Phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề cho sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Tiền Giang thông qua học phần Pháp luật đại cương
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 6, 2021, 21-28
PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO SINH VIÊN
NĂM THỨ NHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC TIỀN GIANG THÔNG QUA
HỌC PHẦN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
Nguyễn Thị Khuyến
Khoa Kinh tế - Luật, Trường Đại học Tiền Giang
Email: [email protected]
Lịch sử bài báo
Ngày nhận: 03/9/2020; Ngày nhận chỉnh sửa: 10/12/2020; Ngày duyệt đăng: 18/6/2021
Tóm tắt
Pháp luật đại cương là học phần bắt buộc đối với sinh viên năm thứ nhất ở các trường đại học. Học
phần trang bị cho sinh viên các kiến thức về nhà nước, pháp luật và một số quy định cơ bản của một số
ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Để đạt kết quả tốt trong học phần, sinh viên phải có kỹ năng
giải quyết vấn đề. Vậy, kỹ năng giải quyết vấn đề là gì; các nguyên nhân nào ảnh hưởng đến kỹ năng giải
quyết vấn đề của sinh viên; thực trạng kỹ năng giải quyết vấn đề của sinh viên năm thứ nhất Trường Đại
học Tiền Giang như thế nào; để phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề của sinh viên năm thứ nhất thông qua
học phần Pháp luật đại cương thì cần có các biện pháp nào; đó là những nội dung chính tác giả muốn chia
sẻ trong bài viết này.
Từ khóa: Kỹ năng giải quyết vấn đề, phát triển, pháp luật đại cương, sinh viên.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
DEVELOPING PROBLEMS SOLVING SKILLS
FOR FIRST-YEAR STUDENTS TIEN GIANG UNIVERSITY THROUGH
THE GENERAL LAW TOPIC
Nguyen Thi Khuyen
Faculty of Economics - Law, Tien Giang University
Email: [email protected]
Article history
Received: 03/9/2020; Received in revised form: 10/12/2020; Accepted: 18/6/2021
Abstract
General law is a compulsory subject for first-year students in all Vietnamese universities. The module
equips students with basic knowledge of the state, law and some basic provisions of a number of legal branches
in the Vietnamse legal system. To achieve good results in the module, students must have problem solving
skills. So, what is problem solving skills? What factors influence student problem-solving skills? How is the
situation of first-year student's problem-solving skills at Tien Giang University? What measures should be
taken to develop first-year students' problem solving skills through the general law module? In this article,
these issues would be throughly discussed.
Keywords: Development, general law, problem solving skills, students.
Trích dẫn: Nguyễn Thị Khuyến. (2021). Phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề cho sinh viên năm thứ nhất Trường Đại học Tiền
Giang thông qua học phần Pháp luật đại cương. Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, 10(6), 21-28.
21
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
1. Đặt vấn đề
tượng, một sự kiện nào đó để từ đó đưa ra những phán
đoán, giải pháp và phương án xử lý phù hợp nhất”
(Nguyễn Cảnh Toàn và Lê Hải Yến, 2011, tr.187).
Kỹ năng giải quyết vấn đề (GQVĐ) là kỹ năng
cần thiết đối với sinh viên (SV) hiện nay, đặc biệt đối
với SV năm thứ nhất. Để đạt hiệu quả đào tạo nhằm
Từ việc tham khảo ý kiến của nhiều nhà nghiên
đáp ứng nhu cầu thực tiễn của xã hội, việc phát triển cứu về kỹ năng GQVĐ, tác giả đưa ra khái niệm kỹ
kỹ năng GQVĐ cho SV năm thứ nhất là điều không năng GQVĐ như sau: Kỹ năng GQVĐ là sự giải quyết
thể thiếu trong quá trình giáo dục đào tạo tại các có kết quả những vấn đề nảy sinh trong hoạt động
trường đại học. Một trong những phương pháp phát hàng ngày của con người bằng cách tiến hành đúng
triển kỹ năng GQVĐ cho SV năm nhất là rèn luyện đắn các bước, các thao tác trên cơ sở vận dụng những
kỹ năng thông qua các học phần giảng dạy, trong đó tri thức và kinh nghiệm của chủ thể. Nói cách khác,
có học phần pháp luật đại cương. Việc nghiên cứu kỹ năng GQVĐ là khả năng giải quyết các vấn đề
phát triển kỹ năng GQVĐ cho SV năm thứ nhất là trong cuộc sống một cách phù hợp và hiệu quả bằng
cần thiết nhằm trang bị cho SV kỹ năng cần thiết để cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm, thái độ.
đạt kết quả tốt trong học tập và thực hiện tốt công
việc chuyên môn khi tốt nghiệp.
