Phát triển hợp tác xã để nâng cao chất lượng tăng trưởng

INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG  
DEVELOPING COOPERATIVES TO IMPROVE THE QUALITY OF GROWTH  
ThS. Lê Quốc Anh – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân  
Lê Thị Trâm Anh – Đại học New South Wales, Australia  
Tóm tắt  
Hợp tác xã (HTX) đã và đang tồn tại, phát triển, có vai trò tích cực trong phát triển kinh  
tế ở nhiều nước, kể cả ở Việt Nam dù kinh tế phát triển chưa cao và còn nhiều yếu kém. Nay, dù  
chịu tác động bởi cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0, nhưng nhờ kiên định con đường đi lên  
xã hội chủ nghĩa (XHCN), nên HTX ở nước ta đã khá phát triển. Đóng góp nhiều vào tăng trưởng  
và nâng cao chất lượng tăng trưởng, song còn nhiều hạn chế, yếu kém do nhiều nguyên nhân.  
Để phát triển HTX nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng, cần đổi mới tư duy phát triển, chuyển  
sang chuyên môn hóa theo vùng theo quy hoạch, phát triển các ngành trọng điểm, chuỗi cung  
ứng theo các hiệp định thương mại tự do (FTA). Đổi mới thể chế theo hướng kinh tế thị trường  
đầy đủ, sửa đổi các luật, để các thành viên tăng thêm niềm tin, hăng hái tham gia vào HTX. Ban  
hành các chính sách để phát triển hợp lý HTX, tạo ra hệ thống các chủ thể kinh tế tiên tiến, phù  
hợp và bổ sung lẫn nhau. Phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị, sự hỗ trợ của giới khoa học,  
doanh nhân, sự chung sức của cộng đồng và giúp đỡ quốc tế, để HTX phát triển nhanh, mạnh,  
đóng góp được nhiều vào nâng cao chất lượng tăng trưởng…  
Từ khóa: Hợp tác xã, phát triển, tăng trưởng.  
ABSTRACT  
Cooperatives have been existing and developing, having an active role in economic devel-  
opment in many countries, including Vietnam, although the economy has not been highly devel-  
oped and still not without many weaknesses. Now, despite being affected by the fourth industrial  
revolution, thanks to the steadfast path to socialism, the cooperatives in Vietnam have been quite  
developed. They have contributed greatly to the growth and improving its quality, but still having  
many limitations and weaknesses due to several reasons. In order to develop cooperatives to im-  
prove the quality of growth, it is necessary to have an innovative development mindset, to shift  
to specialization by region according to planning, and to develop key industries and supply chains  
under free trade agreements. It is necessary to reform institutions towards a full market economy  
and amend laws so that members increase their confidence and enthusiasm to participate in co-  
operatives. It is important to promulgate policies to rationally develop cooperatives, creating a  
system of advanced, accordant, and complementary economic entities. We need to take advantage  
of the strength of the political system and the support of scientists and business people, as well  
as the community cooperation and international assistance, so that the cooperatives can develop  
rapidly and robustly, contributing greatly to improving the quality of growth…  
Keywords: Cooperatives, development, growth.  
58  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
1. Đặt vấn đề  
HTX – nhất là HTX kiểu mới, đã và đang tồn tại phổ biến, có vai trò tích cực không nhỏ  
trong phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, tuy phong trào HTX  
bị thoái trào trong giai đoạn 1987 – 1996, nhưng đã phục hưng dần từ năm 2003, và đang nhận  
được quan tâm lớn của Đảng và Chính phủ. Thực tế này đi ngược lại xu thế giảm dần số lượng  
HTX ở hầu hết các nước đã phát triển, và dường như đã góp phần làm mục tiêu có trên một triệu  
doanh nghiệp vào năm 2020 ở nước ta không thành hiện thực. Từ đó tạo ra các nghi vấn, như tại  
sao không phải là mô hình tổ chức kinh tế hiệu quả nhất, từng có nhiều điều tiếng trong quá khứ,  
mà HTX vẫn hiện diện trong nhiều lĩnh vực và được chú trọng phát triển. Phải chăng Việt Nam  
níu kéo HTX vì khủng hoảng mô hình tổ chức trong nông nghiệp, nhất là khi kiên định con đường  
phát triển XHCN. Sao không để doanh nghiệp thế chỗ ngay cho HTX, mà lại phải “hợp tác hóa”  
các chủ thể kinh tế cấp thấp hơn, như cá thể, hộ kinh doanh, tổ hợp tác. Tại sao lại cho rằng phát  
triển HTX là yêu cầu khách quan, có nhiều ảnh hưởng tích cực đến chất lượng tăng trưởng trong  
điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta. Còn nếu cần, nước ta phải phát triển HTX như thế nào để  
thành công trong kỷ nguyên hội nhập kinh tế và tự do hóa thương mại, hòa nhập nhanh, mạnh và  
hiệu quả vào CMCN 4.0. Tổng hợp lại, Việt Nam cần phải làm gì để vừa phát triển tốt nhất HTX  
về số, cải thiện về “chất”, vừa tạo ra kết cấu chủ thể kinh tế hài hòa, tích cực, góp phần nâng cao  
chất lượng tăng trưởng trong bối cảnh hiện nay… Để góp phần làm sáng tỏ các vấn đề trên, bài  
viết này tập trung nghiên cứu: (i) Phát triển HTX với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng ở nền  
kinh tế chuyển đổi, phát triển chưa cao, khu vực doanh nghiệp còn non yếu, hội nhập sâu rộng;  
(ii) Khái quát thực trạng phát triển và đóng góp của HTX vào nâng cao chất lượng tăng trưởng  
ở Việt Nam; và (iii) Giải pháp để thúc đẩy phát triển HTX nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng  
ở Việt Nam.  
2. Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu  
“Bản tường trình cho Hạt Lanark” của Robert Owen (1771-1858) xuất bản năm 1820 ở  
Anh, là nghiên cứu chuyên về HTX đầu tiên trên thế giới. Nghiên cứu này cùng nghiên cứu của  
Friedrich W. Raiffeisen (1818-1888), của Schulze-Delitzsch (1808-1883) ở Đức – sau đó gần 50  
năm đã củng cố nền móng cho sự phát triển của HTX. Sự phát triển này càng mạnh mẽ và rộng  
khắp, khi Liên minh Hợp tác xã quốc tế (ICA) được thành lập ngày 19 tháng 8 năm 1895 tại Lon-  
don, bởi 13 thành viên sáng lập, đến từ 4 châu (trừ châu Phi). Từ đó đến nay còn có rất nhiều  
nghiên cứu về HTX trên khắp thế giới, kể cả nghiên cứu về HTX kiểu mới, như của Zhao Li  
(Trung Quốc, 2011); Efendiev & Sorokin (Nga, 2013). Nhưng sự khác biệt về chính trị, trình độ  
phát triển, thực trạng kinh tế, truyền thống, văn hóa; làm cho ngoài các nguyên tắc, giá trị và đặc  
thù về tổ chức, các nước vẫn khó vận dụng các nghiên cứu về HTX của nhau.  
