho Nghị định  
56/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định  
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số  
điều của Luật Cư trú...  
97.224 nhân khẩu và 51.257 nhân khẩu  
lẻ. Sở dĩ có điều này là vì một hộ đăng  
ký thường trú có thể có một nhân khẩu,  
có thể có nhiều nhân khẩu.2  
1
Đánh giá chung cho thấy tình hình  
đăng ký thường trú đối với người lao  
động làm việc tại các KCN thay đổi  
không ổn định theo từng năm. Sở dĩ  
có tình trạng trên là do người lao động  
đăng ký tạm trú nhiều năm trên địa bàn  
KCN và các vùng lân cận nhưng không  
đăng ký thường trú, do vậy số hộ và số  
nhân khẩu là người lao động làm việc  
tại các KCN đăng ký thường trú thường  
tăng lên khi nhà nước hoặc các doanh  
nghiệp tại các KCN có các chính sách  
đãi ngộ ưu tiên cho người lao động  
thường trú gần các KCN, hoặc người  
lao động cư trú tại các địa bàn đô thị,  
thành phố lớn liền kề các KCN muốn  
đăng ký thường trú để tạo điều kiện  
cho con cái học tập... Qua đó, cho thấy  
chính sách, quy định của nhà nước về  
điều chỉnh mật độ phân bố dân cư giữa  
các đô thị, thành phố lớn với các khu  
vực nông thôn đã tạo ra sự thay đổi của  
tình hình đăng ký thường trú. Số nhân  
khẩu tăng lên rất nhanh nhưng số hộ  
được đăng ký thường trú đang có xu  
hướng giảm dần.  
1.2. Đăng ký, quản lý tạm trú và tiếp  
nhận lưu trú  
Cùng với sự gia tăng, mở rộng các  
KCN, số người lao động đến sinh sống  
và làm việc tại các KCN đang tăng lên  
rất nhanh. Để tiến hành công tác đăng  
ký, quản lý tạm trú cho những đối tượng  
này, lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH  
Công an các tỉnh đã phải thường xuyên  
phối hợp với chính quyền địa phương, cơ  
quan nhà nước, chính quyền địa phương  
các cấp, các tổ chức xã hội, tổ dân phố,  
cơ quan, doanh nghiệp… tổ chức tiến  
hành đăng ký, quản lý tạm trú cho các  
đối tượng lao động. Qua phân tích kết  
quả đăng ký, quản lý tạm trú của lực  
lượng Cảnh sát QLHC về TTXH Công  
an các tỉnh trung du, đồng bằng Bắc Bộ  
cho thấy: Từ năm 2007 đến năm 2017, lực  
Sự thay đổi mạnh mẽ của tình hình  
đăng ký thường trú trong những năm  
gần đây, trước tiên là do sự phát triển,  
đô thị hóa đã mở rộng và gia tăng nhanh  
chóng các khu công nghiệp, khu chế xuất  
thu hút lao động trên khắp cả nước, qua  
2
Cục Cảnh sát QLHC về TTXH, Báo cáo kết quả  
công tác đăng ký quản lý cư trú từ năm 2007 đến  
năm 2016 của Công an các tỉnh (15 tỉnh khảo sát)  
trung du, đồng bằng Bắc Bộ.  
Số chuyên đề 03 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 99  
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CƯ TRÚ ĐỐI VỚI CÔNG NHÂN...  
lượng Cảnh sát QLHC về TTXH đã tiến về TTXH Công an các tỉnh luôn chú trọng  
hành đăng ký tạm trú cho 523.637 hộ với  
1.213.806 nhân khẩu. Tính riêng trong năm  
2017, lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH  
Công an các tỉnh trung du, đồng bằng Bắc  
Bộ đã tiến hành đăng ký tạm trú cho 52.954  
hộ với 134.556 nhân khẩu và đang quản lý  
tạm trú đối với 90.755 hộ với 894.588 lượt  
nhân khẩu bao gồm cả các hộ, nhân khẩu  
là người nước ngoài, người Việt Nam định  
tiến hành công tác tiếp nhận thông báo  
lưu trú theo quy định của Luật Cư trú  
đối với người lao động tại các khu công  
nghiệp. Trong quá trình tiến hành tiếp  
nhận lưu trú, lực lượng Cảnh sát QLHC  
về TTXH đã có sự phối hợp với nhiều cơ  
quan, tổ chức quần chúng và công dân có  
liên quan tới hoạt động cư trú của người  
lao động để tổ chức tiếp nhận thông báo  
lưu trú với rất nhiều các hình thức đa  
dạng và phong phú từ trực tiếp tiếp nhận  
cư ở nước ngoài về Việt Nam tham quan,  
3
1
du lịch, làm ăn, sinh sống .  
