Sự trở lại đáng lo ngại của một học thuyết lỗi thời
THỰC TIễN PHÁP LUẬT
SỰ TRỞ LẠI ĐÁNG LO NGẠI
CỦA MỘT HỌC THUYẾT LỖI THỜI
NGUYễN QUỐC VINH *
Những tưởng quy định lỗi thơi cua Phap lênh Hơp đồng kinh tế năm 1989 (Phap lênh HĐKT) và Bộ luật Dân sư
(BLDS) năm 1995 rằng, giao dịch do một phap nhân giao kết khi phap nhân này không (hoặc chưa) cođăng ký kinh
doanh (ĐKKD) trong lĩnh vưc cụ thênào đosẽ bị vô hiêu, đađươc loại bỏ bởi viêc ban hành BLDS năm 2005. Nhưng,
vơi số lương ngày càng tăng cac bản an tuyên vô hiêu hơp đồng do doanh nghiêp không ĐKKD trong thơi gian gân
đây, (thơi điêm gân nhất mà chúng tôi đươc biết là Bản an số 2354/2009/DSPT ngày 10/12/2009 cua TAND TP. Hồ
Chí Minh1), thì đây là sư trở lại đang lo ngại cua hiên tương tuyên vô hiêu hơp đồng do phap nhân không co ĐKKD.
Bài viết, vì vậy, sẽ tập trung phân tích nguồn gốc học thuyết yêu câu phap nhân phải kinh doanh trong phạm vi
ĐKKD trên thế giơi, lươc sư ap dụng quy định tại Viêt Nam và những khuyến nghị cho Tòa an và cơ quan lập phap
Viêt Nam về vấn đề này.
không tồn tại (như tại nước Đức) hoặc có
phạm vi áp dụng không đáng kể (như tại nước
Pháp)2. “Ultra” theo tiếng La-tinh có nghĩa là
vượt quá, còn “vires” có nghĩa là thẩm quyền
của một người3. Học thuyết ultra vires được
áp dụng trong một số ngành luật như luật hiến
pháp, hành chính và công ty. Tuy nhiên, học
thuyết được áp dụng phổ biến nhất trong luật
công ty với nghĩa là hành vi vượt quá phạm vi
hoạt động kinh doanh của công ty mà đã được
nêu trong văn kiện thành lập công ty (và đã
1. Nguồn gốc của học thuyết ultra vires
Học thuyết yêu cầu doanh nghiệp phải kinh
doanh trong phạm vi ĐKKD hay trong văn
kiện thành lập công ty như Điều lệ (Charter
hay Articles of Association) hoặc Thỏa thuận
thành lập (Memorandum of Association) được
hiểu chung trên thế giới là học thuyết về ultra
vires (the doctrine of ultra vires). Học thuyết
này có nguồn gốc từ nước Anh. Tại các nước
theo hệ thống luật lục địa, học thuyết này
(*) TS, Giảng viên Học viện Tư pháp - Cơ sở 2, TP. Hồ Chí Minh.
(1) Nội dung tranh chấp của vụ án là nguyên đơn giao kết hợp đồng dịch vụ (thực chất là hợp đồng ủy quyền) với bị đơn, ủy quyền cho
bị đơn thay mặt mình giải quyết những vấn đề tồn đọng của một hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Nguyên đơn đã
thanh toán phí dịch vụ làm nhiều đợt, tổng cộng 300.000.000 đồng cho bị đơn. Sau này, cho rằng bị đơn không hoàn thành công
việc và không có chức năng làm dịch vụ pháp lý nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng dịch vụ. Bị
đơn cho rằng hợp đồng dịch vụ này là hợp đồng dân sự thuần túy và mình đã thực hiện một số công việc nhất định nên yêu cầu
Tòa án thừa nhận tính có hiệu lực của hợp đồng và nguyên đơn có nghĩa vụ thanh toán phí dịch vụ. TAND TP. Hồ Chí Minh ngày
12/10/2009 đã tuyên: “Căn cứ Điều 7 và Điều 9, Luật Doanh nghiệp [2005] thì doanh nghiệp phải thực hiện kinh doanh ngành,
nghề cụ thể được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong giấy chứng
nhận ĐKKD”. Do nội dung ĐKKD của bị đơn “không có nội dung nào như hợp đồng dịch vụ đã ký” nên hợp đồng dịch vụ này là vô
hiệu, bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn khoản phí dịch vụ đã nhận (300.000.000 đồng).
