Pháp luật về áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP  
ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC  
Nguyễn Thành Phương*  
Khoa Luật, Trường Đại học Nam Cần Thơ  
(Email: [email protected])  
Ngày nhận: 15/6/2020  
Ngày phản biện: 09/8/2020  
Ngày duyệt đăng: 17/9/2020  
TÓM TẮT  
Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được xem là một trong những biện pháp xử lý  
hành chính quan trọng được xem xét bởi Tòa án nhân dân cấp Huyện. Biện pháp đưa người  
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với người nghiện ma túy nhằm cách ly chủ thể này ra khỏi  
cộng đồng, buộc họ chữa bệnh, học nghề, học văn hóa…, hướng đến thay đổi tích cực về tư  
duy, lối sống của người nghiện ma túy, với trọng tâm giúp họ hòa nhập cuộc sống cộng đồng.  
Tuy nhiên, việc triển khai thực thi cơ chế này trên thực tế vẫn còn gặp những vướng mắc,  
khó khăn từ những bất cập quy định pháp luật. Bài viết tập trung phân tích và đánh giá những  
quy định pháp luật về áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cùng những bất  
cập xung quanh quá trình áp dụng quy định này trong thực tiễn như: đối tượng bị đưa vào  
cơ sở cai nghiện, quy trình tiếp nhận, tạo lập sinh kế cho đối tượng sau cai nghiện… Trên cơ  
sở đó tác giả đưa ra những nhận xét, kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế đưa vào cơ sở cai  
nghiện bắt buộc.  
Từ khóa: Cai nghiện, cơ sở cai nghiện bắt buộc, vi phạm hành chính  
Trích dẫn: Nguyễn Thành Phương, 2020. Pháp luật về áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai  
nghiện bắt buộc. Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại  
học Tây Đô. 09: 185-195.  
*Ths. Nguyễn Thành Phương – Giảng viên Khoa Luật, Trường Đại học Nam Cần Thơ  
185  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
sở cai nghiện bắt buộc đối với chủ thể  
nghiện ma túy.  
So với pháp lệnh xử lý vi phạm hành  
chính năm 2002 (sửa đổi bổ sung 2007,  
2008) thì Luật xử lý vi phạm hành chính  
năm 2012 đã có những thay đổi đáng ghi  
nhận. Cụ thể Luật xử lý vi phạm hành  
chính đã đổi tên biện pháp “đưa vào cơ sở  
chữa bệnh” thành “đưa vào cơ sở cai  
nghiện bắt buộc” thuật ngữ này phù hợp  
với đối tượng bị áp dụng hơn so với trước  
đây. Theo đó, biện pháp này chỉ áp dụng  
duy nhất với chủ thể nghiện ma túy thay  
vì đồng loạt áp dụng với cả người bán  
dâm như trong Pháp lệnh xử lý vi phạm  
hành chính. Đây được xem là quan điểm  
tiến bộ bảo đảm quyền con người, đặc  
biệt là quyền phụ nữ, hạn chế tình trạng  
“tổn thương kép” với chủ thể bị áp dụng.  
Theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính  
thì biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh  
được áp dụng dựa trên cơ sở thủ tục hành  
chính, đồng nghĩa rằng không phải thông  
qua thủ tục xét xử của tòa án. Điều này  
ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích hợp  
pháp của công dân, bởi lẽ biện pháp này  
hạn chế đáng kể quyền tự do thân thể của  
họ.1 Nhằm đảm bảo tính công khai, dân  
chủ trong quá trình áp dụng biện pháp  
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, pháp  
luật đã có những thể chế liên quan trong  
biện pháp này. Cụ thể, chỉ có tòa án có  
đặc quyền áp dụng biện pháp đưa vào cơ  
Theo thống kê từ năm 2014 đến hết 6  
tháng đầu năm 2019, đối tượng bị áp  
dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện  
bắt buộc (CSCNBB) chiếm số lượng cao  
trong tổng số đối tượng bị áp dụng biện  
pháp xử lý hành chính do Toà án nhân  
dân cấp huyện xem xét, quyết định  
(58.904 đối tượng/66.259 đối tượng).  
Năm 2018, số lượng đối tượng bị áp dụng  
biện pháp đưa vào CSCNBB là 24.068  
đối tượng; chiếm khoảng 45,9 % số đối  
tượng bị áp dụng các biện pháp xử lý  
hành chính (tổng số đối tượng bị áp dụng  
các biện pháp xử lý hành chính là 52.484  
đối tượng)2. Năm 2019, số lượng đối  
tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở  
cai nghiện bắt buộc là 21.569 đối tượng;  
chiếm khoảng 47,8% số đối tượng bị áp  
dụng các biện pháp xử lý hành chính  
(tổng số đối tượng bị áp dụng các biện  
pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân  
dân cấp huyện quyết định là 22.598 đối  
tượng)3.  
