Tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với cuộc bầu cử đại biểu dân cử nhiệm kỳ 2021 - 2026
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CUỘC BẦU CỬ
ĐẠI BIỂU DÂN CỬ NHIỆM KỲ 2021 - 2026
Bùi Ngọc Thanh*
*TS. Nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong suốt quá trình bầu cử là một tất yếu
nhằm lựa chọn được những người tiêu biểu, xứng đáng nhất, có đầy đủ
các tiêu chuẩn theo luật định, không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh
phòng, chống tham nhũng; có năng lực và có điều kiện thực thi nhiệm vụ
của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; đồng thời bảo đảm
được cơ cấu hợp lý. Ngày 20/6/2020, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị
số 45-CT/TW về Lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và
bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026; Quốc
hội cũng đã quyết nghị ngày bầu cử là chủ nhật ngày 23/5/2021 tại Nghị
quyết số 133/2020/QH14 ngày 17/11/2020. Để cuộc bầu cử này đạt kết
quả cao nhất, Chỉ thị số 45-CT/TW đã xác định 9 nhiệm vụ quan trọng
mà các cấp ủy, các tổ chức đảng phải lãnh đạo, chỉ đạo thực thi tốt nhất.
Từ khóa: Sự lãnh đạo của Đảng
đối với cuộc bầu cử đại biểu
dân cử nhiệm kỳ 2021 - 2026;
đại biểu Quốc hội; đại biểu Hội
đồng nhân dân.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 28/12/2020
: 08/01/2021
: 11/01/2021
Article Infomation:
Abstract:
It is indispensably required to ensure the leadership of the Party during the
electoral process so that it is to select the right people who are appropriately
qualified, fully meet the statutory criteria, are not in corruption, and firmly
fight against corruption; who are possess qualifications and availability
to perform the tasks as of National Assembly deputy or People’s Council
deputies; and it is ensured a reasonable structure. On June 20, 2020, the
Politburo issued Directive No. 45-CT/TW on the leadership of the election
of deputies to the 15th National Assembly and the People’s Councils at all
levels for the term of 2021 - 2026; The National Assembly also decided
the election date is Sunday, 23 May 2021 in the Resolution No.133/2020/
QH14 dated 17 Nov. 2020. In order for this election to reach the best
results, Directive No.45-CT/TW is defined 9 crucial tasks that committees
and party organizations must pay the leadership and direction for the best
efficient enforcements.
Keywords: The Party’s leadership
the election of deputies for term of
2021 - 2026; National Assembly
deputies; People’s Council deputies.
Article History:
Received
Edited
: 28 Dec. 2020
: 08 Jan. 2021
: 11 Jan. 2021
Approved
1. Căn cứ pháp lý về sự lãnh đạo của Đảng
đối với cuộc bầu cử đại biểu dân cử
biểu dân cử chủ yếu là các quy định của
Hiến pháp, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội
(ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân
(ĐBHĐND), Luật Tổ chức Quốc hội, Luật
tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính
Những căn cứ pháp lý về sự lãnh
đạo của Đảng trong hoạt động bầu cử đại
Số 02(426) - T1/2021
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
quyền địa phương. Trong đó, quy định của
Hiến pháp là căn cứ quan trọng hàng đầu.
Khoản 1 Điều 4 Hiến pháp năm 2013 đã
khẳng định, “Đảng Cộng sản Việt Nam... là
lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Khi
lãnh đạo Nhà nước thì Đảng phải lãnh đạo
ngay từ việc xây dựng một nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do
Nhân dân và vì Nhân dân (khoản 1 Điều 2).
Việc hình thành bộ máy nhà nước mỗi khóa
bao giờ cũng bắt đầu từ kết quả bầu cử đại
biểu dân cử theo tinh thần: Nhân dân làm
chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về
Nhân dân. Đảng phải lãnh đạo thấu suốt
cả quá trình bầu cử theo nguyên tắc “phổ
thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu
kín”1 nhằm đạt tới mục đích cao nhất là bầu
ra được những người xứng đáng đại diện
cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân;
xứng đáng là thành viên của “cơ quan đại
biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền
lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam” nếu là ĐBQH;
và xứng đáng là thành viên của “cơ quan
quyền lực nhà nước ở địa phương; đại diện
cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa
phương” nếu là đại biểu HĐND.
của các cấp ủy Đảng được phổ biến, quán
triệt đầy đủ nơi đó công tác bầu cử được
chuẩn bị chu đáo, triển khai công việc kịp
thời, phối hợp chặt chẽ, kết quả đạt cao”2.
