Bảo đảm quyền của người đồng giới trong hoạt động tạm giữ, tạm giam theo quy định của luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015

BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƢỜI ĐỒNG GIỚI TRONG HOẠT ĐỘNG TẠM  
GIỮ, TẠM GIAM THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THI HÀNH  
TẠM GIỮ, TẠM GIAM NĂM 2015  
ENSURING THE RIGHTS OF SAME-SEX PEOPLE IN CUSTODY ACTIVITIES  
IN ACCORDANCE WITH THE LAW ON ENFORCEMENT OF TEMPORARY  
DETENTION OR CUSTODY IN 2015  
Nguyễn Thị Hoài Linh  
Hoàng Thị Thanh Thủy  
Nguyễn Thành Long  
TÓM TẮT: Người đồng giới khi thực hiện những hành vi phạm tội sẽ phải chịu  
các chế tài theo quy định của pháp luật hình sự. Chính vì thế, hệ thống pháp luật Việt  
Nam đã và đang hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm áp dụng hiệu quả đối với đối  
tượng tội phạm này. Pháp luật Việt Nam đã có những quy định nhằm đảm bảo quyền  
của người đồng giới. Tuy nhiên, các quy định đó vẫn còn những hạn chế, chưa cụ thể  
dẫn đến việc áp dụng và thi hành gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, nhóm tác giả đưa ra đề  
tài “Pháp luật bảo đảm quyền của người đồng giới trong hoạt động tạm giữ, tạm  
giam” nhằm nghiên cứu các quy định pháp luật quốc tế và liên hệ đến Việt Nam về  
việc tạm giữ, tạm giam đối với người đồng giới. Qua đó, phân tích những bất cập  
trong quy định của pháp luật và kiến nghị đề xuất giải pháp hoàn thiện.  
Từ khóa: Người đồng giới, Tạm giữ, Tạm giam, Quyền con người.  
ABSTRACT:Same-sex people who commit crimes will be subject to sanctions in  
accordance with the criminal law. Therefore, the Vietnamese legal system has been  
perfecting legal provisions to effectively apply to this criminal. Vietnamese law has  
provisions to ensure the rights of same-sex people. However, those regulations still  
have limitations and are not specific, leading to difficulties in application and  
implementation. Therefore, the authors put forward the topic "Law to ensure the rights  
of same-sex people in custody and temporary detention" to study international legal  
Sinh viên lớp Luật K42G; SĐT:0856386962; Gmail: linhnguyenn002@gmail.com  
 Sinh viên lớp Luật K42H; SĐT:0326988253; Gmail: hthuy1789@gmail.com  
 Sinh viên lớp Luật K42G; SĐT: 0799565478; Gmail: longthanh.081000@gmail.com  
128  
regulations and related to Vietnam on same-sex people. Thereby, analyze the  
inadequacies in the provisions of the law and propose solutions to improve.  
Keywords: Same-sex people, Detention, Detention, Human rights.  
1. Đặt vấn đề  
Hiện nay, các quyền của ngƣời đồng giới đang ngày càng đƣợc quan tâm và bảo  
vệ. Trong lĩnh vực hình sự, các chế tài, biện pháp đƣa ra một mặt nhằm răn đe, trừng  
phạt mặt khác có ý nghĩa trong việc giáo dục tuân thủ pháp luật. Do đó, pháp luật hình  
sự cần mang tính nhân đạo, đảm bảo các quyền con ngƣời, đặc biệt là với những ngƣời  
đồng giới. Pháp luật thế giới đã có những quy định vụ thể về việc tạm giữ, tạm giam  
ngƣời đồng giới nhằm đảm bảo các quyền con ngƣời của họ trong thời gian bị tạm giữ,  
tạm giam. Trong gần 35 năm đổi mới, hệ thống pháp luật Việt Nam đã hoàn thiện hơn  
cả về tƣ duy pháp lý và kỹ thuật lập pháp ở tất cả các lĩnh vực, trong đó có hoạt động  
tạm giữ, tạm giam. Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 đã có những quy định về  
ngƣời đồng giới nhằm bảo vệ các quyền của họ trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam.  
Tuy nhiên, những quy định này vẫn chƣa cụ thể, nhiều bất cập, chƣa có các căn bản  
hƣớng dẫn thi hành nên thực thiễn thực hiện quy định gặp nhiều khó khăn, vƣớng mắc.  
Vì vậy, nhóm tác giả nghiên cứu đề tài “Pháp luật bảo đảm quyền của ngƣời đồng giới  
trong hoạt động tạm giữ, tạm giam”. Thông qua việc nghiên cứu pháp luật thế giới và  
Việt Nam về hoạt động tạm giữ, tạm giam ngƣời đồng giới, nhóm tác giả đƣa ra một  
số bất cập trong quy định của pháp luật. Từ đó, nhóm tác giả đề xuất một số biện pháp  
nhằm hoàn thiện pháp luật về tạm giữ, tạm giam, đặc biệt là bảo vệ quyền của ngƣời  
đồng giới trong hoạt động tạm giữ, tạm giam.  