3.1.2. Các kỹ năng trong quá trình GQVĐ của SV
Để giải quyết tốt vấn đề trong hoạt động học tập,
SV cần có các kỹ năng sau: (Nguyễn Cảnh Toàn và
Lê Hải Yến, 2011, tr.192,193,194).
2. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
- Dữ liệu nghiên cứu:
+ Dữ liệu thứ cấp: Sách, tạp chí, các đề tài nghiên
Thứ nhất, kỹ năng tìm hiểu. Tìm hiểu các môn
cứu khoa học nghiên cứu về kỹ năng GQVĐ, phương khoa học xã hội đòi hỏi nhiều kỹ năng trí tuệ khác
pháp dạy học GQVĐ và đổi mới phương pháp dạy nhau. Tìm hiểu là việc khảo sát các mô tả, quan sát,
học học phần Pháp luật đại cương.
giải thích, xác minh, đánh giá và chứng minh sự
đúng đắn hay sai lầm của một vấn đề. Kỹ năng này
thể hiện ở việc, trước khi GQVĐ, người học phải tìm
hiểu kỹ vấn đề cần giải quyết về các nội dung cụ thể
như: Vấn đề yêu cầu giải quyết thuộc lĩnh vực gì?
Nằm ở nội dung nào của học phần? Cần đọc tài liệu
nào để giải quyết, …
+ Dữ liệu sơ cấp: Thông qua kết quả phiếu điều
tra một số SV năm thứ nhất đối với bảng câu hỏi đề
xuất.
- Phương pháp nghiên cứu: Bài viết nghiên cứu
dựa trên phương pháp phân tích, tổng hợp các tài liệu
có liên quan đến nội dung nghiên cứu. Ngoài ra, để
đánh giá được thực trạng và nguyên nhân kỹ năng
GQVĐ của SV năm thứ nhất, tác giả đã sử dụng
phương pháp điều tra thông qua các bảng hỏi đối với
một số SV năm thứ nhất, từ đó đề xuất các biện pháp
khả thi để áp dụng trong thực tế.
Thứ hai, kỹ năng phân tích vấn đề. Thường
những kỹ năng đơn giản nhất lại là những kỹ năng
cơ bản nhất. Người học thường quan tâm đến sự phân
biệt rạch ròi mọi khái niệm, mọi góc cạnh ý nghĩa
của vấn đề. Người học có thể dùng phép đồng nghĩa
để xác định ý nghĩa trung tâm của khái niệm, phép
trái nghĩa để phân biệt vỏ bề ngoài của khái niệm.
Kỹ năng này được hiểu là SV vận dụng những kiến
thức, kỹ năng, kinh nghiệm bản thân vào việc phân
tích các mâu thuẫn của vấn đề như phân tích kiến
thức, phân tích những đối tượng liên quan đến vấn
đề, những khó khăn, thuận lợi, những mục tiêu cần
phải đạt được, những nguồn trợ giúp để thực hiện
các mục tiêu đề ra.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Cơ sở lý luận về kỹ năng GQVĐ của SV
3.1.1. Khái niệm kỹ năng GQVĐ
Theo tổ chức UNESCO, kỹ năng GQVĐ là một
kỹ năng sống, thuộc nhóm kỹ năng chung gồm: Kỹ
năng nhận thức, kỹ năng cảm xúc, kỹ năng xã hội.
Còn theo Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF)
thì kỹ năng GQVĐ là một kỹ năng sống gồm các kỹ
năng: Phân tích vấn đề, nhận thức vấn đề, ra quyết
định, ứng xử, GQVĐ…
Thứ ba, kỹ năng chuyển dịch. Một trong những
khó khăn của quá trình nhận thức là kỹ năng suy lý
hay lý giải được vận dụng để chuyển dịch một thông
tin từ người này đến người khác, hoặc từ ngôn ngữ
này sang ngôn ngữ khác. Người học phải chuyển tải
được nội dung của thông tin nói gì, hàm chứa điều
Trong khi đó, theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn
và Lê Hải Yến “Kỹ năng GQVĐ (Problem solving
skills) là một kỹ năng tổng hợp của quá trình nhìn
nhận, đánh giá và phân tích một vấn đề, một hiện
22
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 6, 2021, 21-28
gì, thừa nhận điều gì. Người học phải làm một phép
Theo R.Legendre, chu trình GQVĐ gồm 6 bước:
(Nguyễn Cảnh Toàn và Lê Hải Yến, 2011, tr. 214)
biến đổi hình thức thông tin mà vẫn giữ nguyên đúng
nội hàm ý nghĩa nguyên thủy của nó. Kỹ năng này
thể hiện ở việc SV phải chuyển dịch đúng nội dung,
yêu cầu của các vấn đề mà giảng viên (GV) đặt ra
trong quá trình học tập để tránh tình trạng giải quyết
sai hoặc lạc đề so với yêu cầu của GV.
