Sự trở lại đáng lo ngại của một học thuyết lỗi thời

THỰC TIễN PHÁP LUẬT  
SỰ TRỞ LẠI ĐÁNG LO NGẠI  
CỦA MỘT HỌC THUYẾT LỖI THỜI  
NGUYễN QUỐC VINH *  
Những tưởng quy định lỗi thơi cua Phap lênh Hơp đồng kinh tế năm 1989 (Phap lênh HĐKT) và Bộ luật Dân sư  
(BLDS) năm 1995 rằng, giao dịch do một phap nhân giao kết khi phap nhân này không (hoặc chưa) cođăng ký kinh  
doanh (ĐKKD) trong lĩnh vưc cụ thênào đosẽ bị vô hiêu, đađươc loại bỏ bởi viêc ban hành BLDS năm 2005. Nhưng,  
vơi số lương ngày càng tăng cac bản an tuyên vô hiêu hơp đồng do doanh nghiêp không ĐKKD trong thơi gian gân  
đây, (thơi điêm gân nhất mà chúng tôi đươc biết là Bản an số 2354/2009/DSPT ngày 10/12/2009 cua TAND TP. Hồ  
Chí Minh1), thì đây là sư trở lại đang lo ngại cua hiên tương tuyên vô hiêu hơp đồng do phap nhân không co ĐKKD.  
Bài viết, vì vậy, sẽ tập trung phân tích nguồn gốc học thuyết yêu câu phap nhân phải kinh doanh trong phạm vi  
ĐKKD trên thế giơi, lươc sư ap dụng quy định tại Viêt Nam và những khuyến nghị cho Tòa an và cơ quan lập phap  
Viêt Nam về vấn đề này.  
không tồn tại (như tại nước Đức) hoặc có  
phạm vi áp dụng không đáng kể (như tại nước  
Pháp)2. “Ultra” theo tiếng La-tinh có nghĩa là  
vượt quá, còn “vires” có nghĩa là thẩm quyền  
của một người3. Học thuyết ultra vires được  
áp dụng trong một số ngành luật như luật hiến  
pháp, hành chính và công ty. Tuy nhiên, học  
thuyết được áp dụng phổ biến nhất trong luật  
công ty với nghĩa là hành vi vượt quá phạm vi  
hoạt động kinh doanh của công ty mà đã được  
nêu trong văn kiện thành lập công ty (và đã  
1. Nguồn gốc của học thuyết ultra vires  
Học thuyết yêu cầu doanh nghiệp phải kinh  
doanh trong phạm vi ĐKKD hay trong văn  
kiện thành lập công ty như Điều lệ (Charter  
hay Articles of Association) hoặc Thỏa thuận  
thành lập (Memorandum of Association) được  
hiểu chung trên thế giới là học thuyết về ultra  
vires (the doctrine of ultra vires). Học thuyết  
này có nguồn gốc từ nước Anh. Tại các nước  
theo hệ thống luật lục địa, học thuyết này  
(*) TS, Giảng viên Học viện Tư pháp - Cơ sở 2, TP. Hồ Chí Minh.  
(1) Nội dung tranh chấp của vụ án là nguyên đơn giao kết hợp đồng dịch vụ (thực chất là hợp đồng ủy quyền) với bị đơn, ủy quyền cho  
bị đơn thay mặt mình giải quyết những vấn đề tồn đọng của một hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Nguyên đơn đã  
thanh toán phí dịch vụ làm nhiều đợt, tổng cộng 300.000.000 đồng cho bị đơn. Sau này, cho rằng bị đơn không hoàn thành công  
việc và không có chức năng làm dịch vụ pháp lý nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng dịch vụ. Bị  
đơn cho rằng hợp đồng dịch vụ này là hợp đồng dân sự thuần túy và mình đã thực hiện một số công việc nhất định nên yêu cầu  
Tòa án thừa nhận tính có hiệu lực của hợp đồng và nguyên đơn có nghĩa vụ thanh toán phí dịch vụ. TAND TP. Hồ Chí Minh ngày  
12/10/2009 đã tuyên: “Căn cứ Điều 7 và Điều 9, Luật Doanh nghiệp [2005] thì doanh nghiệp phải thực hiện kinh doanh ngành,  
nghề cụ thể được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong giấy chứng  
nhận ĐKKD”. Do nội dung ĐKKD của bị đơn “không có nội dung nào như hợp đồng dịch vụ đã ký” nên hợp đồng dịch vụ này là vô  
hiệu, bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn khoản phí dịch vụ đã nhận (300.000.000 đồng).  
