Chính sách thuế trong mối tương quan với hoạt động kinh doanh bất động sản

CHÍNH SÁCH  
CHÍNH SÁCH THUẾ TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI  
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN  
Bùi Trang Kim Yến*  
*NCS. Khoa Luật Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế - Luật  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Với vai trò là một trong những công cụ tài chính hữu hiệu để Nhà nước  
quản lý nền kinh tế, chính sách thuế có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt  
động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động kinh doanh bất động  
sản nói riêng. Khi hoạch định chính sách thuế, Nhà nước không chỉ hướng  
đến mục tiêu tạo nguồn thu cho ngân sách mà còn phải hướng đến thúc  
đẩy sự phát triển lành mạnh của thị trường bất động sản, kiểm soát đầu cơ  
và khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực này. Trong phạm vi bài viết này, tác  
giả phân tích tác động của chính sách thuế đến hành vi kinh tế, quyết định  
đầu tư của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản và khách hàng, nhà đầu  
tư và đề xuất kiến nghị hoàn thiện chính sách thuế phù hợp với xu hướng  
phát triển của hoạt động kinh doanh bất động sản.  
Từ khóa: Chính sách thuế, kinh  
doanh bất động sản.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 02/4/2021  
: 22/4/2021  
: 25/4/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Tax policy is one of the most effective financial instruments for the economic  
management of the Government, which has a significant impact on produc-  
tion and business activities, especially real estate business. When a tax policy  
is to be developed, the Government not only aims to generate the sources of  
revenue for the national budget but also fosters the workable development of  
the real estate market, controls speculation, and encourages investment in this  
field. In the present paper, the correlation between tax policy and real estate  
business will be analyzed under the influence of taxation obligation and pref-  
erential tax regimes on economic behavior, the investment decision of real  
estate firms, customers, and investor in general. The author also attempts to  
make some suggestions for planning appropriate tax policy, which is in line  
with the upward trend in the real estate business development.  
Keywords: Tax, tax policy, tax  
obligation, real estate business.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 02 Apr. 2021  
: 22 Apr. 2021  
: 25 Apr. 2021  
Approved  
Với vai trò cung cấp những sản phẩm  
mang tính chất đầu vào cho hầu hết các ngành  
nghề kinh doanh như mặt bằng sản xuất, trụ  
sở văn phòng, địa điểm khai thác du lịch nghỉ  
dưỡng…, hoạt động kinh doanh bất động sản  
đang giữ một vị trí quan trọng trong việc xây  
dựng một nền kinh tế phát triển bền vững.  
Chính vì vậy, mục tiêu quản lý và điều tiết  
hoạt động kinh doanh bất động sản luôn được  
Nhà nước thực hiện bằng nhiều biện pháp và  
cách thức khác nhau. Để phù hợp với bối cảnh  
hội nhập quốc tế, cách thức của Nhà nước can  
thiệp và quản lý thị trường bất động sản đang  
thay đổi theo xu hướng thay thế dần các mệnh  
lệnh hành chính bằng các biện pháp kinh tế.  
Trong đó, chính sách thuế được xem là công  
cụ tài chính hữu hiệu có tác động trực tiếp đến  
hành vi kinh tế của các chủ thể tham gia vào  
thị trường1 nói chung và thị trường bất động  
sản nói riêng. Vì chính sách thuế đặt ra những  
1 Gareth D. Myles (2000), “Taxation and Economic Growth”, Fiscal Studies (2000) vol. 21, No. 1, pp. 141-  
168; Marina Kesner - Škreb (1999), “Tax policy and economic growth”, Economic Trends and Economic  
Policy, 1999, No. 73, pp. 62-121.  
Số 10(434) - T5/2021  
21  
CHÍNH SÁCH  
nghĩa vụ tài chính mà các chủ thể phải thực  
hiện đối với Nhà nước; thông qua đó, thuế trở  
thành một loại chi phí giao dịch hoặc cấu thành  
vào giá cả hàng hóa, dịch vụ. Với mục tiêu tối  
đa hóa lợi ích, các chủ thể sẽ đưa ra hành vi  
tích cực như tăng cường đầu tư, tạo thêm nhiều  
sản phẩm bất động sản nếu hoạt động điều tiết  
của chính sách thuế được quy định một cách  
phù hợp2; ngược lại, những lỗ hổng, bất cập  
trong chính sách thuế sẽ tạo động cơ cho các  
chủ thể đưa ra những hành vi tiêu cực như đầu  
cơ, kê khai giá giao dịch không trung thực,  
thực hiện giao dịch giả tạo nhằm trốn thuế và  
vô hình chung tạo nên sự thiếu lành mạnh và  
ổn định của thị trường bất động sản.  
Hoạch định một chính sách thuế vừa giải  
quyết được mục tiêu tạo nguồn thu cho ngân  
sách, vừa tạo động lực phát triển hoạt động  
kinh doanh bất động sản một cách lành mạnh  
và bền vững luôn là vấn đề giành được nhiều  
sự quan tâm. Đặc biệt trong tình hình hiện nay,  
nhu cầu khôi phục và định hướng phát triển thị  
trường bất động sản sau những khó khăn kinh  
tế từ dịch Covid-19 đặt ra yêu cầu đẩy mạnh  
hoạt động hỗ trợ từ phía Nhà nước về nhiều  
mặt, trong đó có hỗ trợ cả về chính sách thuế.  