- Bước xác định vấn đề;
- Bước thu thập và phân tích tổng hợp thông tin;
- Bước tìm giải pháp;
- Bước xây dựng một kế hoạch hành động;
- Bước áp dụng kế hoạch hành động;
- Bước đánh giá sự can thiệp.
Thứ tư, kỹ năng suy lý hay lập luận. Mọi hành
động của con người dù cố ý hay vô ý đều liên quan
đến tư duy. Tuy nhiên, tiêu chí logic của tư duy có
giá trị ở mức độ nào còn tùy thuộc vào khả năng lập
luận (suy lý). Suy lý có các cấp độ khác nhau từ đơn
giản đến phức tạp, từ một bước đến nhiều bước. Kỹ
3.2. Thực trạng kỹ năng GQVĐ của SV năm
thứ nhất tại Trường Đại học Tiền Giang
Để tìm hiểu về vấn đề này, tác giả đã tiến hành
khảo sát ngẫu nhiên 120 SV năm thứ nhất tại Trường
năng suy lý có vai trò quan trọng trong GQVĐ. Kỹ Đại học Tiền Giang ở hai nội dung:
năng này hướng SV đến việc dùng ngôn ngữ (lời nói,
chữ viết và phi ngôn ngữ) thể hiện, chia sẻ và thuyết
phục về tính độc đáo, hiệu quả của giải pháp GQVĐ.
Thứ nhất, đánh giá của SV về vai trò của kỹ
năng GQVĐ.
Bảng 1. Kết quả khảo sát của SV Trường Đại học
Tiền Giang về vai trò của kỹ năng GQVĐ trong
hoạt động học tập
Thứ năm, kỹ năng ngoại suy. Ngoại suy là suy
luận, trừu tượng để giải quyết các vấn đề cụ thể. Đối
với học phần Pháp luật đại cương, có rất nhiều các
câu hỏi, bài tập trong quá trình học tập mà SV phải
vận dụng khả năng ngoại suy để trừu tượng hóa, rút
ra những suy lý hợp thức, các con đường để có thể
trả lời được các câu hỏi và làm được các bài tập. Bản
chất của ngoại suy là phải suy luận, phải trừu tượng
hóa cao để quay lại giải quyết những vấn đề cụ thể,
là từ những luận đề phải giải quyết, SV phải tìm các
luận chứng hay các luận cứ để biện minh cho các luận
SV
TT
Mức độ quan trọng
Số lượng Tỷ lệ %
1
2
3
4
5
Hoàn toàn không quan trọng
Không quan trọng
Bình thường
2
1,6
0,8
1
35
59
23
29,1
49,2
19,3
Quan trọng
Rất quan trọng
Kết quả thống kê cho thấy SV có nhận thức
chứng của mình. Nếu SV không nắm vững các khái chưa tốt về tầm quan trọng của kỹ năng GQVĐ.
Có đến 35 (29,1%) SV đánh giá kỹ năng GQVĐ là
“bình thường”, chỉ có 59 (49,2%) SV lựa chọn “quan
trọng”, mức “rất quan trọng” chỉ được 23 (19,3%)
SV quan tâm. Điều này thể hiện SV năm thứ nhất
nhìn nhận và đánh giá chưa cao về kỹ năng GQVĐ,
một trong những kỹ năng cần thiết trong hoạt động
học tập của họ.
niệm, không hiểu bản chất, không tìm đủ các luận cứ,
không dùng ngoại suy thì không thể đưa ra các luận
chứng để GQVĐ trong hoạt động học tập.
3.1.3. Chu trình GQVĐ
Chu trình GQVĐ
(R.Legendre)
(1)
Thứ hai, đánh giá thực trạng kỹ năng GQVĐ
Xác định vấn đề
(6)
(2)
trong hoạt động học tập của SV năm thứ nhất.
Thu thập và phân tích
tổng hợp thông tin
Đánh giá sự can thiệp
Qua bảng thống kê cho thấy kỹ năng GQVĐ
trong học tập của SV năm thứ nhất chưa cao. Có tới
45 (37,5%) SV chưa làm được việc phát hiện và nêu
vấn đề trong học tập; 42 (35%) SV biết xác định các
kiến thức cần thiết cho việc GQVĐ ở mức độ khá.
Trong khi đó, chỉ có 25 SV thường xuyên biết tìm hiểu
kiến thức mới có liên quan; 40 (33,3%) SV thường
xuyên biết đề xuất các ý tưởng giả thuyết.
