Hoàn thiện quy định về hoạt động của kiểm sát viên trong bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA KIỂM SÁT VIÊN
TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015
ĐẶNG VĂN THỰC*
Kiểm sát viên (KSV) là chủ thể quan trọng, trực tiếp thực hiện hoạt động thực hành quyền công
tố (THQCT) và kiểm sát hoạt động tư pháp (KSHĐTP) cũng như tham gia vào tất cả quá trình
giải quyết vụ án hình sự. Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 về cơ bản đã có những sửa
đổi, bổ sung nhưng vẫn còn một số quy định hạn chế việc thực hiện hoạt động của KSV. Do đó,
bài viết phân tích, đánh giá các quy định chưa phù hợp của BLTTHS năm 2015 để đưa ra các kiến
nghị sửa đổi, bổ sung nhằm góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nói
chung và của KSV nói riêng.
Từ khóa: Kiểm sát viên, thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát.
Ngày nhận bài: 11/4/2021; Biên tập xong: 14/4/2021; Duyệt đăng: 14/4/2021
As an important subject, Prosecutor directly prosecutes and supervises over judicial
activities as well as participates in all criminal case seꢀlement processes. Despite its
amendments and supplements, the 2015 Criminal Procedure Code has remained a number
of regulations restricting the implementation of Prsecutor’s activities. The article analyzes
and evaluates some inappropriate provisions of the 2015 Criminal Procedure Code to make
recommendations for amendments and supplements to improve the operational efficiency of
the Procuracy generally and Prosecutor particularly.
Keywords: Prosecutor, prosecute, supervises over judicial activities, the Procuracy.
hực tiễn cho thấy, trong những năm qua, yêu cầu nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên
tòa xét xử2, nâng cao chất lượng công tố3, đẩy mạnh
việc tranh tụng tại phiên tòa4. Do đó, việc nghiên
cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định của BLTTHS
năm 2015 về hoạt động của KSV trong tố tụng
hình sự là một yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động của VKSND nói riêng, các cơ
quan tư pháp nói chung.
1. Sửa đổi, bổ sung những quy định trực
tiếp về hoạt động của Kiểm sát viên trong Bộ
luật tố tụng hình sự năm 2015
Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) đã thực
hiện tương đối tốt chức năng THQCT,
T
KSHĐTP trong tố tụng hình sự, góp phần tích
cực vào đấu tranh chống tội phạm, bảo vệ lợi ích
của xã hội, quyền tự do dân chủ của công dân.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được,
hoạt động của VKSND trong lĩnh vực này vẫn
còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu
của xã hội và công cuộc cải cách tư pháp hiện
nay, trong đó chủ yếu là do các quy định về
hoạt động của KSV trong tố tụng hình sự chưa
đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp. Các
quy định về hoạt động của KSV chưa tạo tính
chủ động cho KSV thực hiện chức năng THQCT
và KSHĐTP trong tố tụng hình sự1. Quá trình
Căn cứ vào những quy định của Hiến pháp
năm 2013 và Luật tổ chức VKSND năm 2014 về
chế độ công tác của KSV, có thể thấy KSV là một
chức danh tư pháp do Viện trưởng VKSND tối
THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật cao bổ nhiệm hoặc đề nghị Chủ tịch nước bổ
trong giai đoạn điều tra còn hạn chế, KSV chưa
tích cực bám sát quá trình điều tra nên còn xảy
ra nhiều trường hợp phải đình chỉ điều tra, trả
hồ sơ điều tra bổ sung. Quá trình THQCT và
kiểm sát xét xử ở một số vụ án của KSV còn có
vi phạm thủ tục tố tụng; việc nghiên cứu hồ sơ
chuẩn bị các tài liệu, nội dung đề cương thẩm
vấn tại phiên tòa của KSV chưa được chú trọng.
Đặc biệt, hoạt động tranh tụng của KSV với Luật
sư, người bào chữa và những người tham gia tố
tụng khác còn nhiều mặt hạn chế, chưa đáp ứng
nhiệm theo trình tự thủ tục luật định để thực
* Thạc sĩ, Phó trưởng khoa Pháp luật hình sự và
Kiểm sát hình sự, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội
2ꢀ Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ
Chính trị: “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020”- Phần II, mục 2, tiểu mục 2.2.