Ở trong nước, tác phẩm đề cập đến HTX đầu tiên là “Đường Kách mệnh” của Nguyễn Ái  
Quốc, xuất hiện năm 1927, đã nhắc đến nhiều loại hình HTX, phân biệt chúng với hội buôn.  
Trong thời kỳ 1955-1986, cũng có nhiều nghiên cứu về HTX, nhưng phần lớn chỉ là về thực  
trạng, phân bố và phát triển của HTX kiểu cũ. Song nghiên cứu về HTX kiểu mới chỉ có từ năm  
1997, mở đầu là: “Kinh tế hợp tác, một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Hoàng Kim Giao. Từ  
đó, năm nào ở Việt Nam cũng có một vài luận án tiến sĩ hoặc đầu sách chuyên về HTX. Nhưng  
59  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
nghiên cứu mà dung hòa sự phát triển của HTX kiểu mới và HTX kiểu cũ, đặt trong bối cảnh  
phát triển xen kẽ với các chủ thể kinh tế khác, nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng còn là  
khoảng trống nghiên cứu. Song lại là vấn đề có tầm chiến lược không thể xem nhẹ, trong bối  
cảnh phát triển đặc thù, riêng biệt, có tính cấp thiết và thực tiễn ở nước ta.  
Mặt khác, do là phân tích kinh tế dạng hẹp, chưa từng được nghiên cứu, nên để thực hiện  
chuyên đề này, việc nghiên cứu trước tiên được dành cho việc xây dựng khung lý thuyết phù  
hợp. Cơ sở lý thuyết được dùng để xây dựng khung phân tích là kinh tế học, nhất là kinh tế vĩ  
mô, kinh tế vi mô, kinh tế phát triển, kinh tế quốc tế, quản trị học, quản trị doanh nghiệp. Hơn  
nữa, phát triển HTX kiểu mới là chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội đất nước,  
nên còn cần dựa vào chủ trương, đường lối của Đảng, vào chỉ đạo, điều hành và chính sách của  
Nhà nước. Ngoài ra, còn sử dụng các kiến thức về CMCN 4.0, chuỗi giá trị, và các thông tin,  
nhìn nhận, đánh giá về các vấn đề trên cùng diễn biến của chúng của các cơ quan chuyên ngành,  
chuyên gia, người tham gia, nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan.  
Từ nguồn tài liệu thu thập được, tiến hành nghiên cứu định tính, với các phương pháp, như  
phương pháp: phân tích và tổng hợp lý thuyết, chuyên gia, phân tích tổng kết kinh nghiệm, nghiên  
cứu lịch sử… Trên quan điểm duy vật biện chứng, dùng phép diễn dịch để suy đoán hệ quả tất  
yếu, dùng phép so sánh để đưa ra nhận định, sử dụng phép quy nạp để đưa ra kết luận, tổng hợp  
lại để đề đạt kiến nghị, giải pháp. Dữ liệu được thu thập từ Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF),  
Ngân hàng Thế giới (WB), Tổng cục Thống kê (GSO), Liên minh HTX Việt Nam (VCA), Phòng  
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI). Đặc biệt, các số liệu không chú dẫn nguồn đều  
là dẫn theo Sách trắng HTX Việt Nam 2020 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
3.1. Phát triển hợp tác xã với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng ở nền kinh tế chuyển đổi,  
phát triển chưa cao, khu vực doanh nghiệp còn non yếu, hội nhập sâu rộng  
3.1.1. Tổng quan về phát triển hợp tác xã và nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế  
Theo ICA, HTX là hiệp hội tự trị của những người đoàn kết tự nguyện để đáp ứng nhu cầu  
chung về kinh tế, xã hội, văn hóa và nguyện vọng, thông qua các tổ chức đồng sở hữu và kiểm  
soát dân chủ. Đó là tổ chức kinh doanh được thành lập và điều hành bởi một nhóm cá nhân, vì  
lợi ích chung của những người cùng làm việc hoặc sử dụng chung dịch vụ. Về tổng thể, HTX là  
các nấc thang trong tiến trình nâng cấp dần các tổ chức kinh tế, với hai loại: (i) HTX bậc thấp –  
là HTX kiểu cũ, được chính quyền thành lập, chủ yếu là hợp tác kinh doanh phục vụ các mục  
tiêu chính trị; (ii) HTX bậc cao – là HTX kiểu mới, do các thành viên đồng tổ chức, hoạt động  
trên nguyên tắc thị trường, hợp tác kinh doanh để làm tăng lợi nhuận. Vì thế, phát triển HTX bao  
gồm: phát triển về số lượng HTX; phát triển về chất cho từng HTX, cộng đồng và khu vực HTX,  
hài hòa với các chủ thể kinh tế khác. Theo hướng tạo ra cơ cấu hợp lý trên lộ trình phát triển giữa  
các chủ thể, tổ chức kinh tế, để mang lại hiệu quả hoạt động cao cho từng chủ thể và cho toàn  
nền kinh tế, đưa lực lượng sản xuất cả nước phát triển hơn lên.  
60  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Hình 1. Vị trí tương đối của HTX trong lộ trình phát triển tổ chức kinh tế  
Tăng trưởng kinh tế (tăng trưởng) là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc  
tổng sản phẩm quốc dân (GNP), hoặc quy mô sản lượng quốc gia bình quân đầu người (PCI)  
trong một thời gian nhất định. Đó là sự gia tăng về lượng kết quả đầu ra của nền kinh tế trong  
thời gian, giúp có thêm vật chất để đáp ứng các nhu cầu, bất kể thay đổi về cơ cấu và chất lượng,  
nên được nước phát triển chưa cao chú trọng. Do GDP không tính đến kinh tế “ngầm”, sự hài  
hòa trong phát triển; mà tính cả những công việc không đem lại lợi ích ròng và không phản ánh  
trung thực sự phân chia lợi ích trong phạm vi đất nước. Vì vậy, có tăng trưởng không tốt, mà là  
tăng trưởng mất gốc, không có tương lai, nên để đi tới phồn vinh, cần chú trọng cả chất lượng  
tăng trưởng. Theo Thomas & cộng sự (2000), chất lượng tăng trưởng bao gồm: (i) Tốc độ tăng  
trưởng cao được duy trì trong dài hạn, và (ii) Tăng trưởng đóng góp trực tiếp vào cải thiện một  
cách bền vững phúc lợi xã hội. Do đó, trong chiến lược phát triển, từng nước cần duy trì tốc độ  
tăng trưởng phù hợp với độ giầu có và cách phối hợp giữa nhân lực, tài nguyên, tư bản và công  
nghệ hiện có, để giảm áp lực nâng cao về số. Đồng thời, cần phát triển các hình thức tổ chức  
kinh tế cho phép tích lũy nhiều và đầu tư tài sản “trúng” vào nơi có công nghệ và mức độ khuếch  
trương giá trị cao hơn, để có năng suất cao hơn, nâng cao chất lượng tăng trưởng.  