(5)
(3)
Áp dụng kế hoạch
hành động
Tìm giải pháp
(4)
Xây dựng kế hoạch
hành động
Hình 1. Chu trình GQVĐ
23
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
Bảng 2. Kết quả khảo sát của SV Trường Đại học Tiền Giang về thực trạng kỹ năng GQVĐ
Số phiếu đánh giá
STT
Nội dung đánh giá
Tốt
Khá
Chưa tốt
(Thường xuyên) (Thỉnh thoảng)
(Chưa làm được)
30
25%
40
45
37,5%
35
45
37,5%
45
Biết phát hiện vấn đề và nêu vấn đề trong
học tập
1
2
3
4
5
6
7
Biết đề xuất các ý tưởng của giả thuyết
33,3%
40
29,2%
42
37,5%
38
Biết xác định các kiến thức cần thiết cho
việc GQVĐ
33%
25
35%
65
32%
30
Biết tìm hiểu kiến thức mới có liên quan
Biết lựa chọn giải pháp tốt GQVĐ
21%
30
54%
45
25%
45
25%
34
37,5%
36
37,5%
50
Biết kiểm tra, đánh giá giải pháp phát
triển vấn đề
29%
25
30%
40
41%
55
Biết trình bày kết quả
21 %
33,3%
45,7%
Một phần do cách dạy truyền thống “thầy pháp dạy học GQVĐ ngay từ đầu năm thứ nhất.
giảng, trò viết” ở cấp trung học phổ thông đã được Điều này sẽ làm các em bối rối trong việc lĩnh hội
kiến thức, từ đó dẫn đến việc các em dễ dàng chán
nản. Các em không biết mình sẽ giải quyết như thế
nào, dựa vào yếu tố nào để mình lựa chọn phương
pháp GQVĐ tối ưu nhất. Điều này khẳng định việc
phát triển kỹ năng GQVĐ cho SV năm thứ nhất là
vô cùng cần thiết nhằm giúp các em có kỹ năng
để GQVĐ khi vào chương trình của các học phần
chuyên ngành.
hình thành quá lâu. Thầy cô ở cấp phổ thông chưa
thật sự tạo ra mội trường để các em có thể động
não, suy nghĩ và tìm cách GQVĐ. Hầu hết, thầy cô
đều đưa ra sẵn tình huống hay phương pháp giải
quyết các tình huống và các em chỉ cần nghe, hiểu,
ghi chép và làm theo mà không cần phải tư duy hay
động não để tìm cách giải quyết. Rõ ràng, điều này
gây khó khăn cho cả thầy và trò ngay khi bước vào
giảng đường đại học. Đối với trò sẽ gặp khó khăn
khi một số GV ở bậc đại học đã áp dụng phương
3.3. Nguyên nhân của thực trạng GQVĐ của
SV năm thứ nhất, Trường Đại học Tiền Giang
Bảng 3. Kết quả khảo sát của SV Trường Đại học Tiền Giang về nguyên nhân của thực trạng
GQVĐ của SV năm thứ nhất
Số phiếu đánh giá
STT Nội dung đánh giá
Không đồng ý
Đồng ý
30
Hoàn toàn đồng ý
30
25%
35
60
50%
50
Chưa nắm vững kiến thức và phương pháp
học tập
1
2
3
25%
45
Quen với cách học tập ở phổ thông
29,2%
30
37,5%
30
41,3%
60
Thiếu kiến thức và kỹ năng GQVĐ
25%
22
25%
43
50%
55
Bản thân chưa được trang bị các kỹ năng cần
thiết (kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự học, kỹ
năng làm việc nhóm…)
4
18,4%
35,8%
45,8%
24
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 6, 2021, 21-28
70
58,3%
30
30
25%
50
20
16,7%
40
5
6
Bản thân chưa tích cực trong việc GQVĐ
Thiếu tự tin, ngại ngùng khi trình bày
phương án GQVĐ
25%
40
41,7%
20
33,3%
60
7
Bản thân không hứng thú với việc GQVĐ
Các vấn đề GV đặt ra chưa sinh động
33,3%
30
16,7%
50
50 %
40
8
25%
60
41,7%
25
33,3%
35
GV không nhận xét, đánh giá kết quả GQVĐ
của SV
9
50%
40
20,8%
20
29,2%
60
10
Vấn đề GV đặt ra chưa rõ ràng, cụ thể
33,3%
16,4%
50%
Thông qua bảng thống kê có thể thấy nguyên việc GV không nhận xét, đánh giá kết quả GQVĐ
nhân của thực trạng GQVĐ nêu trên một phần từ của SV hoặc các vấn đề GV đặt ra chưa rõ ràng, cụ
chính bản thân của SV. Cụ thể: có tới 50 SV (41,3%)
hoàn toàn đồng ý việc “quen với cách học tập ở phổ
thông” có ảnh hưởng đến kỹ năng GQVĐ. Kết quả này
cho thấy phương pháp học tập ở cấp phổ thông khác
nhiều so với bậc đại học nên SV năm thứ nhất chưa
kịp thích nghi với những phương pháp học tập mới.
thể cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự tích cực trong
quá trình GQVĐ của SV. Từ những nguyên nhân trên
rất cần những biện pháp từ GV và SV để nâng cao
kỹ năng GQVĐ của SV năm thứ nhất, Trường Đại
học Tiền Giang.