Xét riêng công tác đăng ký tạm trú đối thông báo từ quần chúng nhân dân, qua  
với người lao động làm việc tại các KCN  
trên địa bàn các tỉnh trung du, đồng bằng  
Bắc bộ thời gian qua có thể thấy, kết quả  
đăng ký tạm trú tăng mạnh theo từng năm  
về cả số hộ và số nhân khẩu. Kết quả đăng  
ký tạm trú cao nhất là năm 2017 với 13.685  
hộ và 51.218 nhân khẩu. Tính từ năm 2007  
đến 2017, trên 15 tỉnh trung du, đồng  
bằng Bắc bộ, lực lượng Cảnh sát QLHC về  
TTXH đã tiến hành đăng ký tạm trú cho  
tổng số 127.020 lượt hộ (chiếm 24,26%) và  
488.492 (chiếm 40,24%) lượt nhân khẩu  
với trung bình là 3,53 người lao động trên  
một hộ, trong khi cả nước mức trung bình  
42  
điện thoại, internet hoặc qua tổ chức  
quần chúng xã hội ở địa bàn cơ sở, công  
ty, doanh nghiệp nơi người lao động làm  
việc, sinh hoạt… Kết quả đạt được của  
công tác tiếp nhận thông báo lưu trú từ  
năm 2006 – 2019 là 319.775.171 lượt, trong  
đó thông báo trực tiếp là 177.448.193 lượt  
(chiếm 55,49%), thông báo qua điện thoại  
là 45.795.993 lượt (chiếm 14,32%), thông  
báo qua Internet là 96.530.385 lượt (chiếm  
5
3
30,19%) . Chỉ tính riêng khu vực Trung  
du miền núi phía Bắc, từ năm 2007 đến  
2017, lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH  
đã làm thủ tục tiếp nhận lưu trú cho hơn  
60 triệu lượt người nước ngoài và gần 60  
triệu lượt người ở các tỉnh, thành phố khác  
lưu trú qua đêm trên địa bàn được phân  
công quản lý. Trong đó, các đối tượng trên  
lưu trú chủ yếu ở khách sạn, nhà nghỉ với  
khoảng 108 triệu lượt (chiếm gần 90%),  
tiếp đó là lưu trú tại nhà dân với hơn 6  
triệu lượt (chiếm 5%), hơn 3 triệu lượt lưu  
là 2,32 người trên một hộ4  
. Điều này cho  
̣
thấy số nhân khẩu là người lao động làm  
việc tại các KCN trung bình trên mỗi hộ  
tạm trú của 15 tỉnh trung du đồng bằng  
Bắc bộ là tương đối cao, phản ánh mức  
độ tập trung nguồn lao động của các nơi  
khác về các khu công nghiệp nên đã dẫn  
tới tình trạng này.  
Để thực hiện công tác đăng ký, quản  
lý thường trú, tạm trú đối với người lao  
động làm việc tại các KCN trong những  
năm vừa qua, lực lượng Cảnh sát QLHC  
trú tại nhà khách và gần 1 triệu lượt lưu  
6
4
trú tại địa bàn công cộng (chiếm 5%) .  
5 Bộ Công an, 2019, Báo cáo số: 381/BC-BCA, ngày  
27/5/2019 về Tổng kết thi hành Luật Cư trú năm  
2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2013), Hà Nội.  
6ꢀ Cục Cảnh sát QLHC về TTXH, tlđd.  
3 Cục Cảnh sát QLHC về TTXH, tlđd.  
4ꢀ Cục Cảnh sát QLHC về TTXH, tlđd.  
100 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
NGUYỄN XUÂN THỦY - HOÀNG THỊ HƯỜNG  
Các số liệu thống kê trên cho thấy số định về đăng ký, quản lý cư trú của công  
lượng người thông báo lưu trú rất lớn. Để dân nói chung và đặc biệt tăng cường kiểm  
tra, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm  
pháp luật về đăng ký, quản lý cư trú đối  
với người lao động làm việc tại các KCN  
nói riêng, nhất là những người lao động là  
người nước ngoài, người Việt Nam định  
cư ở nước ngoài về Việt Nam lao động,  
đầu tư, sinh sống. Nội dung, phương pháp  
và hình thức kiểm tra tập trung chủ yếu là  
nghe báo cáo chung kết hợp kiểm tra thực  
tế; công tác đăng ký, quản lý hồ sơ đăng  
ký cư trú đã, đang giải quyết; sổ sách biểu  
mẫu, tàng thư, thông tin báo cáo, nơi tiếp  
dân; các vụ việc khiếu nại, tố cáo tại Công  
an cấp huyện, Công an phường, xã, thị  
trấn; việc thực hiện các quy định về đăng  
ký, quản lý cư trú của công dân, nhất là  
người lao động làm việc tại các KCN.  
làm tốt công tác quản lý cư trú trong lĩnh  
vực tiếp nhận, thông báo lưu trú đối với  
công dân nói chung và đối với người lao  
động tại các khu công nghiệp nói riêng,  
lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH  
đã phối hợp với có cơ quan, đơn vị, lực  
lượng, quần chúng nhân dân tại các địa  
bàn tập trung nhiều khách sạn, nhà nghỉ,  
cơ sở cho thuê lưu trú, nhà dân trên địa  
bàn có người lao động tại các khu công  
nghiệp cư trú lập các chốt tiếp nhận thông  
báo lưu trú với trung bình 02 chốt tại một  
địa bàn dân cư cơ sở và thông qua nhiều  
hình thức, biện pháp khác nhau như điện  
thoại, internet… để tiến hành tiếp nhận  
thông báo lưu trú cho người lao động làm  
việc tại các KCN được đảm bảo nhanh  
chóng, thuận tiện.  
