Phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề cho sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Tiền Giang thông qua học phần Pháp luật đại cương

Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 6, 2021, 21-28  
PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO SINH VIÊN  
NĂM THỨ NHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC TIỀN GIANG THÔNG QUA  
HỌC PHẦN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG  
Nguyễn Thị Khuyến  
Khoa Kinh tế - Luật, Trường Đại học Tiền Giang  
Lịch sử bài báo  
Ngày nhận: 03/9/2020; Ngày nhận chỉnh sửa: 10/12/2020; Ngày duyệt đăng: 18/6/2021  
Tóm tắt  
Pháp luật đại cương là học phần bắt buộc đối với sinh viên năm thứ nhất ở các trường đại học. Học  
phần trang bị cho sinh viên các kiến thức về nhà nước, pháp luật và một số quy định cơ bản của một số  
ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Để đạt kết quả tốt trong học phần, sinh viên phải có kỹ năng  
giải quyết vấn đề. Vậy, kỹ năng giải quyết vấn đề là gì; các nguyên nhân nào ảnh hưởng đến kỹ năng giải  
quyết vấn đề của sinh viên; thực trạng kỹ năng giải quyết vấn đề của sinh viên năm thứ nhất Trường Đại  
học Tiền Giang như thế nào; để phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề của sinh viên năm thứ nhất thông qua  
học phần Pháp luật đại cương thì cần có các biện pháp nào; đó là những nội dung chính tác giả muốn chia  
sẻ trong bài viết này.  
Từ khóa: Kỹ năng giải quyết vấn đề, phát triển, pháp luật đại cương, sinh viên.  
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
DEVELOPING PROBLEMS SOLVING SKILLS  
FOR FIRST-YEAR STUDENTS TIEN GIANG UNIVERSITY THROUGH  
THE GENERAL LAW TOPIC  
Nguyen Thi Khuyen  
Faculty of Economics - Law, Tien Giang University  
Article history  
Received: 03/9/2020; Received in revised form: 10/12/2020; Accepted: 18/6/2021  
Abstract  
General law is a compulsory subject for first-year students in all Vietnamese universities. The module  
equips students with basic knowledge of the state, law and some basic provisions of a number of legal branches  
in the Vietnamse legal system. To achieve good results in the module, students must have problem solving  
skills. So, what is problem solving skills? What factors influence student problem-solving skills? How is the  
situation of first-year student's problem-solving skills at Tien Giang University? What measures should be  
taken to develop first-year students' problem solving skills through the general law module? In this article,  
these issues would be throughly discussed.  
Keywords: Development, general law, problem solving skills, students.  
Trích dẫn: Nguyễn Thị Khuyến. (2021). Phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề cho sinh viên năm thứ nhất Trường Đại học Tiền  
Giang thông qua học phần Pháp luật đại cương. Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, 10(6), 21-28.  
21  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
1. Đặt vấn đề  
tượng, một sự kiện nào đó để từ đó đưa ra những phán  
đoán, giải pháp và phương án xử lý phù hợp nhất”  
(Nguyễn Cảnh Toàn và Lê Hải Yến, 2011, tr.187).  
Kỹ năng giải quyết vấn đề (GQVĐ) là kỹ năng  
cần thiết đối với sinh viên (SV) hiện nay, đặc biệt đối  
với SV năm thứ nhất. Để đạt hiệu quả đào tạo nhằm  
Từ việc tham khảo ý kiến của nhiều nhà nghiên  
đáp ứng nhu cầu thực tiễn của xã hội, việc phát triển cứu về kỹ năng GQVĐ, tác giả đưa ra khái niệm kỹ  
kỹ năng GQVĐ cho SV năm thứ nhất là điều không năng GQVĐ như sau: Kỹ năng GQVĐ là sự giải quyết  
thể thiếu trong quá trình giáo dục đào tạo tại các có kết quả những vấn đề nảy sinh trong hoạt động  
trường đại học. Một trong những phương pháp phát hàng ngày của con người bằng cách tiến hành đúng  
triển kỹ năng GQVĐ cho SV năm nhất là rèn luyện đắn các bước, các thao tác trên cơ sở vận dụng những  
kỹ năng thông qua các học phần giảng dạy, trong đó tri thức và kinh nghiệm của chủ thể. Nói cách khác,  
có học phần pháp luật đại cương. Việc nghiên cứu kỹ năng GQVĐ là khả năng giải quyết các vấn đề  
phát triển kỹ năng GQVĐ cho SV năm thứ nhất là trong cuộc sống một cách phù hợp và hiệu quả bằng  
cần thiết nhằm trang bị cho SV kỹ năng cần thiết để cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm, thái độ.  
đạt kết quả tốt trong học tập và thực hiện tốt công  
việc chuyên môn khi tốt nghiệp.  
3.1.2. Các kỹ năng trong quá trình GQVĐ của SV  
Để giải quyết tốt vấn đề trong hoạt động học tập,  
SV cần có các kỹ năng sau: (Nguyễn Cảnh Toàn và  
Lê Hải Yến, 2011, tr.192,193,194).  
2. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu  
- Dữ liệu nghiên cứu:  
+ Dữ liệu thứ cấp: Sách, tạp chí, các đề tài nghiên  
Thứ nhất, kỹ năng tìm hiểu. Tìm hiểu các môn  
cứu khoa học nghiên cứu về kỹ năng GQVĐ, phương khoa học xã hội đòi hỏi nhiều kỹ năng trí tuệ khác  
pháp dạy học GQVĐ và đổi mới phương pháp dạy nhau. Tìm hiểu là việc khảo sát các mô tả, quan sát,  
học học phần Pháp luật đại cương.  
giải thích, xác minh, đánh giá và chứng minh sự  
đúng đắn hay sai lầm của một vấn đề. Kỹ năng này  
thể hiện ở việc, trước khi GQVĐ, người học phải tìm  
hiểu kỹ vấn đề cần giải quyết về các nội dung cụ thể  
như: Vấn đề yêu cầu giải quyết thuộc lĩnh vực gì?  
Nằm ở nội dung nào của học phần? Cần đọc tài liệu  
nào để giải quyết, …  
+ Dữ liệu sơ cấp: Thông qua kết quả phiếu điều  
tra một số SV năm thứ nhất đối với bảng câu hỏi đề  
xuất.  
- Phương pháp nghiên cứu: Bài viết nghiên cứu  
dựa trên phương pháp phân tích, tổng hợp các tài liệu  
có liên quan đến nội dung nghiên cứu. Ngoài ra, để  
đánh giá được thực trạng và nguyên nhân kỹ năng  
GQVĐ của SV năm thứ nhất, tác giả đã sử dụng  
phương pháp điều tra thông qua các bảng hỏi đối với  
một số SV năm thứ nhất, từ đó đề xuất các biện pháp  
khả thi để áp dụng trong thực tế.  
Thứ hai, kỹ năng phân tích vấn đề. Thường  
những kỹ năng đơn giản nhất lại là những kỹ năng  
cơ bản nhất. Người học thường quan tâm đến sự phân  
biệt rạch ròi mọi khái niệm, mọi góc cạnh ý nghĩa  
của vấn đề. Người học có thể dùng phép đồng nghĩa  
để xác định ý nghĩa trung tâm của khái niệm, phép  
trái nghĩa để phân biệt vỏ bề ngoài của khái niệm.  
Kỹ năng này được hiểu là SV vận dụng những kiến  
thức, kỹ năng, kinh nghiệm bản thân vào việc phân  
tích các mâu thuẫn của vấn đề như phân tích kiến  
thức, phân tích những đối tượng liên quan đến vấn  
đề, những khó khăn, thuận lợi, những mục tiêu cần  
phải đạt được, những nguồn trợ giúp để thực hiện  
các mục tiêu đề ra.  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Cơ sở lý luận về kỹ năng GQVĐ của SV  
3.1.1. Khái niệm kỹ năng GQVĐ  
Theo tổ chức UNESCO, kỹ năng GQVĐ là một  
kỹ năng sống, thuộc nhóm kỹ năng chung gồm: Kỹ  
năng nhận thức, kỹ năng cảm xúc, kỹ năng xã hội.  
Còn theo Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF)  
thì kỹ năng GQVĐ là một kỹ năng sống gồm các kỹ  
năng: Phân tích vấn đề, nhận thức vấn đề, ra quyết  
định, ứng xử, GQVĐ…  
Thứ ba, kỹ năng chuyển dịch. Một trong những  
khó khăn của quá trình nhận thức là kỹ năng suy lý  
hay lý giải được vận dụng để chuyển dịch một thông  
tin từ người này đến người khác, hoặc từ ngôn ngữ  
này sang ngôn ngữ khác. Người học phải chuyển tải  
được nội dung của thông tin nói gì, hàm chứa điều  
Trong khi đó, theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn  
và Lê Hải Yến “Kỹ năng GQVĐ (Problem solving  
skills) là một kỹ năng tổng hợp của quá trình nhìn  
nhận, đánh giá và phân tích một vấn đề, một hiện  
22  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 6, 2021, 21-28  
gì, thừa nhận điều gì. Người học phải làm một phép  
Theo R.Legendre, chu trình GQVĐ gồm 6 bước:  
(Nguyễn Cảnh Toàn và Lê Hải Yến, 2011, tr. 214)  
biến đổi hình thức thông tin mà vẫn giữ nguyên đúng  
nội hàm ý nghĩa nguyên thủy của nó. Kỹ năng này  
thể hiện ở việc SV phải chuyển dịch đúng nội dung,  
yêu cầu của các vấn đề mà giảng viên (GV) đặt ra  
trong quá trình học tập để tránh tình trạng giải quyết  
sai hoặc lạc đề so với yêu cầu của GV.  
- Bước xác định vấn đề;  
- Bước thu thập và phân tích tổng hợp thông tin;  
- Bước tìm giải pháp;  
- Bước xây dựng một kế hoạch hành động;  
- Bước áp dụng kế hoạch hành động;  
- Bước đánh giá sự can thiệp.  