3ꢀ Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 01/1/2002 của Bộ
Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư
pháp trong thời gian tới”.
4ꢀ Nghị quyết số 37/NQ-QH ngày 23/11/2012 của
1ꢀ Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Quốc hội về “Công tác Phòng, chống vi phạm pháp luật
Chính trị: “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm và tội phạm, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa
2020”- Phần II, mục 2, tiểu mục 2.1.
án nhân dân và công tác thi hành án năm 2013”.
34 Khoa học Kiểm sát
Số Chuyên đề 01 - 2021
ĐẶNG VĂN THỰC
hiện chức năng THQCT và KSHĐTP. Trong quá đến hoạt động của Cơ quan điều tra. Tuy nhiên,
trình thực hiện chức năng này, KSV chịu trách những quy định này vẫn chưa thực sự tối ưu.
nhiệm trước pháp luật và Viện trưởng, Phó Viện
trưởng Viện kiểm sát. Đây là những căn cứ pháp
lý quan trọng khẳng định chức năng, nhiệm vụ
cũng như trách nhiệm của KSV trong quá trình
THQCT, KSHĐTP. Đối chiếu với các quy định
của BLTTHS năm 2015, có thể thấy các quy định
pháp luật vẫn chưa bảo đảm sự chủ động của
KSV trong việc thực hiện hai chức năng này. Vì
vậy, cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung, sửa đổi
một số nội dung cụ thể như sau:
Thứ nhất, trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, đã có nhiều trường hợp Điều tra viên hoặc
sự, cụ thể là đối với hoạt động tiếp nhận, giải Cán bộ điều tra bức cung, sử dụng nhục hình đối
quyết nguồn tin về tội phạm, BLTTHS quy định với bị can dẫn đến lời khai không khách quan,
về quyền đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh nguồn xảy ra oan sai trong giải quyết vụ án hình sự.
Hoạt động hỏi cung bị can là một biện pháp
điều tra phổ biến, thường xuyên được tiến hành
trong mọi vụ án và được quy định tại BLTTHS.
Theo quy định tại Điều 183 BLTTHS năm 2015,
trừ trường hợp KSV trực tiếp tiến hành hoạt
động điều tra hỏi cung bị can thì khi xét thấy cần
thiết, KSV cũng có thể tham gia các buổi hỏi cung
bị can do Cơ quan điều tra tiến hành. Quy định
KSV có quyền tham gia buổi hỏi cung xuất phát
từ thực tế trong quá trình giải quyết vụ án hình
tin về tội phạm của KSV đối với Cơ quan điều tra.
Yêu cầu kiểm tra, xác minh của KSV đóng vai trò
định hướng cho hoạt động giải quyết nguồn tin
về tội phạm của Cơ quan điều tra; thể hiện rõ vai
trò của VKSND trong hoạt động này, đồng thời
giúp nâng cao hiệu quả công tác tiếp nhận, phân
loại, giải quyết tin báo, tố giác hoặc kiến nghị
khởi tố. Vai trò quan trọng như vậy nhưng quy
định về hoạt động này của KSV trong BLTTHS
còn mang tính chất tùy nghi. Cụ thể, khoản 2
Điều 159 BLTTHS năm 2015 quy định KSV có
quyền đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh nhưng
chỉ trong trường hợp xét thấy cần thiết. Mặc dù
hoạt động này có ý nghĩa lớn đối với việc thực
hiện chức năng THQCT và KSHĐTP của Viện
kiểm sát nhưng việc KSV xét thấy vụ việc như
thế nào là cần thiết còn chưa thống nhất.