Qua tổng hợp trong hơn 10 năm triển  
khai thực hiện Luật Cư trú, Công an các  
đơn vị, địa phương đã tiếp nhận và giải  
quyết 3.295 đơn khiếu nại, 386 đơn tố cáo;  
đã tổ chức 15.027.358 lượt kiểm tra cư trú,  
trong đó kiểm tra 15.369.966 hộ gia đình,  
85.771.257 nhân khẩu; kiểm tra 2.261.930  
cơ sở cho thuê lưu trú, 66.450.671 nhân  
khẩu; phát hiện và xử lý vi phạm hành  
chính 1.189.086 trường hợp (trong đó, xử  
phạt cảnh cáo 191.667 trường hợp, phạt tiền  
997.419 trường hợp với số tiền là hơn 171,65  
1.3. Kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và  
xử lý vi phạm trong việc chấp hành các  
quy định về đăng ký, quản lý cư trú đối với  
công nhân làm việc tại các khu công nghiệp  
Đi đôi với việc tuyên truyền, vận động  
quần chúng chấp hành các quy định về  
quản lý nhà nước về cư trú, cần phải đề  
cập và tiến hành việc kiểm tra, hướng  
dẫn, phát hiện và xử lý các trường hợp vi  
phạm trong quá trình đăng ký, quản lý cư  
trú. Việc kiểm tra, hướng dẫn, phát hiện  
và xử lý vi phạm không tiến hành có tính  
chất định kỳ, hình thức mà phải được tiến  
hành một cách thường xuyên, có hệ thống.  
tỷ đồng); huỷ kết quả đăng ký thường trú  
7
1
5.394 trường hợp với 11.179 nhân khẩu .  
Đối với công tác kiểm tra, xử lý vi  
phạm về đăng ký, quản lý cư trú đối với  
công dân nói chung và người lao động  
làm việc tại các KCN nói riêng, từ năm  
2007 đến hết năm 2017, Công an các tỉnh  
đã huy động hơn 3 triệu lượt Cán bộ cơ  
sở (CBCS) và hơn 4 triệu lượt cán bộ cơ  
Để tiến hành có hiệu quả công tác này,  
lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH đã trực  
tiếp kiểm tra, hướng dẫn triển khai thực  
hiện các quy định của pháp luật về công tác  
đăng ký, quản lý cư trú. Hướng dẫn, kiểm  
tra, đôn đốc huy động các lực lượng cơ sở  
tham gia kiểm tra việc thực hiện các quy 7ꢀ Bộ Công an, 2019, tlđd.  
Số chuyên đề 03 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 101  
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CƯ TRÚ ĐỐI VỚI CÔNG NHÂN...  
sở tham gia kiểm tra việc thực hiện các đến tháng 12/2015, lực lượng Cảnh sát  
quy định về đăng ký, quản lý cư trú đối QLHC về TTXH Công an tỉnh Vĩnh Phúc  
với gần 6 triệu hộ, nhà dân; gần 1,8 triệu tổ chức kiểm tra, xử lý chấn chỉnh công  
khách sạn, quán trọ; gần 300.000 nhà tập tác quản lý cư trú đối với người lao động  
thể, cơ quan, xí nghiệp và hơn 1 triệu  
hộ đối tượng. Trong đó, tập trung đẩy  
mạnh việc kiểm tra, phát hiện và xử lý các  
trường hợp vi phạm các quy định về đăng  
ký, quản lý cư trú của gần 2 triệu người  
lao động làm việc tại các KCN (trong đó  
gần 8.000 lao động là người nước ngoài).  
Qua kiểm tra đã phát hiện hơn 200.000  
trường hợp vi phạm, cảnh cáo hơn 60.000  
làm việc tại các KCN thuê trọ trên các địa  
bàn xung quanh KCN Khai Quang, tỉnh  
Vĩnh Phúc. Qua kiểm tra cư trú đã phát  
hiện 06 ổ nhóm hình sự, bắt giữ 05 vụ cờ  
bạc, 02 vụ mại dâm, 03 vụ ma túy mà đối  
tượng có liên quan là người lao động tại  
các doanh nghiệp trong KCN Khai Quang,  
đồng thời lập biên bản xử phạt đối với 261  
trường hợp không mang theo giấy tờ tùy  
thân, không làm thủ tục đăng ký tạm trú,  
xử phạt vi phạm hành chính nộp ngân  
sách nhà nước 48.200.000 đồng.  
trường hợp và lập biên bản, xử lý hành  
8
1
chính hơn 130.000 trường hợp . Đặc biệt,  
số trường hợp vi phạm các quy định về  
đăng ký, quản lý cư trú của công nhân làm  
việc tại các KCN xảy ra khá phổ biến, chủ  
yếu là các hành vi vi phạm các quy định  
về đăng ký, quản lý tạm trú, tạm vắng và  
khai báo lưu trú của người lao động Việt  
Nam; không đăng ký tạm trú, không có  
giấy phép lao động đối với lao động là  
người nước ngoài...  
2. Nhận diện những tồn tại, hạn chế  
và nguyên nhân  
2.1. Những tồn tại, hạn chế  
- Hạn chế, thiếu sót về tổ chức lực lượng  
tiến hành quản lý cư trú đối với công nhân  
làm việc tại các khu công nghiệp  
Việc bố trí CBCS làm nhiệm vụ đăng  
ký, quản lý cư trú trên địa bàn các tỉnh hiện  
nay chưa đảm bảo thực hiện tốt được các  
nội dung của công tác này. Nhất là CBCS  
ở cấp cơ sở như Cảnh sát khu vực, Công  
an xây dựng phong trào và phụ trách xã  
về an ninh trật tự còn rất mỏng, địa bàn  
quản lý rộng nên khó có thể quán xuyến  
hết được các nội dung công tác đặt ra. Bên  
cạnh đó, chất lượng CBCS không đồng  
đều, năng lực, trình độ chuyên môn, kinh  
nghiệm công tác còn hạn chế chưa đáp  
ứng được các yêu cầu công tác thực tiễn.  