Thứ tư, kỹ năng suy lý hay lập luận. Mọi hành  
động của con người dù cố ý hay vô ý đều liên quan  
đến tư duy. Tuy nhiên, tiêu chí logic của tư duy có  
giá trị ở mức độ nào còn tùy thuộc vào khả năng lập  
luận (suy lý). Suy lý có các cấp độ khác nhau từ đơn  
giản đến phức tạp, từ một bước đến nhiều bước. Kỹ  
3.2. Thực trạng kỹ năng GQVĐ của SV năm  
thứ nhất tại Trường Đại học Tiền Giang  
Để tìm hiểu về vấn đề này, tác giả đã tiến hành  
khảo sát ngẫu nhiên 120 SV năm thứ nhất tại Trường  
năng suy lý có vai trò quan trọng trong GQVĐ. Kỹ Đại học Tiền Giang ở hai nội dung:  
năng này hướng SV đến việc dùng ngôn ngữ (lời nói,  
chữ viết và phi ngôn ngữ) thể hiện, chia sẻ và thuyết  
phục về tính độc đáo, hiệu quả của giải pháp GQVĐ.  
Thứ nhất, đánh giá của SV về vai trò của kỹ  
năng GQVĐ.  
Bảng 1. Kết quả khảo sát của SV Trường Đại học  
Tiền Giang về vai trò của kỹ năng GQVĐ trong  
hoạt động học tập  
Thứ năm, kỹ năng ngoại suy. Ngoại suy là suy  
luận, trừu tượng để giải quyết các vấn đề cụ thể. Đối  
với học phần Pháp luật đại cương, có rất nhiều các  
câu hỏi, bài tập trong quá trình học tập mà SV phải  
vận dụng khả năng ngoại suy để trừu tượng hóa, rút  
ra những suy lý hợp thức, các con đường để có thể  
trả lời được các câu hỏi và làm được các bài tập. Bản  
chất của ngoại suy là phải suy luận, phải trừu tượng  
hóa cao để quay lại giải quyết những vấn đề cụ thể,  
là từ những luận đề phải giải quyết, SV phải tìm các  
luận chứng hay các luận cứ để biện minh cho các luận  
SV  
TT  
Mức độ quan trọng  
Số lượng Tỷ lệ %  
1
2
3
4
5
Hoàn toàn không quan trọng  
Không quan trọng  
Bình thường  
2
1,6  
0,8  
1
35  
59  
23  
29,1  
49,2  
19,3  
Quan trọng  
Rất quan trọng  
Kết quả thống kê cho thấy SV có nhận thức  
chứng của mình. Nếu SV không nắm vững các khái chưa tốt về tầm quan trọng của kỹ năng GQVĐ.  
Có đến 35 (29,1%) SV đánh giá kỹ năng GQVĐ là  
“bình thường”, chỉ có 59 (49,2%) SV lựa chọn “quan  
trọng”, mức “rất quan trọng” chỉ được 23 (19,3%)  
SV quan tâm. Điều này thể hiện SV năm thứ nhất  
nhìn nhận và đánh giá chưa cao về kỹ năng GQVĐ,  
một trong những kỹ năng cần thiết trong hoạt động  
học tập của họ.  
niệm, không hiểu bản chất, không tìm đủ các luận cứ,  
không dùng ngoại suy thì không thể đưa ra các luận  
chứng để GQVĐ trong hoạt động học tập.  
3.1.3. Chu trình GQVĐ  
Chu trình GQVĐ  
(R.Legendre)  
(1)  
Thứ hai, đánh giá thực trạng kỹ năng GQVĐ  
Xác định vấn đề  
(6)  
(2)  
trong hoạt động học tập của SV năm thứ nhất.  
Thu thập và phân tích  
tổng hợp thông tin  
Đánh giá sự can thiệp  
Qua bảng thống kê cho thấy kỹ năng GQVĐ  
trong học tập của SV năm thứ nhất chưa cao. Có tới  
45 (37,5%) SV chưa làm được việc phát hiện và nêu  
vấn đề trong học tập; 42 (35%) SV biết xác định các  
kiến thức cần thiết cho việc GQVĐ ở mức độ khá.  
Trong khi đó, chỉ có 25 SV thường xuyên biết tìm hiểu  
kiến thức mới có liên quan; 40 (33,3%) SV thường  
xuyên biết đề xuất các ý tưởng giả thuyết.  