Kinh nghiệm này, một lần nữa khẳng định
vai trò lãnh đạo của Đảng là tối quan trọng,
là yêu cầu tất yếu của một Đảng cầm quyền
trong các cuộc bầu cử đại biểu dân cử.
2. Sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình tổ
chức bầu cử
Theo quy trình một cuộc bầu cử, từ
khi công bố ngày bầu cử cho đến khi tổng
kết cuộc bầu cử, có thể chia ra hơn 40
công đoạn. Công đoạn nào cũng yêu cầu,
cũng đòi hỏi phải có sự lãnh đạo sát sao
của Đảng. Sự lãnh đạo của Đảng trong các
cuộc bầu cử có thể chia làm hai dạng: ở cấp
cao, nhất là ở Trung ương chủ yếu là lãnh
đạo bằng chủ trương, đường lối và cơ chế,
chính sách; ở các cấp, nhất là ở cơ sở như
Ban bầu cử, Tổ bầu cử thì các thành viên
vừa phải quán triệt chủ trương, đường lối,
thấm nhuần chính sách, cơ chế, vừa phải tác
nghiệp cụ thể trong công việc. Dưới đây là
04 công đoạn then chốt mà các cấp ủy Đảng
phải tập trung lãnh đạo thường xuyên, liên
tục, sát sao nhất.
Về thực tiễn, một trong tám bài học
kinh nghiệm quan trọng của cuộc bầu cử
ĐBQH khóa XIV và đại biểu HĐND các
cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021 mà Báo cáo số
695/BC-HĐBCQG ngày 19/7/2016 Tổng
kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa
XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
nhiệm kỳ 2016 - 2021 (Báo cáo số 695/BC-
HĐBCQG) đã chỉ ra là: “Sự lãnh đạo của
Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị,
Ban Bí thư và các cấp ủy Đảng đối với công
tác chuẩn bị bầu cử là yếu tố quan trọng
hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cuộc bầu
cử. Nơi nào có sự chuẩn bị chu đáo sát sao,
thống nhất; các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo
2.1. Dự kiến cơ cấu, thành phần những
người được giới thiệu ứng cử ĐBQH và đại
biểu HĐND
Về số lượng đại biểu dân cử, Luật Bầu cử
ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015 đã xác
định: ĐBQH là 500 người, đại biểu HĐND
các cấp được tính theo dân số và các yếu tố
cụ thể của mỗi địa phương. Nhìn chung, số
lượng đại biểu dân cử mỗi khóa không nhiều,
như kết quả bầu cử và được xác nhận đủ tư
cách đại biểu nhiệm kỳ 2016 - 2021 là 321.886
đại biểu, gồm 494 ĐBQH và 321.392 đại biểu
HĐND các cấp; tỷ lệ đại biểu trên tổng số
cử tri chỉ khoảng 0,44% và khoảng 0,33%
1. Điều 1 Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND năm 2015.
2. Trích Báo cáo số 695/BC-HĐBCQG ngày 19/7/2016 Tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và
đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021.
4
Số 02(426) - T1/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
so với tổng dân số ở thời điểm bầu cử3 Trong
khi đó số cơ quan, tổ chức, đơn vị được phân
bổ người ứng cử tương đối nhiều. Đối với
ĐBQH, các đơn vị được phân bổ gồm: tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ
quan nhà nước ở Trung ương và địa phương.
Đối với đại biểu HĐND cấp tỉnh, cấp huyện
còn thêm các đơn vị hành chính cấp dưới, đơn
vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế trên địa bàn. Đối
với đại biểu HĐND cấp xã còn thêm thôn
(làng, bản, ấp), tổ dân phố.
số người được giới thiệu là nữ. Muốn vậy
phải giới thiệu ít nhất được 40%, để nếu có bị
loại vẫn bảo đảm con số 35%. Tuy nhiên, vấn
đề là chất lượng người được giới thiệu làm
ứng cử viên, vì vậy, ngay từ đầu đã phải quan
tâm đúng mức tới chất lượng người được giới
thiệu ứng cử.