Tuy nhiên, hỗ trợ về thuế với hình thức và mức  
độ ra sao, áp dụng cho những đối tượng nào  
còn phải xem xét một cách tổng thể đến mối  
tương quan giữa chính sách thuế với hoạt động  
kinh doanh bất động sản hiện nay, biểu hiện  
qua sự tác động của thuế đến hành vi của các  
chủ thể tham gia vào thị trường này.  
dài, nhu cầu huy động vốn cao và các sản phẩm  
cung cấp có tính cá biệt, xu hướng tăng giá  
mạnh do vị trí cố định và thuộc tính khan hiếm  
của đất, việc điều tiết khoản thu nhập có được từ  
hoạt động này của các doanh nghiệp cũng có sự  
khác biệt so với việc điều tiết thu nhập có được  
từ các hoạt động kinh doanh khác. Cụ thể, theo  
quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh  
nghiệp (TNDN), dù vẫn áp dụng mức thuế suất  
phổ thông là 20% nhưng các doanh nghiệp có  
hoạt động chuyển nhượng bất động sản phải  
theo dõi hạch toán riêng doanh thu, chi phí của  
hoạt động này, không được hưởng ưu đãi thuế;  
bất động sản tạo lập được xếp vào danh mục  
hàng hóa hoặc bất động sản đầu tư,3 không được  
coi là tài sản cố định của doanh nghiệp để trích  
khấu hao. Trong quá trình kinh doanh, nếu có  
phát sinh các khoản lỗ từ hoạt động chuyển  
nhượng bất động sản, doanh nghiệp chỉ được  
khấu trừ lỗ một chiều vào lãi của hoạt động kinh  
doanh khác, kể cả trong trường hợp giải thể4.  
Nếu hoạt động chuyển nhượng bất động sản  
mang lại lợi nhuận, doanh nghiệp phải tiến  
hành nộp thuế TNDN với mức thuế suất 20%  
cho khoản thu nhập này mà không được phép  
bù đắp cho khoản lỗ phát sinh từ các hoạt  
động kinh doanh khác.  
Điều đáng lưu ý là doanh thu trong việc  
xác định thuế TNDN từ hoạt động chuyển  
nhượng bất động sản có sự gắn liền một cách  
trực tiếp hoặc gián tiếp với bảng giá đất do  
Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh ban hành  
trong khi những bất cập về giá đất chưa tìm  
được lời giải thích hợp. Bởi lẽ, trên thực tế,  
giá đất do UBND cấp tỉnh ban hành, dù được  
điều chỉnh định kỳ bằng hệ số điều chỉnh giá  
đất, vẫn không theo kịp giá giao dịch trên thị  
trường. Đối với doanh thu, trong trường hợp  
1. Tác động của chính sách thuế đến hành  
vi kinh tế của doanh nghiệp có hoạt động  
kinh doanh bất động sản  
Xuất phát từ những đặc thù của hoạt động  
kinh doanh bất động sản như chu kỳ kinh doanh  
2
Ergete Ferede and Bev Dahlby (2012), “The impact of tax cuts on economic growth: Evidence from the  
canadian provinces”, National Tax Journal, September 2012, 65 (3), 563-594, pp. 564, 565.  
3
Xem thêm chuẩn mực kế toán Việt Nam số 05 về bất động sản đầu tư ban hành kèm theo Quyết định số  
234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 của Bộ Tài chính.  
4
Theo Điều 2 Thông tư số 96/2015/TT-BTC, doanh nghiệp khi giải thể chỉ được bù trừ lãi của hoạt động  
chuyển nhượng bất động sản vào lỗ của hoạt động kinh doanh khác khi thanh lý bất động sản là tài sản cố định.  
22  
Số 10(434) - T5/2021  
CHÍNH SÁCH  
giá chuyển nhượng bất động sản trên hợp  
đồng thấp hơn bảng giá đất do UBND cấp tỉnh  
ban hành thì doanh thu được xác định theo  
giá đất của UBND cấp tỉnh. Trong trường  
hợp doanh nghiệp kinh doanh bất động sản  
bán sản phẩm cho khách hàng là cá nhân hoặc  
tổ chức không đặt nặng vấn đề giá giao dịch  
(ví dụ doanh nghiệp tính nộp thuế trực tiếp  
trên doanh thu sẽ không được trừ chi phí khi  
xác định thu nhập tính thuế), việc kê khai giá  
giao dịch thấp hơn hoặc bằng với giá đất của  
UBND cấp tỉnh sẽ giúp doanh nghiệp giảm số  
thuế phải nộp cho Nhà nước. Đây được coi là  
hành vi trốn thuế khá phổ biến của các doanh  
nghiệp kinh doanh bất động sản5.  