(5)  
(3)  
Áp dụng kế hoạch  
hành động  
Tìm giải pháp  
(4)  
Xây dựng kế hoạch  
hành động  
Hình 1. Chu trình GQVĐ  
23  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Bảng 2. Kết quả khảo sát của SV Trường Đại học Tiền Giang về thực trạng kỹ năng GQVĐ  
Số phiếu đánh giá  
STT  
Nội dung đánh giá  
Tốt  
Khá  
Chưa tốt  
(Thường xuyên) (Thỉnh thoảng)  
(Chưa làm được)  
30  
25%  
40  
45  
37,5%  
35  
45  
37,5%  
45  
Biết phát hiện vấn đề và nêu vấn đề trong  
học tập  
1
2
3
4
5
6
7
Biết đề xuất các ý tưởng của giả thuyết  
33,3%  
40  
29,2%  
42  
37,5%  
38  
Biết xác định các kiến thức cần thiết cho  
việc GQVĐ  
33%  
25  
35%  
65  
32%  
30  
Biết tìm hiểu kiến thức mới có liên quan  
Biết lựa chọn giải pháp tốt GQVĐ  
21%  
30  
54%  
45  
25%  
45  
25%  
34  
37,5%  
36  
37,5%  
50  
Biết kiểm tra, đánh giá giải pháp phát  
triển vấn đề  
29%  
25  
30%  
40  
41%  
55  
Biết trình bày kết quả  
21 %  
33,3%  
45,7%  
Một phần do cách dạy truyền thống “thầy pháp dạy học GQVĐ ngay từ đầu năm thứ nhất.  
giảng, trò viết” ở cấp trung học phổ thông đã được Điều này sẽ làm các em bối rối trong việc lĩnh hội  
kiến thức, từ đó dẫn đến việc các em dễ dàng chán  
nản. Các em không biết mình sẽ giải quyết như thế  
nào, dựa vào yếu tố nào để mình lựa chọn phương  
pháp GQVĐ tối ưu nhất. Điều này khẳng định việc  
phát triển kỹ năng GQVĐ cho SV năm thứ nhất là  
vô cùng cần thiết nhằm giúp các em có kỹ năng  
để GQVĐ khi vào chương trình của các học phần  
chuyên ngành.  
hình thành quá lâu. Thầy cô ở cấp phổ thông chưa  
thật sự tạo ra mội trường để các em có thể động  
não, suy nghĩ và tìm cách GQVĐ. Hầu hết, thầy cô  
đều đưa ra sẵn tình huống hay phương pháp giải  
quyết các tình huống và các em chỉ cần nghe, hiểu,  
ghi chép và làm theo mà không cần phải tư duy hay  
động não để tìm cách giải quyết. Rõ ràng, điều này  
gây khó khăn cho cả thầy và trò ngay khi bước vào  
giảng đường đại học. Đối với trò sẽ gặp khó khăn  
khi một số GV ở bậc đại học đã áp dụng phương  
3.3. Nguyên nhân của thực trạng GQVĐ của  
SV năm thứ nhất, Trường Đại học Tiền Giang  
Bảng 3. Kết quả khảo sát của SV Trường Đại học Tiền Giang về nguyên nhân của thực trạng  
GQVĐ của SV năm thứ nhất  
Số phiếu đánh giá  
STT Nội dung đánh giá  
Không đồng ý  
Đồng ý  
30  
Hoàn toàn đồng ý  
30  
25%  
35  
60  
50%  
50  
Chưa nắm vững kiến thức và phương pháp  
học tập  
1
2
3
25%  
45  
Quen với cách học tập ở phổ thông  
29,2%  
30  
37,5%  
30  
41,3%  
60  
Thiếu kiến thức và kỹ năng GQVĐ  
25%  
22  
25%  
43  
50%  
55  
Bản thân chưa được trang bị các kỹ năng cần  
thiết (kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự học, kỹ  
năng làm việc nhóm…)  
4
18,4%  
35,8%  
45,8%  
24  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 6, 2021, 21-28  
70  
58,3%  
30  
30  
25%  
50  
20  
16,7%  
40  
5
6
Bản thân chưa tích cực trong việc GQVĐ  
Thiếu tự tin, ngại ngùng khi trình bày  
phương án GQVĐ  
25%  
40  
41,7%  
20  
33,3%  
60  
7
Bản thân không hứng thú với việc GQVĐ  
Các vấn đề GV đặt ra chưa sinh động  
33,3%  
30  
16,7%  
50  
50 %  
40  
8
25%  
60  
41,7%  
25  
33,3%  
35  
GV không nhận xét, đánh giá kết quả GQVĐ  
của SV  
9
50%  
40  
20,8%  
20  
29,2%  
60  
10  
Vấn đề GV đặt ra chưa rõ ràng, cụ thể  
33,3%  
16,4%  
50%  
Thông qua bảng thống kê có thể thấy nguyên việc GV không nhận xét, đánh giá kết quả GQVĐ  
nhân của thực trạng GQVĐ nêu trên một phần từ của SV hoặc các vấn đề GV đặt ra chưa rõ ràng, cụ  
chính bản thân của SV. Cụ thể: có tới 50 SV (41,3%)  
hoàn toàn đồng ý việc “quen với cách học tập ở phổ  
thông” có ảnh hưởng đến kỹ năng GQVĐ. Kết quả này  
cho thấy phương pháp học tập ở cấp phổ thông khác  
nhiều so với bậc đại học nên SV năm thứ nhất chưa  
kịp thích nghi với những phương pháp học tập mới.  
thể cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự tích cực trong  
quá trình GQVĐ của SV. Từ những nguyên nhân trên  
rất cần những biện pháp từ GV và SV để nâng cao  
kỹ năng GQVĐ của SV năm thứ nhất, Trường Đại  
học Tiền Giang.  