2. Khái niệm, ý nghĩa của hoạt động tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự  
2.1. Khái niệm  
Tạm giữ, tạm giam đƣợc xem là các biện pháp ngăn chặn đƣợc áp dụng nhằm  
ngăn ngừa tội phạm xảy ra hoặc khi có căn cứ chứng tỏ ngƣời phạm tội gây khó khăn  
cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành  
án. Tạm giữ có thể áp dụng đối với ngƣời bị giữ trong trƣờng hợp khẩn cấp, ngƣời bị  
bắt trong trƣờng hợp phạm tội quả tang, ngƣời phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với  
ngƣời bị bắt theo quyết định truy nã. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo  
129  
về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội ít nghiêm trọng mà có  
căn cứ cho rằng ngƣời đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có  
thể tiếp tục phạm tội1. Nhƣ vậy, có thể thấy tạm giữ, tạm giam là các biện pháp cách li  
bị can, bị cáo ra khỏi xã hội, làm hạn chế một số quyền của bị can, bị cáo nhằm phục  
vụ cho quá trình giải quyết vụ án một cách thuận lợi hơn. Tuy nhiên, đối với những  
ngƣời bị tạm giữ, tạm giam trừ trƣờng hợp tạm giam để thi hành án thì họ chỉ mới là  
tình nghi, chƣa thể kết luận là họ có tội hay không. Do đó, cần phải đảm bảo các quyền  
con ngƣời của họ trong quá trình tạm giữ, tạm giam.  
2.2. Ý nghĩa  
Hoạt động tạm giữ, tạm giam là biện pháp ngăn chặn, không để bị can, bị cáo có  
điều kiện để tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, hành vi gây khó khăn trong quá trình  
giải quyết vụ án và để đảm bảo thi hành án. Thông qua đó, ngăn ngừa và giảm thiểu  
tối đa các thiệt hại mà tội phạm gây ra cho cộng đồng.  
Bên cạnh đó, tạm giữ, tạm giam còn nhằm bảo đảm thực hiện tốt các chức năng  
của các cơ quan tiến hành tố tụng. Chẳng hạn nhƣ trong công tác thu thập chứng cứ,  
lời khai và quản lý, giám sát bị can, bị cáo. Vì vậy, cần phải đảm bảo quyền con ngƣời  
của ngƣời bị tạm giữ, tạm giam nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật hình sự  
Việt Nam và phù hợp với pháp luật Quốc tế.  
2.3. Quyền con người của người đồng giới  
Quyền con ngƣời ( Tiếng anh: Human Rights) là những quyền tự nhiên của con  
ngƣời và không bị tƣớc bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào. Theo định nghĩa của  
Văn phòng Cao Uỷ Liên Hiệp Quốc, quyền con ngƣời là những đảm bảo pháp lý toàn  
cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự  
bỏ mặc mà làm tổn thƣơng đến nhân phẩm, những tự do cơ bản của con ngƣời. Bên  
cạnh định nghĩa trên, một định nghĩa khác cũng đƣợc trích dẫn, theo đó, quyền con  
ngƣời là sự đƣợc phép mà tất cả các thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân  
biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội v.v…đều có từ khi sinh ra, đơn giản  
1 Điều 117, Điều 119, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.  
130  
bởi vì họ là con ngƣời. Định nghĩa này mang dấu ấn của học thuyết về các quyền tự  
nhiên2.  
Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ ngƣời bị buộc tội sẽ  
gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc để đảm bảo thi hành án thì cơ  
quan, ngƣời có thẩm quyền trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện  
pháp tạm giữ, tạm giam. Quyền của ngƣời đồng giới khi bị tạm giam, tạm giữ đƣợc  
hiểu đó là những quyền đƣợc sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền đƣợc  
đối xử bình đẳng… Đó là những quyền mà mỗi con ngƣời đều đƣợc hƣởng mà không  
bị phân biệt theo giới tính.  
3. Pháp luật về quyền của ngƣời đồng giới bị tạm giữ, tạm giam  
3.1. Pháp luật quốc tế về quyền của người đồng giới bị tạm giữ, tạm giam  
Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, Công ƣớc quốc tế về các quyền dân  
sự và chính trị năm 1966 cũng đã khẳng định quyền con ngƣời trong lĩnh vực hình sự  
nói chung, trong đó có quyền của ngƣời đồng giới3. Ngƣời đồng giới cũng là những  
con ngƣời và họ có quyền đƣợc hƣởng các quyền con ngƣời một cách đầy đủ nhất mà  
không một cá nhân, tổ chức nào có thể xâm phạm đến các quyền con ngƣời của họ.  
Điều 1, Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 quy định: “Mọi ngƣời sinh ra  
tự do và bình đẳngvề phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lƣơng tri và phải đối xử với  
nhau trong tình bác ái”. Ở tại Điều 2 của Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948  
cũng đã ngăn cấm những hành vi phân biệt dựa trên màu da, chủng tộc, giới tính nam  
nữ hay bất cứ thân trạng nào khác4. Những quy định này cho thấy mọi cá thể trong đó  
có ngƣời đồng giới đều có quyền con ngƣời, không ai đƣợc có những hành vi kì thị và  
phân biệt lẫn nhau.  