Mặc dù pháp luật về thuế đã có những  
quy định chuyên biệt để điều tiết thu nhập từ  
chuyển nhượng bất động sản, nhưng chỉ mới  
dừng lại ở việc yêu cầu doanh nghiệp hạch  
toán và kê khai riêng doanh thu, chi phí từ hoạt  
động này. Các vấn đề khác có liên quan đến  
nghĩa vụ thuế TNDN vẫn được áp dụng chung,  
không phân biệt lĩnh vực kinh doanh. Do đó,  
quy định về xác định nghĩa vụ thuế chưa thật  
sự phù hợp với đặc thù của lĩnh vực kinh  
doanh bất động sản. Gần đây nhất là các quy  
định tại Nghị định số 132/2020/NĐ-CP ngày  
05/11/2020 của Chính phủ (Nghị định số 132)  
quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp  
có giao dịch liên kết. Theo quy định của điểm l  
khoản 2 Điều 5 Nghị định số132, nếu doanh  
nghiệp có phát sinh việc vay tiền của cá nhân  
điều hành, kiểm soát doanh nghiệp hoặc người  
có liên quan mật thiết với cá nhân này6 với giá  
trị từ 10% vốn chủ sở hữu tại thời điểm vay thì  
được xem là có phát sinh giao dịch liên kết.  
Hệ quả pháp lý đặt ra đối với doanh nghiệp có  
phát sinh giao dịch liên kết trước hết là việc  
bị khống chế mức chi phí lãi vay được trừ  
khi tính thuế TNDN. Việc khống chế chi phí  
lãi vay này chỉ không áp dụng đối với doanh  
nghiệp là tổ chức tín dụng, tổ chức kinh doanh  
bảo hiểm, khoản vay ODA, khoản vay thực  
hiện chương trình mục tiêu quốc gia hoặc thực  
hiện chính sách phúc lợi xã hội của Nhà nước7.  
Như vậy, doanh nghiệp kinh doanh bất động  
sản không được miễn trừ khỏi quy định về  
khống chế mức chi phí lãi vay theo Nghị định  
số 132/2020/NĐ-CP; dù rằng, kinh doanh bất  
động sản là lĩnh vực đòi hỏi nguồn vốn lớn mà  
thông thường chủ sở hữu phải huy động vốn  
bằng nhiều hình thức bao gồm cả hoạt động  
vay từ nhiều nguồn. Trong khi đó, vốn pháp  
định đối với kinh doanh bất động sản chỉ đang  
ở mức 20 tỷ đồng nên việc doanh nghiệp có  
phát sinh hoạt động vay tiền của chủ sở hữu  
với khoản vay có giá trị từ 10% vốn chủ sở  
hữu không phải hiếm gặp. Trên thực tế, khoản  
vay từ chủ sở hữu này có thể chỉ chiếm một  
phần rất nhỏ trong tổng vốn vay của doanh  
nghiệp kinh doanh bất động sản. Chi phí  
lãi vay không được trừ khi tính thuế sẽ dẫn  
đến số thuế phải nộp cao hơn. Vì vậy, doanh  
nghiệp muốn đảm bảo lợi nhuận sẽ phải cân  
nhắc lại bài toán giữa chi phí và giá bán ra của  
sản phẩm bất động sản. Điều này có thể khiến  
cho giá cả bất động sản tăng cao và trở thành  
một tác động tiêu cực cho thị trường.  
Bên cạnh việc thực hiện nghĩa vụ thuế  
TNDN, doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh  
5 Ngô Thị Hồng Ánh, “Doanh nghiệp chuyển nhượng bất động sản ở Việt Nam: Khe hở pháp luật thuế và và  
viet-nam-khe-ho-phap-luat-thue-va-va-khuyen-nghi-68927.htm, truy cập ngày 22/6/2020.  
6 Theo quy định tại điểm g khoản 2 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP các cá nhân có mối liên hệ mật thiết với cá  
nhân điều hành, kiểm soát doanh nghiệp bao gồm cá nhân thuộc một trong các mối quan hệ vợ, chồng; cha mẹ  
đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng,  
con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh  
rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông  
bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột.  