Về số lượng và tỷ lệ đại biểu là người dân
tộc trong cơ quan dân cử: Đối với Quốc hội
(mang tính toàn quốc), Luật Bầu cử ĐBQH và
đại biểu HĐND quy định ít nhất là 18%, tỷ lệ
này nhìn chung là đạt được. Tuy nhiên, không
vì thế mà chủ quan, lơ là trong lãnh đạo, chỉ
đạo; ngược lại, phải hết sức chú ý lãnh đạo,
chỉ đạo tìm người đủ tiêu chuẩn ở một số dân
tộc mà nhiều khóa Quốc hội vừa qua chưa có
ĐBQH; tìm người xứng đáng nhất trong các
dân tộc có số dân đông hơn để giới thiệu. Đối
với HĐND (mang tính chất địa phương; có
tỉnh, có huyện, có xã không có người dân tộc
thiểu số; những tỉnh, huyện, xã có người dân
tộc thiểu số thì số lượng và tỷ lệ cũng rất khác
nhau) vì thế, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu
HĐND năm 2015 không quy định tỷ lệ chung.
Bởi vậy, cấp ủy Đảng ở từng địa phương phải
lãnh đạo sát sao, bám thực tế, chỉ đạo cụ thể
để việc giới thiệu đạt được các tỷ lệ hợp lý,
mang tính đại diện cao giữa các dân tộc trên
từng địa bàn.
Với số lượng đại biểu dân cử hạn hẹp,
trong khi trên thực tế các đơn vị để phân bổ
tương đối nhiều thì việc phân bổ cho đơn vị
nào, số lượng bao nhiêu, đòi hỏi một sự lãnh
đạo rất cụ thể. Có ít nhất ba vấn đề phải đặc
biệt chú ý trong quá trình lãnh đạo:
Một là, tổ chức Đảng ở Ủy ban Thường
vụ Quốc hội (UBTVQH), ở Thường trực
HĐND các cấp phải lãnh đạo để xác định
chính xác những cơ quan, tổ chức, đơn vị cần
được phân bổ người ứng cử và số lượng người
được phân bổ cho mỗi đơn vị. Đây là một việc
rất khó và cũng là một tồn tại qua nhiều lần
bầu cử. Do đó, Hội đồng Bầu cử quốc gia và
UBTVQH cần chỉ đạo các cơ quan chuyên
môn nghiên cứu, xây dựng các tiêu chí cơ bản
để làm căn cứ cho việc phân bổ, nhất là đối
với cơ quan, tổ chức đơn vị thuộc hệ thống
chính trị (Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc
và các tổ chức thành viên).
Công đoạn dự kiến cơ cấu, thành phần
những người được giới thiệu ứng cử đại biểu
dân cử là công đoạn nghiệp vụ đầu tiên, và nó
sẽ chi phối tất cả các công đoạn tiếp theo. Do
đó, nếu không bảo đảm tính hợp lý, chính xác
ngay từ đầu sẽ gây khó khăn cho tất cả các
công đoạn tiếp theo.
Hai là, lãnh đạo việc nghiên cứu cơ cấu,
thành phần hợp lý nhất để phân bổ người ứng
cử, tránh tình trạng thừa cơ cấu, thiếu thành
phần hoặc thành phần không hợp lý, dẫn đến
sai lệch cơ cấu.
