Nghiên cứu so sánh các quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Luật hình sự An-giê-ri, Ma-rốc và Việt Nam

VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 39-53  
Original Article  
A Comparative Study of Provisions on Criminal Liability  
of Legal Entities in the Criminal Law of Algeria,  
Morocco and Vietnam  
Trinh Quoc Toan*  
VNU School of Law, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
Received 02 September 2021  
Revised 10 September 2021; Accepted 22 September 2021  
Abstract: This article presents a new research on a number of issues concerning corporate criminal  
liability from comparative law perspective in the criminal law of Algeria, Morocco and Vietnam,  
such as: History; legal persons are the subject of offences and the subject of criminal liability; scope  
of corporate criminal offences; elements of corporate criminal law; principles of attributing criminal  
liability to juridical persons, types of penalties and judicial/security measures applied to juridical  
persons committing crimes. On the premise of comparative law research, the article draws some  
conclusions and proposes recommendations to improve the provisions on corporate criminal  
liabililty in the current Penal Code of Vietnam.  
Keywords: Criminal liability of legal entities, comparison of Criminal Laws of Algeria, Morocco,  
Vietnam, penalties for legal entities committing crimes.*  
________  
* Corresponding author.  
E-mail address: [email protected]  
39  
T. Q. Toan / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 39-53  
40  
Nghiên cứu so sánh các quy định về trách nhiệm hình sự của  
pháp nhân trong Luật Hình sự An-giê-ri, Ma-rốc và Việt Nam  
Trịnh Quốc Toản*  
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 02 tháng 9 năm 2021  
Chỉnh sửa ngày 10 tháng 9 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 22 tháng 9 năm 2021  
Tóm tắt: Bài báo này công bố kết quả nghiên cứu dưới góc độ so sánh một loạt các vấn đề về trách  
nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự An-giê-ri, Ma-rôc và Việt Nam, như: lịch sử, phạm  
vi, điều kiện áp dụng trách nhiệm hình sự của pháp nhân, nguyên tắc quy kết trách nhiệm hình sự  
đối với pháp nhân, các loại hình phạt và biện pháp tư pháp/an ninh áp dụng đối với pháp nhân phạm  
tội. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu so sánh, bài báo rút ra những kết luận và đề xuất các kiến nghị  
lập pháp tiếp tục hoàn thiện chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Bộ luật hình sự hiện  
hành của Việt Nam.  
Từ khóa: Trách nhiệm hình sự của pháp nhân, so sánh Luật Hình sự An-giê-ri, Ma-rốc, Việt Nam,  
hình phạt đối với pháp nhân phạm tội.  
1. Dẫn nhập*  
Trách nhiệm hình sự của pháp nhân là chế  
nhân trong LHS, các nhà nghiên cứu LHS cũng  
như thực tiễn luôn quan niệm là TNHS chỉ có thể  
đặt ra đối với cá nhân người phạm tội [2].  
định quan trọng được quy định trong luật Hình  
sự (LHS) của nhiều nước trên thế giới [1]. Ở Việt  
Nam, ngay từ thời kỳ thực dân phong kiến và sau  
năm 1945, LHS của chế độ Sài Gòn cũ (Việt  
Nam Cộng hòa) cũng như LHS của Nhà nước  
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng đã quy định  
trách nhiệm hình sự (TNHS) của pháp nhân,  
nhưng trong thực tiễn lại không áp dụng chế định  
này. Các nhà lập pháp và thực tiễn vẫn chung  
thủy với nguyên tắc truyền thống, đó là TNHS  
chỉ đặt ra với cá nhân người có lỗi trong việc thực  
hiện tội phạm được quy định trong LHS chứ  
không thừa nhận TNHS của pháp nhân.  
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học LHS  
hiện đại ở nhiều nước [3], trong đó có Việt Nam  
đã thể hiện sự đổi mới mạnh mẽ trong nhận thức  
về chính sách hình sự (CSHS) mà trọng tâm là  
đổi mới quan niệm về tội phạm và hình phạt, về  
cơ sở của TNHS, về chính sách xử lí đối với một  
số loại tội phạm và loại chủ thể phạm tội, trong  
đó có chủ thể của tội phạm là pháp nhân, từ bỏ  
quan niệm thuần tuý là chỉ có cá nhân phạm tội  
mới phải chịu TNHS, khắc phục những bất cập,  
hạn chế trong thực tiễn phòng ngừa và đấu tranh  
chống tội phạm1. Bộ luật hình sự (BLHS) mới  
của Việt Nam được ban hành năm 2015 (sửa đổi  
năm 2017) đã chính thức quy định toàn diện về  
Tương tự như vậy ở các nước khác, trong một  
thời gian dài trước khi thiết lập TNHS của pháp  
________  
* Tác giả liên hệ.  
1
Tờ trình số 186/TTr-CP của Chính phủ gửi Quốc hội về  
Địa chỉ email: [email protected]  
Dự án Bộ luật hình sự (sửa đổi) ngày 27/4/2015; Tờ trình  
của Bộ Tư pháp gửi Chính phủ về dự án Bộ luật hình sự  
(sửa đổi), tháng 1/2015.  
T. Q. Toan / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 39-53  
41  
vấn đề TNHS của pháp nhân thương mại  
(PNTM) phạm tội.  
Đồng thời bên cạnh đó, một số đạo luật  
chuyên ngành cũng quy định về vấn đề TNHS  
của pháp nhân, ví dụ: Điều 5 Pháp lệnh số 96 -  
22 ngày 9/7/1996 liên quan đến trừng trị các tội  
vi phạm pháp luật và quy chế về trao đổi hối đoái  
[7] đã xác định rõ pháp nhân chịu TNHS với tư  
cách là chủ thể của các tội phạm được quy định  
tại Điều 1 và Điều 2 của pháp lệnh này. Pháp  
nhân phạm tội chịu các hình phạt như: 1) Phạt  
tiền với mức tối đa là gấp 5 lần mức tiền phạt quy  
định trong điều luật quy định về tội phạm cụ thể;  
2) Tịch thu các phương tiện vận chuyển đã được  
sử dụng vào việc gian lậu. Ngoài ra, tòa án có thể  
áp dụng đối với pháp nhân phạm tội một hoặc  
toàn bộ các hình phạt sau trong thời hạn không  
vượt quá 5 năm, đó là: 1) Cấm các hoạt động  
thương mại quốc tế; 2) Loại trừ việc tham gia các  
hợp đồng giao thầu công hoặc mua sắm chính  
phủ; 3) Cấm kêu gọi gửi tiền tiết kiệm [8].  
Mặc dù chế định TNHS của pháp nhân đã  
được ghi nhận trong BLHS hiện hành, nhưng đây  
là một vấn đề vẫn còn mới và phức tạp, nên  
không tránh khỏi còn có những hạn chế, thiếu sót  
nhất định về phương diện lập pháp; thực tiễn áp  
dụng chế định này của các cơ quan tiến hành tố  
tụng còn có những lúng túng nhất định2, vì thế  
cần phải tiếp tục nghiên cứu trên phương diện  
lí luận và thực tiễn, đồng thời tiếp thu có chọn  
lọc kinh nghiệm lập pháp hình sự của các nước  
khác trong đó có các nước Bắc Phi (trường hợp  
An-giê-ri và Ma-rốc) để hoàn thiện chế định  
này trong tương lai pháp luật hình sự (PLHS)  
Việt Nam.  
2. Khái quát lịch sử vấn đề  
Ngày 10/11/2004, Quốc hội An-giê-ri đã  
thông qua hai đạo luật: Luật thứ nhất sửa đổi, bổ  
sung chương 3 về truy cứu TNHS đối với pháp  
nhân trong BLTTHS năm 1966 [9]. Luật thứ hai  
sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1966 [10] đã thiết  
lập hệ thống các hình phạt đối với pháp nhân  
phạm tội và đặc biệt là đã ghi nhận chính thức  
TNHS của pháp nhân là nguyên tắc chung của  
LHS tại Điều 51 bit. Đó là: "Pháp nhân, trừ nhà  
nước, các cộng đồng lãnh thổ địa phương và các  
pháp nhân theo luật công, chịu TNHS, trong khi  
luật có quy định, các tội phạm được thực hiện vì  
lợi ích của pháp nhân, bởi các cơ quan hoặc  
người đại diện pháp luật của pháp nhân. TNHS  
của pháp nhân không loại trừ TNHS của cá nhân  
là người trực tiếp thực hiện hoặc người tòng  
phạm về cùng các hành vi phạm tội”[11].  