7 Xem thêm khoản 3 Điều 16 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP.  
Số 10(434) - T5/2021  
23  
CHÍNH SÁCH  
bất động sản còn phải thực hiện nghĩa vụ nộp  
thuế giá trị gia tăng (GTGT) tính trên phần giá  
trị tăng thêm của bất động sản đưa vào kinh  
doanh. Thuế GTGT của hoạt động kinh doanh  
bất động sản là 10%, kinh doanh nhà ở xã hội  
là 5% và áp dụng trên cơ sở không tính giá trị  
chuyển quyền sử dụng đất8. Việc xác định giá  
trị bất động sản chuyển nhượng làm cơ sở tính  
thuế GTGT sẽ được xác định theo nguyên tắc  
trừ đi giá trị của quyền sử dụng đất. Thông tư  
số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ  
Tài chính (Thông tư số 219) quy định cách xác  
định giá trị quyền sử dụng đất được trừ cho 07  
trường hợp cụ thể và phổ biến. Tuy nhiên, cách  
xác định giá đất được trừ trong Thông tư số  
219 lại dẫn đến cách áp dụng tính thuế GTGT  
cho cả trường hợp chuyển quyền sử dụng  
đất không gắn với hạ tầng. Tình trạng này  
xuất phát từ việc hiểu chưa chính xác về đối  
tượng không chịu thuế và áp dụng một cách  
máy móc. Ví dụ, điểm a4 khoản 10 Điều 7  
Thông tư số số 219 đưa ra ví dụ số 379 hướng  
dẫn cách xác định giá đất được trừ cho trường  
hợp chuyển nhượng đất có nguồn gốc từ nhận  
chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức,  
cá nhân khác mà không đầu tư gì thêm trên đất  
(không xây dựng hạ tầng). Cách hướng dẫn  
này mâu thuẫn với việc xác định hoạt động  
chuyển quyền sử dụng đất thuộc đối tượng  
không chịu thuế theo quy định tại Điều 4 của  
Thông tư này. Sau 05 năm áp dụng, ví dụ số 37  
mới bị bãi bỏ bởi Thông tư số 82/2018/TT-  
BTC ngày 30/8/2018 của Bộ Tài chính. Tuy  
nhiên, việc bãi bỏ lại không đi kèm với cách  
thức giải quyết cho những trường hợp đã thu  
thuế GTGT đối với hoạt động chuyển quyền  
sử dụng đất không gắn với hạ tầng trước đây  
do căn cứ vào hướng dẫn tại ví dụ số 37.  
Điều này đồng nghĩa với việc quyền lợi của  
những doanh nghiệp trước đây đã bị thu thuế  
GTGT từ cách hiểu chưa đúng về hoạt động  
chuyển quyền sử dụng đất vẫn bị bỏ ngỏ,  
chưa được giải quyết thỏa đáng.  
Song song với việc điều tiết nguồn thu cho  
ngân sách, chính sách thuế còn giữ vai trò tạo  
động lực cho các doanh nghiệp kinh doanh bất  
động sản chung tay với Nhà nước giải quyết  
các vấn đề về an sinh xã hội mà cụ thể là giải  
quyết nhu cầu về nhà ở cho đối tượng chính  
sách và bộ phận dân cư có thu nhập thấp. Đối  
với những doanh nghiệp thực hiện các dự án  
nhà ở xã hội, Nhà nước dành riêng những ưu  
đãi về nghĩa vụ thuế. Theo đó, điểm b khoản 1  
Điều 58 Luật Nhà ở năm 2014 quy định: “Ưu  
đãi chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở xã hội:  
1. Doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia đầu  
tư xây dựng nhà ở xã hội không phải bằng  
nguồn vốn hoꢀc hình thức quy định tại khoản 1  
Điều 53 của Luật này để cho thuê, cho thuê  
mua, bán thì được hưởng các ưu đãi sau đây:  
…
b) Được miễn, giảm thuế giá trị gia tăng,  
thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định  
của pháp luật về thuế; trường hợp xây dựng  
nhà ở xã hội để cho thuê thì được giảm thuế  
giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp  
nhiều hơn so với trường hợp xây dựng nhà ở  
xã hội để cho thuê mua, bán”.  
Như vậy, pháp luật về thuế đã có những  
quy định nhằm ưu đãi cho hoạt động kinh  
doanh nhà ở xã hội với các mức thuế suất  
8 Căn cứ khoản 6 Điều 4 Thông tư số 219/2013/TT-BTC, chuyển quyền sử dụng đất là đối tượng không chịu  
thuế GTGT.  
9 Toàn văn ví dụ 37 như sau: Tháng 8/2013, Công ty A nhận chuyển nhượng (mua) 200m2 đất của cá nhân B ở  
Khu dân cư Bình An thuộc tỉnh X với giá chuyển nhượng là 6 tỷ đồng. Công ty A có hợp đồng chuyển nhượng  
quyền sử dụng đất có công chứng phù hợp với quy định của pháp luật về đất đai, chứng từ thanh toán tiền cho  
cá nhân B số tiền 6 tỷ đồng. Công ty A không đầu tư xây dựng gì trên mảnh đất này. Tháng 10/2014, Công ty A  
chuyển nhượng mảnh đất mua từ cá nhân B nêu trên với giá 9 tỷ đồng (bán lại với giá 9 tỷ đồng) thì Công ty A  
thực hiện lập hóa đơn GTGT và kê khai, nộp thuế GTGT, giá đất được trừ trong giá tính thuế GTGT là giá đất  
tại thời điểm nhận chuyển nhượng (6 tỷ đồng).  
24  
Số 10(434) - T5/2021  
CHÍNH SÁCH  
thấp là mức thuế suất 10% cho thuế TNDN10  
và mức thuế suất 5% đối với thuế GTGT11.  