2.2. Lãnh đạo hiệp thương, giới thiệu
người ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND và
điều chỉnh cơ cấu, thành phần, số lượng
người được giới thiệu ứng cử
Ba là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo
của Đảng để bảo đảm được các cơ cấu cơ
bản, nhất là cơ cấu nữ và cơ cấu dân tộc. Về
cơ cấu nữ, theo Luật Bầu cử ĐBQH và đại
biểu HĐND năm 2015, phải có ít nhất 35%
Về lý thuyết, nếu ở công đoạn dự kiến
cơ cấu, thành phần, số lượng được thực hiện
3. Trích Báo cáo số 695/BC-HĐBCQG ngày 19/7/2016 Tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và
đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Số 02(426) - T1/2021
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
tốt (chặt chẽ, đúng tiêu chuẩn, cơ cấu, thành
phần hợp lý) thì đến công đoạn hiệp thương
và các công đoạn tiếp theo sẽ “nhẹ nhàng”, đỡ
vất vả hơn. Nhưng trên thực tế các cuộc bầu cử
gần đây cho thấy, công đoạn hiệp thương khá
phức tạp. Báo cáo số 695/BC-HĐBCQG nhận
định: “Một số cơ cấu, số lượng phân bổ đại
biểu chưa được như định hướng, dự kiến ban
đầu, nhất là tỷ lệ nữ, tỷ lệ người ngoài đảng;
nhiều người do Trung ương giới thiệu không
trúng cử ở một số tỉnh, thành phố... Việc đưa ra
khỏi danh sách một số ứng cử viên tự ứng cử
ĐBQH trong hiệp thương lần thứ ba mà được
cử tri nơi cư trú, cử tri ở cơ quan tín nhiệm
chưa hoàn toàn được dư luận đồng tình”4.
Hai là, cơ cấu đại biểu nữ: Đã có một
số khóa tỷ lệ đại biểu nữ đạt trên 30% (khóa
V: 32%). Những khóa sau này chỉ đạt từ 18
đến hơn 27%. Có thể có nhiều nguyên nhân,
nhưng có hai nguyên nhân mà cuộc bầu cử tới
đòi hỏi sự lãnh đạo quyết liệt của các cấp ủy
để khắc phục tình hình này.
Thứ nhất, nguyên nhân về tính đặc thù
của một số cơ quan, tổ chức, đơn vị ít phụ nữ
mà số người ứng cử lại tương đối nhiều như
quốc phòng, an ninh, thường trực các cơ quan
của Quốc hội... Những cơ quan này không thể
áp dụng tỷ lệ cao người ứng cử là nữ được.
Ngược lại, nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị,
nhất là ở địa phương có nhiều phụ nữ, nhưng
trong thực hiện người ta có thiên hướng cố
gắng đạt tỷ lệ trung bình. Vì vậy, Đảng đoàn
Quốc hội, Hội đồng bầu cử Quốc gia phải chỉ
đạo các cơ quan chuyên môn tính toán tỷ lệ nữ
ứng cử cho từng loại cơ quan, tổ chức, đơn vị
đảm bảo tính tương thích.
Như đã trình bày, số lượng các cơ quan,
tổ chức, đơn vị ở Trung ương cũng như ở địa
phương là rất lớn, trong khi số lượng đại biểu
dân cử lại không nhiều, nên hiệp thương để
chuẩn xác lại cơ cấu, thành phần cho hợp lý
là công việc tất yếu, phải tiến hành nhiều lần
(theo Luật Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu
HĐND năm 2015 là 3 lần).
Thứ hai, mấy khóa gần đây trong cơ cấu
không còn đại biểu là nông dân, công nhân -
hai thành phần có tầm quan trọng nhiều mặt
trong xã hội. Nhiều khóa trước, các đại biểu
thuộc cơ cấu này chiếm tỷ lệ khá cao (khóa
IV, công nhân là 23,3%, nông dân là 21,4%;
Khóa V, công nhân là 22%, nông dân là 21%;
khóa VI công nhân là 16,2%, nông dân là
20,3%...)6. Riêng khóa IX thì lại đổi tỷ lệ đại
biểu công nhân thành công nghiệp, nông dân
thành nông nghiệp. Bốn khóa gần đây, tỷ lệ
đại biểu của khối doanh nghiệp (có từ 3 đến
7%), nhưng trong đó doanh nghiệp nhà nước
cũng chiếm phần đáng kể. Như vậy, trên thực
tế, dần dần các ĐBQH hầu như đều là cán bộ,
công chức nhà nước, mà cơ cấu cán bộ, công
chức nhà nước nhất là ở Trung ương tỷ lệ nữ
không cao. Cơ cấu của khối cử tri có tỷ lệ nữ
không cao mà lại đặt yêu cầu nâng cao tỷ lệ
nữ được giới thiệu ứng cử thì rất khó. Do đó,
Đối với hiệp thương giới thiệu người ứng
cử ĐBQH cần lưu ý:
Một là, cơ cấu số lượng và tỷ lệ giữa đại
biểu ở Trung ương và đại biểu ở địa phương.