2.1. An-giê-ri  
An-giê-ri bị Pháp đô hộ hàng thế kỷ, chịu ảnh  
hưởng bởi pháp luật của Pháp. Sau khi giành  
được độc lập năm 1962, An-giê-ri đã tiến hành  
cải cách pháp luật, trong đó có LHS với việc ban  
hành BLHS năm 1966. Trước khi BLHS năm  
1966 được sửa đổi, bổ sung năm 2004, cũng như  
Ma-rốc và các nước châu Phi khác [4], LHS An-  
giê-ri không chấp nhận TNHS của pháp nhân là  
một nguyên tắc chung. Mặc dù vậy, trong BLHS  
năm 1966 cũng như Bộ luật tố tụng hình sự  
(BLTTHS) năm 1966 và một số luật chuyên  
ngành cũng đã có một số quy định liên quan đến  
nguyên tắc này.  
Điều 9 (5) và Điều 7 BLHS năm 1966 (sửa  
đổi theo Luật số 89 - 05 ngày 25/4/1989) không  
quy định nguyên tắc TNHS của pháp nhân,  
nhưng lại thừa nhận khả năng áp dụng hình phạt  
giải thể và cấm pháp nhân tiến hành các hoạt  
động xã hội [5]. Đồng thời, Điều 647/2 BLTTHS  
năm 1966 [6] cũng đã đặt ra một số nguyên tắc  
liên quan đến tổ chức hồ sơ lí lịch tư pháp đối  
với các pháp nhân dân sự và PNTM bị kết án  
hình sự.  
2.2. Ma-rốc  
Trong gần nửa thế kỷ (từ năm 1912 đến năm  
1956) Ma-rốc là xứ bảo hộ của Pháp và Tây Ban  
Nha, chịu ảnh hưởng của pháp luật của hai nước  
này. Nghiên cứu cho thấy, Ma-rốc cũng đã có  
quy định về TNHS của pháp nhân trong Luật  
Trừng trị các hành vi tội phạm xâm phạm các  
quy định về hối đoái [12]. Điều 13 của Luật này  
________  
2 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã có hiệu  
lực thi hành từ ngày 01/01/2018.  
T. Q. Toan / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 39-53  
42  
quy định: “Trong khi tội phạm xâm phạm các  
quy định về hối đoái được thực hiện bởi người  
lãnh đạo, quản lí hoặc giám đốc của pháp nhân,  
hoặc một trong những người nói trên hành động  
nhân danh pháp nhân và vì lợi ích của pháp nhân,  
độc lập với việc truy tố chống lại những người  
nói trên, pháp nhân có thể bị truy tố và chịu các  
hình phạt tiền được quy định tại luật này”. Năm  
1953 Ma-rốc ban hành BLHS [13], nhưng trong  
BLHS này vấn đề TNHS của pháp nhân không  
được đề cập đến.  
Sau khi giành được độc lập năm 1956, Ma-  
rốc đã tiến hành soạn thảo BLHS mới để thay thế  
BLHS năm 1953. BLHS mới này được ban hành  
ngày 26/11/1962 và chính thức có hiệu lực thi  
hành ngày 17/6/1963. Trong BLHS năm 1962  
vấn đề TNHS của pháp nhân được quy định  
chính thức tại Điều 127 và một số điều luật khác.  
Điều 127 BLHS quy định: “Các pháp nhân chỉ  
có thể bị trừng phạt bởi các hình phạt tiền và các  
hình phạt phụ được quy định tại các số 5,6 và 7  
của Điều 36. Các pháp nhân cũng có thể phải  
chịu các biện pháp an ninh theo Điều 62” [14].  
BLTTHS năm 1959 của Ma-rốc cũng có  
những quy định liên quan đến TNHS của pháp  
nhân. Các điều từ Điều 721 đến Điều 729 của  
BLTTHS này đòi hỏi Bộ Tư pháp thiết lập lí  
lịch tư pháp của pháp nhân dân sự và pháp  
nhân thương mại và được quản lí thống nhất  
và tập trung, trong đó ghi chép đầy đủ các bản  
án hoặc hình phạt áp dụng đối với pháp nhân  
cũng như đối với những người lãnh đạo của  
pháp nhân [15].  
vô danh (sửa đổi, bổ sung theo các luật số 81-  
99, 23-01, 20-05, 78-12) [16]; Luật tự do về  
giá và cạnh tranh ngày 5/6/2000 [17]; Luật liên  
quan đến đấu tranh chống rửa tiền năm 20073;  
Luật chống khủng bố năm 20154; Bộ luật  
thương mại năm 1996 (sửa đổi nhiều lần, lần  
cuối là năm 2019) [18],…  
2.3. Việt Nam  
Sau Cách mạng Tháng tám năm 1945, nghiên  
cứu cho thấy thực tiễn xét xử của các Tòa án  
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều nghiêng  
về quy kết TNHS đối với cá nhân người phạm  
tội chứ không đề cập đến TNHS của pháp nhân,  
mặc dù cũng có văn bản pháp luật quy định  
TNHS của pháp nhân5.  
Trong thời kỳ lịch sử tồn tại của chế độ Việt  
Nam Cộng hòa ở Miền Nam Việt Nam, một số  
văn bản pháp luật của chế độ này cũng có quy  
định TNHS của pháp nhân, như: Điều 33, Dụ số  
10, ngày 23/06/1952 quy định: “Trường hợp hội  
buôn, hiệp hội, nghiệp đoàn hoạt động trái với  
những điều khoản quy định về cách tổ chức và  
điều hành hội thì các giám đốc hay quản trị viên  
đều có thể bị truy tố, bị phạt bạc hoặc phạt giam,  
còn các tổ chức có thể bị tòa án giải tán”.  
Đặc biệt là trong BLHS ngày 20/12/1972 của  
chính quyền Sài gòn trước đây đã quy định chính  
thức chế định TNHS của pháp nhân với tính chất  
là nguyên tắc chung trong LHS, cùng với TNHS  
của cá nhân. Điều 8 BLHS này quy định “Luật  
hình chi phối mọi thể nhân và pháp nhân cư trú  
trên lãnh thổ Việt Nam và mọi sự kiện xảy ra trên  
lãnh thổ này, kể cả không phận và hải phận”.  
Điều 69 quy định: “Thể nhân và pháp nhân đều  
có thể bị TNHS” và theo Điều 71 thì “Pháp  
nhân có thể bị xử phạt giải tán, phạt vạ và tịch  
thâu tài sản”6.  
Bên cạnh việc quy định các hình phạt và biện  
pháp an ninh đối với pháp nhân phạm tội trong  
Phần chung, Phần các tội phạm của BLHS quy  
định cụ thể TNHS của pháp nhân đối với một  
số tội phạm cụ thể. Đồng thời cũng như LHS  
của An-giê-ri, trong một số đạo luật chuyên  
ngành của Ma-rốc cũng quy định tội phạm do  
pháp nhân thực hiện và phải chịu TNHS, ví dụ:  
Luật số 17-95 ngày liên quan đến các công ty  
Sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất  
nước, nhà nước ta đã tiến hành pháp điển hóa  
LHS. Trong Dự thảo BLHS năm 1985 vấn đề  
TNHS của pháp nhân với tư cách là nguyên tắc  
________  
5
3
Xem: Điều 13 Sắc lệnh số 282/SL ngày 14/12/1956 do  
Xem Bulletin Officiel n° 5911bis du 19 safar 1432 (24  
Chủ tịch Hồ Chí Minh kí kèm theo Luật về chế độ báo chí  
được Quốc hội thông qua bởi Luật số 100/SL/L002 ngày  
20/05/1957.  
janvier 2011), p. 158.  
Bulletin Officiel n° 6366 du 16 chaabane 1436 (4 juin  
2015), p. 3027).  
4
6 Công báo Việt Nam Cộng hòa số 678/2 ngày 14/2/1973.  
T. Q. Toan / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 39-53  
43  
chung của LHS cũng đã được đề cập đến tại  
khoản 2 Điều 2: “Cơ quan, tổ chức, đơn vị (sau  
đây gọi chung là tổ chức) phải chịu trách nhiệm  
hình sự về hành vi phạm tội do người đại diện  
của mình thực hiện vì lợi ích của tổ chức đó”.  
Nhưng sau đó các quy định về TNHS của pháp  
nhân bị gác lại, BLHS năm 1985 được thông qua  
không còn có sự hiện diện của chế định này nữa,  
bởi Quốc hội cho rằng, “Hiện nay vấn đề này đối  
với ta còn mới, ý kiến còn khác nhau,... cần được  
tiếp tục nghiên cứu kĩ hơn, chưa thật chín. Việc  
bổ sung chỉ đặt ra khi có đủ điều kiện”.  
Đến khi pháp điển hoá LHS lần thứ hai với  
việc ban hành BLHS năm 1999 (được sửa đổi,  
bổ sung năm 2009) vấn đề TNHS của pháp nhân  
lại một lần nữa được đưa ra thảo luận và được  
nhiều đại biểu quốc hội ủng hộ, nhưng vẫn chưa  
được ghi nhận trong BLHS, vì “đây là một vấn  
đề lớn, cần phải nghiên cứu kĩ, làm rõ cơ sở lí  
luận và thực tiễn của TNHS, khái niệm tội phạm,  
hệ thống hình phạt, các nguyên tắc áp dụng,  
quyền và nghĩa vụ của pháp nhân trong tố tụng  
hình sự, ...” [2].  