Vai trò quan trọng là vậy nhưng việc KSV
tham gia hoạt động hỏi cung bị can do Cơ quan
điều tra tiến hành được quy định trong BLTTHS
còn mang tính chất tùy nghi, khi “xét thấy cần
thiết”. Từ thực tiễn công tác cho thấy, cần phải
sửa đổi quy định về sự tham gia của KSV trong
hoạt động hỏi cung bị can do Cơ quan điều tra
tiến hành theo hướng quy định đây là trách
nhiệm của KSV, là một trong những nhiệm vụ
phải thực hiện trong giai đoạn điều tra vụ án hình
sự. Việc quy định KSV buộc phải tham gia buổi
hỏi cung sẽ tránh việc Điều tra viên bức cung,
dùng nhục hình hoặc mớm cung, làm sai lệch sự
thật khách quan của vụ án, đảm bảo tính khách
quan của bản cung và là chứng cứ hữu hiệu để
hỗ trợ KSV trong quá trình tranh tụng tại phiên
tòa. Ngoài ra, quy định này còn giúp nâng cao
Chính vì vậy, BLTTHS cần sửa đổi theo trách nhiệm của KSV, nắm bắt kịp thời những
hướng khi được phân công THQCT và kiểm sát thông tin, vấn đề trong quá trình hỏi cung. Cùng
hoạt động tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội với đó, sự tham gia bắt buộc của KSV trong các
phạm thì KSV phải ra yêu cầu kiểm tra xác minh buổi hỏi cung do CQĐT tiến hành giúp nâng
bằng văn bản trong mọi trường hợp mà không cao trình độ năng lực của Điều tra viên và chất
phải là “khi cần thiết”. Điều này nhằm xác định lượng bản cung vì có sự kiểm sát của KSV, đòi
đây là hoạt động bắt buộc, có tính pháp lý là hỏi Điều tra viên phải nghiên cứu kỹ lưỡng hồ sơ
“nghĩa vụ” buộc các chủ thể tiến hành tố tụng, vụ án trước khi tiến hành hỏi cung để có câu hỏi
các chủ thể tham gia tố tụng, các chủ thể có liên phù hợp, đúng trọng tâm vụ án; có chiến thuật
quan khác có nghĩa vụ phải thực hiện. Việc bổ và phương pháp hỏi hợp lý để khai thác tối đa
sung các quy định này là cần thiết để bảo đảm những thông tin liên quan đến vụ án, góp phần
cụ thể hoá quan điểm cải cách tư pháp của Đảng nâng cao chất lượng hoạt động truy tố của Viện
là “tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt kiểm sát sau này.
động điều tra, thực hiện cơ chế công tố gắn với
điều tra”.
Đồng thời, cần phải xem xét sửa đổi quy định
về sự tham gia của KSV trong hoạt động lấy lời
Thứ hai, trong giai đoạn điều tra vụ án hình khai, đặc biệt là lấy lời khai người bị nghi ngờ
sự, việc thực hiện các biện pháp điều tra theo thực hiện hành vi phạm tội, người bị tố giác, kiến
quy định của BLTTHS năm 2015 có những điều nghị khởi tố tương tự với quy định về hỏi cung
chỉnh hợp lý về quyền hạn của KSV trong việc bị can. Hoạt động lấy lời khai cũng mang tính
tiến hành, tham gia các biện pháp điều tra so với chất tương đồng với việc hỏi cung bị can; không
BLTTHS năm 2003. Quy định cụ thể như vậy đã những vậy, đây còn là hoạt động có ý nghĩa quan
giúp các chủ thể tiến hành tố tụng tránh khỏi trọng trong việc xác định người thực hiện hành vi
những chồng chéo về nhiệm vụ, quyền hạn của phạm tội để tiến hành khởi tố bị can. Hoạt động
KSV và Cơ quan điều tra, không gây ảnh hưởng này cũng rất dễ xảy ra tình trạng bức cung, nhục
Số Chuyên đề 01 - 2021
Khoa học Kiểm sát 35
HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA KIỂM SÁT VIÊN...
hình dẫn đến oan sai và bỏ lọt tội phạm. Chính
Thứ nhất, hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận,
vì vậy, sự tham gia của KSV trong hoạt động này giải quyết nguồn tin về tội phạm là đầu mối, căn
cũng vô cùng cần thiết, nhất là trong những buổi cứ đầu tiên để các cơ quan có thẩm quyền tiến
hành kiểm tra, xác minh nguồn tin, từ đó xác định
có hay không dấu hiệu tội phạm để ra quyết định
khởi tố vụ án hình sự. Vì vậy, kiểm sát các hoạt
động tiếp nhận, phân loại, giải quyết nguồn tin về
tội phạm là công tác cần được thực hiện một cách
khách quan và nghiêm ngặt theo đúng quy định
của pháp luật. Tuy nhiên, BLTTHS hiện còn rất
hạn chế về những quy định của các cơ quan hữu
quan trong vấn đề này. VKSND THQCT nhằm
bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội
phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố,
xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội,
không để lọt tội phạm và người phạm tội. Chính
vì vậy, VKS cần phải được cung cấp kịp thời và
đầy đủ tất cả các nguồn tin về tội phạm. Sau khi
VKS thụ lý, nguồn tin sẽ được chuyển đến cơ
quan có thẩm quyền giải quyết và VKS sẽ căn cứ
trên kết quả xác minh, xử lý của các cơ quan có
thẩm quyền để phân loại vi phạm, tội phạm.