3.4. Các biện pháp phát triển kỹ năng GQVĐ
cho SV năm thứ nhất Trường Đại học Tiền Giang
thông qua học phần Pháp luật đại cương
Nguyên nhân tiếp theo là “chưa nắm vững kiến
thức và phương pháp học tập” và “thiếu kiến thức
và kỹ năng GQVĐ” đều có 60 (50%) SV hoàn toàn
đồng ý. Như vậy về mặt chủ quan, do SV chưa có
phương pháp học tập hiệu quả, không có đủ những
kiến thức, kỹ năng để GQVĐ trong hoạt động học
tập, nên việc GQVĐ, khắc phục các khó khăn trong
học tập còn chưa được tốt.
Kỹ năng GQVĐ trong hoạt động học tập của SV
năm thứ nhất là khả năng thực hiện đúng các bước,
các thao tác của quá trình GQVĐ để giải quyết có
kết quả và hợp lý những vấn đề trong hoạt động học
tập. Tác động đến kỹ năng GQVĐ của SV năm thứ
nhất không chỉ có những yếu tố từ phía GV mà còn
cả những yếu tố xuất phát từ chính bản thân SV. Vì
vậy, để phát triển kỹ năng GQVĐ trong hoạt động
học tập của SV năm thứ nhất, tác giả chú trọng đến
hai nhóm biện pháp sau:
Tiếp theo là nguyên nhân như sự e ngại, rụt rè,
thiếu tự tin khi trình bày phương án GQVĐ, bản thân
SV không được trang bị các kỹ năng cần thiết cũng
như thiếu sự tích cực, chủ động, nỗ lực khi GQVĐ
nảy sinh trong học tập. Những nguyên nhân đó đều
có ảnh hưởng không nhỏ đến kỹ năng GQVĐ của SV.
Yếu tố “bản thân không hứng thú với việc GQVĐ”
cũng ảnh hưởng đến kỹ năng GQVĐ của SV khi có
tới 60 (50%) SV hoàn toàn đồng ý. Vì vậy, việc tạo
hứng thú trong quá trình GQVĐ cũng rất cần thiết để
3.4.1. Đối với GV
Thứ nhất, GV phải nâng cao nhận thức và rèn
luyện kỹ năng GQVĐ cho SV.
Điều này thể hiện ở việc, từng nội dung giảng
dạy, GV phải xây dựng các vấn đề cụ thể để SV giải
thúc đẩy SV tích cực tham gia vào quá trình GQVĐ quyết. Nội dung vấn đề có thể ở mức độ từ dễ đến
trong hoạt động học tập.
khó để SV làm quen, sau đó từ từ tiếp cận đối với
phương pháp này. Để làm được điều này, GV phải đầu
tư thời gian để xây dựng các vấn đề phù hợp với nội
dung giảng dạy. Khi mới tiếp cận GQVĐ, GV phải
hướng dẫn cụ thể từng bước giải quyết. Sau khi SV
giải quyết xong, GV phải đánh giá, nhận xét, góp ý
để SV giải quyết tốt các vấn đề tương tự. Tránh tình
Qua bảng thống kê trên chúng ta thấy thực trạng
kỹ năng GQVĐ của SV một phần xuất phát nguyên
nhân từ GV. Có 50 (41,7%) SV trả lời đồng ý và 40
(33,3%) SV trả lời hoàn toàn đồng ý các vấn đề GV
đặt ra chưa sinh động là một trong những nguyên
nhân của việc hạn chế khả năng GQVĐ. Ngoài ra,
25
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
trạng GV không động viên, góp ý đối với những vấn vấn đề và yêu cầu nhiều SV giải quyết. Sau đó tổng
kết lại những nội dung giải quyết của SV và đưa ra
kết luận chính xác cho nội dung kiến thức đó. Ví dụ:
Trước khi tìm hiểu khái niệm “tội phạm”’, GV nên
đặt vấn đề: Ai có thể là tội phạm? Tội phạm phải là
người bao nhiêu tuổi? Nếu là tội phạm thì phải thực
hiện những hành vi như thế nào?.... GV có thể nêu
một vài tình huống trong thực tiễn về tội phạm, sau
đó, hướng dẫn SV suy lý, phán đoán và nhận xét. Nếu
SV chưa thể giải quyết chính xác vấn đề, GV có thể
tiếp tục gợi mở cho SV bằng các kiến thức liên quan
để có thể giải quyết được các vấn đề đã nêu. Sau đó,
GV rút ra những nhận xét, kết luận từ những vấn đề đã
nêu. Thông qua phương pháp này, SV không những
lĩnh hội được nội dung kiến thức mà còn rèn luyện
được kỹ năng GQVĐ của mình.