(2) Xem Lutz-Christian Wolf trong “The Disappearance of the Ultra Vires Doctrine in Greater China: Harmonized Legislative Action or
(simply) an Accident of History?”, Northwestern Journal of International Law and Business, 2003, tr. 635.
(3) Xem Paul L. Davies trong cuốn sách “Principles of Modern Company Law”, Nxb. Sweet & Maxwell Ltd, 1997, tr. 202.
7
2010
Số 13(174) NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP
I
I 51
THỰC TIễN PHÁP LUẬT
được đăng ký với cơ quan đăng ký công ty)4.
Về lịch sử, học thuyết ultra vires được áp
dụng đầu tiên tại Anh đối với công ty thành lập
theo các đạo luật của Nghị viện. Các công ty
này được thành lập nhằm phục vụ cho các nhu
cầu thiết yếu của xã hội như giao thông vận tải,
điện lực hay khai thác than… Trong các đạo
luật thành lập công ty có các quy định hạn chế
phạm vi hoạt động của công ty. Việc vi phạm
các quy định hạn chế này được coi là hành vi
ultra vires và giao dịch vì vậy sẽ vô hiệu5.
Tuy nhiên, học thuyết chỉ bắt đầu được
áp dụng phổ biến sau sự ban hành Đạo luật
về Công ty cổ phần năm 1856 (Joint Stock
Company Act 1856). Trước thời điểm ban
hành đạo luật này, một công ty cổ phần tại Anh
có tư cách và trách nhiệm giống như một công
ty hợp danh. Đạo luật về Công ty cổ phần 1856
được ban hành nhằm mục đích sửa đổi bản
chất hợp danh của công ty cổ phần. Đặc tính
vô hạn của thành viên hợp danh được chuyển
thành đặc tính trách nhiệm hữu hạn của một cổ
đông công ty, sao cho phù hợp với tinh thần
của Đạo luật về Trách nhiệm hữu hạn 1855
(Limited Liability Act 1855). Tuy nhiên, khi
ban hành Đạo luật về Công ty cổ phần năm
1856, các nhà lập pháp có suy nghĩ rằng, một
khi cho phép trách nhiệm của cổ đông là hữu
hạn thì chủ nợ của công ty sẽ không được đảm
bảo. Bởi vì, cổ đông trong công ty có thể lạm
dụng địa vị trách nhiệm hữu hạn để trốn tránh
trách nhiệm cá nhân của mình6. Vì lẽ đó, để
bảo vệ chủ nợ và cổ đông tương lai, Đạo luật
về Công ty cổ phần 1856 có một điều khoản
quy định rằng trong thỏa thuận thành lập công
ty7, các cổ đông phải có điều khoản về phạm
vi hoạt động của công ty, trong đó liệt kê các
lĩnh vực kinh doanh của công ty8,9. Bằng cách
này, một chủ nợ hoặc một cổ đông tương lai
có thể tham chiếu đến điều khoản về phạm vi
hoạt động của công ty tại thỏa thuận thành lập/
điều lệ công ty để biết phạm vi hoạt động của
công ty và quyết định có cho nợ hoặc đầu tư
vào công ty hay không. Nếu công ty có hành
vi vượt quá phạm vi hoạt động đã quy định thì
chủ nợ hoặc cổ đông có quyền yêu cầu tòa án
ra lệnh cho công ty chấm dứt hành vi vượt quá
thẩm quyền hoặc yêu cầu giải thể công ty. Đối
với giao dịch vượt quá thẩm quyền đã giao kết
với bên thứ ba, cổ đông hoặc chủ nợ có quyền
yêu cầu tòa án tuyên vô hiệu giao dịch với bên
thứ ba. Từ thời điểm ban hành Đạo luật về
Công ty cổ phần 1856 và qua án lệ vụ Ashbury
Carriage Company v. Riche10, học thuyết ultra
vires đã được áp dụng rộng khắp nước Anh11.
Tuy nhiên, ngay từ khi áp dụng học thuyết
ultra vires, các bên liên quan đã thấy những
nhược điểm của học thuyết này khi nó hạn chế
quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp.