Ngày 30/12/2011, Ủy ban Thường vụ Quốc  
hội đã ban hành Nghị quyết số 433/NQ-  
UBTVQH13 về việc thành lập Ban soạn thảo  
BLHS (sửa đổi). Sau bốn năm nghiên cứu toàn  
diện về mặt lí luận và thực tiễn, chế định TNHS  
của pháp nhân mới được chính thức thiết lập  
trong LHS Việt Nam với việc Quốc hội khóa  
XIII thông qua BLHS mới ngày 27/11/2015. Sau  
đó BLHS này được sửa đổi, bổ sung năm 2017  
và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.  
Do PNTM là chủ thể của tội phạm có những  
đặc điểm riêng so với chủ thể là người phạm tội,  
nên TNHS của PNTM có những nội dung có tính  
chất đặc thù liên quan đến các vấn đề, như: Cơ  
sở pháp lí của TNHS; đường lối xử lí, vấn đề tội  
phạm, giai đoạn phạm tội, đồng phạm, trường  
hợp loại trừ TNHS, hình phạt, biện pháp tư pháp,  
quyết định hình phạt và một số biện pháp miễn,  
giảm hình phạt, xóa án tích,…Chính vì những sự  
khác nhau cơ bản như vậy, nên BLHS Việt Nam  
đã quy định bổ sung một chương mới (chương  
XI) gồm 16 điều luật (từ Điều 74 đến Điều 89)  
với tiêu đề: Những quy định đối với PNTM  
phạm tội. Ngoài chương XI, BLHS còn sửa đổi,  
bổ sung một số quy định về PNTM ở các chương  
khác của BLHS để có cơ sở pháp lí thống nhất  
xử lí các tội phạm do PNTM thực hiện.  
3. Phạm vi và điều kiện của trách nhiệm hình  
sự đối với pháp nhân  
3.1. Pháp nhân - chủ thể của tội phạm  
An-giê-ri và Ma-rốc là những nước chịu ảnh  
hưởng của truyền thống luật châu Âu lục địa, nên  
các pháp nhân cũng được phân chia thành các  
pháp nhân theo luật công và các pháp nhân theo  
luật tư.  
Các pháp nhân theo luật công chịu sự điều  
chỉnh của luật công, được trao sứ mạng hoạt  
động vì lợi công và được hưởng đặc quyền riêng.  
Nó bao gồm Nhà nước, các cộng đồng lãnh thổ  
(chính quyền khu vực, tỉnh, xã) và các tổ chức  
công lập (các tổ chức trợ giúp, các bệnh viện, các  
trung tâm trợ giúp xã hội, các tổ chức văn hóa,  
các trường học đại học, Văn phòng thương mại  
và công nghiệp, văn phòng thủ công nghiệp, văn  
phòng nông nghiệp,…  
Các pháp nhân theo luật tư chịu sự điều  
chỉnh của luật tư, có mục đích lợi nhuận hoặc  
phi lợi nhuận, gồm có các pháp nhân dân sự,  
thương mại.  
Các pháp nhân dân sự như: Công ty quản lí  
và khai thác phương tiện, công ty kinh doanh nhà  
ở và văn phòng cho thuê, công ty dân sự nghề  
nghiệp, các hiệp hội, các hội, đảng phái chính trị,  
các nghiệp đoàn,… [19].  
Các pháp nhân thương mại, như: các công ty  
hợp danh, công ty hợp vốn đơn giản, công ty  
trách nhiệm hữu hạn một hoặc nhiều thành viên,  
công ty cổ phần, công ty hợp vốn cổ phần, công  
ty dự phần, các tổ hợp có tư cách pháp nhân [20].  
Theo Điều 51 bit của BLHS An-giê-ri quy  
định, TNHS chỉ đặt ra đối với các pháp nhân theo  
luật tư, trong trường hợp các pháp nhân này thực  
hiện một trong những tội phạm mà BLHS hoặc  
các đạo luật chuyên ngành có quy định. Đối với  
nhà nước, các cộng đồng lãnh thổ địa phương và  
các pháp nhân theo luật công khác vấn đề TNHS  
được loại trừ, dù hành vi tội phạm được cơ quan  
T. Q. Toan / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 39-53  
44  
hoặc người đại diện của pháp nhân đó thực hiện  
vì lợi ích của pháp nhân.  
của nó chỉ phải chịu TNHS đối với tội phạm  
được thực hiện trong khi tiến hành các hoạt  
động có thể là đối tượng của thỏa thuận ủy  
quyền dịch vụ công [4].  
Còn đối với Ma-rốc, nghiên cứu cho thấy  
LHS của nước này không có quy định nguyên tắc  
chung về TNHS như LHS An-giê-ri. Điều 127  
và một số điều luật khác trong BLHS năm 1962  
(được sửa đổi bổ sung nhiều lần) [21], cũng như  
trong các đạo luật chuyên ngành có quy định về  
TNHS của pháp nhân, không có quy định loại trừ  
TNHS đối với loại pháp nhân nào, dù đó là pháp  
nhân theo luật công hay pháp nhân theo luật tư.  
Tuy nhiên, nghiên cứu thực tiễn áp dụng TNHS  
của pháp nhân ở Ma-rốc cho thấy, TNHS được  
đặt ra đối với mọi pháp nhân theo luật tư, trong  
trường hợp tội phạm được cơ quan hoặc người  
đại diện của pháp nhân thực hiện vì lợi ích của  
pháp nhân. Nhà nước được quy định không bị  
chịu TNHS về mọi tội phạm do cơ quan hoặc  
người đại diện của Nhà nước thực hiện, tức là đối  
với Nhà nước TNHS được loại trừ hoàn toàn.  
Còn các cộng đồng lãnh thổ địa phương và các  
bộ phận cấu thành của nó (châu, tỉnh, thành phố,  
xã,…) được hưởng quy chế hạn chế về TNHS.  
Các pháp nhân này chỉ phải chịu TNHS đối với  
hành vi phạm tội được cơ quan hoặc người đại  
diện của pháp nhân thực hiện trong khi tiến hành  
các hoạt động có thể là đối tượng của thỏa thuận  
ủy quyền dịch vụ công [22].  
Như vậy, cũng như LHS các nước thành  
viên thuộc Tổ chức hài hòa hóa pháp luật kinh  
doanh châu Phi (OHADA) có quy định TNHS  
của pháp nhân, LHS của An-giê-ri và Ma-rốc  
đều quy định TNHS của pháp nhân được áp  
dụng đối với mọi loại pháp nhân theo luật tư,  
dù đó là pháp nhân vì mục đích vụ lợi hay phi  
vụ lợi, dù là pháp nhân dân sự hay là PNTM  
nếu có tư cách pháp nhân [30].  
Còn đối với Nhà nước, cộng đồng lãnh thổ  
(cơ quan chính quyền khu, tỉnh, xã), cũng như  
các pháp nhân theo luật công khác, trong khi  
LHS của An-giê-ri quy định loại trừ TNHS đối  
với các pháp nhân này (tức là đối với tất cả các  
loại pháp nhân theo luật công), thì LHS của  
Ma-rốc cũng như nhiều nước thành viên tổ  
chức OHADA lại quy định chỉ có Nhà nước  
được loại trừ hoàn toàn TNHS, còn đối với các  
cộng đồng lãnh thổ địa phương và các bộ phận  
Ở Việt Nam, khoản 2, Điều 2 và khoản 1 Điều  
8, BLHS năm 2015 chỉ quy định PNTM mới phải  
chịu TNHS khi thỏa mãn các điều kiện quy định  
tại Điều 75 BLHS này. TNHS của pháp nhân chỉ  
đặt ra đối với PNTM, đó là tổ chức thỏa mãn  
ngoài bốn điều kiện: i) Được thành lập hợp pháp;  
ii) Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; iii) Có tài sản độc  
lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách  
nhiệm bằng tài sản đó; iv) Nhân danh mình tham  
gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập; còn  
phải hội tụ hai điều kiện: i) là pháp nhân có mục  
tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; ii) và lợi nhuận  
được chia cho các thành viên.  
PNTM bao gồm các doanh nghiệp, ví dụ như  
công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH  
hai thành viên, công ty cổ phần, tập đoàn kinh tế,  
tổng công ty có công ty mẹ, công ty con và các  
công ty thành viên khác theo Luật Doanh nghiệp  
năm 2014. PNTM còn bao gồm các tổ chức kinh  
tế khác như: Hợp tác xã, Liên hợp hợp tác xã theo  
Luật Hợp tác xã năm 2012,…  
3.2. Các loại tội phạm quy kết cho pháp nhân  
Nghiên cứu LHS của An-giê-ri, Ma-rốc và  
Việt Nam cho thấy TNHS của pháp nhân chỉ đặt  
ra đối với những tội phạm cụ thể, nếu BLHS  
hoặc đạo luật chuyên ngành có quy định [23], tức  
là TNHS không đặt ra đối với mọi tội phạm do  
pháp nhân thực hiện.  