Ở nhiều khóa thường cơ cấu 1/3 đại biểu ở
Trung ương và 2/3 đại biểu ở địa phương.
Tuy nhiên, đang có xu hướng tăng đại biểu
ở Trung ương (từ khóa XI đến khóa XIV lần
lượt là 30,92%; 31,03%; 33,4% và 36,04%)5,
cũng có nghĩa là giảm số lượng và tỷ lệ đại
biểu ở địa phương. Theo chúng tôi, giữ ở mức
30% và 70% như nhiều khóa trước đây là hợp
lý. Muốn vậy, phải thống nhất cao và có sự
lãnh đạo sát sao, chỉ đạo cụ thể của Đảng đoàn
Quốc hội, Hội đồng Bầu cử Quốc gia, Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các cấp ủy ngành, địa phương.
4. Trích Báo cáo số 695/BC-HĐBCQG ngày 19/7/2016 Tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và
đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021.
5. Sổ ĐBQH khóa XIV 2016 - 2021, phần thống kê ĐBQH các khóa.
6. Sổ ĐBQH khóa XIV 2016 - 2021, phần thống kê ĐBQH các khóa.
6
Số 02(426) - T1/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
phải xác định cơ cấu, thành phần thật hợp lý
ngay từ khi phân bổ và chuẩn xác lại trong
ba lần hiệp thương, trong đó có vấn đề lớn là
cần xem xét để có đại biểu là những người lao
động bình thường (công nhân, nông dân, lao
động khu vực phi chính thức...) đại diện cho
phần lớn nhân dân và cử tri cả nước.
và cấp huyện, (nhiệm kỳ 2007 - 2011, cấp
tỉnh 23,9%, cấp huyện 23,0%, cấp xã 19,5%;
nhiệm kỳ 2011-2016, cấp tỉnh 25,2%, cấp
huyện 24,6%, cấp xã 21,7%; nhiệm kỳ 2016 -
2021, cấp tỉnh 26,7%, cấp huyện 27,5%, cấp
xã 26,5%)7. Sở dĩ có tình hình này là do việc
vận dụng tiêu chuẩn. Bốn tiêu chuẩn đại biểu
HĐND là thống nhất, nhưng đối với đại biểu
HĐND cấp xã thì tiêu chuẩn thứ 3 “Có trình
độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực, sức
khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực
hiện nhiệm vụ đại biểu; có điều kiện tham gia
các hoạt động của HĐND”, điều này đối với
phụ nữ ở cấp xã nói chung và phụ nữ ở xã, bản
miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói
riêng là vô cùng khó khăn. Trình độ văn hóa
thấp, chuyên môn, khoa học kỹ thuật yếu; một
số nơi do tập tục, lối sống lạc hậu... nên khó
có điều kiện tham gia hoạt động chính trị, xã
hội. Một số chị em tự ti, không muốn tham gia
hoạt động. Có lẽ các tổ chức Đảng ở những địa
bàn này phải căn cứ vào tình hình, điều kiện
thực tế để lựa chọn, giới thiệu (theo phương
pháp “so đũa”) chứ không thể rập khuôn theo
khu vực đồng bằng hay thành phố, thị xã.
Ba là, sự “cọ xát” căng thẳng về số lượng.
Theo tâm lý chung, cơ quan, tổ chức, đơn vị,
địa phương nào cũng mong muốn có số lượng
người được giới thiệu ứng cử nhiều hơn. Ở địa
phương có “công thức” tính gồm 3 đại biểu
“gốc” cộng số lượng đại biểu tăng thêm theo
số dân, còn ở Trung ương thì “ngầm hiểu” là
tầm quan trọng của mỗi loại cơ quan, tổ chức,
đơn vị, mà “định tính” về tầm quan trọng thì
thảo luận vô cùng căng thẳng, khó phân định.
Vì vậy, đòi hỏi sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, cụ
thể của tổ chức Đảng trên cơ sở Hiến pháp và
tính chất, hiệu quả hoạt động của mỗi lĩnh vực.