Những người điều hành doanh nghiệp một mặt
luôn phải xác định xem hành vi của mình đang
thực hiện nhân danh doanh nghiệp có nằm
trong phạm vi hoạt động của doanh nghiệp hay
không. Nếu không, dù đó là cơ hội kinh doanh
có lợi nhuận cao cũng không được quyền giao
dịch. Tất nhiên, các cổ đông có thể sửa đổi thỏa
thuận thành lập và điều lệ tương ứng nhưng
quy trình sửa đổi thì lâu mà cơ hội kinh doanh
có thể đã bị mất. Đối với các bên giao dịch với
doanh nghiệp, trước khi giao dịch cũng phải
(4) Trong một số trường hợp khác, ultra vires là hành vi vượt quá thẩm quyền của một cơ quan chức năng của công ty như giám đốc,
hội đồng quản trị... Tuy nhiên, do mang bản chất khác, vấn đề không được đề cập tại đây.
(5) Xem Stephen Griffin trong “The Rise and Fall of the Ultra Vires Rule in Corporate Law”, Mountbatten Journal of Legal Studies, số 2, 1998.
(6) Xem Stephen. tlđd.
(7) Theo luật công ty các nước theo hệ thống thông luật, văn kiện thành lập công ty bao gồm điều lệ và thỏa thuận thành lập công ty.
(8) Điều khoản về hoạt động của công ty cũng được nêu tại điều lệ của công ty.
(9) Một lý do kém quan trọng hơn là để tránh hiện tượng “buôn bán đăng ký công ty”.
(10) Xem vụ Ashbury Carriage Company v. Riche, L.R. 7 H.L. 653 (1875). Trong vụ kiện này, nguyên đơn chỉ ĐKKD là sản xuất và bán toa
xe lửa nhưng đã ký hợp đồng đồng ý cấp vốn cho việc xây dựng hệ thống xe lửa tại Bỉ. Sau đó, công ty không thực hiện việc cấp
vốn và bị kiện. Công ty viện lý cho việc vi phạm hợp đồng là hành vi cấp vốn vượt quá phạm vi hoạt động kinh doanh của công
ty. Vụ kiện được đưa đến Tòa án tối cao (the House of Lords) và tòa này đã phán quyết rằng hành vi cấp vốn là hành vi ultra vires,
vượt quá thẩm quyền của công ty và vì vậy, vô hiệu tuyệt đối (void ab initio).
(11) Xem Davies, sđd, tr. 203.
7
2010
NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP Số 13(174)
52 I
I
THỰC TIễN PHÁP LUẬT
tìm hiểu xem doanh nghiệp có thẩm quyền
giao kết trong một lĩnh vực nào đó không. Tuy
nhiên, quan trọng hơn là một bên ác ý luôn có
thể lạm dụng học thuyết để yêu cầu vô hiệu hợp
đồng, khiến học thuyết trở thành một cái bẫy
cho những
lệ phạm vi hoạt động, kinh doanh của mình
nhưng quy định này sẽ không có hiệu lực khi
công ty thực hiện giao dịch với bên thứ ba (dù
bên thứ ba là ngay tình hay thậm chí ác ý)15.
Nói cách khác, giao dịch với bên thứ ba vẫn có
hiệu lực dù
bên
ngay
giao
này
quá lĩnh vực
ngành, nghề
kinh doanh
của công ty.
dịch
vượt
tình12. Chính
bản thân tòa
án cũng nhận
thấy sự bất
hợp lý của
quy định mà
Qua thời gian, nội hàm của học thuyết ultra vires
đã được thay đổi ngay tại nước nguyên xứ của học
thuyết. Theo đó, học thuyết không có giá trị ràng
buộc đối với bên thứ ba... Tuy nhiên, học thuyết lại
có giá trị ràng buộc trong nội bộ công ty. Cơ quan
điều hành của công ty khi giao kết hợp đồng phải
chịu trách nhiệm trực tiếp với cổ đông hay chủ nợ
cho những giao dịch vượt quá phạm vi hoạt động
kinh doanh nêu tại văn kiện thành lập công ty.