3.2.1. An-giê-ri  
Quyển 3, Phần 2, BLHS An-giê-ri quy  
định, pháp nhân là chủ thể của tội phạm và  
phải chịu TNHS đối với những loại trọng tội  
và khinh tội sau:  
- Các trọng tội và khinh tội chống lại an ninh  
nhà nước (chương 1, tít 1), đó là: Các trọng tội  
phản bội và gián điệp (từ Điều 61 đến Điều 64);  
Các tội khác xâm hại nền quốc phòng hoặc kết  
cấu quốc gia (từ Điều 64 đến Điều 76); Âm mưu  
và các tội phạm khác chống lại chính quyền  
nhà nước và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia (từ  
Điều 77 đến Điều 83); Các trọng tội gây rối  
T. Q. Toan / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 39-53  
45  
loạn Nhà nước bằng các hành vi tàn sát hoặc  
tàn phá (từ Điều 84 đến Điều 87); Các trọng  
tội khủng bố hoặc hoạt động lật đổ (từ Điều  
87 bit đến Điều 87 bit 10); và các trọng tội  
thực hiện bằng hành vi tham gia phong trào  
nổi dậy (từ Điều 88 đến Điều 90) và các tội  
phạm khác (từ Điều 91 đến Điều 96).  
- Các trọng tội và khinh tội xâm hại trật tự  
công cộng (chương 5, tít 1), đó là: Các tội xúc  
phạm và bạo lực đối với người thi hành công vụ  
và các thiết chế của Nhà nước (từ Điều 144 đến  
Điều 149); Các tội phạm liên quan đến mai táng  
và sự kính trọng người chết (từ Điều 150 đến  
Điều 154); Các tội phá niêm phong và chiếm giữ  
nhà giam công (từ Điều 155 đến Điều 159); Tội  
làm uế tạp và trụy lạc (từ Điều 160 và tiếp theo);  
các trọng tội và khinh tội của những người cung  
ứng hàng hóa cho quân đội (từ Điều 161 đến  
Điều 164); Các tội vi phạm quy định về sòng bạc,  
sổ số (từ Điều 165 đến Điều 169); Các tội liên  
quan đến công nghiệp, thương mại và đấu giá tài  
sản công (từ Điều 170 đến Điều 175 bit).  
buôn bán nội tạng, buôn bán trái phép người di  
trú (từ Điều 303 bit 4 đến Điều 303 bit 41).  
- Các trọng tội và khinh tội xâm phạm tài sản  
(chương 3, tít 2), đó là các tội trộm cắp và cưỡng  
đoạt (từ Điều 350 đến Điều 371 bit); Tội lừa đảo  
và phát hành séc không đảm bảo khả năng thanh  
toán (từ Điều 372 đến Điều 375 bit); Tội lạm  
dụng tín nhiệm (từ Điều 376 đến Điều 382 bit).  
- Tội rửa tiền (từ Điều 389 bit và tiếp theo).  
- Các tội xâm hại hệ thống xử lí tự động hóa  
các số liệu (từ Điều 394 bit và tiếp theo).  
- Các tội liên quan đến phá sản (Điều 383 và  
Điều 384); Tội xâm phạm bất động sản (Điều  
386); Tội chứa chấp vật phạm pháp (từ Điều 387  
đến Điều 389); Tội hủy hoại, làm hư hỏng và gây  
thiệt hại; chiếm đoạt các phương tiện giao thông  
(từ Điều 395 đến Điều 417 bit 2).  
- Các tội liên quan đến gian lận trong việc bán  
hàng hóa, làm giả lương thực, thực phẩm, thuốc  
chữa bệnh (từ Điều 429 đến Điều 435, tít 4).  
- Ngoài các trọng tội và khinh tội nêu trên,  
pháp nhân còn bị chịu TNHS đối với các tội vi  
cảnh theo Quyển 4, BLHS.  
Ngoài BLHS, một số đạo luật chuyên ngành  
cũng quy định các tội phạm do pháp nhân thực  
hiện và phải chịu TNHS, ví dụ:  
- Các tổ chức tội phạm và trợ giúp người  
phạm trọng tội (Điều 176, chương 6, tít 1)  
- Các tội làm giả (chương 7, tít 1), đó là: Các  
tội liên quan đến tiền giả (từ Điều 197 đến Điều  
204); Các tội làm giả con dấu của Nhà nước và  
búa dấu, các loại tem và nhãn (từ Điều 205 đến  
Điều 213); Các tội giả mạo giấy tờ (từ Điều 205  
đến Điều 229); Tội khai báo gian dối và vi phạm  
lời thề trước tòa (từ Điều 232 đến Điều 241);  
Lạm quyền hoặc sử dụng trái phép quyền hạn,  
chức vị hoặc nhân vật có tên tuổi (từ Điều 242  
đến Điều 253 bit).  
- Các trọng tội và khinh tội chống lại con  
người (chương 1 tít 2), đó là: Tội giết người, tội  
ám sát, tội giết cha mẹ, giết con mới đẻ, đầu độc,  
tra tấn (từ Điều 254 đến Điều 263); Tội bạo lực  
cố ý (từ Điều 264 đến Điều 276 bit); Đe dọa (từ  
Điều 284 đến Điều 287); Tội vô ý làm chết  
người, tội vô ý gây thương thích (từ Điều 288  
đến Điều 290); Các tội xâm phạm tự do cá nhân  
và nơi ở; bắt cóc (từ Điều 291 đến Điều 295);  
Các tội gây hại danh dự, sự kính trọng, đời sống  
riêng tư của con người và tiết lộ bí mật ( từ Điều  
296 đến Điều 303 bit 3); Tội buôn bán người, tội  
- Luật ngày 25/12/2004 liên quan đến phòng  
ngừa và trừng trị việc sử dụng chất ma túy và các  
chất hướng thần [24].  
- Luật số 05 - 01 ngày 6/2/2005 (sửa đổi năm  
2012) liên quan đến phòng ngừa và đấu tranh  
chống rửa tiền và tài trợ cho khủng bố [25].  
- Luật số 06 - 01 ngày 20/2/2006 liên quan  
đến phòng ngừa đấu tranh chống tham nhũng).  
Điều 53 của luật này quy định pháp nhân phải  
chịu TNHS về những tội phạm được quy định từ  
Điều 25 đến Điều 52, tít 4 theo đúng những quy  
định của BLHS [26].  
- Luật ngày 11/12/2006 về đấu tranh chống  
buôn lậu [27].  
- Luật về thuế trực thu và các loại lệ phí  
tương tự quy định TNHS của pháp nhân tại  
Điều 303 (9) [28].  
- Luật ngày 2/7/2018 liênquan đếnsức khỏe [29].  
- Luật số 18 - 07 ngày 10/7/2018 liên quan  
đến bảo về các cá nhân trong xử lí các số liệu  
thuộc về đời tư 30],…  
T. Q. Toan / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 39-53  
46  
3.2.2. Ma-rốc  
(Chương XXI BLHS: Điều 300, Điều 324).  
3.3. Các điều kiện quy kết trách nhiệm hình sự  
đối với pháp nhân  
Theo Phần các tội phạm của BLHS của Ma-  
rốc, pháp nhân là chủ thể của tội phạm và phải  
chịu TNHS đối với các tội phạm sau:  
- Các tội phạm liên quan đến khủng bố (Điều  
218, 1-2, 5);  
- Các tội bạo lực được thực hiện trong hoặc  
nhân khi thi đấu thể thao hoặc cổ vũ cho hoạt  
động thể thao (từ Điều 308,1 - 13);  
Nghiên cứu cho thấy trong BLHS của An-  
giê-ri và Việt Nam không chỉ quy định cụ thể các  
loại pháp nhân là chủ thể của tội phạm mà còn  
quy định phạm vi và điều kiện quy kết TNHS của  
pháp nhân.  
Theo Điều 51 bit của BLHS An-giê-ri quy  
định, để quy kết TNHS đối với pháp nhân đòi hỏi  
phải thỏa mãn hai điều kiện sau:  
Thứ nhất, tội phạm phải được hiện bởi cơ  
quan hoặc người đại diện theo pháp luật của  
pháp nhân.  
Cơ quan của pháp nhân được hiểu là tổ chức  
được hình thành theo các quy định của pháp luật  
hoặc theo nội quy, quy chế của pháp nhân, tổ  
chức và hoạt động trên danh nghĩa các thực thể  
này. Người lãnh đạo pháp nhân là những người  
đứng đầu, quản lí trực tiếp, những người đại diện  
cho pháp nhân.  
- Các tội phân biệt đối xử (Điều 431-1);  
- Các tội liên quan đến rửa tiền (từ Điều 574,  
1 - 7).  