Mặc dù, Luật xử lý VPHC đã có  
những quy định cụ thể về trình tự, thủ tục  
lập hồ sơ liên quan đến đề nghị áp dụng  
biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt  
buộc. Tuy nhiên, quá trình áp dụng pháp  
luật, cơ chế này dần bộc lộ những khuyết  
điểm nhất định, cần được hiệu chỉnh bổ  
3
1 Nguyễn Cửu Việt, 2009. Một số vấn đề đổi mới pháp  
Báo cáo số 51/BC-BTP ngày 06/3/2020 của Bộ Tư  
luật về vi phạm hành chính nước ta hiện nay. Tạp chí pháp báo cáo công tác thi hành pháp luật về xử lý vi  
Nghiên cứu Lập pháp, số 138.  
phạm hành chính năm 2019.  
2
Báo cáo số 82/BC-BTP ngày 22/3/2019 của Bộ Tư  
pháp báo cáo công tác thi hành pháp luật về xử lý vi  
phạm hành chính năm 2018.  
186  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
sung nhằm hoàn thiện một cách kịp thời nghiện; (ii) Những người nghiện ma túy  
là những vấn đề được tập trung phân tích từ đủ 18 tuổi trở lên chưa bị áp dụng biện  
trong bài viết này.  
pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn  
nhưng không có nơi cư trú ổn định.  
2. NHỮNG BẤT CẬP, HẠN CHẾ  
TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG  
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ  
BIỆN PHÁP ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI  
NGHIỆN BẮT BUỘC VÀ GIẢI PHÁP  
HOÀN THIỆN  
Từ vấn đề trên cho thấy giữa Luật  
phòng chống ma túy và Luật xử lý vi  
phạm hành chính đã tạo nên một khoảng  
trống nhất định trong quy định pháp luật.  
Bởi lẽ, thực tế người nghiện ma túy sẽ  
không bị giới hạn độ tuổi nào, khi đó pháp  
luật đặt định cho rằng độ tuổi này thấp  
nhất từ đủ 12 tuổi. Mặt khác, chỉ giới hạn  
những chủ thể từ đủ 18 tuổi trở lên sẽ chịu  
chế tài quản giáo bắt buộc cai nghiện tại  
trung tâm. Chính điều này dẫn đến hệ quả  
một số tỉnh thành, đơn cử như Cà Mau  
không có cơ sở pháp lý áp dụng biện pháp  
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với chủ  
thể từ đủ 12 đến dưới 18 tuổi. Khi vấn đề  
xảy ra, với chủ thể dưới 18 tuổi địa  
phương chỉ vận động gia đình làm đơn  
xin cai nghiện tự nguyện tại cơ sở cai  
nghiện ma túy tỉnh Cà Mau (Cơ sở cai  
nghiện sẽ bố trí, phân khu dành riêng cho  
đối tượng này), đồng thời gia đình sẽ  
tham gia hỗ trợ các khoản đóng góp trong  
quá trình cai nghiện tự nguyện tại cơ sở  
cai nghiện ma túy, thì việc Luật xử lý vi  
phạm hành chính cần có sự hiệu chỉnh bổ  
sung theo hướng tỉnh Cà Mau với con em  
mình.4 Từ đó, để đồng nhất cùng Luật  
phòng chống ma túy tránh chồng chéo  
trong quy định của pháp luật thì việc Luật  
xử lý vi phạm hành chính cần sửa đổi theo  
hướng quy định người nghiện ma túy từ  
đủ 18 tuổi trở lên; (ii) Người nghiện ma  
2.1. Về đối tượng bị đưa vào cơ sở  
cai nghiện bắt buộc  
Nhìn chung, đối tượng bị áp dụng biện  
pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là  
những chủ thể có hành vi vi phạm pháp  
luật, khi phá vỡ những nguyên tắc mà  
Nhà nước đã đề ra. Tuy nhiên, khi xem  
xét những vấn đề có liên quan đến những  
chủ thể này trong quy định pháp luật vẫn  
tồn tại những quy định chưa thống nhất,  
tạo nên những “điểm vênh” nhất định như  
pháp luật còn chồng chéo, mâu thuẫn, khi  
nhiều điểm chưa rõ ràng. Cụ thể:  
Thứ nhất, nghiên cứu vấn đề theo Điều  
28, Điều 29 Luật phòng chống ma túy  
năm 2000, chủ thể bị nghiện ma túy được  
phân định làm 2 nhóm: (i) Người nghiện  
ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên; (ii) Người  
nghiện ma túy từ đủ 12 đến dưới 18 tuổi.  
Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 96 Luật xử  
lý vi phạm hành chính năm 2012 thể chế  
quy định đối tượng bị áp dụng biện pháp  
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc gồm:  
(i) Những người nghiện ma túy từ đủ 18  
tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo  
dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn  
4
Nghị quyết số 09/2019/NQ-HĐND ngày 12/7/2019 góp đối với người cai nghiện ma túy tự nguyện trên địa  
của HĐND tỉnh Cà Mau quy định mức hỗ trợ và đóng bàn tỉnh Cà Mau.  
187  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
túy từ đủ 12 đến dưới 18 tuổi, để từ đó có  
Đối với người nghiện ma túy có nơi cư  
cơ sở áp dụng những biện pháp khác nhau trú ổn định thì chỉ áp dụng biện pháp đưa  
với những chủ thể có độ tuổi khác nhau vào cơ sở cai nghiện bắt buộc khi đã bị áp  
này. Việc phân chia độ tuổi chủ thể dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường,  
nghiện ma túy, giúp cơ quan có thẩm thị trấn mà vẫn còn nghiện. Vậy đối với  
quyền lựa chọn phương thức cai nghiện người đã từng bị áp dụng biện pháp cai  
phù hợp với tâm sinh lý từng đối tượng, nghiện tại gia đình, cai nghiện tại cộng  
giúp nâng cao hiệu quả cai nghiện.  
đồng nhưng vẫn còn nghiện thì sẽ giải  
quyết ra sao, có bắt buộc đưa đối tượng  
này vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hay  
không?.5  
Thứ hai, ngoài việc thỏa các căn cứ về  
độ tuổi, Luật cũng đưa ra những giới hạn  
khác như “đã bị áp dụng các biện pháp  
giáo dục tại xã, phường, thị trấn” nhằm  
Nhìn nhận vấn đề trên bình diện khoản  
làm căn cứ áp dụng đưa vào cơ sở cai 1 Điều 28 Luật phòng chống ma túy  
nghiện bắt buộc. Trong trường hợp người 2000, đối sánh cùng khoản 1 Điều 96  
nghiện ma túy tuy chưa bị áp dụng biện Luật xử lý VPHC năm 2012 chưa có sự  
pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đồng nhất trong quan điểm khi văn bản  
nhưng lại không có nơi cư trú ổn định thì cho rằng sẽ áp dụng cai nghiện bắt buộc,  
vẫn bị áp dụng biện pháp này. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 91 Luật XLVPHC lại chưa  
hiểu sao cho đúng nội hàm thuật ngữ “nơi đồng nhất trong quan điểm. Vậy trong  
cư trú ổn định” cần xem xét qua Nghị trường hợp này sẽ căn cứ vào đạo luật nào  
định 221/2013/NĐ-CP, trong đó “nơi cư nhằm xử sự trong vấn đề này. Nhận diện  
trú ổn định là nơi đăng ký thường trú hoặc vấn đề tại khoản 3 Điều 156 Luật ban  
tạm trú, thường xuyên sinh sống”. Như hành văn bản quy phạm pháp luật năm  
vậy, một công dân muốn được xác định 2015 thì: “Trong trường hợp các văn bản  
có “nơi cư trú ổn định” thì phải thỏa mãn quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan  
đồng thời hai điều kiện: (i) có đăng ký ban hành có quy định khác nhau về cùng  
thường trú hoặc tạm trú; (ii) đang thường một vấn đề thì áp dụng quy định của văn  
xuyên sinh sống tại nơi đăng ký thường bản quy phạm pháp luật ban hành sau”.  
trú hoặc tạm trú. Nếu thiếu một trong hai Điều này đồng nghĩa rằng sẽ căn theo  
điều kiện trên thì xem như công dân đó Luật XLVPHC mà có cách xử sự phù  
không có nơi cư trú ổn định và có thể bị hợp. Từ đó suy luận rằng với trường hợp  
áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai người đã từng bị áp dụng biện pháp cai  
nghiện bắt buộc mặc dù chưa bị áp dụng nghiện tại nhà, tại cộng đồng không thuộc  
biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị chủ thể bị áp dụng cơ chế đưa vào cơ sở  
trấn.  
cai nghiện bắt buộc. Xung quanh vấn đề  
5 Cao Vũ Minh, 2016. Hoàn thiện quy định về đưa người  
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tạp chí Luật học số  
2/2016, tr.44.  