T
u
y
những
án
nhiên, mặc
dù thừa nhận
tính có hiệu
lực của giao
dịch với bên
thứ ba, các
nhà lập pháp
lệ sau đó,
tòa án bằng
cách này hay
cách
giảm thiểu đi
khác
tính hà khắc
của học thuyết ultra vires mà chính tòa đã áp
Anh vẫn cho phép học thuyết có giá trị ràng
buộc trong nội bộ công ty. Giả sử các cổ đông
trong Thỏa thuận thành lập vẫn quy định về
phạm vi hoạt động của công ty mà người đại
diện cho công ty lại hành động vượt quá phạm
vi này, gây thiệt hại cho công ty hay chủ nợ thì
người đại diện sẽ chịu trách nhiệm trực tiếp
với cổ đông hoặc chủ nợ công ty. Cổ đông hay
chủ nợ khác có quyền kiện đòi người đại diện
công ty cho hành vi ultra vires được thực hiện
bởi người này.
Như vậy, có thể thấy qua thời gian, nội
hàm của học thuyết ultra vires đã được thay
đổi ngay tại nước nguyên xứ của học thuyết.
Theo đó, học thuyết không có giá trị ràng buộc
đối với bên thứ ba. Hợp đồng, giao dịch với
bên thứ ba vượt quá phạm vi hoạt động kinh
doanh vẫn có hiệu lực. Tuy nhiên, học thuyết
lại có giá trị ràng buộc trong nội bộ công ty.
Cơ quan điều hành của công ty khi giao kết
dụng13.
Vì những lẽ này mà Anh quốc đã thực hiện
một loạt những sửa đổi trong luật công ty của
mình để loại bỏ ảnh hưởng bất lợi của học
thuyết. Những sửa đổi lớn đối với học thuyết
được thực hiện tại Đạo luật về Công ty 1948
(Companies Act 1948), Đạo luật về Công ty
1985 (Companies Act 1985) và Đạo luật về
Công ty 1989 (Companies Act 1989). Trong
đó, những sửa đổi tại Đạo luật về Công ty 1989
được coi là triệt để nhất.
Khoản 1 Điều 35, Đạo luật về Công ty 1989
quy định: “Tính có hiệu lực của một hành vi
của công ty không bị ảnh hưởng bởi lý do rằng
công ty không có thẩm quyền thực hiện hành
vi đó như được quy định tại thỏa thuận thành
lập công ty”14.
Theo quy định trên, dù công ty có hay
không quy định tại Thỏa thuận thành lập/Điều
(12) Xem Davies, sđd, tr. 204.
(13) Có thể xem, ví dụ vụ A-G v Great Eastern Rly Co, 5 App Cas 473, HL (1880). Theo đó, Tòa án tối cao phán quyết rằng, ngoài những
lĩnh vực kinh doanh đã được liệt kê cụ thể tại thỏa thuận thành lập thì những lĩnh vực bổ trợ hoặc liên quan đến lĩnh vực chính
này cũng được xem là lĩnh vực kinh doanh trong thẩm quyền của công ty.
(14) Điều 35 và 35(A) của Đạo luật về Công ty 1989 đã trở thành Điều 39 và 40 của Đạo luật về Công ty 2006 hiện hành.
(15) Tức là biết hoặc không biết công ty đang có giao dịch vượt quá thẩm quyền.
7
2010
Số 13(174) NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP
I
I 53
THỰC TIễN PHÁP LUẬT
hợp đồng phải chịu trách nhiệm trực tiếp với
cổ đông hay chủ nợ cho những giao dịch vượt
quá phạm vi hoạt động kinh doanh nêu tại văn
kiện thành lập công ty.