3.4. Các biện pháp phát triển kỹ năng GQVĐ  
cho SV năm thứ nhất Trường Đại học Tiền Giang  
thông qua học phần Pháp luật đại cương  
Nguyên nhân tiếp theo là “chưa nắm vững kiến  
thức và phương pháp học tập” và “thiếu kiến thức  
và kỹ năng GQVĐ” đều có 60 (50%) SV hoàn toàn  
đồng ý. Như vậy về mặt chủ quan, do SV chưa có  
phương pháp học tập hiệu quả, không có đủ những  
kiến thức, kỹ năng để GQVĐ trong hoạt động học  
tập, nên việc GQVĐ, khắc phục các khó khăn trong  
học tập còn chưa được tốt.  
Kỹ năng GQVĐ trong hoạt động học tập của SV  
năm thứ nhất là khả năng thực hiện đúng các bước,  
các thao tác của quá trình GQVĐ để giải quyết có  
kết quả và hợp lý những vấn đề trong hoạt động học  
tập. Tác động đến kỹ năng GQVĐ của SV năm thứ  
nhất không chỉ có những yếu tố từ phía GV mà còn  
cả những yếu tố xuất phát từ chính bản thân SV. Vì  
vậy, để phát triển kỹ năng GQVĐ trong hoạt động  
học tập của SV năm thứ nhất, tác giả chú trọng đến  
hai nhóm biện pháp sau:  
Tiếp theo là nguyên nhân như sự e ngại, rụt rè,  
thiếu tự tin khi trình bày phương án GQVĐ, bản thân  
SV không được trang bị các kỹ năng cần thiết cũng  
như thiếu sự tích cực, chủ động, nỗ lực khi GQVĐ  
nảy sinh trong học tập. Những nguyên nhân đó đều  
có ảnh hưởng không nhỏ đến kỹ năng GQVĐ của SV.  
Yếu tố “bản thân không hứng thú với việc GQVĐ”  
cũng ảnh hưởng đến kỹ năng GQVĐ của SV khi có  
tới 60 (50%) SV hoàn toàn đồng ý. Vì vậy, việc tạo  
hứng thú trong quá trình GQVĐ cũng rất cần thiết để  
3.4.1. Đối với GV  
Thứ nhất, GV phải nâng cao nhận thức và rèn  
luyện kỹ năng GQVĐ cho SV.  
Điều này thể hiện ở việc, từng nội dung giảng  
dạy, GV phải xây dựng các vấn đề cụ thể để SV giải  
thúc đẩy SV tích cực tham gia vào quá trình GQVĐ quyết. Nội dung vấn đề có thể ở mức độ từ dễ đến  
trong hoạt động học tập.  
khó để SV làm quen, sau đó từ từ tiếp cận đối với  
phương pháp này. Để làm được điều này, GV phải đầu  
tư thời gian để xây dựng các vấn đề phù hợp với nội  
dung giảng dạy. Khi mới tiếp cận GQVĐ, GV phải  
hướng dẫn cụ thể từng bước giải quyết. Sau khi SV  
giải quyết xong, GV phải đánh giá, nhận xét, góp ý  
để SV giải quyết tốt các vấn đề tương tự. Tránh tình  
Qua bảng thống kê trên chúng ta thấy thực trạng  
kỹ năng GQVĐ của SV một phần xuất phát nguyên  
nhân từ GV. Có 50 (41,7%) SV trả lời đồng ý và 40  
(33,3%) SV trả lời hoàn toàn đồng ý các vấn đề GV  
đặt ra chưa sinh động là một trong những nguyên  
nhân của việc hạn chế khả năng GQVĐ. Ngoài ra,  
25  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
trạng GV không động viên, góp ý đối với những vấn vấn đề và yêu cầu nhiều SV giải quyết. Sau đó tổng  
kết lại những nội dung giải quyết của SV và đưa ra  
kết luận chính xác cho nội dung kiến thức đó. Ví dụ:  
Trước khi tìm hiểu khái niệm “tội phạm”’, GV nên  
đặt vấn đề: Ai có thể là tội phạm? Tội phạm phải là  
người bao nhiêu tuổi? Nếu là tội phạm thì phải thực  
hiện những hành vi như thế nào?.... GV có thể nêu  
một vài tình huống trong thực tiễn về tội phạm, sau  
đó, hướng dẫn SV suy lý, phán đoán và nhận xét. Nếu  
SV chưa thể giải quyết chính xác vấn đề, GV có thể  
tiếp tục gợi mở cho SV bằng các kiến thức liên quan  
để có thể giải quyết được các vấn đề đã nêu. Sau đó,  
GV rút ra những nhận xét, kết luận từ những vấn đề đã  
nêu. Thông qua phương pháp này, SV không những  
lĩnh hội được nội dung kiến thức mà còn rèn luyện  
được kỹ năng GQVĐ của mình.  