TNHS của pháp nhân cũng được quy định  
trong nhiều đạo luật chuyên ngành, ví dụ như:  
- Luật số 26 - 03 liên quan đến chào mua công  
khai trên thị trường chứng khoán ngày 21/4/2004  
(được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 46-06) [31];  
- Luật số 43 - 05 liên quan đến đấu tranh lại  
tội phạm rửa tiền ngày 17/4/2007 (được sửa đổi  
và hợp nhất năm 2013) [32];  
- Luật số 19 - 14 ngày 25/8/2016 liên quan  
đến thị trường chứng khoán, công ty chứng  
khoán và tư vấn đầu tư tài chính [33];  
- Bộ luật thương mại năm 1996 và được sửa  
đổi bổ sung nhiều lần và hợp nhất ngày  
19/12/2019 [34];…  
Thứ hai, tội phạm được thực hiện vì lợi ích  
của pháp nhân. Lợi ích của pháp nhân có thể là  
lợi nhuận tài chính hay nhằm bảo đảm cho tổ  
chức, hoạt động của pháp nhân hay những mục  
đích khác của pháp nhân.  
Trong khi đó, khoản 1 Điều 75, BLHS Việt  
Nam lại quy định TNHS chỉ đặt ra đối với PNTM  
nếu thỏa mãn các điều kiện sau: i) Hành vi phạm  
tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương  
mại; ii) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi  
ích của PNTM; iii) Hành vi phạm tội được thực  
hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận  
của PNTM; iv) Chưa hết thời hiệu truy cứu  
TNHS quy định tại khoản 2 và khoản 3, Điều 27  
của BLHS.  
Còn Điều 127 BLHS Ma-rốc thì không những  
không quy định phạm vi các loại pháp nhân phải  
chịu TNHS mà còn không quy định cụ thể các  
điều kiện quy kết TNHS đối với pháp nhân, tức  
là BLHS Ma-rốc không quy định nguyên tắc  
chung về TNHS của pháp nhân. Mặc dù vậy,  
nghiên cứu các quy định cụ thể trong các điều  
luật về tội phạm đối với pháp nhân, các án lệ của  
tòa án Ma-rốc cho thấy, cũng như Điều 51 bit  
BLHS của An-giê-ri, để buộc pháp nhân phải  
3.2.3. Việt Nam  
Theo khoản 1, Điều 8, BLHS Việt Nam,  
PNTM có thể là chủ thể của mọi tội phạm được  
quy định trong Phần các tội phạm của BLHS, đó  
có thể là các tội phạm được thực hiện bằng lỗi cố  
ý hoặc lỗi vô ý. Tuy nhiên, theo khoản 2, Điều 2,  
BLHS quy định thì “chỉ PNTM nào thực hiện  
một trong những tội phạm quy định tại Điều 76,  
BLHS mới bị truy cứu TNHS”.  
Điều 76, BLHS Việt Nam quy định PNTM  
chịu TNHS về các tội phạm được quy định trong  
33 điều luật thuộc các nhóm tội phạm sau:  
- Nhóm tội phạm xâm phạm trật tự quản lí  
kinh tế (chương XVIII, BLHS: các điều 188, 189  
- 196, 200, 203, 209 - 211, 213, 216, 217, 225 -  
227, 232, 234);  
- Nhóm các tội phạm về môi trường (Chương  
XIX BLHS: Các điều 235, 237 - 239, 242 -246);  
- Nhóm tội phạm xâm phạm trật tự công cộng  
T. Q. Toan / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 39-53  
47  
chịu TNHS đòi hỏi phải thõa mãn các điều kiện:  
i) Tội phạm được thực hiện bởi cơ quan hoặc  
người đại diện của pháp nhân trong khi thực hiện  
chức năng, nhiệm vụ của pháp nhân; ii) Tội  
phạm được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân  
[35 - 36].  
một vấn đề cần giải quyết về mặt pháp lí là nếu  
pháp nhân phạm tội thì người lãnh đạo, điều  
hành hoặc người đại diện của pháp nhân hoặc  
thành viên khác của pháp nhân đó có bị truy cứu  
TNHS hay không?  
Về vấn đề này, Điều 51 bit BLHS An-giê-ri  
đã quy định “… TNHS của pháp nhân không loại  
trừ TNHS của cá nhân là người trực tiếp thực  
hiện hoặc người tòng phạm về cùng các hành vi  
phạm tội” và khoản 2, Điều 75, BLHS Việt Nam  
cũng quy định: “Việc PNTM chịu TNHS không  
loại trừ TNHS của cá nhân”. Có nghĩa là nếu cá  
nhân là người lãnh đạo, người đại diện của pháp  
nhân hoặc những thành viên khác của pháp nhân  
thực hiện hành vi phạm tội thỏa mãn các điều  
kiện tại Điều 51 bit BLHS An-giê-ri hoặc khoản  
1, Điều 75 BLHS Việt Nam nêu trên thì về  
nguyên tắc, cá nhân và pháp nhân đó cùng chịu  
TNHS đồng thời về hành vi phạm tội đó. Quy  
định này phù hợp với nguyên tắc công bằng,  
nguyên tắc đã phạm tội không tránh khỏi trách  
nhiệm trong LHS.  
Tuy vậy không nên suy luận rằng, cá nhân  
người lãnh đạo, điều hành hoặc người đại diện  
của pháp nhân nhất thiết phải bị truy cứu  
TNHS và bị kết án mới dẫn đến pháp nhân phải  
chịu TNHS và ngược lại việc pháp nhân phạm  
tội không đương nhiên làm phát sinh TNHS  
của cá nhân là người lãnh đạo, điều hành hoặc  
người đại diện của pháp nhân đó. Điều luật nêu  
trên không quy định TNHS kép đối với cá nhân  
và pháp nhân phạm tội, nhưng nó đã chọn một  
nguyên tắc kết hợp có thể có của hai loại  
TNHS này.  
Điều 127, BLHS của Ma-rốc không có quy  
định “TNHS của pháp nhân không loại trừ  
TNHS của cá nhân”, nhưng khi nghiên cứu  
phân tích các điều luật về tội phạm trong  
BLHS và các luật chuyên ngành của Ma-rốc  
cho thấy có những quy định tương tự như Điều  
51 bit của BLHS An-giê-ri hoặc như khoản 2  
Điều 75, BLHS Việt Nam. Ví dụ: Điều 431-3  
BLHS Ma-rốc quy định, pháp nhân thực hiện  
một trong những hành vi phạm tội phân biệt đối  
xử quy định tại Điều 431-1 BLHS (ví dụ như  
hành vi phân biệt đối xử giữa các cá nhân hoặc  
giữa các pháp nhân về nguồn gốc, màu da, giới  
3.4. Nguyên tắc quy kết tội phạm cho pháp nhân  
Một vấn đề đặt ra là pháp nhân không tự mình  
thực hiện tội phạm mà phải qua trung gian các cá  
nhân người lãnh đạo, người điều hành, người  
quản lí khác hoặc thành viên cụ thể nào đó của  
pháp nhân, vậy làm thế nào có thể quy kết tội  
phạm cho pháp nhân.  
Nhìn chung, LHS của An-giê-ri, Ma-rốc và  
Việt Nam khi quy định TNHS của pháp nhân đã  
nghiêng về học thuyết đồng nhất hoá sự mong  
muốn tập thể với ý muốn cá nhân. Xuất phát từ  
sự tương tự hình thức giữa pháp nhân và cá nhân,  
nhà làm luật đã quy kết sự biểu lộ các quyết định  
của tập thể vào sự tồn tại một ý chí thống nhất  
trong cá nhân của người lãnh đạo, điều hành,  
quản lí hoặc người đại diện của pháp nhân.  
Pháp nhân tham gia vào quan hệ pháp luật là  
chủ thể bình đẳng, độc lập với các chủ thể khác,  
cho nên nó phải có tư cách pháp nhân, tức là có  
năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Mọi hoạt  
động của pháp nhân được tiến hành thông qua  
hành vi của tập thể lãnh đạo hoặc cá nhân người  
lãnh đạo, điều hành hoặc người đại diện của pháp  
nhân. Khi những người này thực hiện chức năng,  
nhiệm vụ của pháp nhân thì hành vi và ý chí của  
họ được đồng nhất hoá với pháp nhân, được coi  
như là hành vi và ý chí của pháp nhân [37].  
Học thuyết đồng nhất hóa này nhấn mạnh tầm  
quan trọng đặc biệt của mối quan hệ biện chứng  
không thể tách rời giữa người đại diện hoặc  
thành viên khác của pháp nhân với pháp nhân.  
Pháp nhân không thể tham gia các quan hệ pháp  
luật mà không có những người trên, nhất là  
người đại diện của pháp nhân. Mọi hành vi của  
pháp nhân đều phải thông qua hành vi của  
người này; trong trường hợp họ thực hiện hành  
vi phạm tội nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của  
pháp nhân thì hành vi phạm tội đó được quy  
kết cho pháp nhân.  