Điều 10, Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 quy định  
về việc đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm vốn có của con ngƣời. Chế độ giam,  
giữ, thi hành án phải nhằm mục đích chính là cải tạo và đƣa họ trở lại xã hội5. Nhƣ  
2 Phƣơng Minh, (2020), Quyền con ngƣời và đảm bảo quyền con ngƣời ở Việt Nam, báo Quốc phòng thủ đô,  
truy cập ngày 20/08/2021  
3 Xem: Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948  
Điều 7, 9, 10 Công ƣớc Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966  
4 Điều 2, Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền 1948  
5 Điều 10, Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966  
131  
vậy, ngƣời đồng giới khi thi hành án phạt tù cũng phải đƣợc đối xử nhân đạo, đƣợc tôn  
trọng và áp dụng các chế độ giam, giữ riêng biệt vì đây là các trƣờng hợp đặc biệt.  
Một văn kiện hết sức quan trọng cần phải đƣợc nhắc đến là “Nguyên tắc  
Yogyakarta6”. Để giải quyết những vấn đề về quyền cho ngƣời đồng giới, ngày  
26/3/2007, một nhóm chuyên gia nhân quyền đƣa ra “Nguyên tắc Yogyakarta” để áp  
dụng luật nhân quyền cho những vấn đề có liên quan đến ngƣời đồng giới. Các nguyên  
tắc này xác định nghĩa vụ của các quốc gia là phải tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm việc  
thực hiện quyền con ngƣời của tất cả mọi ngƣời bất kể xu hƣớng tính dục hoặc giới  
tính của họ. Theo đó, các chế độ tạm giam, tạm giữ, thi hành án cho ngƣời đồng giới  
phải đƣợc bảo đảm nhằm bảo vệ họ khỏi những hành vi bạo lực, xâm hại tình dục.  
Các văn kiện quốc tế nêu trên mặc dù không quy định rõ về các quyền của ngƣời  
đồng giới trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam. Tuy nhiên, ngƣời đồng giới cũng có  
các quyền con ngƣời và pháp luật quốc tế đã ghi nhận những nguyên tắc nhằm đảm  
bảo ngƣời đồng giới trong hoạt động tạm giữ, tạm giam. Do đó, trong hoạt động tố  
tụng hình sự thì các cơ quan chức năng phải đảm bảo và tôn trọng quyền con ngƣời  
của ngƣời đồng giới. Tránh việc kỳ thị về giới tính dẫn đến những hành vi bạo lực,  
xâm phạm đến các quyền của ngƣời đồng giới. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để các  
quốc gia trong đó có Việt Nam cụ thể hóa các nguyên tắc này vào trong pháp luật quốc  
gia phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội.  
Các quốc gia trên thế giới cũng đã có một số quy định của pháp luật về quyền  
của ngƣời đồng giới trong thời gian tạm giữ, tạm giam nhƣ Úc, Mỹ và Canada. Úc đã  
có một dự luật từng đƣợc đề cập trong "Tù nhân chuyển giới: Phân tích trọng yếu về  
thủ tục mới của dịch vụ cải tạo Queensland" tuy nhiên phần lớn không cho thấy hiệu  
quả cao.  
Canada đã có dự luật C-16, một dự luật ngăn chặn sự phân biệt đối xử dựa trên  
bản dạng giới, đƣợc thông qua ở Canada, các tù nhân chuyển giới phải đƣợc đƣa vào  
các cơ sở dựa trên bản dạng giới của họ. Ngoài ra, Thủ tƣớng Justin Trudeau hứa sẽ  
"xem xét" việc chỉ định nhà tù cho ngƣời chuyển giới để đảm bảo rằng những tù nhân  
này cuối cùng sẽ đƣợc vào các cơ sở phù hợp với bản dạng giới của họ. Hơn nữa, các  
6 Minh Lê, (2007), Bộ nguyên tắc Yogyakarta,  
132  
tù nhân chuyển giới sẽ đƣợc xem xét phẫu thuật chuyển đổi giới tính nếu họ bị giam  
giữ trên 12 tháng liên tục7.  
Tại Mỹ thì vào 14 tháng 11 năm 2013, tại Quận Harris thuộc tiểu bang Texas đã  
thông qua chính sách tù nhân LGBT, nhằm bảo vệ và đảm bảo đối xử bình đẳng với  
những ngƣời phạm tội là đồng tính nam, đồng tính nữ, song tính và chuyển giới. Điều  
này cho phép các cá nhân đƣợc cƣ trú dựa trên giới tính mà họ xác định thay vì giới  
tính sinh học của họ. Chính sách này cũng nêu rõ cách thức khám xét các tù nhân. Nó  
bao gồm một "dự án khu vực an toàn" sẽ xác nhận một "mối quan hệ đoàn kết tích  
cực" kết nối bộ phận cảnh sát trƣởng và cộng đồng ngƣời đồng tính8.  