đề SV giải quyết, như thế sẽ không tạo được động  
lực để SV giải quyết các vấn đề tiếp theo.  
Ngoài ra, để nâng cao khả năng GQVĐ, GV phải  
khuyến khích SV mạnh dạn, chủ động giao tiếp, trao  
đổi, bày tỏ những suy nghĩ hay những thắc mắc trong  
học tập, trong cuộc sống với GV, cố vấn học tập, cũng  
như bạn bè. Để rèn luyện được sự mạnh dạn, tự tin  
của SV thì trong quá trình học tập, GV nên thường  
xuyên gọi SV đứng lên trả lời các vấn đề GV đặt ra,  
thường xuyên trao đổi, trò chuyện với SV các vấn đề  
học tập hoặc cuộc sống.  
Thứ hai, GV phải tạo được sự hứng thú trong  
quá trình GQVĐ của SV.  
Điều này thể hiện ở việc khi đánh giá điểm quá  
trình, GV nên lấy kết quả quá trình GQVĐ của SV  
là một cột điểm trong tổng số điểm quá trình của học  
phần để SV có động lực và ý thức GQVĐ. Nếu GV  
không đánh giá quá trình GQVĐ thì sẽ không tạo động  
lực để SV tích cực trong hoạt động GQVĐ.  
- Phương pháp sử dụng tình huống có vấn đề:  
Đối với phương pháp này, GV nêu ra các tình huống  
có liên quan đến nội dung bài giảng và yêu cầu SV  
vận dụng các quy định của pháp luật để giải quyết.  
Đây là phương pháp mà nhiều GV giảng dạy pháp  
luật đại cương áp dụng. Trong cuộc sống, có rất  
nhiều tình huống phát sinh trên nhiều lĩnh vực phải  
giải quyết bằng pháp luật. Vì vậy, nếu SV vận dụng  
các quy định của pháp luật giải quyết tốt nhiều vấn  
đề pháp lý trong quá trình học sẽ hình thành kỹ năng  
GQVĐ chuyên ngành thành thạo, qua đó thực hiện  
tốt công việc chuyên môn khi tốt nghiệp. Để phương  
pháp này đạt được hiệu quả, các tình huống GV đặt ra  
phải là những tình huống sát với nội dung kiến thức,  
gắn với thực tiễn cuộc sống và phải mang tính thời  
sự để tạo sự kích thích đối với SV.  
Ngoài ra, các câu hỏi, các vấn đề yêu cầu SV  
giải quyết phải là những vấn đề gắn với thực tiễn nảy  
sinh trong cuộc sống, từ đó sẽ tạo kích thích, động  
lực để SV giải quyết. Học phần Pháp luật đại cương  
là học phần có sự gắn kết giữa lý thuyết và thực tiễn  
rất phong phú, sinh động. Vì vậy, nếu GV khai thác  
được lợi thế này sẽ tạo được sự phấn khích của SV  
GQVĐ cũng như phấn khích trong quá trình học tập.  
Cụ thể, đối với nội dung Luật Hình sự, GV nên xây  
dựng vấn đề là những vụ án điển hình vừa xảy ra hàng  
ngày để yêu cầu SV phân tích, giải quyết. Đối với nội  
dung Luật Hôn nhân gia đình, vấn đề là những vấn  
đề về kết hôn, những vụ án về tranh chấp tài sản, con  
cái khi ly hôn,….  
GV có thể chú trọng tới việc xây dựng, sử dụng  
bài tập tình huống đáp ứng được các yêu cầu sau:  
- Tình huống được xây dựng theo trình tự từ  
dễ đến khó.  
Thứ ba, GV phải kết hợp nhiều phương pháp  
- Hạn chế và loại bỏ dần những tình huống có  
nội dung nghèo nàn, xa rời hoặc không phù hợp với  
thực tiễn.  
trong quá trình GQVĐ để phát triển kỹ năng GQVĐ.  
Khi yêu cầu SV GQVĐ, GV có thể sử dụng nhiều  
phương pháp khác nhau. Để phát triển kỹ năng GQVĐ  
của SV đối với học phần Pháp luật đại cương, GV có  
thể sử dụng các phương pháp sau:  
- Tăng cường xây dựng và sử dụng đa dạng hóa  
các loại bài tập trắc nghiệm khách quan với nhiều  
hình thức: Bài tập kiểm tra nhận thức, kỹ năng, khả  
năng vận dụng...  
- Phương pháp đàm thoại phát hiện: Đây là  
phương pháp trao đổi giữa GV và SV thông qua hệ  
thống câu hỏi mà GV nêu ra để SV suy lý, phán đoán,  
tự đi đến kết luận, qua đó lĩnh hội các kiến thức. Đối  
với phương pháp này, GV có thể sử dụng trong quá  
trình thuyết giảng của mình. Đối với mỗi nội dung  
kiến thức, trước khi truyền đạt cho SV, GV nên đặt  
- Chú trọng xây dựng những tình huống có nội  
dung phong phú, sâu sắc, có khả năng vận dụng vào  
thực tế nhằm phát triển kỹ năng GQVĐ.  