Ở một số tỉnh trung du, đồng bằng  
phía Bắc, qua công tác kiểm tra năm 2012  
đã phát hiện 1.021 trường hợp người lao  
động làm việc tại các KCN vi phạm các  
quy định của Luật Cư trú, trong đó có  
04 người lao động là người Hàn Quốc ở  
Hà Nam, 06 lao động là người Nhật ở Hà  
Nội, 02 lao động là người Indonexia ở Bắc  
Ninh chưa làm thủ tục đăng ký tạm trú,  
65 người nước ngoài chưa có giấy phép  
9
2
lao động . Đáng chú ý, qua công tác kiểm  
tra đã phát hiện, cung cấp thông tin làm rõ  
hàng trăm vụ việc vi phạm và đối tượng vi  
phạm là công nhân tạm trú trong các khu,  
cụm công nghiệp. Ví dụ từ tháng 12/2014  
- Hạn chế, thiếu sót trong tổ chức thực hiện  
công tác đăng ký, quản lý cư trú đối với người  
lao động làm việc tại các khu công nghiệp  
8ꢀ Theo Báo cáo của Cục C06, Bộ Công an.  
9 Cục Cảnh sát QLHC về TTXH, tlđd.  
Nước ta đang trong giai đoạn đẩy  
mạnh phát triển công nghiệp hóa, hiện  
102 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
NGUYỄN XUÂN THỦY - HOÀNG THỊ HƯỜNG  
đại hóa đất nước, cùng với đó là xu thế hội thác cơ sở dữ liệu về cư trú góp phần phục vụ  
nhập toàn cầu hóa. Điều này đã thúc đẩy  
sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, từ  
đó dẫn tới sự ra đời và phát triển của hàng  
loạt các KCN, khu chế xuất, thu hút hàng  
vạn lao động từ các địa phương khác và  
cả lao động nước ngoài đến đây tìm kiếm  
việc làm. Tuy nhiên, số người lao động từ  
địa phương khác và lao động nước ngoài  
không thực hiện các quy định về đăng ký,  
quản lý cư trú lại khá phổ biến. Công tác  
điều tra, nghiên cứu nắm tình hình đối  
với người lao động làm việc tại các KCN  
còn nhiều bất cập, chưa kịp thời và có chất  
lượng; công tác tuyên truyền, vận động  
quần chúng chấp hành các quy định của  
pháp luật về đăng ký, quản lý cư trú chưa  
mang lại hiệu quả cần thiết; kết quả kiểm  
tra, phát hiện và xử lý vi phạm về đăng  
ký, quản lý cư trú đối với người lao động  
làm việc tại các KCN còn thấp; công tác  
lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc CBCS  
ở cấp cơ sở chưa được chú trọng, còn bị  
động, lúng túng, kém hiệu quả. Tại nhiều  
địa bàn dân cư xung quanh các KCN, tình  
hình nhân khẩu thay đổi liên tục nhưng  
các lực lượng chức năng không nắm bắt  
và theo dõi kịp thời, người lao động đến  
tạm trú, lưu trú không được kiểm tra kịp  
thời, không vào sổ theo dõi nên tổng số  
nhân khẩu tạm trú thường sai lệch so với  
số liệu báo cáo... Chính những hạn chế,  
thiếu sót này đã ảnh hưởng rất lớn tới  
hiệu quả công tác quản lý nhà nước về cư  
trú đối với người lao động nói riêng và  
công tác quản lý nhà nước về an ninh trật  
tự nói chung trên địa bàn các KCN. Đây  
cũng là nguyên nhân không nhỏ dẫn tới  
tình hình an ninh trật tự phức tạp tại các  
KCN hiện nay.  
công tác quản lý xã hội và công tác nghiệp vụ  
tại các khu công nghiệp  
Mặc dù hiện nay, lực lượng Cảnh sát  
QLHC về TTXH Công an các tỉnh đã xây  
dựng được hệ thống cơ sở dữ liệu về quản  
lý cư trú đối với công dân nói chung và  
người lao động làm việc tại các KCN nói  
riêng nhưng việc thu thập thông tin, tài  
liệu xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu hiện  
nay còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Đặc  
biệt, việc thu thập các thông tin, tài liệu  
về các đối tượng lao động từ địa phương  
khác, lao động là người nước ngoài đến  
địa phương có các KCN lao động, cư trú  
thường không đảm bảo các nội dung, yêu  
cầu đặt ra. Việc quản lý, khai thác các  
thông tin, tài liệu về quản lý cư trú phục  
vụ các yêu cầu nhiệm vụ quản lý xã hội và  
công tác nghiệp vụ của các cơ quan chức  
năng trong và ngoài ngành Công an còn  
gặp nhiều bất cập. Việc tra cứu, xác minh  
thông tin còn chậm, thiếu thông tin chính  
xác, không được cập nhật thường xuyên;  
sự phối hợp trao đổi thông tin về người  
lao động làm việc tại các KCN giữa các  
địa phương còn mang tính hình thức, chất  
lượng thông tin trao đổi, cung cấp không  
đảm bảo, không phù hợp với thực tế. Qua  
đó, hiệu quả của hoạt động khai thác cơ  
sở dữ liệu về quản lý cư trú phục vụ các  
hoạt động quản lý nhà nước không đáp  
ứng được các yêu cầu đặt ra.  