Việc truy cứu TNHS của pháp nhân đặt ra  
T. Q. Toan / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 39-53  
48  
tính, quan điểm chính trị,…) thì bị phạt tiền từ  
1200 dirhams đến 5000 dirhams (dirham là tiền  
tệ chính thức của Ma-rốc), bảo lưu các quyền của  
bên thứ ba và không ảnh hưởng đến các hình phạt  
áp dụng đối với những người lãnh đạo, điều hành  
của pháp nhân. Hoặc theo Điều 218-1 về tội  
khủng bố quy định, trong khi chủ thể của tội  
phạm là pháp nhân, pháp nhân thì bị phạt tiền từ  
1.000.000 dirhams đến 10.000.000 dirhams, giải  
thể pháp nhân, cũng như các biện pháp an ninh  
quy định tại Điều 62 BLHS, không ảnh hưởng  
đến các hình phạt có thể tuyên đối với những  
người lãnh đạo hoặc nhân viên của pháp nhân đã  
thực hiện tội phạm hoàn thành hoặc chưa hoàn  
thành [38].  
Đối với pháp nhân phạm tội, một hoặc nhiều  
hình phạt bổ sung sau được áp dụng: i) Giải thể  
pháp nhân; ii) Đóng cửa trụ sở hoặc một trong  
các cơ sở trực thuộc của pháp nhân trong thời  
hạn không vượt quá 05 năm; iii) Loại trừ việc  
tham gia hoạt động giao thầu công, mua sắm  
chính phủ trong thời hạn không vượt quá 05  
năm; iv) Cấm vĩnh viễn hoặc trong thời hạn  
không vượt quá 05 năm, pháp nhân phạm tội  
thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp, một hoặc nhiều  
hoạt động nghề nghiệp hoặc xã hội; v) Tịch thu  
vật mà pháp nhân phạm tội sử dụng vào việc thực  
hiện tội phạm hoặc do phạm tội mà có; vi) Niêm  
yết và công bố bản án kết tội đối với pháp nhân;  
vii) Đặt pháp nhân phạm tội dưới sự giám sát tư  
pháp trong thời hạn không vượt quá 05 năm,  
trong trường hợp pháp nhân tiến hành hoạt động  
dẫn đến tội phạm hoặc nhân cơ hội thực hiện  
hoạt động đó để phạm tội.  
4. Các hình phạt và biện pháp an ninh đối với  
pháp nhân phạm tội  
- Hình phạt đối với pháp nhân phạm tội vi cảnh  
Theo Điều 18 bit 1 quy định hình phạt đối với  
pháp nhân phạm tội vi cảnh là hình phạt tiền với  
mức phạt tiền từ 01 đến 05 lần mức phạt tiền cao  
nhất mà điều luật về tội phạm quy định áp dụng  
đối với người phạm tội. Ngoài ra, hình phạt tịch  
thu vật được áp dụng đối với pháp nhân trong  
trường hợp được pháp nhân sử dụng vào việc  
thực hiện tội phạm hoặc là những vật do phạm  
tội mà có.  
4.1. An-giê-ri  
Quyển 1 Phần thứ nhất của BLHS An-giê-ri  
quy định các hình phạt chính và hình phạt bổ  
sung đối với pháp nhân [39].  
- Hình phạt đối với pháp nhân phạm trọng tội  
và khinh tội:  
+ Hình phạt chính:  
Điều 18 bit của BLHS quy định hình phạt  
chính đối với pháp nhân phạm tội này là hình  
phạt tiền với mức phạt tiền từ 01 đến 05 lần mức  
phạt tiền cao nhất mà điều luật về tội phạm quy  
định áp dụng đối với người phạm tội.  
4.2. Ma-rốc  
Theo Điều 127, BLHS Ma-rốc, các hình phạt  
đối với pháp nhân phạm tội bao gồm hình phạt  
tiền là hình phạt chính và các hình phạt phụ được  
quy định tại các số 5,6,7 của Điều 36, BLHS.  
Các hình phạt phụ đối với pháp nhân gồm có:  
1) Hình phạt tịch thu một phần tài sản thuộc sở  
hữu của pháp nhân bị kết án, không phụ thuộc  
vào việc tịch thu được quy định là biện pháp an  
ninh theo Điều 89 BLHS; 2) Giải thể pháp nhân;  
3) Công bố quyết định của án.  
Trong trường hợp, điều luật quy định về trọng  
tội hoặc khinh tội chỉ quy định hình phạt khác  
không phải là hình phạt tiền đối với người phạm  
tội và TNHS của pháp nhân đã được xác định  
đúng theo các điều kiện quy định tại Điều 51 bit,  
thì mức cao nhất của hình phạt tiền đối với pháp  
nhân pháp nhân được quy định như sau: i) Phạt  
tiền đến 02 triệu dinar (dinar là đồng tiền chính  
thức của An-giê-ri), nếu điều luật về trọng tội  
quy định hình phạt tử hình hoặc hình phạt tù  
chung thân; 01 triệu dinar, nếu điều luật về trọng  
tội quy định hình phạt tù có thời hạn; ii) Phạt tiền  
đến 500 nghìn dianar, trong khi liên quan đến  
khinh tội (Điều 18 bit 2 BLHS).  
Điều 62 BLHS quy định các biện pháp an  
ninh được áp dụng đối với pháp nhân phạm tội:  
1) Tịch thu các vật có liên quan với tội phạm  
hoặc là những vật có hại hoặc nguy hiểm, hoặc  
+ Hình phạt bổ sung:  
T. Q. Toan / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 39-53  
49  
sở hữu bất hợp pháp; 2) Đóng cửa cơ sở đã được  
pháp nhân sử dụng vào việc phạm tội.  
án ở các nước nghiên cứu đều chỉ nghiêng về  
nguyên tắc TNHS truyền thống: TNHS chỉ đặt ra  
đối với cá nhân người phạm tội, không thừa nhận  
TNHS đối với pháp nhân. Đổi mới chính sách  
hình sự với việc chấp nhận TNHS của pháp nhân  
và đưa chế định này vào trong LHS của mỗi nước  
là sự đòi hỏi có tính khách quan trước yêu cầu  
phòng, chống tội phạm do pháp nhân thực hiện.  
Quy định về TNHS của pháp nhân trong LHS  
không chỉ bảo đảm sự thống nhất chung của hệ  
thống pháp luật của mỗi nước mà còn nhằm thực  
thi các cam kết trong các điều ước quốc tế, bảo  
đảm công bằng giữa pháp nhân của mỗi nước ở  
nước ngoài và pháp nhân nước ngoài tại các  
nước đó…  
Hai là, mặc dù LHS của An-giê-ri, Ma-rốc  
và Việt Nam đều quy định TNHS của pháp  
nhân, nhưng về kĩ thuật lập pháp quy định chế  
định này ở mỗi nước lại rất khác nhau. Trong  
khi BLHS Việt Nam dành chương XI quy định  
những đặc thù về TNHS của pháp nhân phạm  
tội thì trong BLHS của An-giê-ri và Ma-rốc  
các quy định về loại TNHS này lại nằm rải rác  
trong Phần chung BLHS.  
Ba là, nghiên cứu luật hình sự của các nước  
An-giê-ri, Ma-rốc và Việt Nam cho thấy về  
nguyên tắc, không có BLHS dành riêng cho pháp  
nhân phạm tội, mà những quy định chung đối với  
người phạm tội trong Phần chung BLHS được áp  
dụng đối với pháp nhân phạm tội, trừ một số quy  
định đặc thù được áp dụng riêng đối với pháp  
nhân phạm tội được quy định trong BLHS cũng  
như một số quy định chung nhưng chỉ có thể áp  
dụng đối với cá nhân người phạm tội. Điều đó có  
nghĩa là những quy định về hiệu lực áp dụng của  
BLHS, phân loại tội phạm, lỗi, giai đoạn phạm  
tội, đồng phạm, một số trường hợp loại trừ  
TNHS, … được áp dụng chung cho các tội phạm  
do người cũng như pháp nhân thực hiện. BLHS  
năm 2015 của Việt Nam nhấn mạnh nguyên tắc  
này ở Điều 74, theo đó PNTM phạm tội phải  
chịu TNHS theo những quy định của chương  
XI; theo quy định khác của Phần thứ nhất của  
BLHS không trái với quy định của chương XI  
là quy định.  
4.3. Việt Nam  
Điều 33, BLHS Việt Nam quy định các loại  
hình phạt áp dụng đối với PNTM phạm tội bên  
cạnh các hình phạt đối với người phạm tội. Các  
hình phạt đối với PNTM phạm tội cũng rất đa  
dạng, bao gồm các hình phạt chính và các hình  
phạt bổ sung.  
Các hình phạt chính: Hình phạt tiền; đình chỉ hoạt  
động có thời hạn và đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.  
Các hình phạt bổ sung: Cấm kinh doanh; cấm  
hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; cấm  
huy động vốn; phạt tiền, khi không áp dụng là  
hình phạt chính.  