Tuy nhiên, những quy định nhằm tạo sự ưu  
đãi cho hoạt động kinh doanh nhà ở xã hội  
trong pháp luật thuế chưa hoàn toàn phản ánh  
đúng tinh thần của điểm b khoản 1 Điều 58  
Luật Nhà ở năm 2014. Pháp luật thuế đã áp  
dụng cùng một mức thuế suất ưu đãi cho toàn  
bộ hoạt động kinh doanh nhà ở xã hội. Mặc  
dù Hiệp hội bất động sản thành phố Hồ Chí  
Minh đã có công văn kiến nghị về bất cập  
này nhưng không được Tổng cục Thuế chấp  
thuận, vì lý do là việc áp dụng cùng một mức  
thuế suất ưu đãi cho toàn bộ hoạt động kinh  
doanh nhà ở xã hội dựa trên việc viện dẫn quy  
định tại khoản 2 Điều 156 Luật ban hành văn  
bản quy phạm pháp luật năm 2015 về áp dụng  
văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. Cách  
giải thích như trên của Tổng cục Thuế chưa  
thật sự thuyết phục vì thiếu cơ sở để khẳng  
định Luật Nhà ở có hiệu lực pháp lý thấp hơn  
Luật Thuế GTGT và Luật Thuế TNDN12.  
Bên cạnh đó, quy định của điểm b khoản 1  
Điều 58 Luật Nhà ở năm 2014 quy định  
hoạt động kinh doanh nhà ở xã hội sẽ được:  
“miễn, giảm thuế giá trị gia tăng, thuế thu  
nhập doanh nghiệp” là chưa hợp lý. Bởi lẽ,  
việc miễn, giảm thuế TNDN thì có thể được  
áp dụng nhưng đối với thuế GTGT thì không  
thể miễn, giảm thuế, mà chỉ có thể áp dụng  
thuế suất thấp hơn thuế suất thông thường để  
làm giảm số thuế GTGT phải nộp.  
Bên cạnh những bất cập trên, thực tiễn  
cho thấy, mức ưu đãi về thuế TNDN và thuế  
GTGT đối với kinh doanh nhà ở xã hội dường  
như vẫn chưa phát huy được vai trò trong việc  
khuyến khích doanh nghiệp thực hiện dự án.  
Ví dụ, ở Hà Nội, tính đến hết năm 2018, kế  
hoạch phát triển nhà ở xã hội mới chỉ đạt được  
14%, dẫn đến hệ quả còn thiếu 4,7 triệu m2  
nhà ở; các dự án nhà ở xã hội trong giai đoạn  
2016 - 2020 đều chậm tiến độ, thậm chí một  
số dự án không được triển khai thực hiện và  
nằm trong diện bị thu hồi đất13. Bên cạnh đó,  
tình trạng doanh nghiệp triển khai dự án nhà  
ở xã hội để tranh thủ ưu đãi về giao đất, cho  
thuê đất sau đó tìm cách chuyển đổi sang nhà ở  
thương mại vẫn diễn ra phổ biến. Kết quả kiểm  
toán nhà nước đối với Chương trình nhà ở xã  
hội trên địa bàn 03 quận, huyện của Hà Nội  
là Thanh Trì, Long Biên, Đông Anh giai đoạn  
2015 - 2018 đã ghi nhận 03 trường hợp đã  
được cơ quan có thẩm quyền cho phép chuyển  
dự án nhà ở xã hội sang nhà ở thương mại trái  
với quy định của pháp luật14. Tình trạng này  
cũng diễn ra ở Thành phố Hồ Chí Minh15.  
10 Điểm d khoản 3 Điều 19 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài chính hướng  
dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn  
thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp; điểm b khoản 2 Điều 13 Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 ngày  
03/6/2008 đã được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 7 Điều 1 Luật số 32/2013/QH13.  
11 Khoản 16 Điều 10 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn  
thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2013 của Chính  
phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng; điểm q khoản 2 Điều 8  
Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 ngày 03/6/2008 đã được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1  
Luật số 31/2013/QH13.  
12 Xem thêm công văn số 1504/TCT-CS ngày 16/4/2020 của Tổng cục Thuế về chính sách thuế.  
13 Văn Dũng, “Nhiều dự án nhà ở xã hội biến thành nhà thương mại trái quy định”, đăng trên https://m.vcci.  
com.vn/nhieu-du-an-noxh-bien-thanh-nha-thuong-mai-trai-quy-dinh, truy cập ngày 22/6/2020.  
14  
Hồng Khanh, “Trái lệnh Thủ tướng, Hà Nội chuyển dự án nhà xã hội thành nhà thương mại”, đăng trên  
thuong-mai-602813.html, truy cập ngày 22/6/2020.  
15  
Bình Quang, “Doanh nghiệp gꢀp khó với nhà ở xã hội hiện tại, đua nhau xin chuyển thương mại”, đăng  
thuong-mai.html, truy cập ngày 22/6/2020.  
Số 10(434) - T5/2021  
25  
CHÍNH SÁCH  
Mặt khác, đặt trong mối tương quan với các  
ngành nghề kinh doanh khác, các sản phẩm bất  
động sản là yếu tố đầu vào của chuỗi hoạt động  
kinh doanh nên khi đặt ra các biện pháp phục  
hồi nền kinh tế không thể bỏ qua việc hỗ trợ về  
thuế cho hoạt động kinh doanh bất động sản.  