làm luật Việt Nam. Trong một bài nghiên cứu
về học thuyết ultra vires tại các nước theo hệ
thống kinh tế xã hội chủ nghĩa (XHCN), hai
nhà nghiên cứu người Trung Quốc đã chứng
minh rằng, việc quy định doanh nghiệp phải
hoạt động trong phạm vi ĐKKD có nguồn
gốc là nhằm để bảo đảm rằng các doanh
nghiệp nhà nước hoạt động theo đúng các
chỉ tiêu, kế hoạch kinh tế của Nhà nước tại
các nước theo mô hình kinh tế tập trung
XHCN trước đây17. Nhà nước giao vốn cho
các doanh
2. Lược sử áp dụng học thuyết tại Việt Nam
và một số khuyến nghị
Ở Việt Nam, dường như yêu cầu về
doanh nghiệp phải hoạt động trong phạm vi
ĐKKD16 được đề cập đầu tiên tại Pháp lệnh
HĐKT. Điểm b, Khoản 1, Điều 8 Pháp lệnh
này quy định
hợp
đồng
n g h i ệ p
sẽ vô hiệu
toàn bộ nếu
“một trong
(Nhà nước)
Việc áp dụng trở lại học thuyết ultra vires tại
và yêu cầu
các doanh
nghiệp này
Việt Nam lại một lần nữa mang đến tính không thể
lường trước của giao dịch và những phán quyết bất
hợp lý sau đó. Cái bẫy cho bên ngay tình lại được
chăng ra và lạm dụng bởi các bên ác ý
các
bên
ký kết hợp
đồng kinh
tế không có
ĐKKD theo
phải
hoạt
động trong
phạm vi lĩnh
vực, ngành
quy định của pháp luật để thực hiện công
việc đã thoả thuận trong hợp đồng”.
nghề mà mình cho phép thành lập.
Kể từ thời điểm Việt Nam ban hành Pháp
lệnh HĐKT và BLDS năm 1995, quy định
yêu cầu doanh nghiệp phải hoạt động trong
phạm vi ĐKKD cũng đã tạo ra nhiều phiền
toái cho doanh nghiệp làm ăn đứng đắn. Bên
không ngay tình luôn viện đến quy định này
để trốn tránh trách nhiệm của mình18. Tòa án
đã tuyên bố vô hiệu rất nhiều hợp đồng chỉ
vì doanh nghiệp vi phạm quy định này. Nhận
thức được sự vô lý của quy định, trong phạm
vi thẩm quyền của mình, Tòa án nhân dân tối
cao trong Nghị quyết số 04/2003/NQ-HĐTP
đã nới lỏng tính hà khắc của quy định bằng
việc cho phép bên không ĐKKD nếu đã bổ
sung ĐKKD trước khi xảy ra tranh chấp (sau
khi hợp đồng được giao kết) thì hợp đồng
vẫn có hiệu lực19.
Tiếp theo, Điều 96 BLDS năm 1995
cũng khẳng định một pháp nhân “phải hoạt
động đúng mục đích [được thành lập]”. Đây
là một quy định bắt buộc, việc vi phạm sẽ
mang đến hậu quả, trong phạm vi giao dịch
dân sự/kinh tế, là hợp đồng vô hiệu.
Điều 8 Luật Doanh nghiệp năm 1999 cũng
quy định doanh nghiệp có nghĩa vụ “hoạt
động kinh doanh theo đúng các ngành, nghề
đã đăng ký”. Luật này còn đề cập hậu quả
hành chính đối với hành vi vi phạm, còn hậu
quả về mặt pháp luật dân sự (giao dịch có vô
hiệu hay không), luật không đề cập tới.
Các nhà làm luật không giải thích vì sao
họ đặt ra các yêu cầu trên. Vì vậy, thật khó
mà xác định được ý chí đích thực của nhà
(16) Lưu ý rằng về hình thức áp dụng học thuyết ultra vires tại Việt Nam có khác một chút. Đó là pháp luật yêu cầu doanh nghiệp phải
hoạt động trong phạm vi ĐKKD, còn tại Anh quốc là hoạt động trong phạm vi điều khoản về phạm vi hoạt động trong thỏa thuận
thành lập và điều lệ. Tuy nhiên, sự khác biệt này chỉ là hình thức. Về bản chất đều là doanh nghiệp phải hoạt động trong phạm vi
điều lệ/thỏa thuận thành lập đã được đăng ký với cơ quan đăng ký công ty.
(17) Xem Zhong Jianhua và Yu Guanghua trong “China’s Uniform Contract Law: Progress and Problems” tại Tạp chí UCLA Pacific Basin
Law Journal, 1999, tr. 18 (giải thích chức năng của học thuyết ultra vires trong các nền kinh tế XHCN).
(18) Bởi hậu quả vô hiệu hợp đồng, các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận khiến một bên không phải thanh toán thù lao, tiền
lãi hoặc sử dụng tài sản một thời gian rồi lại có thể trả cho bên bán v.v...
(19) Điểm 1(a) Nghị quyết 04/2003/NQ-HĐTP của TANDTC ngày 27/05/2003.