Mặc dù vậy, với các quy định hiện nay tại các
điều 145, 146 và 147 BLTTHS thì VKS chưa thể
thực hiện được việc quản lý thông tin tội phạm
một cách đầy đủ và kịp thời. Khi tiếp nhận nguồn
tin về tội phạm, các cơ quan được giao tiến hành
một số hoạt động điều tra chủ động tiến hành xác
minh, giải quyết tin báo và thông báo cho VKS
trong thời gian 03 ngày kể từ khi tiếp nhận nguồn
tin về tội phạm. Quy định này cho phép cơ quan
được giao tiến hành một số hoạt động điều tra
chủ động trong việc giải quyết nguồn tin về tội
phạm, đồng thời giảm tải lượng công việc cho Cơ
quan điều tra nhưng lại dẫn đến tình trạng như:
Một số tin có dấu hiệu tội phạm nhưng các cơ
quan được giao tiến hành một số hoạt động điều
tra chuyển chậm đến Cơ quan điều tra, gây khó
khăn cho việc điều tra, xác minh tội phạm; nhiều
vụ việc có dấu hiệu tội phạm nhưng không được
kiểm tra, xác minh làm rõ kịp thời để xử lý theo
pháp luật… Cá biệt, có một số vụ việc mặc dù
kết quả kiểm tra, xác minh nguồn tin cho thấy có
dấu hiệu của tội phạm nhưng lại không ra quyết
định khởi tố vụ án hoặc chuyển cho Cơ quan
điều tra có thẩm quyền giải quyết mà tự mình
ra quyết định xử lý hành chính là có dấu hiệu bỏ
lọt tội phạm. Vì vậy, để khắc phục vướng mắc
này, cần thiết phải sửa đổi các điều 145, 146 và
147 BLTTHS năm 2015 theo hướng: Tất cả các cơ
quan, tổ chức sau khi tiếp nhận nguồn tin về tội
phạm đều phải thông báo ngay cho VKSND gần
nhất trong vòng 24 giờ. Đồng thời, Bộ luật hình
sự cũng cần xây dựng một chế tài cần thiết để xử
lấy lời khai ban đầu.
Thứ ba, bên cạnh việc hoàn thiện những quy
định của BLTTHS liên quan đến hoạt động của
KSV, cần thiết pháp điển hoá các hoạt động
THQCT và KSHĐTP trong tố tụng hình sự của
KSV hiện đang tồn tại dưới các hình thức tham
mưu, đề xuất cho Viện trưởng trong quá trình
quyết định “đóng mở vụ án” và quyết định áp
dụng các biện pháp “hạn chế quyền con người,
quyền công dân” thành những nhiệm vụ cụ thể
của KSV. Các hoạt động của KSV hiện nay đang
ở dưới dạng đề xuất, tham mưu như: Đề xuất
phê chuẩn khởi tố bị can, đề xuất phê chuẩn lệnh
tạm giam... Đây là những văn bản nghiệp vụ của
ngành Kiểm sát, thể hiện quan điểm của KSV đối
với những hoạt động tố tụng như khởi tố bị can,
tạm giam, truy tố bị can nhằm “tham mưu” cho
lãnh đạo ra quyết định. Việc lạm dụng các văn
bản mang tính chất tham mưu dẫn đến tâm lý
phụ thuộc của KSV, không chủ động với chính
kiến của mình về quan điểm giải quyết vụ án,
gây suy giảm hiệu quả công tác THQCT và kiểm
sát điều tra.
Vì vậy, thay vì quy định vấn đề ban hành văn
bản tố tụng thuộc về nhiệm vụ, quyền hạn của
Lãnh đạo Viện kiểm sát như hiện nay, cần xem
xét sửa đổi quy định của BLTTHS theo hướng:
Việc ban hành một số loại văn bản tố tụng như
phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định
truy tố, đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, kháng
nghị phúc thẩm... thuộc nhiệm vụ, quyền hạn
của KSV. KSV có trách nhiệm báo cáo với Viện
trưởng, Phó Viện trưởng và chịu trách nhiệm
trước pháp luật về quyết định của mình. Điều
này nhằm tăng trách nhiệm của KSV, đòi hỏi
KSV phải rèn luyện, nâng cao năng lực chuyên
môn của bản thân, từ đó chất lượng công tác
THQCT và KSHĐTP được đảm bảo.