- Hạn chế, thiếu sót về quan hệ phối hợp  
thực hiện các nội dung hoạt động quản lý nhà  
nước về cư trú đối với người lao động làm việc  
tại các khu công nghiệp  
Trong quá trình tổ chức thực hiện các  
nội dung hoạt động quản lý nhà nước về  
cư trú, lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH  
- Hạn chế, thiếu sót trong thu thập thông  
tin, tài liệu phục vụ xây dựng, quản lý, khai Công an các tỉnh chưa thực sự chủ động  
Số chuyên đề 03 - 2020 Khoa học Kiểm sát 103  
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CƯ TRÚ ĐỐI VỚI CÔNG NHÂN...  
phối hợp chặt chẽ, thường xuyên, đồng bộ khẩu, sổ tạm trú như quy định về tách, cấp  
với các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và đổi, cấp lại, điều chỉnh thay đổi trong sổ  
hộ khẩu; xóa đăng ký thường trú, xác nhận  
việc trước đây đã đăng ký thường trú; hủy  
bỏ kết quả đăng ký thường trú trái pháp  
luật; cấp giấy chuyển hộ khẩu (thực hiện  
tại cấp huyện, cấp xã); cấp đổi, cấp lại sổ  
tạm trú, điều chỉnh những thay đổi trong  
sổ tạm trú, gia hạn tạm trú, hủy bỏ đăng ký  
tạm trú trái pháp luật tại Công an cấp xã.  
các doanh nghiệp có liên quan trong việc  
thực hiện các nội dung quy định của pháp  
luật về cư trú đối với người lao động ở các  
KCN. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp  
các bên có liên quan tham gia phối hợp  
chưa tạo được cơ chế phối hợp phù hợp,  
chặt chẽ, thiếu sự thống nhất, đồng bộ dẫn  
tới cản trở, tạo ra các khó khăn, vướng mắc  
không đáng có cho người lao động làm việc  
tại các KCN trong việc thực hiện các quy  
định của pháp luật về cư trú. Bên cạnh đó,  
trình độ vận dụng pháp luật của các bên  
có liên quan tham gia phối hợp còn nhiều  
hạn chế, ngại va chạm, xử lý chưa nghiêm,  
chưa triệt để, đặc biệt đối với các đối tượng  
lao động là người nước ngoài, người Việt  
Nam định cư ở nước ngoài. Điều này dẫn  
tới công tác quản lý nhà nước về cư trú đối  
với người lao động làm việc tại các KCN  
còn gặp nhiều khó khăn, bất cập.  
Hai là, bất cập trong một số trường hợp  
xóa đăng ký thường trú theo quy định tại  
khoản 1 Điều 22 Luật Cư trú:  
Điểm a khoản 1 Điều 22 Luật Cư trú  
quy định trường hợp người bị xóa đăng  
ký thường trú khi chết, bị Tòa án tuyên bố  
là mất tích hoặc đã chết. Tuy nhiên, hiện  
nay chưa có văn bản nào quy định về việc  
thỏa thuận giữa những người trong hộ về  
việc cử người là chủ hộ mới khi chủ hộ cũ  
chuyển đi, chết, bị Tòa án tuyên bố là mất  
tích hoặc đã chết hoặc trường hợp những  
người còn lại trong hộ gia đình không tự  
thỏa thuận được ai làm chủ hộ thì chưa  
thể xem xét giải quyết.  
2.2. Nguyên nhân của những tồn tại,  
hạn chế  
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp  
luật về hoạt động quản lý cư trú của công  
dân hiện nay còn một số hạn chế dẫn  
tới nhiều khó khăn, vướng mắc khi vận  
dụng các văn bản quy phạm pháp luật  
về quản lý cư trú vào quá trình tổ chức  
thực hiện các nội dung quản lý nhà nước  
về cư trú đối với người lao động làm việc  
tại các KCN.  
Điểm b khoản 1 Điều 22 Luật Cư trú  
quy định trường hợp người bị xóa đăng  
ký thường trú khi được tuyển dụng vào  
Quân đội nhân dân, Công an nhân dân  
ở tập trung trong doanh trại. Tuy nhiên,  
có trường hợp khi công dân được tuyển  
dụng vào Quân đội nhân dân, Công an  
nhân dân ở tập trung trong doanh trại lại  
không thực hiện việc xóa đăng ký thường  
trú tại nơi ở cũ, dẫn đến nhiều trường  
hợp còn có hai nơi đăng ký thường trú  
khác nhau.  
Một là, Luật Cư trú quy định việc quản  
lý cư trú được thực hiện bằng hình thức  
quản lý thông qua sổ hộ khẩu, sổ tạm trú.  
Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện cho  
thấy hình thức quản lý cư trú bằng sổ hộ  
khẩu, sổ tạm trú còn nhiều hạn chế, có rất  
Điểm d khoản 1 Điều 22 Luật Cư trú  
quy định trường hợp người bị xóa đăng  
nhiều thủ tục hành chính khác nhau. Có ký thường trú khi ra nước ngoài để định  
thể kể đến các thủ tục liên quan đến sổ hộ cư. Tuy nhiên, có trường hợp công dân đã  
104 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
NGUYỄN XUÂN THỦY - HOÀNG THỊ HƯỜNG  
đăng ký thường trú mà nay lại ra nước tổ chức quần chúng cơ sở, các thành viên  
ngoài để định cư nhưng không có cơ quan tham gia hoạt động tuyên truyền, vận  
nào thông báo cho lực lượng làm công tác động của các tổ chức quần chúng chưa tích  
đăng ký, quản lý cư trú là công dân đó đã cực, dẫn đến hiệu quả chưa cao. Tại một  
được định cư ở nước ngoài để xóa đăng số địa phương, việc tổ chức tuyên truyền,  
ký thường trú trong nước.  
vận động còn chưa được chú trọng, thiếu  
các hình thức, biện pháp tuyên truyền cá  
biệt tác động trực tiếp đến đối tượng là  
người lao động làm việc tại các KCN nên  
chưa thu hút được sự quan tâm của công  
nhân cũng như quần chúng nhân dân.  