(2) Xem Lutz-Christian Wolf trong “The Disappearance of the Ultra Vires Doctrine in Greater China: Harmonized Legislative Action or  
(simply) an Accident of History?”, Northwestern Journal of International Law and Business, 2003, tr. 635.  
(3) Xem Paul L. Davies trong cuốn sách “Principles of Modern Company Law”, Nxb. Sweet & Maxwell Ltd, 1997, tr. 202.  
7
2010  
Số 13(174) NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP  
I
I 51  
THỰC TIễN PHÁP LUẬT  
được đăng ký với cơ quan đăng ký công ty)4.  
Về lịch sử, học thuyết ultra vires được áp  
dụng đầu tiên tại Anh đối với công ty thành lập  
theo các đạo luật của Nghị viện. Các công ty  
này được thành lập nhằm phục vụ cho các nhu  
cầu thiết yếu của xã hội như giao thông vận tải,  
điện lực hay khai thác than… Trong các đạo  
luật thành lập công ty có các quy định hạn chế  
phạm vi hoạt động của công ty. Việc vi phạm  
các quy định hạn chế này được coi là hành vi  
ultra vires và giao dịch vì vậy sẽ vô hiệu5.  
Tuy nhiên, học thuyết chỉ bắt đầu được  
áp dụng phổ biến sau sự ban hành Đạo luật  
về Công ty cổ phần năm 1856 (Joint Stock  
Company Act 1856). Trước thời điểm ban  
hành đạo luật này, một công ty cổ phần tại Anh  
có tư cách và trách nhiệm giống như một công  
ty hợp danh. Đạo luật về Công ty cổ phần 1856  
được ban hành nhằm mục đích sửa đổi bản  
chất hợp danh của công ty cổ phần. Đặc tính  
vô hạn của thành viên hợp danh được chuyển  
thành đặc tính trách nhiệm hữu hạn của một cổ  
đông công ty, sao cho phù hợp với tinh thần  
của Đạo luật về Trách nhiệm hữu hạn 1855  
(Limited Liability Act 1855). Tuy nhiên, khi  
ban hành Đạo luật về Công ty cổ phần năm  
1856, các nhà lập pháp có suy nghĩ rằng, một  
khi cho phép trách nhiệm của cổ đông là hữu  
hạn thì chủ nợ của công ty sẽ không được đảm  
bảo. Bởi vì, cổ đông trong công ty có thể lạm  
dụng địa vị trách nhiệm hữu hạn để trốn tránh  
trách nhiệm cá nhân của mình6. Vì lẽ đó, để  
bảo vệ chủ nợ và cổ đông tương lai, Đạo luật  
về Công ty cổ phần 1856 có một điều khoản  
quy định rằng trong thỏa thuận thành lập công  
ty7, các cổ đông phải có điều khoản về phạm  
vi hoạt động của công ty, trong đó liệt kê các  
lĩnh vực kinh doanh của công ty8,9. Bằng cách  
này, một chủ nợ hoặc một cổ đông tương lai  
có thể tham chiếu đến điều khoản về phạm vi  
hoạt động của công ty tại thỏa thuận thành lập/  
điều lệ công ty để biết phạm vi hoạt động của  
công ty và quyết định có cho nợ hoặc đầu tư  
vào công ty hay không. Nếu công ty có hành  
vi vượt quá phạm vi hoạt động đã quy định thì  
chủ nợ hoặc cổ đông có quyền yêu cầu tòa án  
ra lệnh cho công ty chấm dứt hành vi vượt quá  
thẩm quyền hoặc yêu cầu giải thể công ty. Đối  
với giao dịch vượt quá thẩm quyền đã giao kết  
với bên thứ ba, cổ đông hoặc chủ nợ có quyền  
yêu cầu tòa án tuyên vô hiệu giao dịch với bên  
thứ ba. Từ thời điểm ban hành Đạo luật về  
Công ty cổ phần 1856 và qua án lệ vụ Ashbury  
Carriage Company v. Riche10, học thuyết ultra  
vires đã được áp dụng rộng khắp nước Anh11.  
Tuy nhiên, ngay từ khi áp dụng học thuyết  
ultra vires, các bên liên quan đã thấy những  
nhược điểm của học thuyết này khi nó hạn chế  
quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp.  