Tại Nhật bản, một quốc gia thuộc khu vực Châu Á cũng đã có những điều luật  
quy định về ngƣời đồng giới nhƣ Đạo luật về các cơ sở giam, giữ, hình phạt và đối xử  
với tù nhân và ngƣời bị giam, giữ. Điều 34.2 của Đạo luật về giam giữ hình phạt yêu  
cầu các cán bộ quản giáo nữ phải kiểm tra các tù nhân nữ và việc thực hành này cũng  
đƣợc mở rộng cho phụ nữ chuyển giới bất kể tình trạng của họ có đƣợc phẫu thuật xác  
nhận giới tính hay không9.  
Qua những quy định của các Công ƣớc, Tuyên ngôn quốc tế về quyền con ngƣời  
cho thấy mặc dù không có các chế định về tạm giữ, tạm giam ngƣời đồng giới nhƣng  
đã có những quy định về quyền lợi bảo đảm cho ngƣời đồng giới trong hoạt động tạm  
giữ, tạm giam; các quy định về chống phân biệt đối xử và đảm bảo quyền con ngƣời  
trong tố tụng hình sự; các nguyên tắc mà các quốc gia cần tuân thủ trong hoạt động  
tạm giữ, tạm giam. Pháp luật quốc tế quy định rõ việc tạm giữ, tạm giam phải tuân thủ  
quy định của pháp luật, do cơ quan có thẩm quyền tiến hành. Cụ thể là phải đảm bảo  
quyền của ngƣời bị tạm giữ, tạm giam theo các quy chuẩn quốc tế. Phải đối xử nhân  
đạo, tôn trọng nhân phẩm, danh dự của ngƣời bị tạm giữ, tạm giam và nghiêm cấm các  
hành vi tra tấn, đối xử vô nhân đạo, bức cung, nhục hình đối với ngƣời bị tạm giữ, tạm  
giam. Pháp luật của các quốc gia trên thế giới đã có những quy định cụ thể, các biện  
pháp nhằm đảm bảo quyền của ngƣời đồng giới khi bị tạm giữ, tạm giam. Trên cơ sở  
7 “Tù nhân chuyển giới ở Canada”, www.lawnow.org, ngày truy cập 18/7/2021  
Journal, ngày truy cập: 18/07/2021  
133  
đó, pháp luật Việt Nam cần xây dựng các quy định phù hợp với pháp luật quốc tế về  
bảo đảm các quyền của ngƣời đồng giới trong hoạt động tạm giữ, tạm giam.  
3.2. Pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của người đồng giới trong hoạt động tạm  
giữ, tạm giam theo quy định của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015  
Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ ngƣời bị buộc tội sẽ  
gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc để đảm bảo thi hành án thì cơ  
quan, ngƣời có thẩm quyền trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện  
pháp tạm giữ, tạm giam10.  
Tính đến hết năm 2020, toàn quốc có 83 trại tạm giam (trong Công an nhân dân  
có 70 trại tạm giam, trong Quân đội nhân dân có 13 trại tạm giam), 734 nhà tạm giữ  
(trong Công an nhân dân có 700 nhà tạm giữ, trong Quân đội nhân dân có 34 nhà tạm  
giữ) và 224 buồng tạm giữ thuộc các đồn Biên phòng ở các khu vực biên giới, hải đảo  
xa trung tâm hành chính cấp huyện; đang trực tiếp quản lý giam giữ 47.827 ngƣời bị  
tạm giam, 1.010 ngƣời bị tạm giữ11. Trong đó, có nhiều ngƣời là ngƣời đồng giới đang  
bị tạm giam, tạm giữ. Đây là đối tƣợng dễ bị kỳ thị, bạo lực khi bị tạm giữ, tạm giam  
chung với những ngƣời dị tính khác.  
Ngƣời đồng giới bị tạm giam, tạm giữ là những đối tƣợng dễ bị các đối tƣợng  
khác kì thị, bạo hành thậm chí là xâm hại tình dục. Pháp luật Việt Nam cũng đã có  
những quy định nhằm đảm bảo quyền của ngƣời đồng giới trong thời gian bị tạm  
giam, tạm giữ nhƣ Hiến pháp năm 2013, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm  
2015,…Các quy định của pháp luật là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền thực hiện  
các biện pháp nhằm đảm bảo quyền con ngƣời của ngƣời đồng giới trong hoạt động  
tạm giữ, tạm giam.  
Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi ngƣời có quyền bất khả xâm phạm về thân  
thể, đƣợc pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo  
lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức  
khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm12”. “Ngƣời bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố,  
điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền đƣợc bồi thƣờng thiệt hại  
10 Khoản 1, Điều 109, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.  
11 Bùi Trung Bun, Phạm Thị Hồng Nhung, (2021), Bảo đảm quyền của ngƣời bị tạm giữ, tạm giam trong điều tra  
12 Khoản 1, Điều 20 Hiến pháp 2013  
134  
về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Ngƣời vi phạm pháp luật trong việc bắt,  
giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho ngƣời khác  
phải bị xử lý theo pháp luật”13. Ngƣời bị tạm giữ, tạm giam chƣa bị coi là có tội, họ  
mới chỉ là nghi phạm và vẫn là công dân bình thƣờng. Họ chỉ bị cách ly với xã hội và  
có sự quản lý, kiểm soát của Nhà nƣớc. Hiến pháp năm 2013 chỉ quy định chung mà  
không có quy định cụ thể về quyền của ngƣời đồng giới trong hoạt động tạm giữ, tạm  
giam. Tuy nhiên, đây là cơ sở để Nhà nƣớc cụ thể hóa các quy định về đảm bảo quyền  
con ngƣời của ngƣời đồng giới trong các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành.  
