Các cam kết của Việt Nam về điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài tại CPTPP - Một số đánh giá và khuyến nghị

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
5.  
CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỀ ĐIỀU KIỆN ĐẦU TƯ  
ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI CPTPP -  
MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VÀ KHUYẾN NGHỊ  
Lương Thị Thu Hà(*)  
Tóm tắt  
CPTPP - Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương - hiện  
đang được Quốc hội Việt Nam xem xét để phê chuẩn tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa  
XIV. CPTPP được dự đoán sẽ mang tới cho Việt Nam nhiều cơ hội, trong đó có cơ hội  
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các nước thành viên, đặc biệt là những nước  
mà Việt Nam chưa từng ký kết Hiệp định thương mại tự do. Để kịp thời nắm bắt cơ  
hội này và để thực thi có hiệu quả các cam kết về đầu tư tại CPTPP, Việt Nam cần tiến  
hành rà soát, điều chỉnh hệ thống văn bản pháp luật có liên quan trong nước, đặc biệt  
là những quy định về điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài cho phù hợp với  
các cam kết về đầu tư trong CPTPP. Bài viết tập trung giới thiệu, đánh giá các cam  
kết về đầu tư của Việt Nam trong CPTPP, từ đó đề xuất một số khuyến nghị cho việc  
thực thi các cam kết đó của Việt Nam trong thời gian tới.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Ngày 08 tháng 3 năm 2018, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình  
Dương, gọi tắt là CPTPP (Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific  
(*) Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế quốc dân  
63  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
Partnership) đã được Việt Nam cùng với 10 quốc gia gồm Australia, Brunei, Canada, Chile,  
Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru và Singapore ký kết chính thức.  
CPTPP được nhận định là một hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTA) với  
những cam kết bao trùm lên nhiều lĩnh vực như cắt giảm thuế quan, mở cửa thị trường,  
đầu tư, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh, lao động, môi trường… với những tiêu chuẩn cao,  
thậm chí vượt lên trên các tiêu chuẩn của WTO mà chúng ta hiện nay đang áp dụng.  
Trong văn kiện chính thức được 11 nước thành viên công bố hồi tháng 2 năm 2018,  
CPTPP đã có những quy định khá toàn diện về tự do hóa thương mại dịch vụ và đầu  
tư như các nguyên tắc tối huệ quốc, nguyên tắc đối xử quốc gia trong đầu tư, quyền  
của nhà đầu tư và của nước tiếp nhận đầu tư, cơ chế giải quyết tranh chấp…CPTPP  
tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư qua biên giới. Vì vậy, xét về khía cạnh đầu tư, có  
thể dự đoán rằng khi Hiệp định này được thực thi sẽ góp phần thu hút FDI từ các nhà  
đầu tư đến từ các nước thành viên Hiệp định đến Việt Nam.  
Tính tới thời điểm hiện tại, trong 11 quốc gia thành viên của CPTPP hiện đã có 6  
quốc gia là Mexico, Nhật Bản, Singapore, Canada, Australia và New Zealand chính  
thức phê chuẩn hiệp định này. Như vậy, CPTPP sẽ chính thức có hiệu lực vào ngày  
30/12/2018 [1]. Tại Việt Nam, CPTPP đang được Quốc hội Việt Nam đưa ra xem  
xét để phê chuẩn trong kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV lần này. Để kịp thời thu hút  
nguồn vốn đầu tư nước ngoài từ các nhà đầu tư thuộc các quốc gia thành viên CPTPP,  
các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cần phải nắm vững các cam kết của Việt  
Nam, tiến hành rà soát, điều chỉnh hệ thống văn bản pháp luật có liên quan trong nước,  
đặc biệt là những quy định về điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài cho phù  
hợp với các cam kết về đầu tư trong CPTPP, sẵn sàng cho việc thực thi một cách có  
hiệu quả các cam kết của CPTPP trong thời gian tới.  
2. CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI  
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM  
Đối với các nhà đầu tư khi đầu tư ra nước ngoài, ngoài việc phải đáp ứng các điều  
kiện đầu tư, kinh doanh chung theo pháp luật của nước chấp nhận đầu tư, nhà đầu tư  
đó còn phải đáp ứng thêm những điều kiện đầu tư nhất định mà nước chấp nhận đầu tư  
quy định riêng cho nhà đầu tư nước ngoài. Mục đích của việc đặt ra các điều kiện đầu  
tư cho nhà đầu tư nước ngoài là nhằm hạn chế đầu tư nước ngoài trong một số ngành,  
64  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
lĩnh vực nhất định, bảo hộ các nhà đầu tư trong nước, bảo vệ an ninh quốc phòng, lợi  
ích công cộng, điều tiết nền kinh tế.  
Hiện nay, các điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được  
quy định tập trung tại Luật Đầu tư năm 2014 và Nghị định số 118/2015/NĐ-CP quy  
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư. Theo đó, các nhà nhà  
đầu tư nước ngoài muốn thực hiện một dự án đầu tư tại Việt Nam hiện nay, thì tùy  
từng ngành, nghề đầu tư kinh doanh nhất định (gọi là ngành, nghề đầu tư kinh doanh  
có điều kiện), có thể phải đáp ứng một hay một số các điều kiện đầu tư sau đây [2]:  
- Điều kiện về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài trong tổ chức  
kinh tế: Điều kiện này buộc nhà đầu tư nước ngoài khi thực hiện một dự án đầu tư trực  
tiếp tại Việt Nam dưới hình thức thành lập một tổ chức kinh tế thì chỉ được/hoặc phải  
sở hữu một tỷ lệ vốn điều lệ nhất định trong tổ chức kinh tế đó. Ví dụ: theo quy định  
tại Nghị định số 92/2016/NĐ-CP quy định về các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện  
trong lĩnh vực hàng không dân dụng, điều kiện để thành lập một doanh nghiệp kinh  
doanh vận tải hàng không có vốn đầu tư nước ngoài là có tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư  
nước ngoài không quá 30% vốn điều lệ [3].  
- Điều kiện về hình thức đầu tư: Điều kiện này buộc nhà đầu tư nước ngoài khi  
đầu tư, kinh doanh những ngành, nghề đầu tư có điều kiện về hình thức đầu tư thì chỉ  
được lựa chọn những hình thức đầu tư nhất định để thực hiện dự án đầu tư của mình.  