- Phương pháp tham gia các hoạt động ngoại  
khóa: Đối với phương pháp này, GV sẽ nêu ra các  
26  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 6, 2021, 21-28  
vấn đề yêu cầu SV phải thực hiện một số hoạt động  
Trong quá trình học, để hiểu rõ vấn đề, phân  
ngoại khóa để giải quyết được vấn đề. Các hoạt động tích đào sâu và nắm vững kiến thức, SV cần luôn tự  
ngoại khóa thường là việc SV sẽ tham quan trụ sở các  
cơ quan nhà nước, thực hiện một hoạt động pháp luật  
cụ thể hoặc dự phiên toà xét xử các vụ án... Sau khi  
có các trải nghiệm cụ thể, SV sẽ dựa vào lý luận kết  
hợp với thực tiễn để GQVĐ GV đặt ra. Phương pháp  
giảng dạy thông qua việc tổ chức những hoạt động  
ngoại khóa giúp SV trao đổi và tham gia các tổ chức  
xã hội bên ngoài nhằm hỗ trợ tốt nhất cho việc học  
tập lý thuyết trên lớp cũng như nâng cao kỹ năng giải  
quyết các vấn đề thực tiễn phát sinh khi tốt nghiệp.  
đặt ra các câu hỏi, tự trả lời rồi trao đổi với bạn bè  
hoặc ghi nhận lại những câu hỏi mà mình chưa giải  
đáp được. Trong giờ học, SV không chỉ tập trung  
lắng nghe mà còn phải biết phát huy vốn kiến thức  
của mình để xây dựng bài học mới; mạnh dạn nêu  
những vấn đề từ thực tiễn, những thắc mắc hoặc trao  
đổi mở rộng bài học với GV, chủ động nêu ý kiến cá  
nhân về vụ việc, vụ án nào đó trong khi tìm hiểu. Đối  
với các tình huống mẫu GV đặt ra, SV phải luôn biết  
thắc mắc: Tại sao tình huống lại giải quyết như thế?  
Dựa vào cơ sở pháp lý nào?... Việc tự đặt câu hỏi và  
tự tìm cách trả lời có ý nghĩa trong việc rèn luyện tư  
duy và kỹ năng GQVĐ của SV.  
3.4.2. Đối với SV  
Để giải quyết tốt các vấn đề trong hoạt động  
học tập đối với học phần Pháp luật đại cương, SV  
cần thực hiện tốt các việc sau:  
Thứ năm, để giải quyết tốt các vấn đề trong  
quá trình học tập học phần Pháp luật đại cương cũng  
như các học phần chuyên ngành, SV cần thực hiện  
tốt các bước sau:  
Thứ nhất, SV cần nhận thức được tầm quan trọng  
của kỹ năng GQVĐ: Kỹ năng GQVĐ là một trong  
những kỹ năng vô cùng hiệu quả để người học phát  
huy thêm kỹ năng phân tích và phán đoán các tình  
huống sẽ và đang xảy ra. Người học càng rèn luyện  
kỹ năng này, không những càng đem lại nhiều tri thức  
mà còn đúc kết cho bản thân nhiều kinh nghiệm quý  
báu sau mỗi lần giải quyết được một vấn đề xảy ra  
trong học tập cũng như trong cuộc sống.  
- Bước 1. Xác định vấn đề.  
Để giải quyết chính xác vấn đề, việc đầu tiên là  
SV phải xác định được vấn đề thuộc lĩnh vực nào?  
Cần đọc văn bản nào để giải quyết? Đây là bước rất  
quan trọng để SV không bị lạc đề, có ý nghĩa là tiền  
đề cho các bước tiếp theo.  
Thứ hai, SV phải độc lập và tự chủ trong việc  
GQVĐ. Khi GV đưa ra một tình huống có vấn đề hay  
một ý tưởng cần tìm giải pháp thì đòi hỏi bản thân  
SV cần có thái độ nghiêm túc, hợp tác để tìm ra biện  
pháp GQVĐ. Ngoài ra, SV nên tự chủ để tạo ra một  
tình huống vấn đề và đề xuất với GV. Từ đó, dưới  
sự hướng dẫn của GV cùng nhau tìm hiểu và GQVĐ  
đó. Việc chủ động và độc lập suy nghĩ trong việc học  
được xem là những phẩm chất cần có của người học  
được đào tạo ở trình độ đại học.  
- Bước 2: Thu thập dữ kiện đầy đủ của vấn đề.  
+ SV phải điều tra lỹ lưỡng những dữ kiện liên  
quan đến tình huống vấn đề;  
+ Phỏng vấn đương sự hoặc những người có  
liên quan;  
+ Thu thập những kinh nghiệm GQVĐ tương tự.  
- Bước 3: Phân tích.  