đề SV giải quyết, như thế sẽ không tạo được động
lực để SV giải quyết các vấn đề tiếp theo.
Ngoài ra, để nâng cao khả năng GQVĐ, GV phải
khuyến khích SV mạnh dạn, chủ động giao tiếp, trao
đổi, bày tỏ những suy nghĩ hay những thắc mắc trong
học tập, trong cuộc sống với GV, cố vấn học tập, cũng
như bạn bè. Để rèn luyện được sự mạnh dạn, tự tin
của SV thì trong quá trình học tập, GV nên thường
xuyên gọi SV đứng lên trả lời các vấn đề GV đặt ra,
thường xuyên trao đổi, trò chuyện với SV các vấn đề
học tập hoặc cuộc sống.
Thứ hai, GV phải tạo được sự hứng thú trong
quá trình GQVĐ của SV.
Điều này thể hiện ở việc khi đánh giá điểm quá
trình, GV nên lấy kết quả quá trình GQVĐ của SV
là một cột điểm trong tổng số điểm quá trình của học
phần để SV có động lực và ý thức GQVĐ. Nếu GV
không đánh giá quá trình GQVĐ thì sẽ không tạo động
lực để SV tích cực trong hoạt động GQVĐ.
- Phương pháp sử dụng tình huống có vấn đề:
Đối với phương pháp này, GV nêu ra các tình huống
có liên quan đến nội dung bài giảng và yêu cầu SV
vận dụng các quy định của pháp luật để giải quyết.
Đây là phương pháp mà nhiều GV giảng dạy pháp
luật đại cương áp dụng. Trong cuộc sống, có rất
nhiều tình huống phát sinh trên nhiều lĩnh vực phải
giải quyết bằng pháp luật. Vì vậy, nếu SV vận dụng
các quy định của pháp luật giải quyết tốt nhiều vấn
đề pháp lý trong quá trình học sẽ hình thành kỹ năng
GQVĐ chuyên ngành thành thạo, qua đó thực hiện
tốt công việc chuyên môn khi tốt nghiệp. Để phương
pháp này đạt được hiệu quả, các tình huống GV đặt ra
phải là những tình huống sát với nội dung kiến thức,
gắn với thực tiễn cuộc sống và phải mang tính thời
sự để tạo sự kích thích đối với SV.
Ngoài ra, các câu hỏi, các vấn đề yêu cầu SV
giải quyết phải là những vấn đề gắn với thực tiễn nảy
sinh trong cuộc sống, từ đó sẽ tạo kích thích, động
lực để SV giải quyết. Học phần Pháp luật đại cương
là học phần có sự gắn kết giữa lý thuyết và thực tiễn
rất phong phú, sinh động. Vì vậy, nếu GV khai thác
được lợi thế này sẽ tạo được sự phấn khích của SV
GQVĐ cũng như phấn khích trong quá trình học tập.
Cụ thể, đối với nội dung Luật Hình sự, GV nên xây
dựng vấn đề là những vụ án điển hình vừa xảy ra hàng
ngày để yêu cầu SV phân tích, giải quyết. Đối với nội
dung Luật Hôn nhân gia đình, vấn đề là những vấn
đề về kết hôn, những vụ án về tranh chấp tài sản, con
cái khi ly hôn,….
GV có thể chú trọng tới việc xây dựng, sử dụng
bài tập tình huống đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Tình huống được xây dựng theo trình tự từ
dễ đến khó.
Thứ ba, GV phải kết hợp nhiều phương pháp
- Hạn chế và loại bỏ dần những tình huống có
nội dung nghèo nàn, xa rời hoặc không phù hợp với
thực tiễn.
trong quá trình GQVĐ để phát triển kỹ năng GQVĐ.
Khi yêu cầu SV GQVĐ, GV có thể sử dụng nhiều
phương pháp khác nhau. Để phát triển kỹ năng GQVĐ
của SV đối với học phần Pháp luật đại cương, GV có
thể sử dụng các phương pháp sau:
- Tăng cường xây dựng và sử dụng đa dạng hóa
các loại bài tập trắc nghiệm khách quan với nhiều
hình thức: Bài tập kiểm tra nhận thức, kỹ năng, khả
năng vận dụng...
- Phương pháp đàm thoại phát hiện: Đây là
phương pháp trao đổi giữa GV và SV thông qua hệ
thống câu hỏi mà GV nêu ra để SV suy lý, phán đoán,
tự đi đến kết luận, qua đó lĩnh hội các kiến thức. Đối
với phương pháp này, GV có thể sử dụng trong quá
trình thuyết giảng của mình. Đối với mỗi nội dung
kiến thức, trước khi truyền đạt cho SV, GV nên đặt
- Chú trọng xây dựng những tình huống có nội
dung phong phú, sâu sắc, có khả năng vận dụng vào
thực tế nhằm phát triển kỹ năng GQVĐ.