Ví dụ: Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) quy định nhà đầu tư nước  
ngoài chỉ được thực hiện kinh doanh dịch vụ pháp lý ở Việt Nam dưới các hình thức:  
thành lập chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, công ty luật trách  
nhiệm hữu hạn 100% vốn đầu tư nước ngoài, công ty luật trách nhiệm hữu hạn dưới  
hình thức liên doanh, công ty luật hợp danh giữa tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài  
và công ty luật hợp danh Việt Nam [4].  
- Điều kiện về phạm vi hoạt động đầu tư: Điều kiện này thông thường đặt ra  
những hạn chế về phạm vi hoạt động đầu tư cho nhà nhà đầu tư nước ngoài so với  
nhà đầu tư trong nước khi đầu tư trong cùng một ngành, nghề, lĩnh vực. Ví dụ: Theo  
Điều 11 của Luật kinh doanh bất động sản năm 2014, cá nhân và tổ chức trong nước  
được thực hiện 9 hoạt động kinh doanh bất động sản, nhưng doanh nghiệp có vốn đầu  
tư nước ngoài chỉ được thực hiện 4 hoạt động kinh doanh bất động sản trong số đó  
gồm: Thuê nhà, công trình xây dựng để cho thuê lại; Đối với đất được Nhà nước cho  
thuê thì được đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê; đầu tư xây dựng nhà, công trình xây  
65  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
dựng không phải là nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua; Nhận chuyển nhượng toàn  
bộ hoặc một phần dự án bất động sản của chủ đầu tư để xây dựng nhà, công trình xây  
dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua; Đối với đất được Nhà nước giao thì được đầu tư  
xây dựng nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua [5].  
- Điều kiện về đối tác Việt Nam tham gia thực hiện hoạt động đầu tư: Điều kiện  
này đặt ra giới hạn cho nhà đầu tư nước ngoài về khả năng lựa chọn đối tác Việt Nam  
tham gia thực hiện hoạt động đầu tư. Thường phía đối tác Việt Nam phải là tổ chức  
được phép hay có chức năng kinh doanh ngành, nghề đó.  
Ví dụ: Theo Luật Điện ảnh năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), nhà đầu tư  
nước ngoài chỉ được thực hiện dự án đầu tư sản xuất phim ở Việt Nam thông qua hình  
thức liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh với đối tác Việt Nam có chức năng  
sản xuất phim [6]. Hay theo Luật Viễn thông năm 2009 thì nhà đầu tư nước ngoài  
được thực hiện dự án đầu tư cung cấp dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng với đối tác  
Việt Nam phải là doanh nghiệp viễn thông đã được cấp giấy phép thiết lập mạng viễn  
thông tại Việt Nam [7].  
- Điều kiện khác theo quy định tại các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước  
quốc tế về đầu tư: Các điều kiện khác có thể là điều kiện về vốn pháp định, chứng chỉ  
hành nghề, giấy phép… Ví dụ: Theo quy định tại Luật Phá sản năm 2014, nhà đầu tư  
nước ngoài được hành nghề quản lý, thanh lý tài sản tại Việt Nam với điều kiện là luật  
sư nước ngoài đã được cấp Giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam theo quy định  
của pháp luật về luật sư hoặc kiểm toán viên theo quy định của pháp luật về kiểm toán  
và phải được cấp Chứng chỉ hành nghề quản tài viên [8].  
Để bước đầu minh bạch hóa các điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài,  
Chính phủ Việt Nam đã giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì việc rà soát, tập hợp  
các điều kiện đầu tư thành một danh mục công khai. Trên cơ sở rà soát các quy định  
của pháp Luật Đầu tư Việt Nam và các cam kết của Việt Nam trong WTO, FTAs mà  
Việt Nam đã ký kết, phê chuẩn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã xây dựng một Danh mục  
điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài gồm 18 ngành với tất cả 113 phân  
ngành đầu tư có điều kiện. Các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có thể dễ dàng tra  
cứu những ngành, nghề đầu tư có điều kiện và các điều kiện đầu tư cụ thể mà mình  
phải đáp ứng khi đầu tư các ngành, nghề đó trên Cổng thông tin quốc gia về đầu tư  
nước ngoài (https://dautunuocngoai.gov.vn/fdi).  
66  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
3. ĐIỀU KIỆN ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG  
CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM TẠI CPTPP  
Trong văn kiện chính thức của CPTPP được công bố ngày 21 tháng 2 năm 2018,  
11 quốc gia thành viên đã có những cam kết về đầu tư, thương mại dịch vụ thể hiện  
tập trung trong các chương như: Chương 9 - Đầu tư; Chương 10 - Thương mại dịch  
vụ xuyên biên giới; Chương 11 - Dịch vụ tài chính; Chương 13 - Viễn thông. Ngoài  
ra, mỗi quốc gia còn có những cam kết riêng của mình trong các Biểu cam kết trong  
phần phụ lục của Văn kiện.  
Liên quan đến điều kiện đầu tư đối với các nhà đầu tư nước ngoài, Việt Nam và  
các quốc gia thành viên đã thống nhất hai nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc đối xử quốc  
gia (NT) và nguyên tắc tối huệ quốc (MFN). Đây là những quy chế pháp lý quan trọng  
trong thương mại mại quốc tế hiện đại, được coi là một trong những nguyên tắc nền  
tảng của quan hệ thương mại đa phương của Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO).  
Nguyên tắc đối xử quốc gia trong CPTPP có nội hàm tương tự như trong WTO, tức  
là đòi hỏi các quốc gia thành viên CPTPP không được dành cho nhà đầu tư của quốc  
gia thành viên khác sự đối xử kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho nhà đầu tư trong  
nước trong điều kiện tương tự. Còn so với WTO, nguyên tắc tối huệ quốc của CPTPP  
được nới rộng hơn khi đòi hỏi các quốc gia thành viên không được dành cho nhà đầu  
tư của quốc gia thành viên khác sự đối xử kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho nhà  
đầu tư của các quốc gia thành viên còn lại hoặc của bất kỳ một quốc gia nào khác  
không thuộc CPTPP (non-CPTPP) trong điều kiện tương tự.  