Những người điều hành doanh nghiệp một mặt  
luôn phải xác định xem hành vi của mình đang  
thực hiện nhân danh doanh nghiệp có nằm  
trong phạm vi hoạt động của doanh nghiệp hay  
không. Nếu không, dù đó là cơ hội kinh doanh  
có lợi nhuận cao cũng không được quyền giao  
dịch. Tất nhiên, các cổ đông có thể sửa đổi thỏa  
thuận thành lập và điều lệ tương ứng nhưng  
quy trình sửa đổi thì lâu mà cơ hội kinh doanh  
có thể đã bị mất. Đối với các bên giao dịch với  
doanh nghiệp, trước khi giao dịch cũng phải  
(4) Trong một số trường hợp khác, ultra vires là hành vi vượt quá thẩm quyền của một cơ quan chức năng của công ty như giám đốc,  
hội đồng quản trị... Tuy nhiên, do mang bản chất khác, vấn đề không được đề cập tại đây.  
(5) Xem Stephen Griffin trong “The Rise and Fall of the Ultra Vires Rule in Corporate Law”, Mountbatten Journal of Legal Studies, số 2, 1998.  
(6) Xem Stephen. tlđd.  
(7) Theo luật công ty các nước theo hệ thống thông luật, văn kiện thành lập công ty bao gồm điều lệ và thỏa thuận thành lập công ty.  
(8) Điều khoản về hoạt động của công ty cũng được nêu tại điều lệ của công ty.  
(9) Một lý do kém quan trọng hơn là để tránh hiện tượng “buôn bán đăng ký công ty”.  
(10) Xem vụ Ashbury Carriage Company v. Riche, L.R. 7 H.L. 653 (1875). Trong vụ kiện này, nguyên đơn chỉ ĐKKD là sản xuất và bán toa  
xe lửa nhưng đã ký hợp đồng đồng ý cấp vốn cho việc xây dựng hệ thống xe lửa tại Bỉ. Sau đó, công ty không thực hiện việc cấp  
vốn và bị kiện. Công ty viện lý cho việc vi phạm hợp đồng là hành vi cấp vốn vượt quá phạm vi hoạt động kinh doanh của công  
ty. Vụ kiện được đưa đến Tòa án tối cao (the House of Lords) và tòa này đã phán quyết rằng hành vi cấp vốn là hành vi ultra vires,  
vượt quá thẩm quyền của công ty và vì vậy, vô hiệu tuyệt đối (void ab initio).  
(11) Xem Davies, sđd, tr. 203.  
7
2010  
NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP Số 13(174)  
52 I  
I
THỰC TIễN PHÁP LUẬT  
tìm hiểu xem doanh nghiệp có thẩm quyền  
giao kết trong một lĩnh vực nào đó không. Tuy  
nhiên, quan trọng hơn là một bên ác ý luôn có  
thể lạm dụng học thuyết để yêu cầu vô hiệu hợp  
đồng, khiến học thuyết trở thành một cái bẫy  
cho những  
lệ phạm vi hoạt động, kinh doanh của mình  
nhưng quy định này sẽ không có hiệu lực khi  
công ty thực hiện giao dịch với bên thứ ba (dù  
bên thứ ba là ngay tình hay thậm chí ác ý)15.  
Nói cách khác, giao dịch với bên thứ ba vẫn có  
hiệu lực dù  
bên  
ngay  
giao  
này  
quá lĩnh vực  
ngành, nghề  
kinh doanh  
của công ty.  
dịch  
vượt  
tình12. Chính  
bản thân tòa  
án cũng nhận  
thấy sự bất  
hợp lý của  
quy định mà  
Qua thời gian, nội hàm của học thuyết ultra vires  
đã được thay đổi ngay tại nước nguyên xứ của học  
thuyết. Theo đó, học thuyết không có giá trị ràng  
buộc đối với bên thứ ba... Tuy nhiên, học thuyết lại  
có giá trị ràng buộc trong nội bộ công ty. Cơ quan  
điều hành của công ty khi giao kết hợp đồng phải  
chịu trách nhiệm trực tiếp với cổ đông hay chủ nợ  
cho những giao dịch vượt quá phạm vi hoạt động  
kinh doanh nêu tại văn kiện thành lập công ty.  