3.1.2. Phát triển hợp tác xã để nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế ở nền kinh tế phát triển  
chưa cao, hội nhập sâu rộng  
Nền kinh tế phát triển chưa cao là nền kinh tế đã giúp người dân thoát qua mức thu nhập  
thấp, nhưng còn xa mới đạt mức thu nhập cao, tiêu biểu là các nước thu nhập trung bình thấp.  
Mức sống thấp, tích lũy kinh tế chưa nhiều, thể chế chất lượng chưa cao, công nghệ thua kém,  
năng lực cạnh tranh còn yếu; các nước này khi hội nhập sâu rộng cần đẩy mạnh phát triển HTX,  
bởi: (i) Giúp tập hợp số lao động với nguồn lực nhỏ, phân tán, hợp tác với nhau cùng phát triển,  
nhằm khuếch trương tốt hơn vốn đầu tư xã hội ít ỏi đang có, nếu không sẽ càng tụt hậu trước các  
nước đi trước. (ii) Là hình thức tổ chức kinh tế phù hợp với công dân vốn ít, không cần dịch  
chuyển nơi cư trú; khi được mở rộng tầm nhìn, có thêm thị trường, làm giầu thông qua sản xuất  
hàng hóa. (iii) Giúp đất nước có thêm “người chơi” trong các FTA, tăng tính thương mại cho sản  
phẩm, tạo nguồn cho phát triển doanh nghiệp, nhất là ở vùng khó khăn, góp phần bảo vệ thị  
trường nội địa trước hàng ngoại giá rẻ. (iv) Tăng thêm đầu mối cung hàng, tăng độ đồng đều về  
chất lượng, đưa quy mô hàng hóa lên cao để mở rộng xuất khẩu; đồng thời làm tụ điểm hấp thụ  
61  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
vốn, giống, công nghệ từ nhà đầu tư. (v) Thêm đối tác để liên doanh, liên kết để mở rộng quy  
mô, áp dụng công nghệ mới, nhất là trong việc kinh doanh các loại đặc sản, góp phần giảm giá  
thành sản phẩm… Để thúc đẩy phát triển HTX, góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng, các  
nước “chiếu dưới” này cần đổi mới nhiều mặt trên quan điểm toàn cục và lâu dài. Trước tiên là  
cải thiện thể chế, mở rộng quyền tự chủ theo nguyên tắc thị trường đầy đủ, đảm bảo quyền sở  
hữu tư nhân vững chắc cho phần đóng góp. Quan tâm, hỗ trợ nguồn lực, tạo điều kiện cho tích  
lũy tài sản, nâng mức hạn điền, hỗ trợ tích tụ ruộng đất, mở các khóa tập huấn, bồi dưỡng cho  
lãnh đạo, mở rộng bảo hiểm nông nghiệp. Công khai các quy hoạch, kế hoạch, phát triển các  
mạng thông tin, tư vấn hỗ trợ, giúp dự báo thị trường và tiêu thụ sản phẩm…  
3.1.3. Phát triển hợp tác xã để nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế ở nền kinh tế có bối cảnh  
trên, khi khu vực doanh nghiệp còn non yếu, chịu tác động mạnh bởi CMCN 4.0  
Nền kinh tế phát triển chưa cao, đang hội nhập sâu rộng, mà khu vực doanh nghiệp còn non  
yếu, chịu tác động mạnh bởi CMCN 4.0, thì để tăng trưởng cao, bền vững hơn càng cần phát triển  
HTX. Bởi doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành  
lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Có ưu việt vượt trội trong tập hợp và sử  
dụng lao động, nguồn vốn, công nghệ, thành tựu khoa học, tích hợp tiện ích, tạo ngoại ứng tích cực.  
Nhưng không dễ phát triển, nhất là ở lĩnh vực nhiều rủi ro, sinh lời thấp, đầu ra phập phù như nông  
nghiệp, khi nguồn cung dư thừa, biến đổi khí hậu gay gắt, chăn nuôi nhiều dịch bệnh luôn rập rình  
rủi ro. Làm cho việc phát triển HTX càng thiết thực – khi là HTX kiểu mới thì là sự thay thế cho  
doanh nghiệp, là dự trữ cho phát triển doanh nghiệp về sau. Còn dù là HTX kiểu cũ, vẫn giúp kinh  
doanh hiệu quả hơn so với cá thể, theo hộ hoặc tổ hợp, khi có sự chung sức giúp đỡ lẫn nhau. Mặt  
khác, khi CMCN 4.0 tạo ra nhiều ảnh hưởng, thì HTX vẫn dễ dàng sử dụng công nghệ mới hơn so  
với cá thể, theo hộ hoặc tổ hợp. “Thế giới kết nối” còn giúp HTX phát huy giá trị hợp tác giữa các  
thành viên, HTX, tạo nên Liên hiệp HTX, hoặc thành cộng đồng HTX, để nâng tầm cạnh tranh… Để  
phát triển mạnh HTX trong bối cảnh này, đóng góp cao vào nâng cao chất lượng tăng trưởng, cần:  
(i) Có bộ phận chuyên trách về doanh nghiệp, về HTX, tăng cường sự phối hợp giữa chúng để dung  
hòa sự phát triển. (ii) Ở nơi có thể phát triển doanh nghiệp, chỉ phát triển HTX để khai thác khả  
năng còn lại, tạo việc làm và đáp ứng nhu cầu thiết yếu. (iii) Ở nơi chưa thể phát triển doanh  
nghiệp, phát triển HTX kiểu mới để khai thác lợi thế, phát triển HTX kiểu cũ để hỗ trợ các chủ  
thể kinh doanh. (iv) Khuyến khích HTX vận dụng các công nghệ tiên tiến vào kinh doanh, nhất  
là khi hướng tới mục tiêu xuất khẩu. (v) Ưu tiên nhiều mặt cho các trung tâm ứng dụng công  
nghệ mới, cho các cơ sở nghiên cứu khoa học phục vụ nhu cầu của HTX...  