7
2010
NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP Số 13(174)
54 I
I
THỰC TIễN PHÁP LUẬT
Một điểm cần
lưu ý là trong các
ngành, nghề kinh
doanh luôn có
ngành, nghề kinh
doanh có điều kiện.
Tức là pháp luật
quy định doanh
nghiệp chỉ có thể
kinh doanh khi có
chứng chỉ hành
nghề hoặc điều kiện
vốn hoặc điều kiện
khác về cơ sở vật
chất, con người…
Chỉ khi thỏa mãn
những điều kiện
pháp luật quy định,
Giao dịch có vô hiệu khi một công ty chưa thỏa mãn
điều kiện kinh doanh “bắt tay” với bên thứ ba - Ảnh: S.T
Việc ban hành BLDS năm 2005 và Luật
Thương mại năm 2005 đã thay thế BLDS
năm 1995 và Pháp lệnh HĐKT. Hậu quả vô
hiệu tại các văn bản trên đã được gỡ bỏ. Tuy
nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 2005 lại vẫn
giữ nguyên điều khoản yêu cầu doanh nghiệp
có nghĩa vụ hoạt động trong phạm vi ĐKKD
tại Khoản 1 Điều 9. Đây là tiền đề cho sự trở
lại của hậu quả hợp đồng vô hiệu do doanh
nghiệp vi phạm phạm vi ĐKKD mà vụ án
nói tại phần đầu bài viết là một ví dụ.
Việc áp dụng trở lại học thuyết ultra vires
tại Việt Nam lại một lần nữa mang đến tính
không thể lường trước của giao dịch và
những phán quyết bất hợp lý sau đó. Cái bẫy
cho bên ngay tình lại được chăng ra và lạm
dụng bởi các bên ác ý.
Để tạo môi trường kinh doanh ổn định,
lành mạnh, bảo vệ bên ngay tình, các nhà làm
luật Việt Nam cần phải quy định triệt để về
hậu quả dân sự của yêu cầu kinh doanh trong
phạm vi ĐKKD. Giao dịch vượt quá phạm vi
ĐKKD có vô hiệu hay không? Trường hợp
nào thì vô hiệu và vì sao?
Để trả lời những câu hỏi này, giải pháp
của Anh quốc, nơi nguyên xứ của học thuyết
ultra vires, là đáng để cho nhà làm luật và
các Tòa án Việt Nam quan tâm, tham khảo.
doanh nghiệp mới được quyền kinh doanh
trong lĩnh vực này. Nó khác với các ngành
kinh doanh thông thường, nơi doanh nghiệp
chỉ cần thực hiện việc đăng ký và sẽ đương
nhiên được kinh doanh trong lĩnh vực đó.
Vậy, giả sử nếu một công ty chưa thỏa mãn
điều kiện kinh doanh do pháp luật yêu cầu,
ví dụ chưa có chứng chỉ hành nghề, giấy
phép kinh doanh hay vốn pháp định, nhưng
lại giao dịch với một bên thứ ba thì giao
dịch có vô hiệu hay không? Về vấn đề này,
nguyên tắc chung là thẩm phán sẽ phải xác
định xem yêu cầu về điều kiện kinh doanh là
quy định cấm (quy định bắt buộc) của pháp
luật hay chỉ là quy định mang tính quản lý
hành chính. Nếu quy định về điều kiện kinh
doanh là quy định cấm (bắt buộc) của pháp
luật - yêu cầu được đặt ra để bảo vệ lợi ích
công cộng (ví dụ sức khỏe cộng đồng, an
ninh quốc gia…), bên liên quan nhất thiết
phải thỏa mãn điều kiện kinh doanh mới
được giao dịch, thì hậu quả giao dịch sẽ vô
hiệu tuyệt đối. Nếu là quy định mang tính
quản lý - yêu cầu mang tính quản lý hành
chính nhà nước mà không phải để bảo vệ lợi
ích công cộng, thì giao dịch không nhất thiết
bị vô hiệu mà hậu quả chỉ là phạt vi phạm
hành chính đối với các bên vi phạm.
7
2010
Số 13(174) NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP
I
I 55
Bạn đang xem tài liệu "Sự trở lại đáng lo ngại của một học thuyết lỗi thời", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
su_tro_lai_dang_lo_ngai_cua_mot_hoc_thuyet_loi_thoi.pdf