- Phương pháp tham gia các hoạt động ngoại
khóa: Đối với phương pháp này, GV sẽ nêu ra các
26
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 6, 2021, 21-28
vấn đề yêu cầu SV phải thực hiện một số hoạt động
Trong quá trình học, để hiểu rõ vấn đề, phân
ngoại khóa để giải quyết được vấn đề. Các hoạt động tích đào sâu và nắm vững kiến thức, SV cần luôn tự
ngoại khóa thường là việc SV sẽ tham quan trụ sở các
cơ quan nhà nước, thực hiện một hoạt động pháp luật
cụ thể hoặc dự phiên toà xét xử các vụ án... Sau khi
có các trải nghiệm cụ thể, SV sẽ dựa vào lý luận kết
hợp với thực tiễn để GQVĐ GV đặt ra. Phương pháp
giảng dạy thông qua việc tổ chức những hoạt động
ngoại khóa giúp SV trao đổi và tham gia các tổ chức
xã hội bên ngoài nhằm hỗ trợ tốt nhất cho việc học
tập lý thuyết trên lớp cũng như nâng cao kỹ năng giải
quyết các vấn đề thực tiễn phát sinh khi tốt nghiệp.
đặt ra các câu hỏi, tự trả lời rồi trao đổi với bạn bè
hoặc ghi nhận lại những câu hỏi mà mình chưa giải
đáp được. Trong giờ học, SV không chỉ tập trung
lắng nghe mà còn phải biết phát huy vốn kiến thức
của mình để xây dựng bài học mới; mạnh dạn nêu
những vấn đề từ thực tiễn, những thắc mắc hoặc trao
đổi mở rộng bài học với GV, chủ động nêu ý kiến cá
nhân về vụ việc, vụ án nào đó trong khi tìm hiểu. Đối
với các tình huống mẫu GV đặt ra, SV phải luôn biết
thắc mắc: Tại sao tình huống lại giải quyết như thế?
Dựa vào cơ sở pháp lý nào?... Việc tự đặt câu hỏi và
tự tìm cách trả lời có ý nghĩa trong việc rèn luyện tư
duy và kỹ năng GQVĐ của SV.
3.4.2. Đối với SV
Để giải quyết tốt các vấn đề trong hoạt động
học tập đối với học phần Pháp luật đại cương, SV
cần thực hiện tốt các việc sau:
Thứ năm, để giải quyết tốt các vấn đề trong
quá trình học tập học phần Pháp luật đại cương cũng
như các học phần chuyên ngành, SV cần thực hiện
tốt các bước sau:
Thứ nhất, SV cần nhận thức được tầm quan trọng
của kỹ năng GQVĐ: Kỹ năng GQVĐ là một trong
những kỹ năng vô cùng hiệu quả để người học phát
huy thêm kỹ năng phân tích và phán đoán các tình
huống sẽ và đang xảy ra. Người học càng rèn luyện
kỹ năng này, không những càng đem lại nhiều tri thức
mà còn đúc kết cho bản thân nhiều kinh nghiệm quý
báu sau mỗi lần giải quyết được một vấn đề xảy ra
trong học tập cũng như trong cuộc sống.
- Bước 1. Xác định vấn đề.
Để giải quyết chính xác vấn đề, việc đầu tiên là
SV phải xác định được vấn đề thuộc lĩnh vực nào?
Cần đọc văn bản nào để giải quyết? Đây là bước rất
quan trọng để SV không bị lạc đề, có ý nghĩa là tiền
đề cho các bước tiếp theo.
Thứ hai, SV phải độc lập và tự chủ trong việc
GQVĐ. Khi GV đưa ra một tình huống có vấn đề hay
một ý tưởng cần tìm giải pháp thì đòi hỏi bản thân
SV cần có thái độ nghiêm túc, hợp tác để tìm ra biện
pháp GQVĐ. Ngoài ra, SV nên tự chủ để tạo ra một
tình huống vấn đề và đề xuất với GV. Từ đó, dưới
sự hướng dẫn của GV cùng nhau tìm hiểu và GQVĐ
đó. Việc chủ động và độc lập suy nghĩ trong việc học
được xem là những phẩm chất cần có của người học
được đào tạo ở trình độ đại học.
- Bước 2: Thu thập dữ kiện đầy đủ của vấn đề.
+ SV phải điều tra lỹ lưỡng những dữ kiện liên
quan đến tình huống vấn đề;
+ Phỏng vấn đương sự hoặc những người có
liên quan;
+ Thu thập những kinh nghiệm GQVĐ tương tự.
- Bước 3: Phân tích.