3.1.4. Phát triển hợp tác xã để nâng cao chất lượng tăng trưởng ở nền kinh tế có tổ hợp các bối  
cảnh trên, mà còn là nền kinh tế chuyển đổi, kiên định con đường chủ nghĩa xã hội  
Sau thời kì dài đem lại nhiều thành tựu, nền kinh tế kinh tế tập trung XHCN ngày càng bộc  
lộ nhiều hạn chế, yếu kém do chưa tôn trọng đầy đủ các quy luật, chủ quan duy ý chí. Sự xơ cứng  
làm sản xuất trì trệ, tăng trưởng sa sút, năng lực nội sinh bị kiềm tỏa, ít việc làm mới, mức sống  
chậm cải thiện, bị tụt hậu tương đối. Chuyển sang kinh tế thị trường nhiều thành phần, để tận  
dụng sức dân, đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng hội nhập để huy động đầu tư trực tiếp nước ngoài  
(FDI). Khi kiên định con đường đi lên XHCN, trên nền tảng kinh tế thị trường, để phát triển  
HTX, góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng, cần: (i) Lấy HTX làm hình thức tổ chức kinh  
62  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
tế chính ở các vùng ngoại thị, nơi vốn kinh doanh hạn hẹp, nhân lực chất lượng thoát ly, ít khả  
năng bổ sung nguồn lực, hạ tầng kinh tế vẫn thế, đất đai manh mún theo hộ. (ii) Lấy HTX kiểu  
mới làm trọng tâm phát triển, để khắc phục tỷ suất hàng hóa thấp, sản phẩm “mất hút” trong  
nguồn cung dư thừa, bị sản phẩm ngoại chèn ép. (iii) Tập hợp các chủ thể ngành nghề nhỏ để  
hợp tác, phát huy sở trường, tích tụ nguồn lực, tăng lợi thế cạnh tranh theo quy mô, tương trợ  
cùng phát triển. (iv) Ở nơi đã từng phát triển HTX thì đẩy mạnh chuyển đổi, phát triển HTX kiểu  
mới, tập trung vào kinh doanh các sản phẩm có lợi thế, được thị trường đón đợi. (v) Ở nơi còn là  
kinh tế cá thể, tổ hợp, thì phát triển HTX – kể cả bậc thấp, để hoạt động hiệu quả hơn, từng bước  
nâng cấp hình thức tổ chức kinh tế… Để thực hiện, cần đổi mới bộ máy quản lý, loại bỏ tư duy  
hợp tác theo mệnh lệnh hành chính bằng tôn trọng nguyên tắc thị trường. Bồi dưỡng, đào tạo lại,  
thay đổi não trạng hoạt động của cán bộ quản lý, cũng như lao động từ “hoàn thành nhiệm vụ” sang  
“hiệu quả”. Phát huy các mối quan hệ kinh tế, việc làm và thu nhập cho người dân, kể cả nơi HTX  
kiểu cũ chưa chuyển đổi. Đưa nhanh số kinh doanh cá thể, hộ kinh doanh vào các HTX, chuyển đổi  
HTX từ kiểu cũ sang kiểu mới, ở các ngành, lĩnh vực, địa phương…  
3.1.5. Kinh nghiệm phát triển hợp tác xã ở Đức và Nhật Bản  
Đức – cường quốc kinh tế thứ tư thế giới, đầu tầu kinh tế của Lục địa “già”, là nước có khu  
vực HTX đông đảo và phát triển. Về cơ bản, HTX ở Đức có các đặc điểm: (i) Luôn là loại hình  
tổ chức kinh tế không thể thiếu, từ các HTX đầu tiên được thành lập vào những năm 1850, đến  
cuối năm 2017, Đức vẫn có 7.528 HTX. (ii) Hoạt động ở nhiều lĩnh vực, như nông nghiệp, tài  
chính, mua bán hàng hóa, tiêu dùng và nhà ở; nhằm hỗ trợ cho các thành viên, từ nguồn lực của  
chính họ thông qua mua, bán chung và độc lập trong kinh doanh. (iii) Phục vụ thành viên là trên  
hết; dựa trên 3 nguyên tắc: tự lực, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm; tối đa hóa lợi nhuận chỉ là  
mục tiêu phụ. (iv) Chỉ có 2.099 HTX nông nghiệp, chiếm 27,88%, nhưng quy mô lớn vì chứa  
hơn 276.400 trang trại có quy mô trung bình 50 ha, HTX giúp mua nguyên liệu đầu vào, định  
hướng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. (v) HTX chỉ thành lập khi được kiểm toán đánh giá khả  
thi, sức sống dựa vào sự chuyên nghiệp của lãnh đạo, tính minh bạch trong đầu tư và phân phối  
lợi nhuận, vận dụng nhanh và nhiều thành tựu khoa học, công nghệ (VCA, 2019).  
Bảng 1. Tổng sản phẩm xã hội (GDP), thu nhập quốc dân (GNI)  
và số năm kinh nghiệm phát triển HTX của Đức, Nhật Bản và Việt Nam  
GDP 2018  
GNI 2018  
Diện tích Dân số 2019 Số năm  
2
(km )  
(người)  
kinh  
Tỷ USD Bình quân Tỷ USD Bình quân  
nghiệm  
(USD)  
(USD)  
Đức  
Nhật Bản 364.485 126.661.022 Trên 160 4.971,3  
Việt Nam 331.212 97.383.670 Trên 70 245,2  
348.672 82.463.949 Trên 150 3.947,6  
47.603,0  
3.905,3  
5.226,6  
225,9  
47.110  
39.290,0  
2.566,6  
41.310  
2.360  
Nguồn: Wikipedia và WB  
63  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Ở Nhật Bản – cường quốc kinh tế thứ ba thế giới, HTX xuất hiện từ giữa thế kỷ XIX, đến  
nay có các đặc điểm: (i) Là tổ chức tự nguyện giữa những người nông dân để hỗ trợ nhau trong  
kinh doanh, giúp tiết kiệm đầu tư vào máy móc nông nghiệp, tăng khả năng thương lượng với  
khách hàng. (ii) Chỉ hoạt động trong nông nghiệp và tiêu dùng, được tổ chức theo ba cấp quốc  
gia, tỉnh và cơ sở; thời gian khó khăn sau Thế chiến II, Chính phủ kiểm soát HTX, buộc mọi  
nông dân phải tham gia. (iii) Quy mô lớn, đến năm 2019, chỉ còn 607 HTX với hơn 8,6 triệu hộ  
nông dân, chịu trách nhiệm về tất cả các dịch vụ: tư vấn, chuyển giao, kết nối, tiêu thụ sản phẩm.  