Nghị định số 41/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020  
của Chính phủ về gia hạn thời hạn nộp thuế và  
tiền thuê đất đã đưa ngành nghề kinh doanh  
bất động sản vào diện được hỗ trợ. Tuy nhiên,  
thời gian gia hạn chỉ kéo dài 05 tháng và chỉ  
gia hạn đối với một số nghĩa vụ thuế như: thuế  
GTGT phải nộp của tháng 3 đến tháng 6 năm  
2020 (nếu kê khai theo tháng) và quý 1, quý 2  
năm 2020 (nếu kê khai theo quý); thuế TNDN  
còn phải nộp theo quyết toán của kỳ tính thuế  
năm 2019, thuế TNDN tạm nộp quý 1 và quý 2  
năm 202016. Riêng thuế TNDN còn phải nộp  
năm 2019 thường bị các doanh nghiệp nhầm  
lẫn sẽ được gia hạn toàn bộ số tiền thuế phát  
sinh trên tờ khai quyết toán năm (chỉ tiêu D  
trên tờ khai quyết toán). Trong khi đó, số thuế  
được gia hạn thực chất chỉ là 20% số thuế  
phát sinh theo tờ khai quyết toán năm (chỉ  
tiêu H trên tờ khai quyết toán). Bởi lẽ, đối  
với 80% số thuế TNDN phát sinh trên tờ khai  
quyết toán, doanh nghiệp đã phải trích tạm  
nộp theo từng quý trong năm 201917.  
Do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, để hỗ  
trợ doanh nghiệp, ngày 25/9/2020, Chính phủ  
ban hành Nghị định số 114/2020/NĐ-CP quy  
định chi tiết về giảm thuế TNDN theo Nghị  
quyết số 116/2020/QH14 ngày 19/6/2020 của  
Quốc hội. Việc giảm thuế TNDN theo Nghị  
định này chỉ mới dừng lại ở việc hỗ trợ cho  
các doanh nghiệp có tổng doanh thu trong năm  
2020 không quá 200 tỷ đồng, không phân biệt  
ngành nghề kinh doanh và tỷ lệ lợi nhuận trên  
doanh thu18. Nói cách khác, nếu hoạt động  
kinh doanh bất động sản trong năm 2020 vượt  
mức 200 tỷ đồng thì doanh nghiệp không được  
hưởng chính sách miễn thuế TNDN. Quy định  
này chưa thật sự phù hợp với đặc trưng của  
lĩnh vực kinh doanh bất động sản, vì lý do sau:  
Thông thường, giá giao dịch bất động sản cao  
dẫn đến doanh thu lớn, trong khi đó, chi phí để  
tạo ra nguồn doanh thu này cũng khá cao dẫn  
đến hiện tượng doanh thu lớn nhưng lợi nhuận  
thực tế đạt được chưa đủ chống đỡ trước khó  
khăn của tình hình dịch bệnh. Do đó, nếu chỉ  
căn cứ vào yếu tố quy mô doanh thu để xét  
giảm thuế thì các doanh nghiệp kinh doanh bất  
động sản khó có điều kiện đáp ứng.  
Nhìn một cách tổng quan, các biện pháp  
hỗ trợ của Nhà nước hiện nay tuy đã được  
triển khai kịp thời, nhưng mức độ hỗ trợ  
chưa cao và chưa tháo gỡ được khó khăn về  
mặt tài chính của doanh nghiệp kinh doanh  
bất động sản. Vì vậy, chính sách miễn giảm  
thuế không tạo được động lực để các doanh  
nghiệp kinh doanh bất động sản giảm giá  
thuê mặt bằng, giãn tiến độ trả tiền thuê hoặc  
miễn tiền thuê trong một thời gian nhất định  
cho đối tác. Hệ quả là các doanh nghiệp sử  
dụng mặt bằng thuê cũng khó giảm được  
gánh nặng chi phí, đồng thời rủi ro về việc  
phát sinh các tranh chấp từ việc hủy hợp  
đồng thuê mặt bằng cũng khó tránh khỏi.  
2. Tác động của chính sách thuế đến hành  
vi kinh tế của khách hàng, nhà đầu tư  
Sau khi các sản phẩm bất động sản được  
doanh nghiệp phân phối đến tay khách hàng,  
các bất động sản này có thể được đưa vào sử  
dụng trực tiếp bởi khách hàng hoặc tiếp tục  
được đưa vào lưu thông trên thị trường thông  
qua các giao dịch dân sự. Khác với cách thức  
điều tiết thu nhập có được của các doanh  
nghiệp kinh doanh bất động sản, khi đối tượng  
khách hàng là cá nhân tiếp tục chuyển nhượng  
bất động sản cho người khác để hưởng khoảng  
16 Xem thêm Điều 3 Nghị định số 41/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020.  
17 Điều 17 Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính quy định doanh nghiệp phải tự  
xác định và tạm nộp thuế TNDN theo từng quý, nếu không thực hiện sẽ phải nộp thêm tiền chậm nộp.  