Trong số các hình phạt nêu trên, hình phạt  
tiền được quy định vừa là hình phạt chính vừa  
là hình phạt bổ sung áp dụng cho mọi tội phạm  
có thể quy kết cho PNTM. Mức tiền phạt được  
quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy  
hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài  
chính của PNTM phạm tội, sự biến động của  
giá cả nhưng không được thấp hơn 50.000.000  
đồng (Điều 77, BLHS).  
Ngoài ra, đối với PNTM phạm tội Điều 82,  
BLHS Việt Nam quy định tòa án có thể áp dụng  
các biện pháp tư pháp như: 1) Tịch thu vật, tiền  
trực tiếp liên quan đến tội phạm; 2) Trả lại tài sản,  
sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công  
khai xin lỗi; 3) Buộc khôi phục lại tình trạng ban  
đầu; Buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc  
phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra.  
5. Kết luận và đề xuất một số kiến nghị tiếp  
tục hoàn thiện các quy định về TNHS của  
pháp nhân trong BLHS năm 2015  
5.1. Kết luận chung  
Kết quả nghiên cứu các quy định về TNHS  
của pháp nhân trong LHS của An-giê-ri, Ma-rốc  
và Việt Nam có thể rút ra một số nhận xét sau:  
Một là, khái quát lịch sử hình thành và phát  
triển của chế định TNHS trong LHS của An-giê-  
ri, Ma-rốc và Việt Nam cho thấy, trong một thời  
gian dài, LHS cũng như thực tiễn xét xử của Tòa  
Bốn là, LHS của An-giê-ri, Ma-rốc và Việt  
Nam quy định phạm vi pháp nhân là chủ thể của  
T. Q. Toan / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 39-53  
50  
tội phạm và là chủ thể của TNHS được giới hạn  
khác nhau, tùy theo điều kiện của mỗi nước.  
nhân đã sử dụng học thuyết đồng nhất hoá sự  
mong muốn tập thể với ý muốn cá nhân. Nếu tội  
phạm do cơ quan lãnh đạo hoặc người đại diện  
của pháp nhân thực hiện nhân danh pháp nhân,  
vì lợi ích của pháp nhân thì tội phạm đó không  
chỉ quy kết cho cá nhân người phạm tội mà còn  
quy kết cho cả pháp nhân.  
BLHS Việt Nam quy định TNHS chỉ đặt ra  
đối với PNTM phạm tội. Còn BLHS của An-giê-  
ri thì quy định TNHS được áp dụng đối với pháp  
nhân theo luật tư (PNTM và pháp nhân dân sự).  
Trong khi đó ở Ma-rốc, theo thực tiễn áp dụng,  
TNHS không chỉ đối với mọi loại pháp nhân theo  
luật tư mà còn đối với cả các cộng đồng lãnh thổ  
và các cơ quan thuộc cộng đồng lãnh thổ; các  
pháp nhân này chỉ chịu TNHS đối với các tội  
phạm được thực hiện trong khi tiến hành các hoạt  
động có thể là đối tượng của thỏa thuận ủy quyền  
thực hiện dịch vụ cộng.  
Năm là, LHS của An-giê-ri, Ma-rốc và Việt  
Nam đều quy định pháp nhân là chủ thể của tội  
phạm, nhưng chỉ phải chịu TNHS đối với các tội  
phạm mà điều luật về tội phạm có quy định. Mặc  
dù vậy, LHS mỗi nước quy định phạm vi các loại  
tội phạm quy kết cho pháp nhân lại rất khác  
nhau. Nếu như An-giê-ri và Ma-rốc quy định  
TNHS của pháp nhân đối với các tội phạm trong  
BLHS mà còn cả đối với tội phạm được quy định  
ở nhiều đạo luật chuyên ngành như đã trình bày  
ở trên thì Việt Nam quy định chỉ PNTM nào thực  
hiện một trong những tội phạm được quy định tại  
33 điều luật được liệt kê ở Điều 76, BLHS mới  
phải chịu TNHS.  
Tám là, về hình phạt. LHS các nước nghiên  
cứu đều quy định hình phạt chính và hình phạt  
bổ sung áp dụng với pháp nhân phạm tội. Trong  
khi LHS của An-giê-ri và Ma-rốc quy định phạt  
tiền là hình phạt chính duy nhất áp dụng đối với  
pháp nhân phạm tội thì LHS Việt Nam quy định  
ngoài hình phạt tiền còn có hình phạt chính khác,  
đó là hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn,  
đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.  
5.2. Đề xuất một số kiến nghị  
Nghiên cứu so sánh các quy định về TNHS  
của pháp nhân trong LHS của An-giê-ri, Ma-rốc  
và Việt Nam cho thấy chế định TNHS của pháp  
nhân được quy định trong LHS Việt Nam là  
tương đối hoàn chỉnh so với LHS An-giê-ri và  
Ma-rốc. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy chế định  
TNHS của pháp nhân trong BLHS hiện hành vẫn  
còn những hạn chế, thiếu sót nhất định cần phải  
tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng tốt hơn nữa yêu  
cầu của Chiến lược cải cách tư pháp cũng như  
Chiến lược quốc gia phòng chống tội phạm giai  
đoạn 2016-2025 và định hướng đến năm 2030  
của Chính phủ.  
Sáu là, theo quy định của LHS thực định và  
thực tiễn áp dụng TNHS của pháp nhân ở An-  
giê-ri và Ma-rốc, để xác định TNHS đối với pháp  
nhân đòi hỏi phải thỏa mãn hai điều kiện: 1) Tội  
phạm được thực hiện bởi cơ quan hoặc người đại  
diện của pháp nhân; 2) Tội phạm được thực hiện  
vì lợi ích của pháp nhân. Còn theo Điều 75,  
BLHS Việt Nam thì các điều kiện chịu TNHS  
của PNTM gồm có: 1) Hành vi phạm tội được  
thực hiện nhân danh PNTM; 2) Hành vi phạm tội  
được thực hiện vì lợi ích của PNTM; 3) Hành vi  
phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành  
hoặc chấp thuận của PNTM; 4) Chưa hết thời  
hiệu truy cứu TNHS quy định tại khoản 2 và  
khoản 3, Điều 27 của BLHS.  
Thứ nhất, BLHS năm 2015 của Việt Nam chỉ  
quy định PNTM là chủ thể của tội phạm. Trong  
khi đó, thực tiễn cho thấy những hành vi vi phạm  
pháp luật do các loại pháp nhân khác thực hiện  
ngày càng nhiều và đa dạng, gây ra những hậu  
quả tác hại rất lớn cho nhà nước, tổ chức và cho  
cá nhân nhưng không bị xử lí về mặt hình sự mà  
chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính là chưa thỏa  
đáng và chưa phù hợp với thực tiễn cũng như xu  
hướng vận động của loại tội phạm do pháp nhân  
thực hiện.  
Bảy là, về nguyên tắc quy kết TNHS đối với  
pháp nhân. Nhìn chung, LHS của An-giê-ri, Ma-  
rốc và Việt Nam khi quy định TNHS của pháp  
Để đảm bảo việc xử lí về hình sự đối với pháp  
nhân triệt để, công bằng và hiệu quả, đáp ứng  
được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm  
T. Q. Toan / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 39-53  
51  
không nên chấp nhận một hệ thống điều khoản  
chung quy định về TNHS của pháp nhân. Bởi vì  
cách lựa chọn này, trong thực tế gặp những khó  
khăn nhất định, nên khi áp dụng pháp luật, Tòa  
án buộc phải đưa ra những tiêu chuẩn cụ thể để  
xác định những tội phạm nào pháp nhân có thể  
thực hiện.  
Đồng thời, theo những kiến nghị nêu trên thì  
tất cả các quy định của BLHS sử dụng thuật ngữ  
“pháp nhân thương mại” sẽ thay thế bằng thuật  
ngữ “pháp nhân”. Bên cạnh đó, BLHS sẽ bãi bỏ  
Điều 76. Việc nhà làm luật xây dựng Điều 76 với  
việc liệt kê danh sách các tội phạm có thể quy  
kết cho pháp nhân là không còn cần thiết.  
trong tình hình hiện nay và xu hướng tương lai  
cần thiết phải quy định TNHS đối với không chỉ  
các PNTM mà còn cả các pháp nhân phi thương  
mại, như: các tổ chức chính trị xã hội - nghề  
nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề  
nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp  
xã hội và các tổ chức phi thương mại khác, trừ  
Nhà nước, các tổ chức chính trị và các tổ chức  
chính trị - xã hội. Mặc dù, các tổ chức được thành  
lập vì mục đích cụ thể tùy theo loại hình tổ chức  
nhưng không phải lợi nhuận. Các tổ chức này có  
thể thực hiện các hoạt động thu lợi nhuận nhưng  
đó không phải là mục tiêu thành lập tổ chức, hoạt  
động thu lợi nhuận đó được thực hiện nhằm mục  
đích tạo quỹ duy trì hoạt động cho tổ chức.  