188  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
này, tác giả cho rằng rất nhiều trường hợp thuộc vào yếu tố nhân thân của chủ thể  
đối tượng đã tuân thủ tham gia cai nghiện này. Sự khác biệt chính yếu giữa đưa vào  
ma túy tại gia đình, cộng đồng nhưng vẫn cơ sở giáo dục bắt buộc hay đưa vào cơ  
còn nghiện hoặc tái nghiện. Với trường sở cai nghiện chỉ phân định bởi tiêu chí  
hợp này có thể áp dụng biện pháp đưa vào “côn đồ hung hãn”. Khi đó, Luật xử lý vi  
cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, phạm hành chính và các văn bản hướng  
khoản 1 Điều 91 Luật XLVPHC năm dẫn thi hành chưa làm rõ nội hàm của  
2012 vô hình chung đã bó hẹp phạm vi thuật ngữ này so với “vi phạm có tính  
đối tượng bị điều chỉnh của luật này. Từ chất côn đồ” quy định tại điểm d khoản 1  
vấn đề trên thiết nghĩ Luật XLVPHC năm Điều 10 Luật XLVPHC có đồng nhất về  
2012 cần có sự hiệu chỉnh cụ thể tại mặt ngữ nghĩa hay không điều này chưa  
khoản 1 Điều 96 với đối tượng bị áp dụng được làm rõ.  
biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bao  
Trên phương diện Đại từ điển Tiếng  
hàm người đã từng cai nghiện tại cộng  
Việt thuật ngữ “côn đồ” mang hàm ý “kẻ  
đồng nhưng vẫn còn nghiện.  
chuyên gây sự, hành hung người khác”.6  
Thứ ba, khi xác định chủ thể bị đưa vào Góc độ khác tại từ điển Tiếng Việt của  
cơ sở giáo dục hay cơ sở cai nghiện bắt Viện ngôn ngữ học thì “côn đồ” là kẻ  
buộc vẫn tồn tại những bất cập chưa được mưu manh chuyên gây sự đánh nhau.7 Tổ  
giải quyết triệt để. Trên cơ sở Điều 118 hợp vấn đề như vừa trình bày thì thì thuật  
Luật xử lý vi phạm hành chính quy định: ngữ “côn đồ” chính yếu là chỉ chủ thể,  
“Trường hợp người thực hiện hành vi vi không nhằm chỉ hành vi. Từ đó, thiết nghĩ  
phạm pháp luật vừa thuộc đối tượng đưa cần có sự phân biệt giữa “côn đồ” với tính  
vào cơ sở giáo dục bắt buộc vừa thuộc chất thuộc tính của hành vi vi phạm với  
đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt “côn đồ” chỉ một đối tượng xem thường  
buộc thì áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở pháp luật, xem thường lẽ sống. Với quan  
cai nghiện bắt buộc. Trường hợp người điểm của mình tác giả cho rằng, cụm từ  
nghiện ma túy thuộc loại côn đồ hung hãn “côn đồ hung hãn” được sử dụng tại Điều  
thì áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo 118 Luật xử lý vi phạm hành chính mang  
dục bắt buộc. Cơ sở giáo dục bắt buộc hàm ý chỉ chủ thể xem thường pháp luật  
thực hiện việc cai nghiện cho đối tượng không chỉ thuộc tính của hành vi vi phạm  
này”. Qua quy định trên cho thấy nếu một “có tính chất côn đồ” như quy định tại  
chủ thể vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ điểm d khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi  
sở giáo dục bắt buộc vừa thuộc đối tượng phạm hành chính đã nêu. Dẫn chiếu nội  
đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thì có thể dung pháp luật tại điểm b khoản 2 Điều  
bị đưa vào một trong hai cơ quan trên tùy 22 Luật tổ chức tòa án đã nêu: “Hội đồng  
6
Nguyễn Như Ý (chủ biên), 2013. Đại từ điển Tiếng 7 Hoàng Phê (chủ biên), 2010. Từ điển Tiếng Việt, Nxb  
Việt, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Từ điển Bách khoa, tr.275  
tr.344.  
189  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ban áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai  
hành Nghị quyết hướng dẫn các Tòa án nghiện, đồng thời tổ chức thi hành quyết  
áp dụng thống nhất pháp luật. Từ đó, Hội định. Khi đó, đối sánh vấn đề cùng Điều  
đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao 104 Luật XLVPHC thì cơ quan đã gửi hồ  
cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn chi sơ quy định tại Điều 110 chính bởi trưởng  
tiết về thuật ngữ “côn đồ hung hãn” nhằm phòng lao động thương binh và xã hội cấp  
tạo hành lang pháp lý vững chắc cho việc huyện. Hiểu vấn đề trên phương diện  
áp dụng pháp luật tại Tòa án nhân dân cấp khoản 1 Điều 110 thì trách nhiệm chính  
huyện.8  
yếu thuộc về Phòng lao động thương binh  
xã hội phối hợp cùng công an cấp huyện.  