SV sẽ phân tích các dữ liệu của vấn đề. Để làm  
tốt việc này, SV phải đọc kỹ các dữ liệu của vấn đề,  
từ đó phân tích và phân loại vấn đề theo dân sự, hình  
sự, hành chính, hôn nhân và gia đình,...  
Thứ ba, SV phải nắm vững kiến thức của  
học phần.  
Mỗi nội dung của học phần Pháp luật đại cương  
có rất nhiều kiến thức, câu hỏi và bài tập được đưa  
ra để đánh giá và đo đếm mức độ nắm vững các kiến  
thức của SV. Vì vậy, trong quá trình học, SV phải tập  
trung lắng nghe, biết cách ghi chép, đọc hiểu, phải  
tích cực tham gia các hoạt động thảo luận, nghiên  
cứu, tự học mà GV yêu cầu để từ đó nắm vững các  
kiến thức cốt lõi của từng nội dung trong học phần.  
- Bước 4: Tổng hợp.  
+ Tổng hợp nhiều phương án cho GQVĐ;  
+ Khái quát hóa, rút ra các kết luận để GQVĐ;  
+ Vạch ra những giải pháp cụ thể, những điều  
kiện cần và đủ để giải quyết đúng đắn vấn đề.  
- Bước 5: Áp dụng kế hoạch hành động.  
Giai đoạn này là giai đoạn SV sẽ áp dụng việc  
GQVĐ trong hoạt động thực tiễn. Để làm tốt bước  
này, SV sẽ đặt các câu hỏi và tìm phương án trả lời  
Thứ tư, SV phải luôn tự hỏi, tự thắc mắc để tìm  
thông tin trả lời.  
27  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Tài liệu tham khảo  
hiệu quả: Làm gì? Làm thế nào? Ai làm? Thời gian  
thực hiện và kết thúc? Những điều kiện cần có để  
thực hiện?,…..  
Đặng Xuân Hải. (2013). Kỹ thuật dạy học trong đào  
tạo theo học chế tín chỉ. Hà Nội: NXB Bách  
khoa Hà Nội.  
Tóm lại, để GQVĐ, SV phải huy động trí nhớ,  
tri giác, lý luận, khái niệm hóa, ngôn ngữ, đồng thời  
sử dụng cả cảm xúc, động cơ, niềm tin ở năng lực  
bản thân và khả năng kiểm soát được tình thế để giải  
quyết tốt các vấn đề trong học tập và thực tiễn.  
Huỳnh Văn Sơn. (2012). Phát triển kỹ năng mềm cho  
SV các trường đại học sư phạm. Đề tài Khoa học  
và công nghệ cấp Bộ, B2012.19.05, Trường Đại  
học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.  
4. Kết luận  
Lại Thế Luyện. (2011). Kỹ năng GQVĐ và ra quyết  
định. Thành phố Hồ Chí Minh: NXB Tổng hợp  
Thành phố Hồ Chí Minh.  
Phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao năng  
lực GQVĐ cho SV đang được các cơ sở đào tạo đại  
học quan tâm, trong đó có Trường Đại học Tiền  
Giang. Vì vậy, GV ngoài việc cung cấp các kiến  
thức chuyên môn thì việc lồng ghép các kỹ năng  
nhận diện, phát hiện, phân tích, kết luận vấn đề và  
trình bày kết quả là hết sức cần thiết. Để hình thành  
năng lực GQVĐ cho SV, GV cần chủ động đổi mới  
phương pháp giảng dạy, phát triển năng lực GQVĐ  
của mỗi người học, định hướng thái độ tích cực,  
mục đích học tập đúng đắn từ chính mỗi SV. Chính  
những điều đó, sẽ nâng cao năng lực GQVĐ của  
SV nhằm trang bị cho các em nhận thức, phương  
pháp và cách GQVĐ đối với các học phần chuyên  
ngành cũng như giải quyết tốt các vấn đề phát sinh  
trong cuộc sống.  
Nguyễn Cảnh Toàn, Lê Hải Yến. (2011). Xã hội học  
tập và học tập suốt đời và các kỹ năng tự học.  
Hà Nội: NXB Dân Trí.  
Nguyễn Quang Uẩn. (2008). Khái niệm kỹ năng sống  
xét theo góc độ tâm lý học. Tạp chí Tâm lý học,  
Số tháng 6/2008, 1-4.  
Nguyễn Thị Kim Chung. (2018). Một số biện pháp  
phát triển năng lực GQVĐ cho SV Trường Cao  
đẳng Sư phạm Nghệ An. Tạp chí Giáo dục, Số  
tháng 6/2018, 76-80.  
Trần Lương. (2014). Phát triển kỹ năng GQVĐ cho  
SV Trường Đại học Cần Thơ. Tạp chí Khoa học  
Trường Đại học Cần Thơ, Số 8/2014, 42-53.  
28  
pdf 8 trang Thùy Anh 13500 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề cho sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Tiền Giang thông qua học phần Pháp luật đại cương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphat_trien_ky_nang_giai_quyet_van_de_cho_sinh_vien_nam_thu_n.pdf