SV sẽ phân tích các dữ liệu của vấn đề. Để làm
tốt việc này, SV phải đọc kỹ các dữ liệu của vấn đề,
từ đó phân tích và phân loại vấn đề theo dân sự, hình
sự, hành chính, hôn nhân và gia đình,...
Thứ ba, SV phải nắm vững kiến thức của
học phần.
Mỗi nội dung của học phần Pháp luật đại cương
có rất nhiều kiến thức, câu hỏi và bài tập được đưa
ra để đánh giá và đo đếm mức độ nắm vững các kiến
thức của SV. Vì vậy, trong quá trình học, SV phải tập
trung lắng nghe, biết cách ghi chép, đọc hiểu, phải
tích cực tham gia các hoạt động thảo luận, nghiên
cứu, tự học mà GV yêu cầu để từ đó nắm vững các
kiến thức cốt lõi của từng nội dung trong học phần.
- Bước 4: Tổng hợp.
+ Tổng hợp nhiều phương án cho GQVĐ;
+ Khái quát hóa, rút ra các kết luận để GQVĐ;
+ Vạch ra những giải pháp cụ thể, những điều
kiện cần và đủ để giải quyết đúng đắn vấn đề.
- Bước 5: Áp dụng kế hoạch hành động.
Giai đoạn này là giai đoạn SV sẽ áp dụng việc
GQVĐ trong hoạt động thực tiễn. Để làm tốt bước
này, SV sẽ đặt các câu hỏi và tìm phương án trả lời
Thứ tư, SV phải luôn tự hỏi, tự thắc mắc để tìm
thông tin trả lời.
27
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
Tài liệu tham khảo
hiệu quả: Làm gì? Làm thế nào? Ai làm? Thời gian
thực hiện và kết thúc? Những điều kiện cần có để
thực hiện?,…..
Đặng Xuân Hải. (2013). Kỹ thuật dạy học trong đào
tạo theo học chế tín chỉ. Hà Nội: NXB Bách
khoa Hà Nội.
Tóm lại, để GQVĐ, SV phải huy động trí nhớ,
tri giác, lý luận, khái niệm hóa, ngôn ngữ, đồng thời
sử dụng cả cảm xúc, động cơ, niềm tin ở năng lực
bản thân và khả năng kiểm soát được tình thế để giải
quyết tốt các vấn đề trong học tập và thực tiễn.
Huỳnh Văn Sơn. (2012). Phát triển kỹ năng mềm cho
SV các trường đại học sư phạm. Đề tài Khoa học
và công nghệ cấp Bộ, B2012.19.05, Trường Đại
học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Kết luận
Lại Thế Luyện. (2011). Kỹ năng GQVĐ và ra quyết
định. Thành phố Hồ Chí Minh: NXB Tổng hợp
Thành phố Hồ Chí Minh.
Phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao năng
lực GQVĐ cho SV đang được các cơ sở đào tạo đại
học quan tâm, trong đó có Trường Đại học Tiền
Giang. Vì vậy, GV ngoài việc cung cấp các kiến
thức chuyên môn thì việc lồng ghép các kỹ năng
nhận diện, phát hiện, phân tích, kết luận vấn đề và
trình bày kết quả là hết sức cần thiết. Để hình thành
năng lực GQVĐ cho SV, GV cần chủ động đổi mới
phương pháp giảng dạy, phát triển năng lực GQVĐ
của mỗi người học, định hướng thái độ tích cực,
mục đích học tập đúng đắn từ chính mỗi SV. Chính
những điều đó, sẽ nâng cao năng lực GQVĐ của
SV nhằm trang bị cho các em nhận thức, phương
pháp và cách GQVĐ đối với các học phần chuyên
ngành cũng như giải quyết tốt các vấn đề phát sinh
trong cuộc sống.
Nguyễn Cảnh Toàn, Lê Hải Yến. (2011). Xã hội học
tập và học tập suốt đời và các kỹ năng tự học.
Hà Nội: NXB Dân Trí.
Nguyễn Quang Uẩn. (2008). Khái niệm kỹ năng sống
xét theo góc độ tâm lý học. Tạp chí Tâm lý học,
Số tháng 6/2008, 1-4.
Nguyễn Thị Kim Chung. (2018). Một số biện pháp
phát triển năng lực GQVĐ cho SV Trường Cao
đẳng Sư phạm Nghệ An. Tạp chí Giáo dục, Số
tháng 6/2018, 76-80.
Trần Lương. (2014). Phát triển kỹ năng GQVĐ cho
SV Trường Đại học Cần Thơ. Tạp chí Khoa học
Trường Đại học Cần Thơ, Số 8/2014, 42-53.
28
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề cho sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Tiền Giang thông qua học phần Pháp luật đại cương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phat_trien_ky_nang_giai_quyet_van_de_cho_sinh_vien_nam_thu_n.pdf