Cụ thể là Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7  
năm 2016.  
Điều 4, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 đã ghi nhận nguyên tắc bảo  
đảm nhân đạo, không tra tấn, truy bức, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử  
nào khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời bị tạm giữ, ngƣời bị tạm  
giam; Áp dụng các biện pháp quản lý giam giữ phải căn cứ vào tính chất, mức độ của  
hành vi phạm tội, độ tuổi, giới tính, sức khỏe; bảo đảm bình đẳng giới, quyền, lợi ích  
chính đáng của phụ nữ, trẻ em và các đặc điểm nhân thân khác của ngƣời bị tạm giữ,  
ngƣời bị tạm giam. Nhƣ vậy, đối với ngƣời đồng giới thì phải đƣợc áp dụng các biện  
pháp quản lý giam giữ phù hợp. Quy định nhƣ vậy là phù hợp với quy định của pháp  
luật quốc tế trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, Công ƣớc quốc tế về các  
quyền dân sự và chính trị năm 1966. Điều này cho thấy pháp luật nƣớc ta luôn bảo vệ  
quyền con ngƣời khi bị tạm giữ, bảo đảm nhân đạo, không tra tấn, truy bức, nhục hình  
hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm.  
Tại khoản 4, Điều 18, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 đã quy định  
ngƣời bị tạm giữ, ngƣời bị tạm giam là ngƣời đồng tính, ngƣời chuyển giới thì có thể  
đƣợc bố trí giam giữ ở buồng riêng. Đây là lần đầu tiên Luật Thi hành tạm giữ, tạm  
giam năm 2015 có quy định về việc giam, giữ riêng đối với ngƣời đồng tính, ngƣời  
chuyển giới. Những quy định này phần nào cho thấy pháp luật đã có sự quan tâm đến  
những ngƣời dễ tổn thƣơng là ngƣời đồng tính và ngƣời chuyển giới. Tuy nhiên, quy  
định này chỉ áp dụng đối với ngƣời đồng tính và ngƣời chuyển giới. Vậy, nếu là ngƣời  
song tính luyến ái thì sẽ không đƣợc áp dụng quy định về giam giữ ở buồng riêng. Họ  
13 Khoản 4,5, điều 31 Hiến pháp 2013  
135  
là những ngƣời thuộc cộng đồng LGBT, là những ngƣời dễ bị tổn thƣơng, có nguy cơ  
bị kỳ thị và bị xâm hại trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhƣng lại không đƣợc áp  
dụng quy định về giam giữ riêng.  
Bên cạnh đó, tại khoản 4, Điều 18, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015  
chỉ quy định là “có thể” giam giữ riêng đối với ngƣời đồng tính chứ không bắt buộc  
các cơ quan phải giam giữ riêng. Quy định nhƣ vậy không mang tính bắt buộc nên các  
cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng hoặc không. Vì vậy, một số cơ sở tạm giam,  
tạm giữ và cán bộ vì khó khăn trong việc xác định giới tính của ngƣời phạm tội nên đã  
không áp dụng quy định này. Điều này sẽ dẫn đến tình trạng tuy luật có quy định  
nhƣng không thi hành trên thực tiễn. Mặt khác, luật chỉ quy định có thể bố trí giam giữ  
riêng nhƣng không quy định cụ thể về việc bố trí buông giam riêng cho những ngƣời  
này nhƣ thế nào. Quy định không cụ thể dẫn đến việc thực thi gặp nhiều khó khăn.  
Tại khoản 2, điều 16, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 quy định cơ sở  
giam giữ phải tổ chức khám sức khỏe, kiểm tra thân thể của ngƣời bị tạm giam, tạm  
giữ. Việc kiểm tra thân thể ngƣời bị tạm giữ, ngƣời bị tạm giam là nam giới do cán bộ  
nam thực hiện, nữ giới do cán bộ nữ thực hiện và đƣợc tiến hành ở nơi kín đáo. Tuy  
nhiên, Luật lại chƣa có quy định về việc kiểm tra thân thể đối với ngƣời đồng giới.  
Liệu rằng việc áp dụng quy định này cho ngƣời đồng giới thì có đảm bảo các quyền  
con ngƣời của ngƣời đồng giới hay không, đặc biệt là trong vấn đề xâm hại tình dục  
ngƣời đồng giới. Nếu áp dụng nhƣ quy định của Luật này thì những ngƣời mặc dù đã  
chuyển giới thành nữ về mặt sinh học nhƣng trên giấy tờ vẫn là nam thì sẽ do cán bộ  
nam thực hiện việc kiểm tra thân thể. Thực tế nhƣ vậy sẽ không đảm bảo các quyền  
của ngƣời đồng giới, đặc biệt khả năng cao họ sẽ bị xâm hại tình dục trong quá trình  
kiểm tra thân thể. Ngoài ra, luật cũng chƣa có quy định về việc kiểm tra thân thể của  
ngƣời song tính, ai sẽ là ngƣời tiến hành việc kiểm tra thân thể của nhóm ngƣời này.  