18 Xem them Điều 3 Nghị định số 114/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020.  
26  
Số 10(434) - T5/2021  
CHÍNH SÁCH  
chênh lệch giá trị thì nghĩa vụ thuế họ phải  
thực hiện được gọi tên là thuế thu nhập chuyển  
nhượng (TNCN). Theo quy định hiện nay,  
TNCN được áp dụng với mức thuế suất 2%  
trên toàn bộ giá chuyển nhượng bất động sản19.  
Cách tính thuế TNCN này vừa chưa đúng với  
bản chất của thuế thu nhập (vì không đánh  
trên thu nhập mà đánh trên toàn bộ giá chuyển  
nhượng), vừa không tạo được động cơ cho cá  
nhân kê khai trung thực giá giao dịch. Từ đây  
hình thành một thị trường bất động sản thiếu  
minh bạch. Hành vi trốn thuế TNCN bằng  
cách lập 02 hợp đồng mua bán với 02 mức giá  
khác nhau với mục đích vừa ràng buộc trách  
nhiệm của bên mua và bên bán, vừa tránh phải  
đóng thuế cao đã trở nên phổ biến và tạo nên  
tâm lý xem đây là biện pháp “tránh thuế” an  
toàn của người dân. Đến khi các vụ án truy cứu  
trách nhiệm hình sự về tội trốn thuế đối với  
hành vi này thì hồi chuông cảnh báo về mức  
độ nguy hiểm mới được gióng lên20.  
Giải pháp áp dụng bảng giá đất để làm  
cơ sở tính thuế TNCN trong trường hợp cá  
nhân kê khai giá giao dịch quá thấp theo quy  
định hiện hành không phát huy được hiệu  
quả chống thất thu ngân sách vì giá đất do  
Nhà nước ấn định luôn trong trạng thái thấp  
hơn nhiều và không theo kịp biến động của  
giá thị trường. Mặc dù cơ quan thuế được  
trao quyền ấn định thuế21 khi có cơ sở xác  
định giá tính thuế không phù hợp với giá  
giao dịch thông thường, nhưng việc ấn định  
mức thuế đối với các giao dịch bất động sản  
gặp nhiều khó khăn vì sự không ổn định của  
thị trường và bản thân bất động sản đã chịu  
sự chi phối của nhiều yếu tố như phong thủy,  
tính cá biệt của vị trí thửa đất…  
Không chỉ riêng các quy định của pháp  
luật thuế hiện hành, dự báo về việc thay  
đổi chính sách thuế cũng tác động không  
nhỏ đến tâm lý và hành vi của khách hàng  
và các nhà đầu tư vào lĩnh vực bất động  
sản. Dự thảo Luật thuế Tài sản được Bộ Tài  
chính soạn thảo đặt ra vấn đề đánh thuế đối  
với việc nắm giữ bất động sản thứ hai đã và  
đang tạo tâm lý không an toàn cho nhà đầu  
tư vốn nhàn rỗi vào bất động sản22. Mục  
tiêu hạn chế đầu cơ của Dự thảo Luật Thuế  
tài sản chưa đạt được đã có thể gây ra tình  
trạng cản trở đầu tư. Vì theo quy định của  
Dự thảo Luật, người nắm giữ bất động sản  
thứ hai phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế  
phụ thuộc vào giá trị của bất động sản thứ  
hai. Việc nắm giữ càng lâu, lũy kế số thuế  
đã đóng càng tăng lên và khi thực hiện giao  
dịch đối với bất động sản này, chủ sở hữu  
buộc phải tính vào giá bán phần chi phí  
thuế mình đã bỏ ra và dẫn đến giá bất động  
sản tăng cao. Trong khi đó, hoạt động đầu  
cơ chủ yếu nắm giữ bất động sản trong thời  
gian ngắn và bán đi khi có chênh lệch giá  
nên số thuế phải đóng vì nắm giữ tài sản sẽ  
không nhiều.  
3. Kiến nghị  
Để khơi thông nguồn lực cho hoạt động  
kinh doanh bất động sản và tạo được sự tác  
động tích cực đến các chủ thể tham gia vào  
thị trường, tác giả đề xuất một số kiến nghị  
hoàn thiện chính sách thuế như sau:  
19 Điều 18 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 6 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số  
điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân đã  
được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 11 Điều 2 Nghị định số 12/2015/ NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm  
2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa  
đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế.  
20 Duy Thanh, “Vụ án luật sư Trần Vũ Hải: Xét hỏi để làm rõ ai trốn thuế”, đăng trên https://tuoitre.vn/vu-an-  
luat-su-tran-vu-hai-xet-hoi-de-lam-ro-ai-tron-thue-20200217203802583.htm, truy cập ngày 22/6/2020.  
21 Điều 50 Luật Quản lý thuế 38/2019/QH14.  
22 Nhân Hà, “Những chính sách ít nhiều có tác động đến thị trường bất động sản”, đăng tại https://nhadautu.vn/  
nhung-chinh-sach-it-nhieu-co-tac-dong-den-thi-truong-bat-dong-san-d9549.html, truy cập ngày 22/6/2020.  