Điều này có nghĩa là kể từ khi CPTPP có hiệu lực, tất cả các điều kiện đầu tư,  
kinh doanh mà mỗi quốc gia thành viên quy định đối với các nhà đầu tư nước ngoài  
sẽ không còn hiệu lực đối với các nhà đầu tư thuộc các quốc gia thành viên khác trong  
CPTPP, trừ các trường hợp được các quốc gia thành viên bảo lưu.  
CPTPP còn là một Hiệp định thương mại tự do có tiêu chuẩn cao khi quy định  
nguyên tắc minh bạch và công khai thông tin. Với nguyên tắc này, CPTPP đòi hỏi mỗi  
nước thành viên phải có cơ chế minh bạch, công khai hóa các quy định của nước mình  
liên quan đến quyền tự do kinh doanh, đầu tư của nhà đầu tư như thông báo bằng văn  
bản về chính sách, pháp luật đến các nước thành viên, đăng tải các quy định về điều  
kiện, thủ tục đầu tư, kinh doanh lên trang mạng. Thậm chí khi sửa đổi, bổ sung các quy  
định, mỗi nước thành viên phải có cơ chế để người quan tâm và các bên khác được  
67  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
tiếp cận và góp ý những quy định đề xuất, sửa đổi đó. Mỗi nước thành viên phải có cơ  
chế phản hồi, giải đáp các thắc mắc của những người quan tâm về những quy định liên  
quan đến những vấn đề chịu sự điều chỉnh của Hiệp định… Trong quá trình giải quyết  
thủ tục hành chính như cấp phép, khi cơ quan có thẩm quyền của một nước thành viên  
từ chối đơn xin cấp phép của một nhà đầu tư thuộc một nước thành viên khác thì theo  
yêu cầu của người nộp đơn, bên từ chối phải trả lời lý do từ chối trong một khoảng  
thời gian hợp lý sau khi nhận được yêu cầu [9].  
Đối với hoạt động cung cấp dịch vụ xuyên biên giới (không bao gồm dịch vụ tài  
chính), như dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng máy bay, dịch vụ hệ thống đặt giữ chỗ  
bằng máy tính trong vận tải hàng không, dịch vụ bay đặc biệt, dịch vụ vận hành sân  
bay, dịch vụ khai thác mặt đất, dịch vụ chuyển phát nhanh, các dịch vụ chuyên môn  
như kiến trúc, pháp lý…, chương 10 của Hiệp định về “Thương mại dịch vụ xuyên  
biên giới” đưa ra các cam kết xóa bỏ 5 loại hạn chế nhằm cản trở việc tiếp cận thị  
trường của các nhà đầu tư, đó là: hạn chế số lượng nhà cung cấp dịch vụ; hạn chế tổng  
trị giá các giao dịch hoặc tài sản; hạn chế tổng số các hoạt động dịch vụ; hạn chế số  
lượng lao động được tuyển dụng; hạn chế hình thức thành lập doanh nghiệp. Các bên  
không được đặt ra các thủ tục, điều kiện cấp phép, ví dụ: phải xuất khẩu một lượng  
hàng nhất định, phải đạt tỷ lệ nội địa hóa nhất định… làm rào cản hoạt động thương  
mại dịch vụ. Các bên cũng không được yêu cầu nhà đầu tư nước ngoài phải thành lập  
văn phòng đại diện hay hình thức hiện diện thương mại nào đó thì mới được cung cấp  
dịch vụ.  
Riêng đối với dịch vụ tài chính (gồm tất cả dịch vụ bảo hiểm, các dịch vụ liên  
quan đến bảo hiểm, tất cả dịch vụ ngân hàng, các dịch vụ tài chính khác), vì là một lĩnh  
vực nhạy cảm nên bên cạnh những nguyên tắc chung như nguyên tắc đối xử quốc gia,  
đối xử tối huệ quốc và nguyên tắc công khai, minh bạch, tại chương 11 của CPTPP  
đưa ra quy định “Một Bên có thể xác định hình thức thể chế và pháp lý mà qua đó dịch  
vụ tài chính mới có thể được cung cấp và có thể yêu cầu cấp phép để cung cấp dịch  
vụ. Nếu một Bên yêu cầu một tổ chức tài chính phải xin giấy phép cung cấp một dịch  
vụ tài chính mới, Bên đó sẽ quyết định trong một khoảng thời gian hợp lý về việc cấp  
phép và có thể từ chối việc cấp phép chỉ vì các lý do thận trọng” [9]. Điều này cho thấy  
độ mở cửa đối với lĩnh vực tài chính trong CPTPP hẹp hơn so với các lĩnh vực khác.  
Ngoài những cam kết chung nêu trên, Việt Nam đã có những cam kết riêng về  
đầu tư trong nhiều ngành, nghề, lĩnh vực đầu tư trong các Biểu cam kết của mình. Các  
68  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
cam kết của Việt Nam chủ yếu thể hiện dưới các điều kiện về hình thức đầu tư, tỷ lệ sở  
hữu của nhà đầu tư nước ngoài và phạm vi hoạt động đầu tư… dành cho các nhà đầu  
tư đến từ các nước thành viên CPTPP. Cụ thể như sau [10]:  
- Dịch vụ pháp lý: Việt Nam cam kết nhà đầu tư nước ngoài được cung cấp dịch  
vụ tại Việt Nam dưới những hình thức tổ chức nhất định và bị hạn chế phạm vi hoạt  
động. Cụ thể, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được cung cấp dịch vụ pháp lý tại Việt Nam  
dưới hình thức thành lập chi nhánh của Tổ chức luật sư nước ngoài, công ty luật trách  
nhiệm hữu hạn 100% vốn đầu tư nước ngoài, công ty luật trách nhiệm hữu hạn dưới  
hình thức liên doanh với doanh nghiệp Việt Nam, công ty luật hợp danh giữa tổ chức  
luật sư nước ngoài và công ty luật hợp danh Việt Nam. Các hình thức tổ chức đầu tư  
trên bị hạn chế phạm vi hoạt động so với các tổ chức tư vấn pháp lý không có vốn  
đầu tư nước ngoài, cụ thể là không được phép tiến hành các hoạt động như: tham  
gia tố tụng với tư cách người bào chữa hay đại diện cho khách hàng trước Tòa án  
Việt Nam; cung cấp dịch vụ giấy tờ pháp lý và công chứng liên quan đến pháp luật  
Việt Nam. Luật sư nước ngoài hành nghề ở Việt Nam không được tư vấn về luật Việt  
Nam, trừ khi họ tốt nghiệp Đại học Luật của Việt Nam và đáp ứng các yêu cầu của  
luật sư Việt Nam, không được bào chữa hay đại diện cho khách hàng của mình trước  
Tòa án Việt Nam.  