Có thể thấy pháp luật Nhật Bản đã có quy định về việc cử cán bộ kiểm tra thân thể của  
ngƣời bị tạm giữ, tạm giam là ngƣời đồng giới. Theo đó, cán bộ quản giáo nữ phải  
kiểm tra ngƣời nữ và việc thực hành này cũng đƣợc mở rộng cho phụ nữ chuyển giới  
bất kể tình trạng của họ có đƣợc phẫu thuật xác nhận giới tính hay không. Nhƣ vậy,  
việc kiểm tra này sẽ dựa trên giới tính sinh học của họ chứ không dựa trên giấy tờ tùy  
thân, tất cả ngƣời chuyển giới nữ sẽ do cán bộ nữ kiểm tra thân thể. Ở Mỹ thì việc  
136  
khám xét đƣợc thực hiện theo "dự án khu vực an toàn" sẽ xác nhận một "mối quan hệ  
đoàn kết tích cực" kết nối bộ phận cảnh sát trƣởng và cộng đồng ngƣời đồng tính. Điều  
này sẽ tạo nên sự thoải mái và tin tƣởng của ngƣời đồng giới trong khi bị khám xét,  
ngăn ngừa các hành vi xâm hại tình dục ngƣời đồng giới.  
Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam cũng chƣa có quy định cụ thể về việc xác định  
giới tính của ngƣời bị tạm giam, tạm giữ để thực thi các quy định trên. Cơ quan nào sẽ  
có thẩm quyền xác định giới tính của ngƣời đồng giới và trình tự, thủ tục, điều kiện  
nhƣ thế nào cũng chƣa có quy định cụ thể. Dựa vào đâu để xác định một ngƣời là đồng  
tính hay chuyển đổi giới tính để cơ quan có thẩm quyền có thể căn cứ vào đó để tổ  
chức thi hành? Đây là một khó khăn lớn trong việc thực thi quy định về giam giữ riêng  
đối với ngƣời đồng giới. Việc xác định một ngƣời là ngƣời đồng tính, song tính,  
chuyển giới phải đƣợc xác định theo cơ sở khoa học nhất định chứ không thể xác định  
thông qua việc khai báo tự nguyện của ngƣời phạm tội.  
Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền của ngƣời đồng giới khi bị  
tạm giữ, tạm giam về cơ bản đã bám sát và phù hợp với các quy định của pháp luật  
quốc tế. Những nguyên tắc và các quyền đƣợc quy định rõ hơn trong Luật Thi hành  
tạm giữ, tạm giam năm 2015. Tuy nhiên, việc bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ  
của ngƣời bị tạm giữ, tạm giam qua thực tiễn vẫn tồn tại nhiều vƣớng mắc cần giải  
quyết.  
4. Một số đề xuất, kiến nghị nâng cao hoạt động bảo vệ quyền của ngƣời đồng  
giới khi bị tạm giữ, tạm giam  
Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 lần đầu tiên đã có quy định về việc  
giam, giữ riêng đối với ngƣời đồng tính, ngƣời chuyển giới. Quy định này góp phần  
bảo đảm cho các đối tƣợng này (đặc biệt là ngƣời chuyển giới) tránh khỏi sự kỳ thị của  
ngƣời khác khi bị tạm giam, tạm giữ. Tuy nhiên việc áp dụng quy định vào thực tiễn  
gặp rất nhiều khó khăn, chính vì vậy nhóm tác giả đƣa ra một số kiến nghị sau đây:  
4.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người đồng giới trong hoạt  
động tạm giữ, tạm giam  
Một là, tại Điều 18 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 chỉ quy định giam,  
giữ riêng đối với những ngƣời đồng tính và ngƣời chuyển giới, còn ngƣời song tính  
137  
luyến ái (những ngƣời chƣa chuyển giới) thì không quy định14. Điều này cũng chỉ đề  
cập về giam, giữ tại buồng riêng nhƣng lại chƣa có quy định cụ thể về buồng giam  
giành cho những ngƣời này nhƣ thế nào.  
Do đó, quy định pháp luật cần bổ sung thêm quy định tạm giam, tạm giữ đối với  
cả ngƣời song tính luyến ái. Đây cũng là nhóm đối tƣợng yếu thế, cần đƣợc bảo vệ  
trong hoạt động tạm giữ, tạm giam. Cần quy định rõ về cách thức, điều kiện cơ sở vật  
chất bố trí các buồng giam riêng cho những ngƣời đồng giới nhằm khắc phục tình  
trạng khó khăn cho cán bộ trong việc phân luồng, bố trí phòng giam cho chủ thể đặc  
biệt này.  
Hai là, cần nghiên cứu để xây dựng những quy định nhằm xác định một ngƣời  
thuộc bản dạng giới nào. Bên cạnh đó, cần xác định rõ những cơ sở y tế nào có thẩm  
quyền xác định giới tính củ ngƣời phạm tội. Đây là một vấn đề cần đƣợc đặt ra và  
nghiên cứu nhằm xác định đúng các đối tƣợng đƣợc bố trí giam giữ riêng, tránh trƣờng  
hợp khai báo gian dối để đƣợc bố trí giam giữ riêng.  