2. Sửa đổi, bổ sung những quy định khác
tác động đến hoạt động của Kiểm sát viên trong
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Bên cạnh những quy định của BLTTHS liên
quan trực tiếp đến hoạt động của KSV cần xem
xét sửa đổi thì chất lượng công tác kiểm sát còn
bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khách quan, xuất
phát từ hoạt động tố tụng của các Cơ quan được
giao tiến hành hoạt động điều tra, Cơ quan điều
tra và Tòa án nhân dân trong tố tụng hình sự.
Để hiệu quả công tác kiểm sát đạt được như
mong muốn, cần thiết phải hoàn thiện đồng
bộ các quy định về hoạt động của các cơ quan
hữu quan có tác động đến công tác kiểm sát với lý các hành vi vi phạm nội dung trên, bởi việc
những quy định liên quan trực tiếp đến công xử lý tội phạm không chỉ là đúng người, đúng
tác kiểm sát.
tội, đúng pháp luật mà còn phải đáp ứng yêu cầu
36 Khoa học Kiểm sát
Số Chuyên đề 01 - 2021
ĐẶNG VĂN THỰC
“nhanh chóng, kịp thời” để hạn chế thấp nhất 14/12/2017 của Bộ Công an có biểu mẫu về áp
hậu quả có thể xảy ra tiếp theo.
dụng biện pháp Bảo lĩnh và đặt tiền để đảm bảo.
Điều này dẫn đến trong thực tế Cơ quan điều
Thứ hai, BLTTHS quy định những biện pháp
ngăn chặn hạn chế tự do thân thể của người bị tra có thể áp dụng ngay biện pháp bảo lĩnh và
giữ trong trường hợp khẩn cấp, người thực hiện
hành vi phạm tội, bị can, bị cáo tương đối chặt
chẽ nhằm mục đích bảo vệ quyền con người
họ nhưng vẫn còn bất cập, ảnh hưởng đến chất
lượng công tác kiểm sát.
đặt tiền để bảo đảm mà không cần áp dụng biện
pháp tạm giam trước đó. Quy định thiếu thực tế
và không rõ ràng của BLTTHS dẫn đến sự không
thống nhất trong áp dụng pháp luật, gây ra sự
lúng túng cho KSV trong quá trình THQCT và
kiểm sát điều tra vụ án hình sự.
Về thời hạn tạm giam để điều tra, quy định
chưa đồng nhất với thời hạn tạm giam để điều
tra làm cho việc áp dụng trên thực tế gặp những
khó khăn nhất định. Điều 173 BLTTHS năm 2015
quy định thời hạn tạm giam để điều tra (kể cả
thời hạn gia hạn) là không quá 03 tháng đối với
tội ít nghiêm trọng, 05 tháng đối với tội nghiêm
trọng, 07 tháng đối với tội rất nghiêm trọng, 16
tháng đối với tội đặc biệt nghiêm trọng. Trong
khi đó, theo quy định tại Điều 172 BLTTHS năm
2015 về thời hạn để điều tra (kể cả thời gian gia
hạn) là 04 tháng đối với tội ít nghiêm trọng, 08
tháng đối với tội nghiêm trọng, 12 tháng đối với
tội rất nghiêm trọng, 20 tháng đối với tội đặc biệt
nghiêm trọng. Như vậy, thời hạn điều tra dài hơn
thời hạn tạm giam để điều tra. Trường hợp được
tiếp tục tạm giam cho đến khi kết thúc việc điều
tra chỉ được thực hiện trong trường hợp đặc biệt,
khi không có căn cứ để hủy bỏ biện pháp tạm
giam thì Viện trưởng VKSND tối cao sẽ quyết
định tạm giam đến khi kết thúc việc điều tra. Có
nhiều trường hợp, sau khi đã thực hiện hết các
lần gia hạn thời hạn tạm giam để điều tra đến
khi hết thời hạn tạm giam thì thời hạn điều tra
vẫn còn. Tuy nhiên, do tính chất của vụ án không
thể trả tự do cho bị can hoặc có vụ án có những
bị can phạm tội ở khung hình phạt nhẹ hơn, thời
hạn tạm giam vì thế ít hơn, việc áp dụng trường
hợp đặc biệt theo khoản 6 Điều 173 BLTTHS năm
2015 thì chưa có hướng dẫn và việc áp dụng chưa
mang tính khả thi.