- Dịch vụ kiểm toán: Việt Nam cam kết nhà đầu tư nước ngoài được cung cấp dịch  
vụ ở Việt Nam nếu đáp ứng yêu cầu về hiện diện thương mại tại Việt Nam.  
- Dịch vụ thú y: Việt Nam cam kết nhà đầu tư nước ngoài được cung cấp dịch vụ  
này ở Việt Nam với tư cách cá nhân, không được thành lập tổ chức kinh tế.  
- Dịch vụ bán lẻ: Việt Nam cam kết nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư kinh  
doanh ở Việt Nam nếu được cấp giấy phép trên cơ sở kiểm tra nhu cầu kinh tế. Điều  
kiện này hết hiệu lực sau 5 năm, kể từ ngày CPTPP có hiệu lực.  
- Dịch vụ liên quan đến nông nghiệp, săn bắn và lâm nghiệp: Việt Nam cam kết  
nhà đầu tư nước ngoài được cung cấp dịch vụ thông qua các hình thức: hợp đồng hợp  
tác kinh doanh, liên doanh hoặc mua cổ phần của một doanh nghiệp Việt Nam. Trong  
trường hợp liên doanh hoặc mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam, vốn góp của  
bên nước ngoài không được vượt quá 51%.  
- Dịch vụ viễn thông: Đối với các dịch vụ không có hạ tầng mạng, Việt Nam  
cam kết nhà đầu tư nước ngoài chỉ được cung cấp các dịch vụ thông qua liên doanh  
69  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
hoặc mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam, với phần vốn góp của bên nước ngoài  
không vượt quá 65%, hoặc 70% trong trường hợp mạng ảo riêng. Sau không quá 5  
năm kể từ khi Hiệp định CPTPP có hiệu lực, Việt Nam sẽ xóa bỏ các hạn chế về tỷ lệ  
góp vốn của nước ngoài và yêu cầu liên doanh.  
Đối với các dịch vụ có hạ tầng mạng là dịch vụ cơ bản thì nhà đầu tư nước ngoài  
chỉ được cung cấp các dịch vụ thông qua liên doanh hoặc mua cổ phần của doanh  
nghiệp Việt Nam đã được cấp phép, với phần vốn góp của bên nước ngoài không vượt  
quá 49%; còn đối với dịch vụ giá trị gia tăng thì phần vốn góp của bên nước ngoài  
không vượt quá 51%. Sau không quá 5 năm kể từ khi Hiệp định CPTPP có hiệu lực,  
Việt Nam sẽ nâng hạn chế vốn góp của nước ngoài lên 65%.  
- Dịch vụ sản xuất phim, phát hành phim và chiếu phim: Việt Nam cam kết nhà  
đầu tư nước ngoài được cung cấp các dịch vụ này thông qua hợp đồng hợp tác kinh  
doanh hoặc liên doanh với đối tác Việt Nam được phép cung cấp các dịch vụ, hoặc  
mua cổ phần doanh nghiệp Việt Nam được phép cung cấp các dịch vụ này. Trong  
trường hợp liên doanh hoặc mua cổ phần, vốn góp của bên nước ngoài không được  
vượt quá 51%.  
- Dịch vụ giải trí gồm nhà hát, nhạc sống và xiếc:Việt Nam cam kết nhà đầu tư  
nước ngoài được cung cấp dịch vụ này thông qua liên doanh hoặc mua cổ phần của  
doanh nghiệp Việt Nam với phần vốn góp của bên nước ngoài không vượt quá 49%.  
Ba năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, được phép thành lập liên doanh hoặc mua cổ  
phần của doanh nghiệp Việt Nam với phần vốn góp của bên nước ngoài không vượt  
quá 51%.  
- Dịch vụ kinh doanh trò chơi điện tử: Việt Nam cam kết nhà đầu tư nước ngoài  
được cung cấp dịch vụ thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với  
đối tác Việt Nam được cấp phép cung cấp dịch vụ hoặc mua cổ phần của doanh nghiệp  
Việt Nam được cấp phép cung cấp dịch vụ. Trong trường hợp liên doanh hoặc mua cổ  
phần, vốn góp của bên nước ngoài không được vượt quá 49%. Sau không quá 02 năm  
kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam sẽ cho phép đầu tư nước ngoài với tỷ lệ 51%  
trong dịch vụ trò chơi điện tử cung cấp qua mạng internet. Sau 05 năm kể từ khi Hiệp  
định có hiệu lực, Việt Nam sẽ bỏ hạn chế về tỷ lệ vốn góp của bên nước ngoài đối với  
các nhà cung cấp dịch vụ này.  
- Dịch vụ vận tải hàng hóa, hành khách bằng đường biển: Việt Nam cam kết  
70  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
nhà đầu tư nước ngoài được cung cấp dịch vụ vận tải hành khách và vận tải hàng hóa  
bằng đội tàu treo cờ Việt Nam thông qua liên doanh hoặc mua cổ phần của doanh  
nghiệp Việt Nam, với phần vốn góp của bên nước ngoài không vượt quá 49%. Ngoài  
ra, thuyền viên nước ngoài làm việc trên tàu không được vượt quá 1/3 tổng số thuyền  
viên. Thuyền trưởng hoặc thuyền phó thứ nhất phải là công dân Việt Nam.  
- Dịch vụ xếp dỡ công ten nơ, ngoại trừ dịch vụ cung cấp ở các sân bay: Việt Nam  
cam kết nhà đầu tư nước ngoài được cung cấp dịch vụ thông qua liên doanh hoặc mua  
cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam, với phần vốn góp của bên nước ngoài không  
vượt quá 50%.  
- Dịch vụ đại lý tàu biển: Việt Nam cam kết nhà đầu tư nước ngoài được cung cấp  
dịch vụ thông qua liên doanh hoặc mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam, với phần  
vốn góp của bên nước ngoài không vượt quá 49%.  