Bên cạnh đó, Luật Cư trú và các văn  
bản hướng dẫn thi hành không quy định  
xóa đăng ký thường trú đối với các trường  
hợp công dân không còn đảm bảo điều  
kiện về chỗ ở hợp pháp như nhà ở thực  
tế không còn do di dời, đền bù, giải tỏa  
- Tình hình biên chế, tổ chức lực lượng  
hay đã bán nhà cho người khác, trường làm công tác đăng ký, quản lý cư trú còn  
hợp hết hợp đồng thuê nhà, mượn nhà thiếu về số lượng, chất lượng còn hạn  
hoặc không còn được ở nhờ... nên gây chế. Có những địa phương hiện còn thiếu  
khó khăn trong công tác quản lý cư trú. nhiều CBCS nên một đồng chí phải phụ  
Nhiều trường hợp hộ gia đình có nhà bị trách nhiều địa bàn. Đồng thời, trong quá  
giải tỏa hoặc bán nhà chuyển đi nơi khác trình công tác, lực lượng CBCS còn bị chi  
sinh sống, có nhiều trường hợp sau khi phối bởi nhiều việc không đúng chức  
đã được đăng ký thường trú ở nơi cư trú năng do cấp ủy đảng và chính quyền địa  
mới thì không quay lại để xóa tên trong phương giao nên chưa có điều kiện tập  
sổ hộ khẩu dẫn đến việc quản lý số lượng trung, chuyên sâu để nâng cao chất lượng  
người thường trú thực tế tại địa phương quản lý cư trú công dân nói chung và công  
còn chưa được sát, đúng với thực tế. Có nhân làm việc tại các KCN nói riêng trong  
trường hợp là vợ, chồng đã ly hôn hoặc giai đoạn hiện nay.  
anh, chị, em trong gia đình (đăng ký  
- Cơ sở vật chất, phương tiện nghiệp  
thường trú chung một sổ hộ khẩu) có mâu  
vụ và ứng dụng khoa học công nghệ để  
thuẫn với nhau nên khi có người trong hộ  
phục vụ cho công tác quản lý cư trú của  
muốn cắt chuyển đi hoặc dùng sổ hộ khẩu  
công dân còn nhiều hạn chế, bất cập.  
để đi làm giấy tờ, giao dịch dân sự khác có  
Nhiều đơn vị Công an các địa phương còn  
liên quan thì chủ hộ hoặc người giữ sổ hộ  
gặp nhiều khó khăn về trụ sở, trang thiết  
khẩu đã không đưa sổ hộ khẩu nên gây  
bị làm việc, ít được tiếp cận với các thông  
cản trở việc thực hiện quyền, lợi ích hợp  
tin khoa học công nghệ, nhất là ở các khu  
pháp của công dân.  
vực trung du, miền núi, vùng cao, vùng  
- Công tác tuyên truyền, vận động xa, vùng dân tộc thiểu số. Quá trình thực  
quần chúng đối với người lao động làm hiện các nội dung đăng ký, quản lý cư trú  
việc tại các KCN chấp hành các quy định còn thủ công, một số cán bộ, chiến sĩ trình  
của pháp luật về cư trú còn gặp nhiều khó độ tin học, sử dụng máy tính còn hạn chế  
khăn, trở ngại nên hiệu quả công tác chưa nên việc triển khai ứng dụng khoa học kỹ  
đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Có thể kể thuật, công nghệ thông tin trong đăng ký,  
đến khó khăn về kinh phí hỗ trợ cho các quản lý cư trú gặp rất nhiều khó khăn, đặc  
Số chuyên đề 03 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 105  
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CƯ TRÚ ĐỐI VỚI CÔNG NHÂN...  
biệt là trong quá trình xác minh, tra cứu ngoài nên một số chủ trương, chính sách  
thông tin về cư trú của người lao động  
không còn ở địa bàn thường trú.  
cũng như các quy định của pháp luật đối  
với các KCN có nhiều điểm cần phải thay  
đổi cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế tại  
đây. Để đảm bảo điều kiện cho hoạt động  
quản lý cư trú, đi lại đối với người nước  
ngoài, ngành Công an chủ động cùng với  
các cơ quan lập pháp nghiên cứu, phát  
hiện, tham mưu, đề xuất cho Đảng, Nhà  
nước, Ngành xây dựng, sửa đổi, bổ sung  
hệ thống pháp luật đồng bộ. Việc bổ sung,  
sửa đổi và xây dựng hệ thống pháp luật  
về quản lý đối với người nước ngoài phải  
- Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý  
các hành vi vi phạm quy định pháp luật về  
quản lý cư trú chưa được quan tâm, chú  
trọng đúng mức. Việc kiểm tra còn mang  
nặng tính hành chính, chủ yếu tập trung  
vào việc kiểm tra, hướng dẫn thực hiện  
các nội dung quản lý cư trú của lực lượng  
Công an cơ sở mà chưa chú trọng vào việc  
kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm cũng  
như lồng ghép các nội dung tuyên truyền,  
vận động quần chúng nhân dân và người đảm bảo chủ quyền quốc gia, vừa phục vụ  
lao động làm việc tại các KCN thực hiện  
các quy định của pháp luật về cư trú.  
tốt yêu cầu đối ngoại của Đảng, Nhà nước,  
phù hợp với luật pháp quốc tế và thông lệ  
quốc tế. Xây dựng các quy định, điều luật  
mới phải đảm bảo tính hợp pháp, chính  
xác và phù hợp với tình hình cư trú hiện  
nay của người nước ngoài trong xu hướng  
hội nhập quốc tế. Phối hợp nghiên cứu,  
rà soát các quy định của Luật Cư trú để  
sửa đổi, bổ sung theo hướng giảm những  
thủ tục hành chính không cần thiết để bảo  
đảm yêu cầu cải cách hành chính của Nhà  
nước; quy định điều kiện đăng ký, quản  
lý cư trú đáp ứng hai yêu cầu: một mặt tạo  
thuận lợi cho người lao động tại các khu  
công nghiệp đăng ký cư trú để họ thực  
hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp  
của mình theo quy định của pháp luật;  
mặt khác phải đảm bảo yêu cầu phòng  
ngừa việc lợi dụng sự thông thoáng của  
luật để thực hiện hành vi trục lợi, gây khó  
khăn cho công tác quản lý cư trú của Nhà  
nước.  