Thứ ba, BLTTHS cần phải quy định rõ ràng,
cụ thể hơn về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn
của KSV trong xét xử vụ án hình sự. Qua nghiên
cứu BLTTHS năm 2015 và thực tiễn xét xử các
vụ án hình sự ở nước ta cho thấy các phiên toà
hình sự thường diễn ra theo chiều hướng Hội
đồng xét xử buộc tội bị cáo thay cho KSV. Mặc
dù BLTTHS năm 2015 có nhiều chỉnh sửa, hoàn
thiện hơn BLTTHS năm 2003 nhưng vẫn còn
tồn tại nhiều quy định theo hướng này. Có thể
kể đến như quy định tại Điều 15 về trách nhiệm
chứng minh tội phạm của Tòa án; quy định tại
Điều 18 và Điều 154 về thẩm quyền khởi tố vụ
án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật quy định
để xác định và xử lý người phạm tội của Tòa án...
Để bảo đảm phân định rõ ràng chức năng
buộc tội và chức năng xét xử, cải cách thủ tục
xét xử bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét
xử, bình đẳng giữa các bên buộc tội và bên bào
chữa, cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung những
quy định sau đây:
Nghiên cứu sửa đổi quy định tại Điều 15 của
BLTTHS theo hướng:
- Tòa án nhân dân không có nghĩa vụ chứng
minh tội phạm mà chỉ có nhiệm vụ xét xử. Trách
nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về Cơ quan
điều tra và VKSND. Tòa án chỉ có trách nhiệm
xác định sự thật khách quan của vụ án trên cơ sở
các chứng cứ do các bên đưa ra tại phiên toà.
- Bãi bỏ quy đinh về thẩm quyền của Tòa án
trong việc khởi tố vụ án hình sự tại các Điều 18
và Điều 154. Trong quá trình xét xử, nếu phát
Về các biện pháp ngăn chặn không hạn chế
quyền tự do thân thể như đặt tiền để bảo đảm,
bảo lĩnh, hiện chưa được quy định cụ thể dẫn
đến việc áp dụng không thống nhất giữa các cơ
quan tố tụng. BLTTHS quy định biện pháp bảo
lĩnh và đặt tiền để bảo đảm là hai biện pháp
ngăn chặn dùng để thay thế biện pháp tạm giam hiện việc bỏ lọt tội phạm thì Tòa án kiến nghị để
nhưng trong quá trình giải quyết nhiều vụ án,
xét thấy có đủ điều kiện để áp dụng bảo lĩnh
và đặt tiền để bảo đảm thì theo quy định của
BLTTHS, Cơ quan tố tụng phải ra Lệnh tạm
giam, sau đó ra Quyết định thay đổi biện pháp
ngăn chặn sang bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm.
Thủ tục này là không cần thiết và gây lãng phí
thời gian. Mặt khác, hệ thống biểu mẫu, giấy tờ,
sổ sách trong điều tra hình sự của ngành Công an
VKSND và Cơ quan điều tra xem xét ra quyết
định khởi tố vụ án.
- Sửa đổi quy định tại các điều 298, 319 và 311
về xét xử theo hướng Tòa án chỉ xét xử những bị
cáo và những hành vi của bị cáo mà Viện kiểm
sát truy tố. Trường hợp VKSND rút quyết định
truy tố kể cả trước và trong phiên toà thì Tòa án
phải ban hành quyết định đình chỉ xét xử đối với
ban hành kèm thông tư số 61/2017/TT-BCA ngày bị cáo hoặc đối với hành vi đó./.
Số Chuyên đề 01 - 2021
Khoa học Kiểm sát 37
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện quy định về hoạt động của kiểm sát viên trong bộ luật tố tụng hình sự năm 2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hoan_thien_quy_dinh_ve_hoat_dong_cua_kiem_sat_vien_trong_bo.pdf