Số 10(434) - T5/2021  
27  
CHÍNH SÁCH  
Thứ nhất, sửa đổi các quy định về thuế  
cho phù hợp với chính sách ưu đãi thuế  
đối với hoạt động kinh doanh nhà ở xã hội  
theo đúng tinh thần của Luật Nhà ở là có  
sự phân hóa về ưu đãi thuế giữa xây dựng  
nhà ở xã hội để cho thuê, cho thuê mua và  
để bán nhằm khuyến khích doanh nghiệp  
cung ứng các sản phẩm nhà ở phục vụ cho  
nhu cầu an sinh xã hội. Theo đó, đưa mức  
thuế suất thuế GTGT dưới 5% (không thể  
là 0% vì 0% là mức thuế suất áp dụng cho  
hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu23) và thuế  
suất thuế TNDN dưới 10% để áp dụng  
cho hoạt động kinh doanh nhà ở xã hội.  
Với những mức thuế suất thấp hơn này,  
pháp luật thuế có thể điều chỉnh thuế cho  
hai nhóm hoạt động này khác nhau, trong  
đó hoạt động kinh doanh nhà ở xã hội để  
cho thuê sẽ chịu mức thuế suất thấp hơn  
hoạt động xây dựng nhà ở xã hội để cho  
thuê mua, bán.  
Bên cạnh đó, nhằm bảo đảm sự tương  
thích với đề xuất điều chỉnh mức thuế suất  
của các loại thuế tương ứng cho doanh  
nghiệp xây dựng nhà ở xã hội nêu trên mà  
không phải thay đổi quy định về miễn, giảm  
thuế trong nội dung các quy định về từng  
loại thuế cụ thể của pháp luật thuế, cần sửa  
đổi cụm từ “được miễn, giảm thuế giá trị  
gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp theo  
quy định của pháp luật về thuế” của điểm b  
khoản 1 Điều 58 Luật Nhà ở năm 2014 thành  
“được hưởng mức thuế giá trị gia tăng, thuế  
thu nhập doanh nghiệp thấp hơn hoạt động  
kinh doanh thông thường theo quy định của  
pháp luật về thuế”.  
theo mục đích sử dụng và khả năng sinh  
lợi. Ví dụ, bất động sản nghỉ dưỡng sinh  
lợi cao hơn bất động sản dùng làm mặt  
bằng kinh doanh xuất phát từ lợi thế vị trí  
địa lý của đất và tính khan hiếm cao. Do  
đó, thu nhập có được từ hoạt động kinh  
doanh bất động sản nghỉ dưỡng này nên  
chịu mức thuế cao hơn để tạo nguồn thu  
cho Nhà nước phát triển hạ tầng, tái phân  
phối lại lợi ích xã hội.  
Thứ ba, để kiểm soát giá giao dịch và  
thúc đẩy các bên khai báo trung thực, cần  
quy định nghĩa vụ thanh toán qua ngân  
hàng của cá nhân khi tham gia vào giao  
dịch bất động sản, nâng cao trách nhiệm  
của các tổ chức hành nghề công chứng  
trong việc cung cấp thông tin cho cơ quan  
thuế. Trong dài hạn khi cơ sở dữ liệu về bất  
động sản được hoàn thiện và giá giao dịch  
được kiểm soát một cách minh bạch, việc  
thống nhất phương pháp tính thuế trên thu  
nhập có được từ giao dịch bất động sản cần  
được áp dụng chung cho cả cá nhân lẫn tổ  
chức, thay vì áp thuế trên toàn bộ giá giao  
dịch của cá nhân như hiện nay24. Việc điều  
tiết thuế như trên sẽ đảm bảo tính công  
bằng, hợp lý (nhà nước chỉ điều tiết khi  
có thu nhập) và góp phần minh bạch hóa  
các hoạt động giao dịch bất động sản để  
cung cấp thông tin, số liệu chính xác cho  
hoạt động giao dịch bất động sản nhằm tạo  
cơ sở giúp nhà nước quản lý được toàn bộ  
thị trường bất động sản và có những chính  
sách, chiến lược phát triển thị trường bất  
Thứ hai, cần xây dựng lộ trình điều  
tiết thu nhập từ kinh doanh bất động sản  
động sản phù hợp  
23 Khoản 1 Điều 8 Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008 của Quốc hội được  
sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số 31/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung  
một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng và được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo quy định tại khoản 2 Điều 1  
của Luật số 106/2016/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc  
biệt và Luật quản lý thuế.  
24 Theo đó, thuế phải nộp từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản được xác định bằng công thức: Thuế phải  
nộp = (giá chuyển nhượng bất động sản - giá mua bất động sản - chi phí hợp lý) x thuế suất.  
28  
Số 10(434) - T5/2021  
pdf 8 trang Thùy Anh 15060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chính sách thuế trong mối tương quan với hoạt động kinh doanh bất động sản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchinh_sach_thue_trong_moi_tuong_quan_voi_hoat_dong_kinh_doan.pdf