2.2. Về trách nhiệm thi hành quyết  
Tuy nhiên, điều này đối lập cùng Điều  
15 Nghị định 22/2013/NĐ-CP cho rằng  
cơ quan công an cấp huyện là cơ quan chủ  
trì, ngược lại phòng lao động thương binh  
xã hội chỉ là đơn vị phối hợp. Từ quy định  
trên có thể gây ra nhiều xung đột trong có  
nguy cơ dẫn đến đùng đẩy giữa các cơ  
quan thừa hành. Từ đó, việc sửa đổi Điều  
15 Nghị định 221/2013/NĐ-CP theo  
hướng quy định phòng lao động- thương  
binh và xã hội chủ trì, phối hợp với cơ  
quan công an cấp huyện đưa người  
nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt  
buộc. Sự hiệu chỉnh này góp phần xác lập  
trách nhiệm cụ thể của các cơ quan trong  
thực thi pháp luật.  
định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc  
Sự phân công phối hợp nhịp nhàng  
giữa các cơ quan thi hành công vụ đảm  
bảo cho quá trình áp dụng được thống  
nhất, công bằng, minh bạch giữa các chủ  
thể bị áp dụng chế tài đưa vào cơ sở cai  
nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, thực tế cho  
thấy vẫn còn một số vấn đề cần làm sáng  
tỏ trong công tác thi hành quyết định đưa  
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đơn cử,  
theo Điều 110 Luật xử lý VPHC trong  
thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được  
quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ  
sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân  
dân cấp huyện, phòng lao động- thương  
binh và xã hội phối hợp với công an cấp  
huyện đưa người phải chấp hành quyết  
định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Vấn  
đề đặt ra trong trường hợp này thì trách  
nhiệm thi hành thuộc trách nhiệm của  
công an cấp huyện, của phòng lao động  
thương binh xã hội hay sự phối hợp giữa  
hai cơ quan này? Bởi khi xem xét vấn đề  
trên cơ sở Điều 110 Luật XLVPHC trách  
nhiệm thuộc cơ quan đã gửi hồ sơ đề nghị  
2.3. Về công tác bàn giao, tiếp nhận  
và quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú  
đối với người chấp hành xong biện  
pháp đưa vào cơ sở cai nghiện  
Trên cơ sở khoản 1 Điều 6 Nghị định  
94/2009/NĐ-CP đã có những thể chế liên  
quan như: “Trước khi kết thúc thời gian  
cai nghiện bắt buộc bốn mươi lăm ngày,  
Giám đốc Trung tâm Chữa bệnh – Giáo  
8 Cao Vũ Minh, 2016. Hoàn thiện quy định về đưa người  
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tạp chí Luật học, số  
2/2016, trang 43.  
190  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
dục – Lao động xã hội có trách nhiệm lập một số nơi cho thấy mặc dù Giám đốc cơ  
hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp quản lý sở cai nghiện ma túy đã thực hiện đúng  
sau cai nghiện tại nơi cư trú”. Khi đó, quy trình về lập hồ sơ đề nghị áp dụng  
Giám đốc Trung tâm Chữa bệnh – Giáo biện pháp quản lý sau cai nghiện tại nơi  
dục – Lao động xã hội có trách nhiệm cư trú và đồng thời chuyển hồ sơ về  
chuyển hồ sơ cho Trưởng Phòng Lao Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội  
động – Thương binh và Xã hội cấp huyện cơ quan lập hồ sơ đưa đối tượng vào cơ  
nơi lập hồ sơ đưa đối tượng vào Trung sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, trong  
tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã những năm qua tình trạng học viên chấp  
hội chậm nhất là hai mươi ngày trước khi hành xong thời gian bắt buộc cai nghiện  
người đó kết thúc thời gian cai nghiện bắt tại trung tâm lại không có cơ chế bàn  
buộc.  
giao, phối hợp tiếp nhận giữa cơ sở cai  
nghiện ma túy cùng chính quyền địa  
phương thực hiện công tác tiếp nhận. Hệ  
quả là khi học viên chấp hành xong quy  
định cai nghiện bắt buộc thì được gia  
đình, bạn bè trực tiếp đưa đón, số còn lại  
chủ động tìm phương tiện trở về địa  
phương. Bởi không có cơ chế bàn giao,  
tiếp nhận, đồng thời không chịu sự quản  
lý sau cai nghiện tại địa phương, vấn đề  
tái nghiện với những chủ thể này chỉ là  
thời gian.  