(iv) Bước ngoặt phát triển là thực hiện dồn điền đổi thửa, đưa diện tích đất nông nghiệp trung  
bình năm 2017 lên 2,41 ha/hộ, giảm sự chia cắt để áp dụng “tứ hóa” toàn diện. (v) Nhà nước  
quản lý gián tiếp, điều tiết thông qua trợ cấp; cho phép các HTX đàm phán, vận động chính sách,  
làm giảm khoảng cách giữa thành thị với nông thôn (Chương Đài, 2019)…  
3.2. Khái quát thực trạng phát triển và đóng góp của hợp tác xã vào nâng cao chất lượng tăng  
trưởng ở Việt Nam  
3.2.1. Hợp tác xã ở nước ta đã khá phát triển, đóng góp nhiều vào tăng trưởng và nâng cao chất  
lượng tăng trưởng  
Ngày 08 tháng 3 năm 1948, HTX Thuỷ tinh Dân Chủ thành lập tại Chiến khu Việt Bắc,  
mở đầu cho sự phát triển của phong trào HTX ở Việt Nam. Phong trào được đẩy mạnh khi miền  
Bắc mở rộng hợp tác hóa, đến năm 1960 toàn miền đã có hơn 50.000 HTX: nông nghiệp, tiểu  
thủ công nghiệp, thương mại, tín dụng. Thời kỳ ấn tượng của phong trào HTX là 10 năm đầu  
thống nhất đất nước, đỉnh cao là năm 1986 với 73.470 HTX và hơn 20 triệu xã viên, trong đó, có  
16.743 HTX nông nghiệp với số hộ xã viên chiếm tới 93,2% số hộ nông dân…  
Hình 2. Số lượng HTX ở Việt Nam qua các thời kỳ  
Nguồn: VCA  
Mặc dù có lúc suy thoái, nhưng nhìn chung các HTX luôn là nơi hoạt động của đông đảo  
lao động, đảm bảo thu nhập cho hàng chục triệu dân cư, đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng  
kinh tế và cung cấp hàng xuất khẩu.  
64  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Bảng 2. Phần của kinh tế tập thể trong GDP Việt Nam, 1980 - 2018  
1980  
218,0 325,2  
54,1 113,1  
100,0 100,0  
24,8 31,8  
1986  
2005  
2008  
2011  
2014  
2018  
GDP (ngàn tỷ đồng)  
Riêng Kinh tế tập thể  
Cơ cấu (%)  
914,0 1.616,1 2.779.9 3.937,9 5.542,3  
60,8  
100,0  
6,65  
95,5  
100,0  
5,91  
110,7  
100,0  
3,98  
158,9  
100,0  
4,04  
207,5  
100,0  
3,74  
Riêng Kinh tế tập thể  
Nguồn: GSO  
Sau giai đoạn suy thoái 1987 – 2003, từ năm 2004 phong trào HTX dần phục hưng, đến  
đầu tháng 11 năm 2018, riêng nông nghiệp đã có hơn 13.000 HTX, gồm 7.700 HTX kiểu mới và  
5.400 HTX kiểu cũ chuyển đổi theo luật. Đến cuối năm 2018, có 22.861 HTX các loại, với  
5.998.378 thành viên,số lao động làm việc trực tiếp trong khu vực là trên 12 triệu người. Trong  
đó, 13.958 HTX hoạt động có kết quả, với 185.714 lao động, có tổng nguồn vốn 226.554 tỷ đồng,  
tổng doanh thu thuần 88.586 tỷ đồng, tổng lợi nhuận trước thuế 2.575 tỷ đồng, thu nhập bình  
quân tháng của lao động đạt 3,84 triệu đồng. Hàng năm trong thời kỳ 2016 – 2019 có trên 2.000  
HTX được thành lập mới, do còn nhiều phải ngừng hoạt động, nên đến cuối năm 2019, cả nước  
có 24.618 HTX, tăng 9,6% so với năm 2018, hoạt động trong 8 lĩnh vực chính.  
Hình 3. Cơ cấu HTX cuối năm 2019 ở Việt Nam  
Nguồn: VCA  
Sáu tháng đầu năm 2020, dù bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, dịch tả lợn châu Phi, nhưng  
cả nước vẫn thành lập mới 752 HTX, 10 Liên hiệp HTX, 3.000 tổ hợp tác (Nhật Bắc, 2020). Các  
HTX đã cung cấp nhiều sản phẩm thiết yếu, đảm bảo thu nhập cho nhân dân, là hình thức kinh  
doanh tiên tiến, hiệu quả ở nông thôn, là công cụ quan trọng đảm bảo an sinh xã hội. Phân bố của  
HTX rộng khắp trên cả nước, đang có nhiều chuyển dịch tích cực theo khu vực, ngành kinh tế,  
65  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
theo địa phương, vùng kinh tế và hội nhập quốc tế… HTX đã góp phần không nhỏ trong giảm  
thiểu tác động từ khủng hoảng 1981 – 1987; giúp đảm bảo đời sống nhân dân trong những năm  
2007 – 2014 bất ổn vĩ mô dai dẳng. Đóng góp chính vào việc đưa kim ngạch xuất khẩu nông sản  
năm 2019 lên 41,3 tỷ USD, đứng thứ 15 thế giới, với thặng dư thương mại ước khoảng 10 tỷ  
USD. Biến Việt Nam thành cường quốc nông nghiệp, có nhiều nông sản trong top 10 xuất khẩu  
của thế giới, năm 2019, có 9 loại nông sản đạt mức “xuất khẩu tỷ USD”…  
3.2.2. Hợp tác xã ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, yếu kém trong phát triển và đóng góp vào nâng  
cao chất lượng tăng trưởng  
Có nhiều, trong đó điển hình là: (i) Số lượng HTX quá ít so với quy mô dân số cần tham  
gia, số HTX quy mô lớn ít, quá trình hợp nhất, sáp nhập HTX chưa nhiều; hiệu quả hoạt động  
tăng chậm hơn so với các hình thức tổ chức kinh tế khác. Xu hướng gắn với kinh tế hộ, với phát  
triển cộng đồng làm cho phát triển HTX chỉ thích hợp với các vùng nông thôn có điều kiện kinh  
tế khó khăn. (ii) Nhiều HTX chưa đạt chuẩn do chưa thành lập trên tinh thần tự nguyện, chưa đủ  
khả năng tự chủ về vốn, trang bị sản xuất, bị động trong sản xuất và phụ thuộc thị trường. Nhiều  
thành viên vô cảm trong hoạt động, khiến HTX trở thành chủ thể kinh tế vô hồn, lay lắt, thậm chí  
trở thành vật cản phát triển, nhất là ở nơi người dân có nhiều thu nhập khác. (iii) Áp đảo là HTX  
nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại – dịch vụ, và quỹ tín dụng nhân dân, nên đa số là  
“bổn cũ soạn lại”, phát triển theo địa giới hành chính, khó đột phá. Cơ cấu và phân bố HTX phụ  
thuộc nhiều vào cơ quan quản lý và kế hoạch của nhà nước, nên thường thụ động, ít có hiệu ứng  
lan tỏa, dễ chao đảo, thất bại khi hội nhập. (iv) Đóng góp trực tiếp vào GDP trung bình mới đạt  
khoảng 4% là thấp so với khả năng, quá thấp so với quy mô lao động hoạt động trong khu vực.  