T
u
y
những  
án  
nhiên, mặc  
dù thừa nhận  
tính có hiệu  
lực của giao  
dịch với bên  
thứ ba, các  
nhà lập pháp  
lệ sau đó,  
tòa án bằng  
cách này hay  
cách  
giảm thiểu đi  
khác  
tính hà khắc  
của học thuyết ultra vires mà chính tòa đã áp  
Anh vẫn cho phép học thuyết có giá trị ràng  
buộc trong nội bộ công ty. Giả sử các cổ đông  
trong Thỏa thuận thành lập vẫn quy định về  
phạm vi hoạt động của công ty mà người đại  
diện cho công ty lại hành động vượt quá phạm  
vi này, gây thiệt hại cho công ty hay chủ nợ thì  
người đại diện sẽ chịu trách nhiệm trực tiếp  
với cổ đông hoặc chủ nợ công ty. Cổ đông hay  
chủ nợ khác có quyền kiện đòi người đại diện  
công ty cho hành vi ultra vires được thực hiện  
bởi người này.  
Như vậy, có thể thấy qua thời gian, nội  
hàm của học thuyết ultra vires đã được thay  
đổi ngay tại nước nguyên xứ của học thuyết.  
Theo đó, học thuyết không có giá trị ràng buộc  
đối với bên thứ ba. Hợp đồng, giao dịch với  
bên thứ ba vượt quá phạm vi hoạt động kinh  
doanh vẫn có hiệu lực. Tuy nhiên, học thuyết  
lại có giá trị ràng buộc trong nội bộ công ty.  
Cơ quan điều hành của công ty khi giao kết  
dụng13.  
Vì những lẽ này mà Anh quốc đã thực hiện  
một loạt những sửa đổi trong luật công ty của  
mình để loại bỏ ảnh hưởng bất lợi của học  
thuyết. Những sửa đổi lớn đối với học thuyết  
được thực hiện tại Đạo luật về Công ty 1948  
(Companies Act 1948), Đạo luật về Công ty  
1985 (Companies Act 1985) và Đạo luật về  
Công ty 1989 (Companies Act 1989). Trong  
đó, những sửa đổi tại Đạo luật về Công ty 1989  
được coi là triệt để nhất.  
Khoản 1 Điều 35, Đạo luật về Công ty 1989  
quy định: “Tính có hiệu lực của một hành vi  
của công ty không bị ảnh hưởng bởi lý do rằng  
công ty không có thẩm quyền thực hiện hành  
vi đó như được quy định tại thỏa thuận thành  
lập công ty”14.  
Theo quy định trên, dù công ty có hay  
không quy định tại Thỏa thuận thành lập/Điều  
(12) Xem Davies, sđd, tr. 204.  
(13) Có thể xem, ví dụ vụ A-G v Great Eastern Rly Co, 5 App Cas 473, HL (1880). Theo đó, Tòa án tối cao phán quyết rằng, ngoài những  
lĩnh vực kinh doanh đã được liệt kê cụ thể tại thỏa thuận thành lập thì những lĩnh vực bổ trợ hoặc liên quan đến lĩnh vực chính  
này cũng được xem là lĩnh vực kinh doanh trong thẩm quyền của công ty.  
(14) Điều 35 và 35(A) của Đạo luật về Công ty 1989 đã trở thành Điều 39 và 40 của Đạo luật về Công ty 2006 hiện hành.  
(15) Tức là biết hoặc không biết công ty đang có giao dịch vượt quá thẩm quyền.  
7
2010  
Số 13(174) NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP  
I
I 53  
THỰC TIễN PHÁP LUẬT  
hợp đồng phải chịu trách nhiệm trực tiếp với  
cổ đông hay chủ nợ cho những giao dịch vượt  
quá phạm vi hoạt động kinh doanh nêu tại văn  
kiện thành lập công ty.  
làm luật Việt Nam. Trong một bài nghiên cứu  
về học thuyết ultra vires tại các nước theo hệ  
thống kinh tế xã hội chủ nghĩa (XHCN), hai  
nhà nghiên cứu người Trung Quốc đã chứng  
minh rằng, việc quy định doanh nghiệp phải  
hoạt động trong phạm vi ĐKKD có nguồn  
gốc là nhằm để bảo đảm rằng các doanh  
nghiệp nhà nước hoạt động theo đúng các  
chỉ tiêu, kế hoạch kinh tế của Nhà nước tại  
các nước theo mô hình kinh tế tập trung  
XHCN trước đây17. Nhà nước giao vốn cho  
các doanh  
2. Lược sử áp dụng học thuyết tại Việt Nam  
và một số khuyến nghị  
Ở Việt Nam, dường như yêu cầu về  
doanh nghiệp phải hoạt động trong phạm vi  
ĐKKD16 được đề cập đầu tiên tại Pháp lệnh  
HĐKT. Điểm b, Khoản 1, Điều 8 Pháp lệnh  
này quy định  
hợp  
đồng  
n g h i ệ p  
sẽ vô hiệu  
toàn bộ nếu  
“một trong  
(Nhà nước)  
Việc áp dụng trở lại học thuyết ultra vires tại  
và yêu cầu  
các doanh  
nghiệp này  
Việt Nam lại một lần nữa mang đến tính không thể  
lường trước của giao dịch và những phán quyết bất  
hợp lý sau đó. Cái bẫy cho bên ngay tình lại được  
chăng ra và lạm dụng bởi các bên ác ý  
các  
bên  
ký kết hợp  
đồng kinh  
tế không có  
ĐKKD theo  
phải  
hoạt  
động trong  
phạm vi lĩnh  
vực, ngành  
quy định của pháp luật để thực hiện công  
việc đã thoả thuận trong hợp đồng”.  