Khoản 1 Điều 8: “Sau khi có quyết  
định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp  
huyện, Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục  
– Lao động xã hội nơi quản lý người cai  
nghiện có trách nhiệm bàn giao người và  
hồ sơ cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi  
người đó cư trú. Khi nhận bàn giao, Ủy  
ban nhân dân cấp xã phải kiểm tra hồ sơ  
và lập biên bản bàn giao. Biên bản bàn  
giao được lập thành ba bản, mỗi bên giữ  
một bản, một bản gửi cho Ủy ban nhân  
dân cấp huyện nơi ra quyết định để phối  
hợp quản lý”  
Bên cạnh đó, mặc dù một số địa  
phương đã ban hành nhiều quyết định có  
liên quan đến chức năng nhiệm vụ quản  
lý sau cai nghiện. Tuy nhiên, khi có sự đối  
sánh giữa Luật phòng chống may túy  
cùng Luật xử lý vi phạm hành chính, chưa  
có cơ chế thực hiện việc áp dụng biện  
pháp quản lý sau cai nghiện một cách triệt  
để. Bởi trên phương diện Luật phòng  
chống ma túy cho rằng người chấp hành  
xong thời gian cai nghiện bắt buộc tại cơ  
sở cai nghiện ma túy phải chịu sự quản lý  
sau cai từ 1 đến 2 năm với trường hợp có  
nguy cơ tái nghiện cao. Khi đó, Luật xử  
lý vi phạm hành chính quy định khi hết  
hết thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành  
Tuy nhiên, Nghị định lại thiếu đi  
những đặt định cụ thể liên quan như là cơ  
sở cai nghiện ma túy nơi có học viên chấp  
hành xong thời gian cai nghiện có trách  
nhiệm bàn giao học viên sau cai nghiện  
cho chính quyền địa phương nơi học viên  
có nơi cư trú hay chính quyền địa phương  
nơi có học viên cư trú phải đến trụ sở  
trung tâm cai nghiện tiếp nhận học viên.  
Điều này dẫn đến việc bố trí nguồn kinh  
phí nhằm thực hiện công tác bàn giao,  
tiếp nhận với người chấp hành xong biện  
pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc  
gặp rất nhiều khó khăn. Thực tế áp dụng  
191  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
chính thì Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt còn tồn tại những nội dung chưa rõ ràng  
buộc cấp giấy chứng nhận cho người đã sau đây:  
chấp hành xong quá trình quản giáo tại  
Thứ nhất, với đối tượng là người  
trung tâm, đồng thời gửi bản sao cho gia  
nghiện ma túy sau khi cai nghiện việc  
đình, Ủy ban nhân dân nơi người đó cư  
Nhà nước hoạch chính sách định hướng  
tạo lập cuộc sống mới cho họ là điều cần  
trú, Tòa án nơi ra quyết định. Từ đó, thiết  
nghĩ cần có văn bản hướng dẫn cụ thể vấn  
thiết, khi đó có thể nhận thấy quy định trợ  
đề này này, tránh chồng chéo xung đột  
giúp đối tượng này chỉ tập trung vào việc  
khi áp dụng văn bản thi hành pháp luật.  