Ba là, đối với những ngƣời về bản chất họ sinh ra đã đƣợc công nhận giới tính là  
nam hoặc nữ. Tuy nhiên, họ lại có xu hƣớng giới tính ngƣợc lại so với giới tính đƣợc  
công nhận. Trong khi thực tế họ chƣa có điều kiện để chuyển giới hoặc không muốn  
chuyển giới. Đối với nhóm ngƣời này, Luật cần có những quy định rõ ràng để đảm bảo  
quyền lợi của họ khi bị tạm giữ hoặc tạm giam. Ví dụ, nhóm đối tƣợng này lấy vợ,  
chồng thì việc thăm gặp vợ chồng của họ đƣợc xử lý nhƣ thế nào.  
Bốn là, đối với những ngƣời vô tính là những ngƣời không bị hấp dẫn tính dục  
của bất kỳ giới tính nào. Những ngƣời này đƣợc gọi là LGBT+ tức là giới tính cũng có  
sự khác thƣờng. Họ không phải là đồng tính, lƣỡng tính trong khi pháp luật về tạm giữ,  
tạm giam vẫn chƣa có quy định nào. Vì vậy, cần phải có quy định cụ thể giành cho  
nhóm đối tƣợng này.  
Năm là, cần sửa đổi quy định về việc kiểm tra thân thể của ngƣời bị tạm giam,  
tạm giữ. Theo đề xuất của nhóm tác giả, cần sửa đổi quy định này thành “việc xác định  
cán bộ thực hiện nhiệm vụ kiểm tra thân thể ngƣời bị tạm giữ, tạm giam là ngƣời đồng  
giới sẽ dựa trên giới tính sinh học của họ chứ không phải xác định giới tính trên giấy  
tờ tùy thân, hoặc có thể hỏi ý kiến của ngƣời đồng giới về việc cử cán bộ kiểm tra thân  
14 Điều 18, Luật Tạm giữ, tạm giam năm 2015  
138  
thể”. Quy định nhƣ vậy sẽ tránh trƣờng hợp ngƣời đồng giới bị sờ mó, xâm hại tình  
dục trong quá trình kiểm tra thân thể, phù hợp với thực tiễn hiện nay.  
Ngoài ra, hoàn thiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, quy  
định chặt chẽ hơn nữa về một số vấn đề nhƣ đề cao trách nhiệm cá nhân của ngƣời ra  
tạm giữ, tạm giam; ngƣời thi hành lệnh tạm giữ, tạm giam đúng ngƣời phạm tội, tránh  
oan sai. Tôn trọng và bảo đảm những quyền và lợi ích chính đáng của ngƣời đồng giới.  
4.2. Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý người đồng giới khi bị tạm giữ, tạm  
giam  
Một là, cán bộ quản lý cần phải nghiêm khắc, áp dụng đúng quy trình, không lơ  
là hay biểu hiện “cho qua” trong những trƣờng hợp phạm nhân là ngƣời cố tình gian  
dối, không kê khai thông tin chính xác trong quá trình điều tra, khám xét.  
Cán bộ trực tiếp đảm nhận khâu công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam phải  
nắm vững các quy định của pháp luật về công tác tạm giữ, tạm giam; công tác quản lý  
đối với ngƣời bị tạm giữ, tạm giam.  
Đối với cơ quan công an, cơ quan điều tra nói chung và các điều tra viên nói  
riêng, thƣờng xuyên học tập bồi dƣỡng nâng cao trình độ chuyên môn, ý thức chính trị,  
đề cao ý thức tổ chức kỷ luật; nắm chắc các quy định của pháp luật về bắt, tạm giữ,  
tạm giam; hiểu rõ tính chất, mục đích của các biện pháp tạm giữ, tạm giam; đảm bảo  
khi thực hiện bắt, tạm giữ, tạm giam phải có lệnh và có sự phê chuẩn của Viện kiểm  
sát; tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của NĐG khi bị tạm giữ, tạm  
giam; phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho luật sƣ tham gia ngay trong quá trình  
bắt, tạm giữ, tạm giam khi giải quyết vụ án15; hƣớng dẫn, giải thích pháp luật và tạo  
mọi điều kiện thuận lợi cho ngƣời bị tạm giữ, tạm giam thực hiện đầy đủ các quyền,  
lợi ích hợp pháp mà họ đƣợc hƣởng hoặc không bị pháp luật hạn chế theo quy định  
của BLTTHS và Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam…  
Hai là, tăng cƣờng tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho tất cả đối tƣợng trong  
quá trình tạm giữ, tạm giam.  
15 Nguyễn Hà Giang (2018), Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam trong BLTTHS năm  
2015, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, https://www.tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/bao-dam-quyen-con-  
139  
Các hoạt động này có vai trò rất lớn trong công tác quản lý, giáo dục bị can, bị  
cáo, phạm nhân, hỗ trợ quá trình điều tra và đặc biệt khi tuyên truyền pháp luật liên  
quan đến ngƣời đồng giới, tất cả đối tƣợng này sẽ ý thức tốt hơn về việc không nên kì  
thị hay có hành động vi phạm đến NĐG. Từ đó sẽ hạn chế đƣợc tình trạng xảy ra mâu  
thuẫn giữa các đối tƣợng bị tạm giam, tạm giữ là NĐG và các đối tƣợng khác.  