nghề mà mình cho phép thành lập.  
Kể từ thời điểm Việt Nam ban hành Pháp  
lệnh HĐKT và BLDS năm 1995, quy định  
yêu cầu doanh nghiệp phải hoạt động trong  
phạm vi ĐKKD cũng đã tạo ra nhiều phiền  
toái cho doanh nghiệp làm ăn đứng đắn. Bên  
không ngay tình luôn viện đến quy định này  
để trốn tránh trách nhiệm của mình18. Tòa án  
đã tuyên bố vô hiệu rất nhiều hợp đồng chỉ  
vì doanh nghiệp vi phạm quy định này. Nhận  
thức được sự vô lý của quy định, trong phạm  
vi thẩm quyền của mình, Tòa án nhân dân tối  
cao trong Nghị quyết số 04/2003/NQ-HĐTP  
đã nới lỏng tính hà khắc của quy định bằng  
việc cho phép bên không ĐKKD nếu đã bổ  
sung ĐKKD trước khi xảy ra tranh chấp (sau  
khi hợp đồng được giao kết) thì hợp đồng  
vẫn có hiệu lực19.  
Tiếp theo, Điều 96 BLDS năm 1995  
cũng khẳng định một pháp nhân “phải hoạt  
động đúng mục đích [được thành lập]”. Đây  
là một quy định bắt buộc, việc vi phạm sẽ  
mang đến hậu quả, trong phạm vi giao dịch  
dân sự/kinh tế, là hợp đồng vô hiệu.  
Điều 8 Luật Doanh nghiệp năm 1999 cũng  
quy định doanh nghiệp có nghĩa vụ “hoạt  
động kinh doanh theo đúng các ngành, nghề  
đã đăng ký”. Luật này còn đề cập hậu quả  
hành chính đối với hành vi vi phạm, còn hậu  
quả về mặt pháp luật dân sự (giao dịch có vô  
hiệu hay không), luật không đề cập tới.  
Các nhà làm luật không giải thích vì sao  
họ đặt ra các yêu cầu trên. Vì vậy, thật khó  
mà xác định được ý chí đích thực của nhà  
(16) Lưu ý rằng về hình thức áp dụng học thuyết ultra vires tại Việt Nam có khác một chút. Đó là pháp luật yêu cầu doanh nghiệp phải  
hoạt động trong phạm vi ĐKKD, còn tại Anh quốc là hoạt động trong phạm vi điều khoản về phạm vi hoạt động trong thỏa thuận  
thành lập và điều lệ. Tuy nhiên, sự khác biệt này chỉ là hình thức. Về bản chất đều là doanh nghiệp phải hoạt động trong phạm vi  
điều lệ/thỏa thuận thành lập đã được đăng ký với cơ quan đăng ký công ty.  
(17) Xem Zhong Jianhua và Yu Guanghua trong “China’s Uniform Contract Law: Progress and Problems” tại Tạp chí UCLA Pacific Basin  
Law Journal, 1999, tr. 18 (giải thích chức năng của học thuyết ultra vires trong các nền kinh tế XHCN).  
(18) Bởi hậu quả vô hiệu hợp đồng, các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận khiến một bên không phải thanh toán thù lao, tiền  
lãi hoặc sử dụng tài sản một thời gian rồi lại có thể trả cho bên bán v.v...  
(19) Điểm 1(a) Nghị quyết 04/2003/NQ-HĐTP của TANDTC ngày 27/05/2003.  