- Dịch vụ vận tải hành khách, hàng hóa bằng đường thủy nội địa: Việt Nam cam  
kết nhà đầu tư nước ngoài được cung cấp dịch vụ vận tải thủy nội địa thông qua liên  
doanh với đối tác Việt Nam hoặc mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam, với phần  
vốn góp của bên nước ngoài không vượt quá 49%.  
- Dịch vụ vận tải hành khách, hàng hóa bằng đường sắt: Việt Nam cam kết nhà  
đầu tư nước ngoài không được cung cấp dịch vụ vận tải hàng khách bằng đường sắt tại  
Việt Nam. Để cung cấp dịch vụ vận tải hàng hóa đường sắt thì nhà đầu tư nước ngoài  
được cung cấp thông qua một liên doanh hoặc mua cổ phần của doanh nghiệp Việt  
Nam, với phần vốn góp của bên nước ngoài không vượt quá 49%.  
- Dịch vụ vận tải hành khách, hàng hóa bằng đường bộ: Việt Nam cam kết nhà  
đầu tư nước ngoài được cung cấp dịch vụ ở Việt Nam thông qua hợp đồng hợp tác kinh  
doanh, liên doanh hoặc mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam, với phần vốn góp  
của bên nước ngoài không vượt quá 49%. Trong trường hợp vận tải hàng hóa đường  
bộ, tùy thuộc vào nhu cầu của thị trường, hạn chế về tỷ lệ vốn góp của bên nước ngoài  
có thể được nâng lên nhưng không vượt quá 51%. 100% lái xe trong liên doanh phải  
là công dân Việt Nam.  
- Công nghiệp chế tạo máy bay, chế tạo thiết bị chạy trên đường xe lửa, thiết bị  
thay thế, toa tàu và xe ô tô chở khách: Việt Nam cam kết nhà đầu tư nước ngoài được  
hoạt động chế tạo thiết bị chạy trên đường xe lửa, thiết bị thay thế, toa tàu và xe ô tô  
chở khách bằng hình thức liên doanh hoặc mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam,  
71  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
với phần vốn góp của bên nước ngoài không vượt quá 49%.  
- Phát triển năng lượng điện: Việt Nam cam kết nhà đầu tư nước ngoài không  
được sở hữu hay vận hành hệ thống trang thiết bị truyền tải điện ở Việt Nam. EVN  
(Tổng Công ty Điện lực Việt Nam) hiện là đơn vị duy nhất được giao sở hữu và vận  
hành hệ thống trang thiết bị truyền tải điện ở Việt Nam.  
- Dịch vụ liên quan đến phân phối năng lượng: Việt Nam cam kết nhà đầu tư  
nước ngoài không được phép cung cấp dịch vụ liên quan đến phân phối năng lượng,  
không được đầu tư nước ngoài vào các dịch vụ này tại Việt Nam.  
- Dịch vụ tài chính do các tổ chức phi tài chính cung cấp, ngoại trừ việc cung cấp  
và chuyển giao các thông tin tài chính và dịch vụ tư vấn tài chính: Việt Nam được duy  
trì tất cả những điều kiện hiện có đối với nhà đầu tư nước ngoài cung cấp dịch vụ này  
ở Việt Nam.  
- Sản xuất các sản phẩm thuốc lá, bao gồm cả xì gà và thuốc lá điếu: Việt Nam  
cam kết nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư tại Việt Nam thông qua liên doanh hoặc  
mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam với tỷ lệ vốn của bên nước ngoài không vượt  
quá 49%.  
- Lĩnh vực khai khoáng: Việt Nam cam kết nhà đầu tư nước ngoài được thực hiện  
dự án đầu tư nếu được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chấp thuận khi thấy dự  
án mang lại lợi ích ròng cho Việt Nam.  
- Lĩnh vực dầu khí: Việt Nam cam kết nhà đầu tư nước ngoài chỉ được thực hiện  
các hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí ở Việt Nam thông qua hợp đồng với Tập  
đoàn dầu khí Việt Nam. Đối với hoạt động cung cấp dịch vụ vận hành bay cho các  
hoạt động dầu khí thì nhà đầu tư nước ngoài được cung cấp dịch vụ thông qua các hợp  
đồng liên doanh với công ty của Việt Nam.  
- Dịch vụ định giá tài sản: Việt Nam cam kết nhà đầu tư là cá nhân nước ngoài  
không được cung cấp dịch vụ định giá tài sản tại Việt Nam. Tổ chức nước ngoài được  
cung cấp dịch vụ này tại Việt Nam trong trường hợp họ là tổ chức được thành lập,  
hoạt động cung cấp dịch vụ định giá hợp pháp tại nước sở tại, và phải thông qua hình  
thức công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần với doanh  
nghiệp Việt Nam.  
- Lĩnh vực kinh doanh bất động sản: Việt Nam bảo lưu những hạn chế về quyền  
72  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
của các chủ thể nước ngoài so với các chủ thể Việt Nam. Các doanh nghiệp đầu tư  
nước ngoài chỉ được thực hiện một số hoạt động kinh doanh bất động sản nhất định  
theo Luật kinh doanh bất động sản...  
- Dịch vụ hệ thống an ninh: Việt Nam cam kết nhà đầu tư nước ngoài được kinh  
doanh dịch vụ thông qua hình thức thành lập doanh nghiệp liên doanh hoặc mua cổ  
phần của một doanh nghiệp Việt Nam với phần vốn góp của bên nước ngoài không  
vượt quá 49%. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được cung cấp dịch vụ  
hệ thống an ninh trừ khi họ là doanh nghiệp có chuyên môn trong lĩnh vực kinh doanh  
dịch vụ hệ thống an ninh, có tổng vốn và tài sản ít nhất là 500.000 USD, và đã hoạt  
động ít nhất 5 năm liền, không vi phạm pháp luật của nước sở tại cũng như các nước  
liên quan. Nhà đầu tư là cá nhân nước ngoài không được phép cung cấp dịch vụ hệ  
thống an ninh tại Việt Nam.  