Tỷ lệ HTX hoạt động có kết quả kinh doanh chưa cao, cùng với năng suất lao động còn thấp, làm  
cho đóng góp vào tăng trưởng khiêm tốn, kéo tụt mức tăng trưởng chung của nền kinh tế. (v)  
Chất lượng tăng trưởng trong khu vực HTX chưa được như kỳ vọng, ở nhiều HTX, đó chỉ là “lấy  
công làm lãi”. Quy mô nhỏ cùng tầm nhìn ngắn hạn của lãnh đạo, làm cho năng suất nhân tố  
tổng hợp (TFP) thấp và tăng chậm, nên khu vực HTX chỉ đóng góp “tượng trưng” vào nâng cao  
chất lượng tăng trưởng…  
3.2.3. Nguyên nhân của các hạn chế, yếu kém trong phát triển hợp tác xã, và cản chúng đóng  
góp nhiều vào nâng cao chất lượng tăng trưởng ở nước ta  
Có nhiều, trong đó các nguyên nhân chính là: (i) Khởi nguyên của phong trào hợp tác hóa  
bị chi phối bởi chủ trương chuyển đổi hòa bình đất đai, tư liệu sản xuất từ sở hữu tư nhân sang  
sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Thời gian dài sau đó, nhu cầu an sinh cuộc sống cho nhân dân  
để an lòng chiến sĩ ngoài mặt trận, đã biến HTX từ chủ thể kinh tế, sang thành “công cụ” trong  
chiến tranh giải phóng. (ii) Các HTX – nhất là HTX nông nghiệp, được thành lập theo kiểu “mặc  
đồng phục”, từ ven đô đến đồng bằng, miền núi, khiến nơi thì lỗi thời, nhưng nhiều nơi thì quá  
sức. Sự bất tương hợp khiến HTX luôn nằm trong thế chống đỡ, khó hiệu quả lúc bình thường,  
càng khó trụ trước bất ổn từ bên ngoài như biến động thị trường, biến đổi khí hậu. (iii) Triết lý  
phát triển chưa thoát khỏi tư duy “người cày có ruộng” của văn minh nông nghiệp, trong khi các  
nước đối thủ đã sang văn minh công nghiệp, bước vào văn minh thông tin, theo CMCN 4.0.  
Quyền làm chủ của thành viên còn manh tính hình thức, sự hợp tác còn nằm “trên giấy”, trong  
66  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
khi không ít lãnh đạo có biểu hiện lợi dụng quyền hạn, chia chác, trục lợi. (iv) Chưa khai thác  
được lợi thế theo vùng, theo truyền thống, tập quán và kinh nghiệm sản xuất của các cộng đồng  
dân tộc, nhất là ở các vùng trung du, miền núi. Hỗ trợ HTX chưa được chú trọng đúng mức, các  
trạm trại dần tan rã, chuỗi cung ứng đứt gẫy, các dịch vụ hỗ trợ liên quan tới sản phẩm yếu và  
thiếu. (v) Chưa coi trọng thương mại hóa sản phẩm, nhà nước lại huy động cao, nghĩa vụ xã hội  
nặng nề, dẫn đến thu nhập của thành viên thấp, hay bỏ bê việc công, dồn sức lo kinh tế tư nhân.  
Đổi mới công nghệ chậm chạp, thiếu đầu tư và ít thay đổi về quản trị, làm HTX khó phát triển,  
cản trở khu vực này đóng góp vào việc nâng cao chất lượng tăng trưởng…  
3.2.4. Phát triển hợp tác xã kiểu mới – trọng tâm của chiến lược phát triển hợp tác xã để góp  
phần nâng cao chất lượng tăng trưởng ở Việt Nam  
Sứ mệnh của HTX kiểu cũ đã cơ bản hoàn thành, nếu tiếp tục duy trì sẽ không thể đưa  
năng suất lao động ở nước ta tăng nhanh, thực hiện kỳ vọng sánh vai với các cường quốc. Nay,  
khi kiên định đi theo con đường phát triển XHCN, để góp phần mang lại công bằng cho người  
yếu thế, xóa đói giảm nghèo cho số dân hạn chế về kinh tế và kỹ năng, vẫn phải đẩy mạnh phát  
triển HTX. Chỉ khác là lấy HTX kiểu mới làm trọng tâm cho chiến lược phát triển HTX trong  
giai đoạn tới, bằng việc vận dụng sâu sắc Luật HTX 2012, thành lập và chuyển đổi HTX kiểu cũ  
thành HTX kiểu mới. Đây cũng là hướng phát triển có triển vọng lớn, với hàng vạn hộ, trang trại  
kinh doanh hàng xuất khẩu, hàng vạn lao động giỏi trong các HTX kiểu cũ. Cùng nhiều khâu  
còn yếu hoặc thiếu trong các chuỗi cung ứng – sẽ phát triển mạnh khi trở thành HTX kiểu mới,  
nhất là các vùng đang kinh doanh theo Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” của Chính phủ,  
hứa hẹn đóng góp nhiều vào việc nâng cao chất lượng tăng trưởng ở Việt Nam…  
Bảng 3. Khác biệt giữa HTX kiểu cũ với HTX kiểu mới  
HTX kiểu cũ  
Chủ nhiệm HTX  
HTX kiểu mới  
Chức danh lãnh đạo  
Chủ tịch hội đồng quản trị, Tổng  
giám đốc HTX  
Đối tượng  
Tính chất  
Các hộ gia đình  
Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân  
Áp đặt để phục vụ mục tiêu  
ngắn hạn  
Tự nguyện và tự chịu trách  
nhiệm  
Sở hữu  
Không thừa nhận sở hữu cá  
Phân định rõ sở hữu của HTX  
nhân của nông dân, của các hộ và của nông dân, của các hộ  
gia đình  
Đóng góp  
Ruộng đất và các công cụ sản  
xuất  
Góp vốn theo quy định pháp  
luật  
Xã viên với HTX  
Phụ thuộc, xã viên thành lao  
Bình đẳng, thỏa thuận, tự  
động làm công theo sự điều hành nguyện, cùng có lợi và cùng chịu  
của HTX rủi ro  
67  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Quan hệ giữa Nhà  
nước với HTX  
Hoạt động, hạch toán, phân phối, Nhà nước tôn trọng quyền tự  
giá cả… đều theo cơ quan quản lý chủ, quản lý thông qua việc ban  
cấp trên và kế hoạch của nhà  
nước  
hành pháp luật và các chính sách  
Phân phối thu nhập  
Mang tính bình quân, bao cấp,  
Công bằng, cùng có lợi, theo  
chủ yếu phân phối theo công lao vốn góp và mức độ sử dụng dịch  
động  
vụ  
Quy mô  
Thôn hoặc liên thôn, xã hoặc liên Không giới hạn về hành chính  
xã  
Phạm vi hoạt động  
Chủ yếu là canh tác nông nghiệp Có thể hoạt động ở nhiều lĩnh  
theo mô hình sản xuất tập trung vực, ngành khác nhau  
Nghĩa vụ xã hội  
Gánh vác nghĩa vụ xã hội nặng  
nề và đa dạng  
Thực hiện khi hoạt động có hiệu  
quả, chỉ dành cho các thành viên  
3.2.5. Phát triển hợp tác xã để nâng cao chất lượng tăng trưởng – nhiệm vụ cấp thiết và thực  
tiễn ở nước ta  
Để trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2031, thành nước có thu nhập cao  
năm 2045 – chào mừng kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, thành lập Nước, Việt Nam cần phải  
vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa nâng cao chất lượng tăng trưởng. Phát triển HTX hợp lý và khoa  
học theo hướng nâng cao chất lượng tăng trưởng, là công cụ quan trọng để thực hiện nhiệm vụ  
này, bởi: (i) HTX vẫn là hình thức sản xuất kinh doanh phổ biến trong nhiều năm tới, có tiềm  
năng tăng cao tăng trưởng, do khu vực doanh nghiệp còn non yếu và chưa dễ phát triển bứt phá.  