Thứ hai, BLHS năm 2015 của Việt Nam quy  
định PNTM chỉ chịu TNHS đối với các tội phạm  
được quy định tại Điều 76, BLHS là bó hẹp phạm  
vi TNHS của PNTM, hạn chế hiệu quả đấu tranh  
phòng chống tội phạm. Thực tiễn cho thấy có  
nhiều hành vi vi phạm pháp luật được thực hiện  
bằng lỗi cố ý hoặc vô ý gây hậu quả rất lớn cho  
Nhà nước, xã hội và cá nhân nhưng lại không bị  
xử lí hình sự. Vì vậy, BLHS hiện hành cần quy  
định mở rộng TNHS của pháp nhân đối với các  
nhóm tội phạm khác trong Phần các tội phạm  
BLHS, như: Một số tội trong chương các tội xâm  
phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm danh dự  
của người khác (chương XIV); Các tội xâm  
phạm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của  
công dân (chương XV); Các tội xâm phạm sở  
hữu (chương XVI); Các tội phạm về ma tuý  
(chương XX); Các tội phạm xâm phạm an toàn  
công cộng, trật tự công cộng (chương XXI); Một  
số tội phạm xâm phạm trật tự quản lí hành chính  
(chương XXII); Một số tội phạm về chức vụ  
(chương XXIII); Các tội phá hoại hoà bình,  
chống loài người và tội phạm chiến tranh  
(chương XXVI).  
Đồng thời Điều 2 sẽ sửa đổi như sau: "Chỉ  
người hoặc pháp nhân nào phạm một (hoặc nhiều  
tội) được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu  
trách nhiệm hình sự”.  
Thứ ba, khoản 1, Điều 75, BLHS năm 2015  
quy định bốn điều kiện để quy kết tội phạm và  
TNHS đối với pháp nhân. Theo, đó là:1) Hành vi  
phạm tội được thực hiện nhân danh PNTM; 2)  
Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của  
PNTM; 3) Hành vi phạm tội được thực hiện có  
sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của  
PNTM và; 4) Chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS.  
Quy định các điều kiện quy kết TNHS cho pháp  
nhân như trên vừa thừa lại vừa thiếu. Cụ thể, điều  
kiện thứ nhất và điều kiện thứ ba có sự trùng lắp,  
“vì thực tế, nếu hành vi phạm tội được thực hiện  
nhân danh PNTM thì không thể lại có trường hợp  
không có sự chỉ đạo, điều hành, chấp thuận của  
PNTM và ngược lại, nếu đã có sự chỉ đạo, điều  
hành hay chấp thuận của PNTM thì chính là đã  
nhân danh pháp nhân rồi”. Ngoài ra, việc quy  
định điều kiện thứ tư “chưa hết thời hiệu truy  
cứu TNHS,…” lại là không cần thiết, nếu vận  
dụng Điều 74, BLHS để áp dụng cho pháp  
nhân phạm tội.  
Vì vậy, khoản 1, Điều 75, BLHS nên quy  
định như sau: “Các pháp nhân, trừ nhà nước, các  
tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội,  
chịu trách nhiệm hình sự về những hành vi phạm  
tội do người lãnh đạo, điều hành hoặc người đại  
diện của pháp nhân, nhân danh pháp nhân và vì  
lợi ích của pháp nhân thực hiện”. Đồng thời,  
đoạn 1, khoản 3, Điều 27, BLHS sửa đổi, bổ sung  
Đối với những tội phạm nào, nếu pháp nhân  
thực hiện sẽ bị truy cứu TNHS, nhà làm luật cần  
quy định cụ thể trong điều luật về tội phạm đó,  
tức là cần có một hệ thống liệt kê cụ thể các tội  
phạm pháp nhân có thể thực hiện trong Phần các  
tội phạm BLHS, không nên quy định TNHS của  
pháp nhân được áp dụng có tính chất chung cho  
mọi tội phạm, có nghĩa, về mặt kĩ thuật lập pháp  
T. Q. Toan / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 39-53  
52  
df.  
như sau: “Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình  
sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện.  
Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2, Điều  
này, người phạm tội hoặc pháp nhân lại thực hiện  
hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức  
cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01  
năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể  
từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới”.  
Thứ tư, về hình phạt đối với pháp nhân phạm  
tội, cần bổ sung hình phạt bổ sung: “Niêm yết  
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của  
tòa án hoặc đăng tải các bản án, quyết định đó  
trên báo chí hoặc trên các phương tiện truyền  
thông công cộng hoặc các phương tiện điện tử”.  
Đây là hình phạt có tính giáo dục và phòng ngừa  
riêng và chung cao, tác động trực tiếp đến uy tín,  
thương hiệu của pháp nhân phạm tội.  
r/Nouveautes/code%20penal.pdf.  
865.htm.  
95%20relative%20aux%20SA.pdf.  
[17] http://www.droitafrique.com/upload/doc/maroc/M  
aroc-Loi-1999-06-concurrence.pdf.  
/fr/Nouveautes/code%20de%20commerce.pdf.  
[19] Bộ luật dân sự Algérie năm 1975 (sửa đổi, bổ sung  
năm 2005 theo Luật số 05 - 10 ngày 20/6/2005).  
[20] Quyển  
V
Bộ luật thương mại Algérie  
r/Nouveautes/code%20de%20commerce.pdf.  
[21] Code penal (Version consolidée en date du 15  
septembre 2011  
75/69182/F1186528577/MAR-69975.pdf.  
Tài liệu tham khảo  
[22] M. A. Mouhatta, Trách nhiệm hình sự của pháp  
nhân trong pháp luật Maroc-https://www.village-  
justice.com/articles/responsabilite-penale-des-  
personnes-morales-maroc, 30722.html;  
[1] Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Báo cáo giải trình  
tiếp thu, chỉnh lí dự theo Bộ luật hình sự (sửa đổi),  
Tại liệu kỳ họp thứ 10 Quốc hội khó XIII, 10/2015.  
[2] T. Q. Toản: Trách nhiệm hình sự của pháp nhân  
trong pháp luật hình sự (sách chuyên khảo), Nxb  
Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011.  
[23] Quyết định của Tòa hình sự Tòa án tối cao Ma-rốc  
số 659 ngày 02/06/1960, trích theo Amine  
MOQRAN: La politique de l'incrimination des  
› article;  
[3] T. Q. Toản: Một số vấn đề về trách nhiệm hình sự  
của pháp nhân trong luật hình sự của các nước theo  
truyền thống Common Law, Tạp chí Toà án, số  
18/9-2006, tr. 29-38; Trách nhiệm hình sự của pháp  
nhân trong luật hình sự các nước châu Âu lục địa,  
Tạp chí Nhà nước & Pháp luật, số 6 (194), 2005…  
04-18_html/algeria-loi04-18.pdf.  
afrique.com/upload/doc/algerie/Algerie-Loi-2005-  
01-lutte-blanchiment-terrorisme.pdf.  
[4] T. Q. Toản, Nghiên cứu trách nhiệm hình sự của  
pháp nhân trong Luật hình sự Việt Nam và một số  
nước thuộc Tổ chức hài hòa hóa pháp luật kinh  
doanh châu Phi: Tiếp cận dưới góc độ so sánh, Tạp  
chí Khoa học, Luật học, Vol. 36, No. 1, 2020, 1-13.  
014.pdf.  
[27] https://www.ilo.org/dyn/natlex/docs/ELECTRONI  
C/74875/77395/F1955704081/DZA-74875.pdf.  
ux/Impot_Direct_Fr-LF2017.pdf.  
[6] Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1966 (An-giê-ri).  
eil/pdf/Ord_96-22.pdf.  
F2018046.pdf.  
56789/7341/1/D0815.pdf.  
ng=fr&p_isn=107253&p_count=1&p_classificati  
on=01.05.  
ion/Algeria/DZ_Code_de_Procedure_Penal.pdf.  
oi_26-03_OP.pdf.  
ntation/change/Dahir.pdf.  
T. Q. Toan / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 39-53  
53  
/fr/Nouveautes/Lutte_contre_le_blanchiment_de_  
capitaux.pdf.  
[36] La responsabilité pénale des personnes morales en  
droit marocain. Par Mohammed Ait Mouhatta.  
(village-justice.com).  
[37] Simonart, La personalité morale en droit comparé,  
Bruxelles, Bruylant, 1995, 256.  
3_TradeRecord_fr-FR.pdf.  
[38] Code penal.pdf (justice.gov.ma).  
[35] Elkhanni Abdeslam: La responsabilité pénale des  
sociétés anonymes selon la loi 17-95  
(maroclaw.com).  
–
A
a
pdf 15 trang Thùy Anh 13720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu so sánh các quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Luật hình sự An-giê-ri, Ma-rốc và Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_so_sanh_cac_quy_dinh_ve_trach_nhiem_hinh_su_cua_p.pdf