- Dịch vụ vận tải hàng không, bao gồm hàng không quốc tế và nội địa: Việt Nam  
cam kết nhà đầu tư nước ngoài được thực hiện dịch vụ tại Việt Nam thông qua việc  
góp vốn, mua cổ phần với điều kiện tổng vốn góp hoặc cổ phần nắm giữ của nước  
ngoài bị hạn chế ở mức dưới 30% tổng số vốn điều lệ hoặc cổ phần của một hãng  
hàng không Việt Nam. Một cá nhân Việt Nam hoặc pháp nhân Việt Nam không phải là  
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải nắm giữ phần vốn điều lệ hoặc cổ phần  
lớn nhất trong hãng hàng không đó. Ít nhất 2/3 tổng số thành viên Ban Điều hành của  
hãng hàng không có vốn đầu tư nước ngoài phải là người Việt Nam. Tổng giám đốc  
(hoặc Giám đốc) và đại diện hợp pháp của hãng hàng không có vốn đầu tư nước ngoài  
thành lập ở Việt Nam phải là người Việt Nam.  
- Dịch vụ giáo dục: Đối với giáo dục tiểu học và trung học, Việt Nam cam kết nhà  
đầu tư nước ngoài được cung cấp các dịch vụ tại Việt Nam thông qua hình thức: (i)  
Cơ sở giáo dục mầm non thực hiện chương trình giáo dục theo chương trình của nước  
ngoài, dành cho trẻ em là người nước ngoài; (ii) Cơ sở giáo dục phổ thông thực hiện  
chương trình giáo dục theo chương trình của nước ngoài, cấp văn bằng của nước ngoài,  
dành cho học sinh là người nước ngoài và một bộ phận học sinh Việt Nam có nhu cầu.  
Cơ sở giáo dục phổ thông được phép tiếp nhận học sinh Việt Nam, nhưng số học sinh  
Việt Nam ở trường tiểu học và trung học cơ sở không quá 10% tổng số học sinh của  
trường, ở trường trung học phổ thông không quá 20% tổng số học sinh của trường.  
Đối với dịch vụ giáo dục bậc cao, giáo dục người lớn và các dịch vụ giáo dục  
khác: Nhà đầu tư nước ngoài không được cung cấp dịch vụ giáo dục trong các môn  
73  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
học: an ninh, quốc phòng, chính trị, tôn giáo, văn hóa Việt Nam và các môn học khác  
cần thiết để bảo vệ đạo đức xã hội Việt Nam. Hạn chế này không ngăn cản việc cung  
cấp dịch vụ giáo dục trong các môn học mà Việt Nam đã cam kết trong các hiệp định  
thương mại khác.  
Trên đây là những cam kết của Việt Nam về đầu tư, thương mại dịch vụ có liên  
quan đến điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài trong CPTPP. Tuy nhiên, cần  
lưu ý về sự khác biệt về quy tắc cam kết trong CPTPP với quy tắc cam kết trong WTO  
và các FTA mà Việt Nam đã tham gia. Trong những WTO và các FTA trước đây, Việt  
Nam cam kết mở cửa dịch vụ, đầu tư ít, quy tắc là lĩnh vực nào mở cửa thì đưa vào  
biểu cam kết, còn nếu không đưa vào biểu cam kết nghĩa là không mở cửa. Còn đối  
với CPTPP thì áp dụng quy tắc ngược lại: lĩnh vực nào không mở cửa (bảo lưu) thì  
phải đưa vào biểu cam kết, còn nếu không đưa vào biểu cam kết có nghĩa là mở cửa.  
Điều này có nghĩa là, những cam kết trên của Việt Nam trong CPTPP chính là những  
hạn chế của Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài, còn đối với những ngành, lĩnh  
vực mà Việt Nam không có cam kết thì Việt Nam thực hiện việc mở cửa hoàn toàn,  
việc đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không chịu bất cứ những điều  
kiện đầu tư ràng buộc, hạn chế nào. Bên cạnh đó, CPTPP còn áp dụng cơ chế Ratchet  
“chỉ tiến không lùi” trong cam kết, nghĩa là đến một lúc nào đó nếu Việt Nam mở cửa  
một lĩnh vực hiện chưa mở cửa, dù sau này thấy có sự không phù hợp thì cũng không  
được đóng lại, và nếu có thay đổi cam kết thì chỉ được thay đổi theo hướng thuận lợi  
hơn cho nhà đầu tư.  
4. MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ  
Từ việc nghiên cứu các quy định hiện hành của Việt Nam về điều kiện đầu tư  
đối với nhà đầu tư nước ngoài và tìm hiểu các cam kết về đầu tư của Việt Nam trong  
CPTPP, tác giả xin đưa ra một số đánh giá sau đây:  
Thứ nhất, có sự tương thích nhất định giữa pháp luật Việt Nam hiện hành với các  
cam kết của Việt Nam trong CPTP về điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài.  
Thậm chí đối với một số ngành, nghề, lĩnh vực đầu tư nhất định, các cam kết của Việt  
Nam trong CPTPP còn ở mức độ chặt chẽ hơn so với quy định của pháp luật trong  
nước. Ví dụ, đối với ngành dịch vụ thú y, pháp luật Việt Nam hiện hành không có quy  
định về điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài, nhưng cam kết trong CPTPP lại chỉ  
cho phép nhà đầu tư nước ngoài được cung cấp dịch vụ với tư cách cá nhân, không  
74  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
được thành lập tổ chức kinh tế. Hay đối với dịch vụ liên quan đến nông nghiệp, săn  
bắn và lâm nghiệp, cam kết trong CPTPP đưa ra các điều kiện về hình thức đầu tư, tỷ  
lệ sở hữu vốn điều lệ đối với nhà đầu tư nước ngoài, nhưng pháp luật Việt Nam không  
quy định điều kiện nào. Đối với dịch vụ kinh doanh trò chơi điện tử, Việt Nam đưa ra  
3 điều kiện với nhà đầu tư nước ngoài trong CPTPP là hình thức đầu tư, đối tác Việt  
Nam, tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ, nhưng pháp luật Việt Nam không quy định điều kiện  
đối với nhà đầu tư nước ngoài. Đối với dịch vụ vận tải hành khách, hàng hóa bằng  
đường bộ, pháp luật Việt Nam cũng không đặt ra điều kiện đối với nhà đầu tư nước  
ngoài, nhưng Việt Nam lại có những cam kết về hình thức đầu tư, tỷ lệ sở hữu vốn  
điều lệ trong CPTPP.  