- Công tác phối hợp với các ngành, các  
cấp, các cơ quan, tổ chức, các lực lượng  
nghiệp vụ trong quản lý cư trú công dân  
chưa đồng bộ, thống nhất, chưa tạo điều  
kiện cho công dân thực hiện quyền và  
nghĩa vụ của mình trong điều kiện của  
nền kinh tế thị trường đang phát triển  
và luôn biến đổi từng ngày, trong khi các  
hoạt động quản lý nhà nước nói chung và  
hoạt động quản lý nhà nước về cư trú nói  
riêng chưa bắt nhịp được với sự phát triển  
và biến đổi đó.  
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt  
động quản lý nhà nước về cư trú đối  
với công nhân làm việc tại các khu công  
nghiệp  
Thứ nhất, tiếp tục tham mưu, đề xuất hoàn  
thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có  
liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước về  
cư trú đối với người lao động làm việc tại các  
khu công nghiệp.  
Thứ hai, nâng cao hiệu quả công tác tuyên  
truyền, vận động quần chúng tham gia thực  
hiện quản lý cư trú đối với người lao động làm  
việc tại các khu công nghiệp  
Xuất phát từ chế độ, chính sách của  
Nhà nước đối với các KCN cũng như sự đa  
dạng, phức tạp của thành phần lao động  
tại các KCN, đặc biệt là lao động nước  
- Tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn và  
106 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
NGUYỄN XUÂN THỦY - HOÀNG THỊ HƯỜNG  
xây dựng cơ chế hỗ trợ một phần kinh phí  
cho các tổ chức quần chúng nòng cốt ở cơ  
sở hoạt động.  
- Tăng cường trang bị cơ sở vật chất  
kỹ thuật và các chính sách khác cho lực  
lượng làm công tác đăng ký, quản lý cư  
trú đối với người lao động làm việc tại  
các KCN: Công an các quận, huyện, thị xã  
tổ chức rà soát lại trụ sở để có kế hoạch  
đầu tư kinh phí cải tạo, nâng cấp, đảm  
bảo nơi làm việc, trang thiết bị, bàn ghế,  
tủ, hệ thống kỹ thuật cho lực lượng Công  
an xã, phường, thị trấn. Nghiên cứu trang  
thiết bị, phương tiện cần thiết phù hợp  
với tình hình hiện nay, đảm bảo phục vụ  
công tác có hiệu quả như: trang bị phương  
tiện giao thông, điện thoại, bộ đàm, các  
loại biểu mẫu, sổ sách, cặp công tác... Ban  
hành chính sách khuyến khích để nâng  
cao hiệu quả thực hiện chức năng trong  
đăng ký, quản lý cư trú tại địa bàn dân cư.  
- Đổi mới nội dung, hình thức, biện  
pháp vận động quần chúng thực hiện  
quản lý cư trú đối với người lao động làm  
việc tại các khu công nghiệp.  
- Tăng cường điều tra, nghiên cứu  
nắm tình hình chấp hành các quy định  
về quản lý cư trú đối với người lao động  
làm việc tại các KCN trên địa bàn quản lý  
để tổ chức thực hiện các nội dung, hình  
thức, biện pháp tuyên truyền, vận động  
phù hợp.  
Thứ ba, nâng cao chất lượng đội ngũ cán  
bộ làm công tác đăng ký, quản lý cư trú đối với  
người lao động làm việc tại các khu công nghiệp  
- Tập trung thực hiện có hiệu quả phân  
- Chú trọng đầu tư ứng dụng thành tựu  
công, phân cấp, củng cố đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin để  
phục vụ cho công tác đăng ký, quản lý cư  
trú, tập trung xây dựng hệ thống lưu giữ,  
bảo quản, khai thác cơ sở dữ liệu; hệ thống  
thông tin về người lao động, về dân cư, tội  
phạm... trên địa bàn các khu công nghiệp.  
Việc xây dựng và củng cố các cơ sở dữ liệu  
trên phải đảm bảo thống nhất trong phạm  
vi toàn quốc theo sự phân công, phân cấp.  
chuyên trách làm công tác đăng ký, quản  
lý cư trú trên địa bàn các KCN. Tăng  
cường công tác sơ kết, tổng kết, tập huấn  
chuyên đề cho đội ngũ cán bộ, chiến sĩ  
Cảnh sát QLHC về TTXH làm công tác  
đăng ký, quản lý cư trú. Tổ chức tốt các  
đợt kiểm tra, đánh giá chất lượng công tác  
về đăng ký, quản lý cư trú của lực lượng  
Cảnh sát QLHC về TTXH ở các cấp theo  
định kỳ. Thông qua đó, kịp thời rút kinh  
nghiệm, khắc phục những tồn tại, thiếu  
sót về công tác này.  
- Tập trung vào việc xây dựng và tổ  
chức thực hiện có hiệu quả cơ sở dữ liệu  
về cư trú phục vụ công tác quản lý nhà  
nước về cư trú và do Bộ Công an quản lý.  