7
2010  
NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP Số 13(174)  
54 I  
I
THỰC TIễN PHÁP LUẬT  
Một điểm cần  
lưu ý là trong các  
ngành, nghề kinh  
doanh luôn có  
ngành, nghề kinh  
doanh có điều kiện.  
Tức là pháp luật  
quy định doanh  
nghiệp chỉ có thể  
kinh doanh khi có  
chứng chỉ hành  
nghề hoặc điều kiện  
vốn hoặc điều kiện  
khác về cơ sở vật  
chất, con người…  
Chỉ khi thỏa mãn  
những điều kiện  
pháp luật quy định,  
Giao dịch có vô hiệu khi một công ty chưa thỏa mãn  
điều kiện kinh doanh “bắt tay” với bên thứ ba - Ảnh: S.T  
Việc ban hành BLDS năm 2005 và Luật  
Thương mại năm 2005 đã thay thế BLDS  
năm 1995 và Pháp lệnh HĐKT. Hậu quả vô  
hiệu tại các văn bản trên đã được gỡ bỏ. Tuy  
nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 2005 lại vẫn  
giữ nguyên điều khoản yêu cầu doanh nghiệp  
có nghĩa vụ hoạt động trong phạm vi ĐKKD  
tại Khoản 1 Điều 9. Đây là tiền đề cho sự trở  
lại của hậu quả hợp đồng vô hiệu do doanh  
nghiệp vi phạm phạm vi ĐKKD mà vụ án  
nói tại phần đầu bài viết là một ví dụ.  
Việc áp dụng trở lại học thuyết ultra vires  
tại Việt Nam lại một lần nữa mang đến tính  
không thể lường trước của giao dịch và  
những phán quyết bất hợp lý sau đó. Cái bẫy  
cho bên ngay tình lại được chăng ra và lạm  
dụng bởi các bên ác ý.  
Để tạo môi trường kinh doanh ổn định,  
lành mạnh, bảo vệ bên ngay tình, các nhà làm  
luật Việt Nam cần phải quy định triệt để về  
hậu quả dân sự của yêu cầu kinh doanh trong  
phạm vi ĐKKD. Giao dịch vượt quá phạm vi  
ĐKKD có vô hiệu hay không? Trường hợp  
nào thì vô hiệu và vì sao?  
Để trả lời những câu hỏi này, giải pháp  
của Anh quốc, nơi nguyên xứ của học thuyết  
ultra vires, là đáng để cho nhà làm luật và  
các Tòa án Việt Nam quan tâm, tham khảo.  
doanh nghiệp mới được quyền kinh doanh  
trong lĩnh vực này. Nó khác với các ngành  
kinh doanh thông thường, nơi doanh nghiệp  
chỉ cần thực hiện việc đăng ký và sẽ đương  
nhiên được kinh doanh trong lĩnh vực đó.  
Vậy, giả sử nếu một công ty chưa thỏa mãn  
điều kiện kinh doanh do pháp luật yêu cầu,  
ví dụ chưa có chứng chỉ hành nghề, giấy  
phép kinh doanh hay vốn pháp định, nhưng  
lại giao dịch với một bên thứ ba thì giao  
dịch có vô hiệu hay không? Về vấn đề này,  
nguyên tắc chung là thẩm phán sẽ phải xác  
định xem yêu cầu về điều kiện kinh doanh là  
quy định cấm (quy định bắt buộc) của pháp  
luật hay chỉ là quy định mang tính quản lý  
hành chính. Nếu quy định về điều kiện kinh  
doanh là quy định cấm (bắt buộc) của pháp  
luật - yêu cầu được đặt ra để bảo vệ lợi ích  
công cộng (ví dụ sức khỏe cộng đồng, an  
ninh quốc gia…), bên liên quan nhất thiết  
phải thỏa mãn điều kiện kinh doanh mới  
được giao dịch, thì hậu quả giao dịch sẽ vô  
hiệu tuyệt đối. Nếu là quy định mang tính  
quản lý - yêu cầu mang tính quản lý hành  
chính nhà nước mà không phải để bảo vệ lợi  
ích công cộng, thì giao dịch không nhất thiết  
bị vô hiệu mà hậu quả chỉ là phạt vi phạm  
hành chính đối với các bên vi phạm.  
7
2010  
Số 13(174) NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP  
I
I 55  
pdf 5 trang Thùy Anh 11360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sự trở lại đáng lo ngại của một học thuyết lỗi thời", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_tro_lai_dang_lo_ngai_cua_mot_hoc_thuyet_loi_thoi.pdf