Sở dĩ có sự tương thích nhất định giữa pháp luật Việt Nam với các cam kết tại  
AEC và CPTPP vì ngay từ khi bắt đầu đám phán để gia nhập WTO, chúng ta đã từng  
bước tiến hành việc cải cách hệ thống pháp luật về đầu tư, kinh doanh, doanh nghiệp  
để phù hợp với những cam kết gia nhập WTO và những cam kết quốc tế khác, thể  
hiện trong việc xây dựng và ban hành Luật Đầu tư năm 2005 và Luật Doanh nghiệp  
năm 2005, hiện nay là Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014. Để  
thực hiện các cam kết trong WTO, Việt Nam đã từng bước thực hiện việc hoàn thiện  
môi trường pháp lý cho hoạt động đầu tư theo các chuẩn đầu tư trong WTO, nên các  
nguyên tắc cơ bản về đầu tư của WTO về cơ bản đều đã được Việt Nam nội luật hóa  
trong pháp Luật Đầu tư của mình thời gian qua.  
Bên cạnh đó, quá trình Việt Nam xây dựng Luật Đầu tư năm 2014 cũng là quá  
trình Việt Nam đàm phán Hiệp định TPP - tiền thân của CPTPP ngày nay. Cơ quan  
chịu trách nhiệm đàm phán, về đầu tư trong các hiệp định này là Bộ Kế hoạch và Đầu  
tư, và đây cũng đồng thời, là cơ quan chủ trì soạn thảo Luật Đầu tư năm 2014. Vì vậy,  
các cam kết trong trong CPTPP không hoàn toàn xa lạ với các nhà soạn thảo luật Việt  
Nam. Các cơ quan này cũng đã có sự dự liệu trước và đưa vào Luật đầu tư các nguyên  
tắc nằm trong phương án đàm phán mà Việt Nam sẽ chấp nhận.  
Chính vì vậy, giữa các cam kết của Việt Nam trong CPTPP với pháp Luật Đầu tư  
Việt Nam hiện hành đã có sự tương thích, phù hợp nhất định. Nên để thực thi các cam  
kết về đầu tư trong CPTPP, Việt Nam không buộc phải sửa đổi pháp luật đầu tư, kinh  
doanh trong nước. Tuy vậy, có nhiều vấn đề Việt Nam cần lưu ý để thực thi có hiệu  
quả các cam kết của mình.  
Thứ hai, so với các cam kết đã có trong WTO và các Hiệp định tự do thương mại  
75  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
mà Việt Nam đã ký kết, nhiều cam kết của Việt Nam trong CPTPP còn có độ mở hơn,  
tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nhà đầu tư. Cụ thể, WTO chỉ cam kết chỉ mở cửa thị  
trường dịch vụ, còn trong CPTPP, các cam kết của Việt Nam còn mở rộng sang cả hoạt  
động chế tạo như khai thác khoáng sản, thăm dò và khai thác dầu khí, truyền tải điện.  
Trong lĩnh vực dịch vụ, các cam kết của Việt Nam về dịch vụ tư vấn pháp lý, dịch vụ  
quảng cáo, phân phối, viễn thông, môi trường, giải trí, trò chơi điện tử qua mạng, dịch  
vụ thông quan và một số hoạt động logistic… trong CPTPP cũng có mức độ tiến xa  
hơn so với các cam kết trong WTO. Ví dụ: trong lĩnh vực quảng cáo, cam kết trong  
WTO chỉ cho nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức liên doanh hoặc hợp đồng  
hợp tác kinh doanh; còn cam kết trong CPTPP là cho nhà đầu tư nước ngoài thành lập  
công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài. Điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài kinh  
doanh dịch vụ giải trí trong cam kết của WTO là sở hữu không quá 49% vốn điều lệ  
của doanh nghiệp liên doanh, còn trong CPTPP là 51%. Đối với dịch vụ trò chơi điện  
tử qua mạng, quy định tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong WTO là không  
quá 49% vốn điều lệ, còn tỷ lệ này trong cam kết CPTPP là 51% trong hai năm và lên  
100% sau 5 năm Hiệp định có hiệu lực. Hay về dịch vụ thông quan và một số hoạt  
động logistic, có những dịch vụ chúng ta chỉ cho nhà đầu tư nước ngoài sở hữu tối đa  
50% vốn điều lệ trong cam kết của WTO, còn với CPTPP thì lĩnh vực này được mở  
cửa tự do cho nhà đầu tư nước ngoài với tỷ lệ sở hữu này là 100%.  
Có thể nói, các cam kết đầu tư trong CPTPP được đánh giá ở mức cao nhất, thuận  
lợi nhất cho nhà đầu tư so với tất cả những gì cam kết trong các hiệp định thương mại  
tự do hay hiệp định bảo hộ đầu tư song phương mà Việt Nam đã từng ký kết từ trước  
cho tới nay. Các cam kết của CPTTP tạo thuận lợi cho các hoạt động đầu tư qua biên  
giới, vì vậy thông qua CPTPP, Việt Nam có điều kiện thu hút vốn đầu tư từ các nước  
thành viên khác, đặc biệt là từ các nước mà Việt Nam chưa từng ký kết hiệp định tự do  
thương mại như Canada, Mexico. Mặt khác, tham gia CPTPP cũng là cơ hội để doanh  
nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế lớn tìm kiếm thị trường đầu tư tại  
các nước thành viên CPTPP.  
5. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VỀ THỰC THI CÁC CAM KẾT ĐẦU TƯ CỦA  
VIỆT NAM TRONG CPTPP  
Như đã phân tích ở trên, pháp Luật Đầu tư Việt Nam đã dần dần tiệm cận những  
chuẩn mực về đầu tư quốc tế. Chính vì thế, trong thời gian trước mắt, để thực thi các  
76  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
cam kết về đầu tư trong CPTPP, Việt Nam không buộc phải sửa đổi pháp luật đầu tư,  
kinh doanh trong nước. Tuy vậy, có nhiều vấn đề Việt Nam cần lưu ý để thực thi có  
hiệu quả các cam kết của mình trong CPTPP như sau:  
Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước và bản thân các nhà đầu tư, doanh nghiệp  
trước hết cần nắm vững, hiểu rõ, hiểu đúng về các cam kết trong CPTPP. CPTTP tạo  
thuận lợi cho hoạt động đầu tư qua biên giới, nên sẽ là cơ hội để Việt Nam thu hút vốn  
đầu tư từ các nước thành viên khác, đồng thời cũng là cơ hội để doanh nghiệp Việt  
Nam, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế lớn tìm kiếm, mở rộng thị trường đầu tư sang  
các nước thành viên. Vì vậy, về phía cơ quan nhà nước cần nắm vững các cam kết để  
tuyên truyền, phổ biến, tư vấn cho doanh nghiệp, hỗ trợ thông tin cho doanh nghiệp  
khi cần. Đồng thời, việc hiểu rõ, hiểu đúng về các cam kết trong CPTPP sẽ giúp cơ  
quan nhà nước tìm ra các xu hướng chính sách có lợi cho Việt Nam, hoạch định được  
các chính sách phù hợp về lâu dài. Về phía doanh nghiệp cũng cần chủ động tìm hiểu  
thông tin về CPTPP để nắm vững cam kết của Việt Nam và các thị trường đối tác, đặc  
biệt là các thông tin về ưu đãi thuế quan và cam kết đầu tư của các quốc gia thành viên  
để tận dụng các lợi ích mà CPTPP mang lại cho hoạt động xuất khẩu, đầu tư trong  
nước cũng như nước ngoài.  
Thứ hai, Chính phủ Việt Nam cần tiếp tục cải cách thể chế mạnh mẽ hơn nữa để  
thực thi các cam kết về tính minh bạch và công khai thông tin trong CPTPP. Có thể  
nói, CPTPP là một hiệp định tự do thương mại thế hệ mới với tiêu chuẩn cao về tính  
minh bạch và công khai thông tin. CPTPP quy định mỗi nước thành viên phải có cơ  
chế minh bạch, công khai hóa các quy định của nước mình liên quan đến quyền tự  
do kinh doanh, đầu tư của nhà đầu tư. Đây vốn dĩ lại là điểm yếu của Việt Nam. Dù  
trong những năm qua, chúng ta đã có nhiều nỗ lực trong cải cách thể chế gồm hoàn  
thiện hệ thống pháp luật, bộ máy nhà nước, cơ chế thực thi chính sách nhằm cải thiện  
môi trường kinh doanh nhưng những nỗ lực đó mới chỉ là bước đầu. Chúng ta vẫn cần  
phải đi sâu vào cải cách thể chế để thật sự xây dựng được một hệ thống pháp luật hoàn  
chỉnh, đồng bộ, xây dựng được bộ máy tổ chức thực thi pháp luật một cách chuyên  
nghiệp và minh bạch, đáp ứng các yêu cầu hội nhập.  
Thứ ba, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần nắm vững nguyên tắc Ratchet của  
CPTPP khi thực thi hay ban hành các chính sách đầu tư mới. Nguyên tắc Ratchet trong  
CPTPP - còn gọi là nguyên tắc “chỉ tiến không lùi” - chỉ cho phép quốc gia thành viên  
điều chỉnh chính sách theo hướng thuận lợi hơn, tốt hơn cho doanh nghiệp. Ví dụ, hiện  
77  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
nay chúng ta đang cam kết nhà đầu tư nước ngoài được cung cấp dịch vụ vận tải biển  
thông qua liên doanh hoặc mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam, với phần vốn  
góp của bên nước ngoài không vượt quá 49%. Nếu đến một lúc nào đó, chúng ta điều  
chỉnh tỷ lệ này lên 51% và sau này thấy rằng việc điều chỉnh đó tiềm ẩn nguy cơ, thách  
thức với cơ quan quản lý nhà nước nên muốn điều chỉnh lại về mức 49% thì lưu ý rằng  
với CPTPP, cơ chế Ratchet không cho phép chúng ta làm như vậy. Chúng ta không thể  
điều chỉnh lại về 49% nữa mà chỉ có thể giữ nguyên mức 51% hoặc điều chỉnh tăng  
lên theo hướng có lợi cho nhà đầu tư. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách cần nắm  
vững nguyên tắc này để có những đánh giá kỹ càng trước khi điều chỉnh, thay đổi các  
chính sách về đầu tư, thương mại cho phù hợp, để tránh tình trạng vi phạm các cam  
kết quốc tế, làm giảm uy tín của quốc gia.  
Thứ tư, dù hiện tại chúng ta chưa cần sửa đổi pháp Luật Đầu tư để thực hiện các  
cam kết trong CPTPP, nhưng xét về lâu về dài, chúng ta cần rà soát, cập nhật, sửa đổi  
các điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài để đảm bảo sự cạnh tranh quốc tế  
về đầu tư, tăng khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.  
Việc rà soát, hoàn thiện hệ thống điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài cần  
theo tiêu chí là phải cập nhật xu hướng chính sách đầu tư quốc tế, xây dựng các điều  
kiện đầu tư rõ ràng, minh bạch, thông thoáng, phù hợp với thực tế để vừa thu hút đầu  
tư nước ngoài, vừa không bỏ lỡ những nguồn lực trong nước.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO:  
1. Báo Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, CPTPP có hiệu lực vào  
nay/350816.vgp truy cập ngày 31/10/2018.  
2. Chính phủ (2015), Nghị định số 118/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi  
hành một số điều của Luật Đầu tư.  
3. Chính phủ (2016), Nghị định số 92/2016/NĐ-CP quy định về các ngành, nghề kinh  
doanh có điều kiện trong lĩnh vực hàng không dân dụng.  
4. Quốc hội, Luật Luật sư năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật  
sư năm 2012.  
5. Quốc hội (2014), Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014  
78  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP  
6. Quốc hội, Luật Điện ảnh năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện  
ảnh năm 2009.  
7. Quốc hội (2009), Luật Viễn thông năm 2009.  
8. Quốc hội (2014), Luật Phá sản năm 2014.  
9. Hiệp định Đối tác toàn diện và chiến lược xuyên Thái Bình Dương (2018), Văn kiện:  
chương Đầu tư.  
10. Hiệp định Đối tác toàn diện và chiến lược xuyên Thái Bình Dương (2018), Văn kiện:  
Phụ lục 1 Biểu cam kết của Việt Nam.  
79  
pdf 17 trang Thùy Anh 10380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các cam kết của Việt Nam về điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài tại CPTPP - Một số đánh giá và khuyến nghị", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_cam_ket_cua_viet_nam_ve_dieu_kien_dau_tu_doi_voi_nha_dau.pdf