HTX sẽ có tốc độ phát triển nhanh bởi Nhà nước đang chú trọng phát triển nông nghiệp, nông  
thôn, đó còn là chủ thể thay thế tốt cho doanh nghiệp, ở nơi khó thành lập doanh nghiệp. (ii) Chất  
lượng tăng trưởng có vấn đề, năm 2019 tăng trưởng khá, nhưng là nhờ tỷ trọng tổng đầu tư xã  
hội/GDP tăng lên 33,9%; cung tiền M2/GDP tăng đến gần 160%; dư nợ tín dụng/GDP tăng lên  
134%. Trong khi, tốc độ tăng của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) suy giảm, nay ở mức thấp  
nhất trong các nước ASEAN (Trần Thọ Đạt & Tô Trung Thành, 2020, 21), nên khó duy trì tăng  
trưởng cao và bền vững, thậm chí còn gây tụt hậu. (iii) HTX kiểu mới hiện là loại hình phù hợp  
nhất trong phát triển kinh tế, bởi giúp huy động cao các nguồn lực nhỏ lẻ, phân tán, như cánh  
đồng, làng nghề và nguồn vốn nhỏ nhàn rỗi của dân cư, tài “lẻ” của vài người… Phủ rộng HTX  
kiểu mới lên các vùng doanh nghiệp còn thưa thớt sẽ đưa thêm nguồn lực phát triển khổng lồ  
vào khai thác, hứa hẹn tạo ra sức bật phát triển trên diện rộng. (iv) Vẫn phải phát triển các HTX  
kiểu cũ dạng “cải lương” ở nơi khó khăn, bởi vẫn tiến bộ và tích cực hơn khi để quay về kinh  
doanh cá thể, hộ hoặc tổ hợp. Còn giúp củng cố nông nghiệp – “bệ đỡ” phát triển ở vùng nghèo,  
giảm việc nhập khẩu nhiều loại nguyên liệu trong nước tự làm được, và chống sự xâm lấn của  
hàng ngoại giá rẻ khi lộ trình hoàn thành các cam kết FTA đã cận kề.  
68  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Hình 4. Lộ trình thực hiện cam kết FTA của Việt Nam  
Nguồn: Bộ Ngoại giao (2018)  
(v) Còn giúp tạo ra kết cấu hài hòa, cân đối giữa các loại hình chủ thể kinh tế, bởi HTX  
còn là điểm đến khi nâng cấp các hộ kinh doanh, tổ hợp, đồng thời là nguồn dự trữ cho phát triển  
doanh nghiệp. Còn tạo điều kiện để phát huy “tính cách mạng cao của nông nghiệp” (Shimon  
Peres, dẫn theo Senor & Singer, 2014, 373), giảm bớt sự méo mó trong cơ cấu kinh tế do duy ý  
chí, đưa nền kinh tế bước vào giai đoạn tăng trưởng cao và bền vững hơn…  
4. Giải pháp để thúc đẩy phát triển hợp tác xã nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng ở  
Việt Nam  
Một là, đổi mới sâu sắc tư duy phát triển, chuyển sang chuyên môn hóa theo vùng theo  
quy hoạch chiến lược, lấy đó làm điểm tựa để phát triển các ngành trọng điểm, chuỗi cung ứng  
sản phẩm theo các FTA, làm định hướng cho khu vực HTX định hình và phát triển  
Phát triển HTX chỉ là một phần để giúp nâng cao chất lượng tăng trưởng, chỉ phát huy  
được tính tích cực khi được quản trị tương thích, dưới sự dẫn dắt, điều hành của tư duy phát triển  
tiến bộ. Trong khi đó, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ ngày Đổi mới nói chung, và ba năm  
2017 – 2019 nói riêng là ấn tượng, nhưng chưa mang lại sự an tâm, bởi còn chủ yếu là theo chiều  
rộng. Công nghiệp còn nặng về gia công, lắp ráp; xuất khẩu phụ thuộc khu vực FDI; cùng các  
tượng đài hoành tráng, khu hành chính “nghìn tỷ”, xây dựng cao tốc, khiến “GDP chạy đi đâu?”  