hỗ trợ vay vốn, hỗ trợ tìm kiếm việc làm,  
nhưng chưa có cơ chế riêng biệt, cụ thể  
với từng nhóm đối tượng sau khi cai  
nghiện. Từ vấn đề trên thiết nghĩ Nhà  
nước cần phân định đối tượng sau cai  
nghiện thành những nhóm sau đây: (i) đối  
tượng đang trong độ tuổi học tập; (ii)  
người chưa có việc làm; (iii) đã có việc  
làm nhưng bị gián đoạn, mất việc do quá  
trình cai nghiện gây ra; (iv) Đang có việc  
làm cụ thể..., Từ những phân định trên sẽ  
có những hoạch định cụ thể liên quan đến  
công tác định hướng cuộc sống của  
những đối tượng nghiện ma túy sau cai  
nghiện. Đơn cử, với những đối tượng còn  
trong độ tuổi học tập cần lấy ý kiến có  
nhu cầu học kiến thức hay học nghề mà  
vạch ra đường lối cụ thể. Với những chủ  
thể đã có việc làm nhưng do cai nghiện  
bắt buộc dẫn đến mất việc thì cơ chế hỗ  
trợ vay vốn, mức hỗ trợ vay 20 triệu đồng  
trong thời hạn 36 tháng với lãi suất bằng  
lãi suất cho vay hộ nghèo, lãi suất nợ quá  
hạn được tính bằng 130% lãi suất cho  
vay.9 Với những chủ thể chưa có việc làm  
cần định hướng học nghề hoặc công tác  
trong những cơ quan, xí nghiệp quy định  
2.4. Về công tác hỗ trợ, giúp đỡ  
người chấp hành xong biện pháp đưa  
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tái hòa  
nhập cộng đồng  
Nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống,  
nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng sau  
khi thực hiện quá trình cai nghiện bắt  
buộc, Nhà nước đã ban hành nhiều quy  
định liên quan nhằm giúp những chủ thể  
này tạo lập sinh kế, cụ thể như ban hành  
Quyết định 212/2006/QĐ-TTg ngày  
20/9/2006 của Thủ tướng về cơ chế tín  
dụng vay vốn ưu đãi với những cơ sở sản  
xuất kinh doanh, dịch vụ đồng thuận cho  
người sau cai nghiện được công tác sản  
xuất tại cơ quan, xí nghiệp của mình. Bên  
cạnh đó Luật thuế thu nhập doanh nghiệp  
cũng có những quy định miễn thuế thu  
nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh  
hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp có sử  
dụng lao động là người sau cai nghiện.  
Bên cạnh đó, Thông tư liên tịch số  
121/2010/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày  
12/8/2010 cũng có những thể chế hỗ trợ  
tìm việc làm 1.000.000/người sau cai  
nghiện ma túy. Xung quanh vấn đề này  
9
Quyết định số 02/2020/QĐ-TTg năm 2020 của Thủ  
tướng Chính phủ  
192  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
tại hành Quyết định 212/2006/QĐ-TTg các biện pháp xử lý hành chính; được  
ngày 20/9/2006 của Thủ tướng.  
xem là những biện pháp cai nghiện hữu  
hiệu hiện nay. Từ đó, việc hiệu chỉnh, bổ  
sung từ các quy định liên quan đến biện  
pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là  
vấn đề cần thiết đặt ra. Trong đó, Luật xử  
lý vi phạm hành chính cần sửa đổi theo  
hướng quy định người nghiện ma túy từ  
đủ 18 tuổi trở lên; (ii) Người nghiện ma  
túy từ đủ 12 đến dưới 18 tuổi, để từ đó có  
cơ sở áp dụng những biện pháp khác nhau  
với từng chủ thể để công tác cai nghiện  
hữu hiệu hơn. Ngoài ra, cần thiết sửa đổi  
Điều 15 Nghị định 221/2013/NĐ-CP theo  
hướng quy định phòng lao động- thương  
binh và xã hội chủ trì, phối hợp với cơ  
quan công an cấp huyện đưa người  
nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt  
buộc. Sự hiệu chỉnh này góp phần xác lập  
trách nhiệm cụ thể của các cơ quan trong  
thực thi pháp luật. Bên cạnh đó, pháp luật  
cần có cơ chế quản giáo tại địa phương  
sau quá trình cai nghiện bắt buộc, đồng  
thời Nhà nước cần có những chính sách  
giúp đối tượng sau cai nghiện hòa nhập  
với cộng đồng như giới thiệu và hỗ trợ  
tìm kiếm việc làm sau cai nghiện, đây là  
tiền đề góp phần hạn chế tỷ lệ tái nghiện,  
góp phần giữ vững trật tự xã hội trong  
giai đoạn hiện nay.  
Thứ hai, nhìn chung, có thể nhận thấy  
mức hỗ trợ 1.000.000đ/người nhằm tìm  
kiếm việc làm là chưa phù hợp với tình  
hình thực tế hiện nay. Bởi số tiền trên  
không đủ để người sau cai nghiện có thể  
học được một nghề mới hoặc giả trang  
trải đủ trong khi đang chờ việc mới. Khi  
đó, cơ chế chính sách chính yếu hiện nay  
chỉ tập trung vào vấn đề cho người cai  
nghiện chủ động tìm việc, vẫn chưa  
hoạch định được những chính sách giới  
thiệu việc làm dành cho người cai nghiện.  