Ba là, tăng kinh phí hỗ trợ cho công tác quản lý khi thực hiện công tác tạm giam,  
tạm giữ  
Việc dẫn thiếu kinh phí, các cán bộ, cơ quan quản lí trại giam không cung cấp, hỗ  
trợ hết điều kiện vật chất. Ngoài ra, tiền lƣơng của các nhân viên trại giam thƣờng rất  
thấp đã đấn đến sự hao mòn động lực và thiện chí phục vụ của những ngƣời chịu trách  
nhiệm đến sức khỏe, tinh thần của ngƣời bị tạm giam, tạm giữ trong đó có NĐG.  
Chính vì vây, cần tăng kinh phí cho công tác quản lý bằng cách tăng lƣơng cho nhân  
viên trại giam, tăng phí cho việc nâng cao cơ sở vật chất, cải tạo phòng giam.  
Ngƣời đồng tính, song tính và chuyển giới ở Việt Nam hiện nay có số lƣợng  
không nhỏ trong xã hội. Trong hoạt động giam, giữ việc bảo vệ quyền lợi của những  
ngƣời đồng tính, song tính và chuyển giới sẽ góp phần đảm bảo tốt hơn quyền con  
ngƣời nói chung và quyền lợi của ngƣời đồng tính, song tính và ngƣời chuyển giới nói  
riêng.  
5. Kết luận  
Nhƣ vậy, sau 35 tiến hành công cuộc đổi mới đất nƣớc, các quyền con ngƣời của  
ngƣời đồng giới ngày càng đƣợc quan tâm và bảo vệ. Pháp luật Việt Nam đã có  
những quy định về bảo vệ quyền của ngƣời đồng giới trong hoạt động tạm giữ, tạm  
giam nhƣng trong vẫn còn nhiều vƣớng mắc và bất cập trong thực tiễn áp dụng. Qua  
việc phân tích những vƣớng mắc của quy định của pháp luật, nhóm tác giả đã đƣa ra  
một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả trong hoạt động tạm  
giữ, tạm giam ngƣời đồng giới. Đây là nhóm đối tƣợng yếu thế, dễ bị tổn thƣơng nên  
cần áp dụng một số biện pháp đặc biệt nhằm hạn chế sự kỳ thị, xâm hại ngƣời đồng  
giới. Nhà nƣớc cần nghiên cứu các biện pháp cụ thể để đảm bảo hơn nữa các quyền  
của ngƣời đồng giới trong hoạt động tạm giữ, tạm giam, bảo vệ quyền và lợi ích hợp  
pháp, bảo vệ ngƣời đồng giới khỏi những hành vi xâm hại tình dục và thân thể.  
140  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
I. Văn bản pháp luật  
1. Luật Tạm giữ, tạm giam năm 2015.  
2. Quốc Hội, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.  
3. Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948.  
4. Công ƣớc Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966  
II. Tài liệu tham khảo trong nƣớc và ngoài nƣớc  
1. "Luật nhân quyền và phân biệt chống người LGBT ở nhật bản"(PDF).  
amnesty.org. 2017.  
2. “Tù nhân chuyển giới ở Canada”, www.lawnow.org, truy cập ngày 18/7/2021.  
3. Ramit Plushnick-Masti, (2017), Texas 'Harris County động thái để bảo vệ các  
tù nhân LGBT, Albuquerque Journal.  
4. Quan điểm isee về việc tạm giam, tạm giữ, giam giữ người đồng tính và  
giu-nguoi-dong-tinh-va-chuyen-gioi/, truy cập ngày 29/7/2021.  
5. Bảo đảm quyền của người đồng tính, người chuyển giới trong tư pháp hình sự,  
Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, truy cập ngày 25/08/2021,  
6. Phƣơng Minh(2020), Quyền con người và đảm bảo quyền con người ở Việt  
Nam, báo Quốc phòng thủ đô, http://quocphongthudo.vn/chong-dien-bien-hoa-  
20/08/2021.  
truy  
cập  
ngày  
7. Nguyễn Hà Giang (2018), Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, tạm  
giam trong BLTTHS năm 2015, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử,  
bi-tam-giu-tam-giam-trong-bltths-nam-2015, truy cập ngày 21/08/2021.  
8. Bùi Trung Bun, Phạm Thị Hồng Nhung, (2021), Bảo đảm quyền của người bị  
tạm giữ, tạm giam trong điều tra hình sự, trích dẫn ngày 27/9/2021,  
29.pdf, truy cập ngày 22/8/2021.  
141  
pdf 14 trang Thùy Anh 12700 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bảo đảm quyền của người đồng giới trong hoạt động tạm giữ, tạm giam theo quy định của luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_dam_quyen_cua_nguoi_dong_gioi_trong_hoat_dong_tam_giu_ta.pdf