Bốn là, bám sát tiêu chuẩn đại biểu để “cọ
xát” về chất lượng người được giới thiệu ứng
cử: Chất lượng (đức và tài) là vấn đề hàng đầu
trong hoạt động của đại biểu. Ngoài học vấn
thể hiện qua cấp độ được đào tạo thì trong lãnh
đạo nên kết hợp với việc lấy ý kiến cử tri nơi
công tác, nơi làm việc, địa bàn hoạt động, nơi
cư trú để nắm bắt được tinh thần, thái độ công
tác, kết quả công việc cụ thể, mức độ gắn kết
với nhân dân, đạo đức, tư cách của người được
giới thiệu ứng cử. Trong giai đoạn hiện nay,
vấn đề cần được quan tâm đặc biệt đó là, người
được giới thiệu ứng cử phải là người không
tham nhũng, không liên quan đến tham nhũng.
3. Lãnh đạo thành lập các tổ chức phụ
trách bầu cử ở địa phương
Theo Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu
HĐND năm 2015, các tổ chức phụ trách bầu
cử ở địa phương gồm:
- Ủy ban bầu cử cấp tỉnh, có từ 21 đến
31 thành viên; Ủy ban bầu cử cấp huyện, có
từ 11 đến 15 thành viên; Ủy ban bầu cử cấp
xã, có từ 9 đến 11 thành viên (gọi chung là Ủy
ban bầu cử).
Đối với hiệp thương giới thiệu người
ứng cử đại biểu HĐND các cấp: Ngoài những
vấn đề tương tự như giới thiệu người ứng cử
ĐBQH, cần lưu ý tới cơ cấu nữ ở HĐND cấp
xã. Thực tế cho thấy, kết quả các cuộc bầu cử
gần đây chưa bao giờ tỷ lệ đại biểu nữ HĐND
cấp xã đạt được định hướng và bao giờ cũng
thấp hơn tỷ lệ nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh
- Ban bầu cử ĐBQH, có từ 9 đến 15 thành
viên; Ban bầu cử đại biểu HĐND cấp tỉnh, có
từ 11 đến 13 thành viên; Ban bầu cử đại biểu
HĐND cấp huyện, có từ 9 đến 11 thành viên;
Ban bầu cử đại biểu HĐND cấp xã có từ 7 đến
9 thành viên (gọi chung là Ban bầu cử).
7. Trích Báo cáo số 453 ngày 18-7-2011 của Hội đồng bầu cử về kết quả cuộc bầu cử ĐBQH khóa XIII và đại
biểu HĐND nhiệm kỳ 2011-2016; Báo cáo số 695/BC-HĐBCQG ngày 19/7/2016 Tổng kết cuộc bầu cử đại
biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Số 02(426) - T1/2021
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
- Tổ bầu cử: Mỗi khu vực bỏ phiếu có
một Tổ bầu cử, có từ 11 đến 21 thành viên.
tỉnh cũng có một số nơi có tình trạng tương
tự. Có thể có nhiều nguyên nhân, trong đó có
nguyên nhân lĩnh vực hoạt động của người ứng
cử không thích hợp với địa phương nơi ứng
cử. Đây cũng là một kinh nghiệm trong lãnh
đạo và trong tham mưu phân bổ người ứng
cử theo địa bàn. Mặt khác, cần khắc phục tình
trạng, một số địa phương luôn luôn muốn chọn
những người ứng cử có chức sắc càng cao càng
tốt, những người ứng cử là thành viên Chính
phủ, những người đứng đầu ngành, lĩnh vực.
Như vậy, số lượng các tổ chức bầu cử
ở địa phương và các thành viên trong các tổ
chức đó là rất lớn. Vì vậy, việc lãnh đạo các tổ
chức làm công tác bầu cử ở địa phương phải
chú ý ít nhất đối với hai vấn đề:
Một là, phải bảo đảm các thành phần đúng
như yêu cầu luật định, nhân sự (các thành viên)
của các tổ chức phải bảo đảm yếu tố chính trị
cao và có nghiệp vụ hoặc đã từng làm tốt công
tác bầu cử các khóa trước, đặc biệt là ở cấp xã,
cấp huyện. Kinh nghiệm hai cuộc bầu cử vừa
qua cho thấy, có một vài sai sót đều chủ yếu
xảy ra ở huyện hoặc xã. Có nhiều nguyên nhân,
nhưng chung nhất do “lợi ích nhóm”, trình
độ năng lực yếu kém và thiếu tinh thần trách
nhiệm. Bởi vậy, việc lựa chọn nhân sự, tăng
cường quản lý và lãnh đạo tư tưởng chặt chẽ là
vô cùng quan trọng và cấp thiết.