Từ đó, việc đối tượng sau khi cai nghiện  
không có việc làm dẫn đến tái nghiện vẫn  
thường xuyên diễn ra, đơn cử tại Cà Mau  
tỷ lệ này là 95,7% người tái nghiện sau  
khi cai nghiện bắt buộc.10 Qua vấn đề trên  
thiết nghĩ cần có cơ chế quản giáo tại địa  
phương sau quá trình cai nghiện bắt buộc,  
đồng thời Nhà nước cần có những chính  
sách giúp đối tượng sau cai nghiện hòa  
nhập với cộng đồng như giới thiệu và hỗ  
trợ tìm kiếm việc làm sau cai nghiện, đây  
là tiền đề góp phần hạn chế tỷ lệ tái  
nghiện, góp phần giữ vững trật tự xã hội.  
Đồng thời tăng mức hỗ trợ cho đối tượng  
này tìm kiếm việc làm bằng mức lương  
tối thiểu vùng, nhằm giúp đối tượng này  
có đủ kinh phí trang trải trong thời gian  
tái hòa nhập cùng cộng đồng.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Cao Vũ Minh, 2016. Hoàn thiện  
quy định về đưa người vào cơ sở cai  
nghiện bắt buộc. Tạp chí Luật học số  
2/2016.  
3. KẾT LUẬN  
Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện  
bắt buộc có tầm quan trọng đặc biệt trong  
10 Báo cáo 275/BC-LĐTBXH ngày 19/12/2013, báo cáo  
thống kê tỷ lệ tái nghiện với người sau cai nghiện ma túy  
trên địa bàn tỉnh Cà Mau.  
193  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
2. Chính phủ, 2020. Quyết định số  
02/2020/QĐ-TTg ngày 10 tháng 1 năm  
2020 của Thủ tướng Chính phủ.  
7. Nguyễn Cửu Việt, 2009. Một số  
vấn đề đổi mới pháp luật về vi phạm  
hành chính nước ta hiện nay. Tạp chí  
Nghiên cứu Lập pháp số 138/2019.  
3. Bộ tư Pháp, 2018. Báo cáo số  
82/BC-BTP ngày 22/3/2019 của Bộ Tư  
8. Nguyễn Như Ý, 2013. Đại từ điển  
pháp báo cáo công tác thi hành pháp luật Tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia  
về xử lý vi phạm hành chính.  
Thành phố Hồ Chí Minh.  
4. Bộ Tư pháp, 2019. Báo cáo số  
9. Sở Lao động thương binh xã hội,  
51/BC-BTP ngày 06/3/2020 của Bộ Tư  
2013. Báo cáo 275/BC-LĐTBXH ngày  
pháp báo cáo công tác thi hành pháp luật 19/12/2013, báo cáo thống kê tỷ lệ tái  
về xử lý vi phạm hành chính.  
nghiện với người sau cai nghiện ma túy  
trên địa bàn tỉnh Cà Mau.  
5. Hoàng Phê, 2010. Từ điển Tiếng  
Việt, Nxb Từ điển Bách khoa.  
8. Quốc hội, 2012. Luật xử lý vi phạm  
hành chính.  
6. Hội đồng Nhân dân, 2019. Nghị  
quyết số 09/2019/NQ-HĐND ngày  
12/7/2019 của HĐND tỉnh Cà Mau quy  
định mức hỗ trợ và đóng góp đối với  
người cai nghiện ma túy tự nguyện trên  
địa bàn tỉnh Cà Mau.  
9. Quốc hội, 2000. Luật phòng chống  
ma túy.  
194  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
LAW ON APPLICATION OF MEASURES TO ENTRY  
COMPULSORY DRUG FACILITIES  
Nguyen Thanh Phuong  
Faculty of Laws, Nam Can Tho University  
(Email: [email protected])  
ABSTRACT  
The measure of sending to compulsory detoxification establishment has been considered as  
one of the important administrative handling measures considered by the district People's  
Court. The measure of sending people to compulsory detoxification establishments with drug  
addicts aims to isolate this subject from the community, force them to cure, learn vocational,  
learn culture ..., towards a positive changes in drug addicts' thinking and lifestyle, with a  
focus on helping them integrate into the community life. However, the implementation of this  
mechanism in practice still faces problems and difficulties from the inadequacies of legal  
regulations. This paper focuses on analyzing and evaluating legal provisions on the  
application of measure sending to compulsory detoxification establishments and  
inadequacies surrounding the process of applying this regulation in practice such as:  
detoxification establishments, the process of receiving and creating livelihoods for the  
subjects after detoxification... On that basis, the author gave comments and  
recommendations to perfect the mechanism of sending to compulsory detoxification  
establishments.  
Keywords: Administrative violations, compulsory detoxification centers, detoxification  
195  
pdf 11 trang Thùy Anh 13700 Free
Bạn đang xem tài liệu "Pháp luật về áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphap_luat_ve_ap_dung_bien_phap_dua_vao_co_so_cai_nghien_bat.pdf