- Nâng cao nhận thức, chú trọng đào  
tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng trình  
độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán  
bộ chiến sỹ tham gia quản lý cư trú đối với  
người lao động làm việc tại các KCN.  
- Tăng cường đầu tư nghiên cứu xây  
dựng và triển khai các phần mềm, hệ  
thống lưu trữ thông tin và đầu tư cơ sở vật  
chất, trang bị phương tiện để xây dựng hệ  
thống cơ sở dữ liệu về cư trú.  
Thứ tư, đầu tư trang thiết bị, phương tiện,  
ứng dụng khoa học kꢀ thuật, công nghệ thông  
tin trong đăng ký, quản lý cư trú đối với người  
lao động tại các khu công nghiệp  
Thứ năm, tăng cường kiểm tra, xử lý các  
hành vi vi phạm trong việc chấp hành các quy  
định về đăng ký, quản lý cư trú của người lao  
động làm việc tại các khu công nghiệp  
Số chuyên đề 03 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 107  
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CƯ TRÚ ĐỐI VỚI CÔNG NHÂN...  
- Tiếp tục thực hiện đổi mới trong hoạt động quần chúng nhân dân thực hiện  
động kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm quản lý cư trú đối với người lao động làm  
các quy định về đăng ký, quản lý cư trú đối việc tại các KCN.  
với người lao động làm việc tại các KCN.  
- Tăng cường quan hệ phối hợp, xây dựng  
- Tăng cường kiểm tra các địa bàn, cơ cơ chế phối hợp chặt chẽ với các lực lượng  
sở cho thuê lưu trú mà có người lao động ngoài ngành Công an. Phối hợp với chính  
tại các KCN tập trung sinh sống và xử lý quyền địa phương, cơ quan, đơn vị quản lý  
khu công nghiệp trong nắm tình hình, thu  
thập, trao đổi thông tin về tình hình chấp  
hành các quy định của pháp luật nhà nước  
của người lao động tại địa bàn quản lý./.  
nghiêm các hành vi vi phạm quy định về  
đăng ký, quản lý cư trú.  
- Tăng cường phối hợp với các lực  
lượng nghiệp vụ khác trong công tác kiểm  
tra, xử lý các hành vi vi phạm quy định  
về đăng ký, quản lý cư trú của người lao  
động tại các KCN.  
- Bổ sung kinh phí, trang bị phương tiện  
kỹ thuật phục vụ quá trình kiểm tra, xử lý  
các hành vi vi phạm pháp luật về cư trú đối  
với người lao động làm việc tại các KCN.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Chính phủ (2014), Nghị định số 31/2014/  
NĐ-CP ngày 18/4/2014 thay thế cho Nghị định  
56/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và  
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cư trú...  
2. Quốc hội (2006), Luật Cư trú, luật số 81/2006/  
QH XI về quản lý cư trú đối với công dân, Hà Nội  
- Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo  
và thanh kiểm tra đối với cán bộ, chiến sĩ  
trực tiếp tiến hành công tác kiểm tra, xử  
lý các hành vi vi phạm pháp luật về cư trú  
của người lao động làm việc tại các KCN để  
quản lý, giám sát quá trình công tác của cán  
bộ, chiến sĩ; kịp thời giải quyết các trường  
hợp, sự cố đột xuất phát sinh trong quá  
trình kiểm tra; phòng ngừa sai phạm, tiêu  
cực trong quá trình kiểm tra, xử lý vi phạm.  
Thứ sáu, xây dựng thực hiện quy chế phối  
hợp lực lượng trong quản lý nhà nước về cư  
trú đối với người lao động làm việc tại các khu  
công nghiệp  
- Có trách nhiệm vừa trực tiếp thực  
hiện vừa hướng dẫn, kiểm tra đôn đốc đối  
với lực lượng cảnh sát QLHC về TTXH ở  
cấp cơ sở nắm tình hình, quản lý thường  
trú, đăng ký quản lý tạm trú của người lao  
động làm việc tại các KCN.  
- Xây dựng cơ chế phối hợp giữa lực  
lượng Cảnh sát QLHC về TTXH với các  
lực lượng, cơ quan, tổ chức tiến hành vận  
3. Quốc hội (2013), Luật Cư trú, luật số  
36/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của  
Luật Cư trú  
4. Bộ Công an, 2019, Báo cáo số: 381/BC-BCA,  
ngày 27/5/2019 về Tổng kết thi hành Luật Cư trú  
năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2013), Hà Nội.  
5. Cục Cảnh sát QLHC về TTXH, Báo cáo kết  
quả công tác đăng ký quản lý cư trú từ năm 2007  
đến năm 2016 của Công an các tỉnh (15 tỉnh khảo  
sát) trung du, đồng bằng Bắc Bộ.  
6. V.I.Lênin Toàn tập, tập 3, NXB. Chính trị  
quốc gia, 2005, Hà Nội, tr.576.  
7. United Nations (1998), “Recommendations  
on Statistics of International Migration”, Revision  
1, Statistical Papers, Series M, No. 58, New York,  
p.10, Glossary.  
8. Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội  
(2018), Báo cáo số: 1668/BC-UBVĐXH14, Kết quả  
giám sát chuyên đề Người lao động Việt Nam  
đi làm việc ở nước ngoài giai đoạn 2010-2017 và  
người nước ngoài làm việc tại Việt Nam giai đoạn  
2013-2017.  
108 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
pdf 11 trang Thùy Anh 8840 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quản lý nhà nước về cư trú đối với công nhân tại các khu công nghiệp: Thực trạng và giải pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquan_ly_nha_nuoc_ve_cu_tru_doi_voi_cong_nhan_tai_cac_khu_con.pdf