Về phân chia (sắp xếp) người ứng cử
vào đơn vị bầu cử: Luật Bầu cử ĐBQH và đại
biểu HĐNH năm 2015 chưa quy định cụ thể,
chi tiết việc phân chia, lập danh sách những
người ứng cử vào các đơn vị bầu cử nên có hai
vấn đề đáng quan tâm trong lãnh đạo, chỉ đạo.
Một là, có một số địa phương lo ngại
trách nhiệm để người ứng cử có chức sắc cao
của địa phương hoặc do Trung ương giới thiệu
mà bị “trượt” nên đã bố trí những người ứng
cử khác trong danh sách bầu có trình độ và vị
thế cách biệt, thấp xa. Đây là một ví dụ điển
hình của tình trạng “quân xanh, quân đỏ”, do
đó trong lãnh đạo, chỉ đạo cần khắc phục tối
đa tình trạng này.
Hai là, sự lãnh đạo của các tổ chức bầu
cử ở cấp huyện, cấp xã, nhất là ở các Ban, các
Tổ bầu cử, đảng viên vừa có vai trò lãnh đạo,
vừa có trọng trách tác nghiệp nghiệp vụ cụ thể
trong bầu cử, do đó tuyệt đối không bao giờ
được xem nhẹ sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp,
cụ thể. Ngoài ra, những sơ suất như in sai
phiếu bầu, viết sai họ, tên người ứng cử, phát
thừa phiếu bầu... mà kiểm tra, giám sát không
phát hiện ra sẽ dẫn đến thiệt hại lớn về công
sức, thời gian, tiền của để tổ chức bầu cử lại.
Hai là, thực tiễn cho thấy, cùng là người
ứng cử đủ tiêu chuẩn ứng cử ĐBQH, đủ tiêu
chuẩn ứng cử ĐBHĐND nhưng sắp xếp vào
đơn vị bầu cử này thì có thể không trúng cử,
nhưng sắp xếp vào đơn vị bầu cử khác thì có
thể đắc cử. Điều này đòi hỏi khi phân chia, lập
danh sách những người ứng cử vào các đơn
vị bầu cử phải hết sức công bằng, công minh,
khách quan, trung thực, mà mục đích đạt đến
là, đảm bảo được các cơ cấu định hướng ở
mức tốt nhất... Muốn vậy, cần chỉ đạo nghiên
cứu định ra những tiêu chí cần thiết làm căn
cứ cho việc phân chia, sắp xếp. Các tiêu chí
đó có thể là: có trình độ tương đương, có vị
thế (chức danh) tương đương, có nam có nữ,
khác đơn vị công tác... Như vậy, việc trúng
cử hay không sẽ phụ thuộc nhiều vào chương
trình hành động và khả năng vận động bầu cử
4. Lãnh đạo việc phân bổ người ứng cử về
các địa phương và phân chia người ứng
cử vào các đơn vị bầu cử
Về giới thiệu người ứng cử về các địa
phương: Việc giới thiệu người ứng cử ĐBQH
về các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
và giới thiệu người ứng cử đại biểu HĐND cấp
tỉnh về các huyện, quận, thị xã, trong lãnh đạo
phải chú ý cả hai mặt là đặc điểm kinh tế, xã
hội của địa phương và sự tương thích ngành
nghề, lĩnh vực hoạt động của người được giới
thiệu. Các cuộc bầu cử trước, có người được
Trung ương giới thiệu về địa phương ứng cử
ĐBQH nhưng không trúng cử; ở HĐND cấp
của người ứng cử
8
Số 02(426) - T1/2021
Bạn đang xem tài liệu "Tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với cuộc bầu cử đại biểu dân cử nhiệm kỳ 2021 - 2026", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tang_cuong_su_lanh_dao_cua_dang_doi_voi_cuoc_bau_cu_dai_bieu.pdf