(Bùi Trinh, 2014). Hơn nữa, các “con Rồng châu Á” chỉ ra đời khi có đột phá tư duy phát triển,  
các nước “chiếu dưới” chỉ hội nhập thành công khi biết làm giầu bằng yếu tố địa phương. Vì thế,  
khi động lực từ đổi mới giảm mạnh, tăng trưởng chững lại, muốn có tăng trưởng cao và bền vững,  
cần đổi mới sâu sắc và trước tiên là tư duy phát triển. Cần từ bỏ cách thức tăng trưởng chủ yếu  
dựa trên khai thác khả năng, gia công lắp ráp cho nước ngoài, để 63 tỉnh thành như 63 “nền kinh  
tế”, cạnh tranh lẫn nhau. Khắc phục tình trạng lát cắt kinh tế li ti (Trần Đình Thiên, 2011), bằng  
việc chuyển sang khai thác lợi thế, tăng tỷ trọng hàng hóa và nâng cao giá trị thương hiệu cho  
nông sản nhiệt đới. Nâng cấp chiến lược trong tổ chức kinh tế từ cấp tỉnh lên cấp vùng, để tăng  
GDP của cấp này lên gấp nhiều lần, tạo điều kiện để phát triển chuyên môn hóa theo vùng, thu  
gọn cơ cấu kinh tế “nát vụn”, nhằm tăng sức cạnh tranh theo quy mô…  
69  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Bảng 4. Quy mô bình quân về diện tích và GDP năm 2019  
của đơn vị tổ chức kinh tế chiến lược của một vài quốc gia261,9  
Số bang, tỉnh,  
đơn vị trực  
thuộc  
Toàn quốc  
Quy mô bình quân  
Diện tích  
GDP (triệu  
USD)  
Diện tích  
(km2)  
GDP (triệu  
USD)  
(km2)  
Mỹ  
9.525.067  
21.427,7  
14.342,9  
5.081,8  
1.642,4  
2.875,1  
50  
33  
47  
17  
36  
190.501  
436.225  
8.041  
428.554,0  
434.633,3  
108.123,4  
96.611,8  
79.863,9  
Trung Quốc  
Nhật Bản  
Hàn Quốc  
Ấn Độ  
9.596.961  
377.930  
100.210  
5.895  
3.287.263  
91.313  
Brazil  
8.515.767  
331.212  
1.839,7  
261,9  
27  
63  
315.399  
5.257  
68.137,0  
4.157,1  
Việt Nam  
Việt Nam  
Nguồn: Wikipedia, WB  
Từ các ngành trọng điểm, xây dựng và phát triển các chuỗi cung ứng cho các sản phẩm  
chủ lực của các vùng theo các FTA. Dựa vào đó, chỉ ra các khả năng còn lại, các khâu còn thiếu  
hoặc yếu, các ngõ, ngách thị trường, làm định hướng cho các HTX xây dựng và phát triển…  
Hai là, đổi mới thể chế theo hướng kinh tế thị trường đầy đủ, sửa đổi các luật có liên quan,  
nâng cấp các mặt yếu thế, để các thành viên tăng thêm niềm tin, hăng hái tham gia vào HTX,  
tiến tới hình thành hệ thống HTX mạnh, phủ rộng và hoạt động hiệu quả  
Có định hướng tốt, song để khu vực HTX phát triển, cần tạo được niềm tin vào HTX cho  
các thành viên, mấu chốt là đổi mới thể chế để giải phóng nguồn lực, bởi thể chế “cũ” xem nhẹ  
các phạm trù kinh tế thông thường (Buchholz, 2008, 251), nên thiếu tính thị trường. Hệ thống  
chính trị kép, cồng kềnh, nhiều ban bệ, có cấu trúc, chức năng xơ cứng, tiềm ẩn cơ chế xin-cho,  
thân hữu, nhiều công chức biến chất, đe dọa sự công bằng và hiệu quả kinh doanh. Nếu chỉ “cơi  
nới” và “dò đá qua sông” thì không thể tiến dài, tiến nhanh, khó đáp ứng đòi hỏi “bây giờ hoặc  
không bao giờ”, khi muốn bắt kịp và tiến cùng thời đại (Nguyễn Đình Cung, 2019). Nay năng  
lực cạnh tranh năm 2019 của nước ta về thể chế đứng thứ 89/141 nước, các mặt khác đều thua  
ba đối tác chính, nếu ít “cởi trói” về thể chế, thì các HTX khó trụ vững trong hội nhập.  
70  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Hình 5. Năng lực cạnh tranh của Việt Nam, Thái Lan, Malaysia  
và Trung Quốc năm 2019  
Nguồn: WEF (2020)  
Đổi mới thể chế, về “luật chơi”, cần nâng cao quyền tài sản, sửa đổi Luật Đất đai và các  
luật có liên quan, phát triển xã hội dân sự, khuyến khích lao động giỏi tập trung và tích tụ tư liệu  
sản xuất, kể cả đất đai. Về các chủ thể tham gia, cần lựa chọn người đủ tâm và tầm quản trị quốc  
gia, đề cao hơn vai trò của HTX, đổi mới cơ quan quản lý, nâng cao quyền hạn của các hiệp hội,  
tôn trọng tiếng nói thành viên. Về cơ chế thực thi, cần công bằng, nghiêm minh trong quản lý,  
cạnh tranh và xử lý các tranh chấp; tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chuyên trách về các  
tổ chức kinh tế. Để người dân tin, tự giác tham gia, hăng hái đóng góp các tài sản tích cóp, dồn  
hết tâm huyết cho HTX thì chúng mới phát triển cao và bền vững được. Còn nếu cứ để bình quân  
một HTX hoạt động có kết quả năm 2018, chỉ có 12,3 lao động, doanh thu thuần 6,35 tỷ đồng,  
lợi nhuận trước thuế 0,18 tỷ đồng – tức quy mô nho nhỏ “xinh xinh”, lợi nhuận kiểu “cho có”,  
luôn có tình trạng “được mùa rớt giá”, thì mấy ai dám tham gia HTX…  
Ba là, ban hành các chính sách tương thích để phát triển nhanh, mạnh và nhiều các HTX  
kiểu mới, phát triển hợp lý các HTX kiểu cũ, tạo ra hệ thống các chủ thể kinh tế tiên tiến, phù  
hợp, tương hỗ và bổ sung lẫn nhau, giúp tạo ra tăng trưởng cao và bền vững  
Có định hướng phát triển tốt, thể chế được cải thiện sẽ giảm bớt thủ tục, tinh giảm điều  
kiện, rút ngắn thời gian và chi phí tuân thủ thành lập HTX. Nhưng để có nhiều HTX kiểu mới  
được thành lập, nhiều HTX kiểu cũ được chuyển đổi và phát triển hợp lý, ngoài nỗ lực của họ,  
còn cần hỗ trợ từ bên ngoài, quan trọng nhất là từ nhà nước. Trong bối cảnh kinh tế và thương  
mại toàn cầu đang khó khăn vì chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy, dịch Covid-19 diễn biến phức tạp,  
chưa dễ cải thiện. Nhà nước cần điều chỉnh, bổ sung để có chính sách hỗ trợ HTX hấp dẫn hơn,  
đầu tiên là hỗ trợ các yếu tố đầu vào, nhất là các yếu tố vượt tầm HTX, như giống, vật tư, thông  
tin thị trường, công nghệ, đối tác. Tiếp đó là hỗ trợ để HTX vận hành trôi chảy, thuận lợi, như  
hỗ trợ tiếp cận nguồn lực, quản trị, giúp tham gia vào các chuỗi cung ứng, xử lý sự cố, giảm  
71  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
thiểu nhũng nhiễu, phiền hà. Hỗ trợ đầu ra và tạo điều kiện mở rộng kinh doanh, như tiêu thụ  
sản phẩm, tổ chức gặp gỡ, trao đổi, xúc tiến thương mại, hoãn, giản hoặc giãm các khoản huy  
động và chi phí tuân thủ… Các giải pháp này cần đồng bộ, bao trùm, khả thi để biến thành động  
lực, để nhiều HTX kiểu cũ được chuyển đổi, nhiều HTX kiểu mới được thành lập, nhất là ở nơi  
khó phát triển doanh nghiệp. Mặt khác, khi phát triển HTX còn cần phân bổ hài hòa “đất” hoạt  
động, sử dụng nguồn lực, để dung hòa lợi ích giữa các thành viên, tập thể, địa phương và quốc  
gia. Đặt phát triển HTX trong quản trị tổng thể, phục vụ chiến lược phát triển chung, để vừa  
phát triển nhanh, mạnh và nhiều các HTX kiểu mới, phát triển hợp lý các HTX kiểu cũ. Vừa có  
sự chuyển hóa linh hoạt từ các chủ thể kinh tế cấp thấp hơn lên HTX, và từ HTX lên doanh  
nghiệp, nhằm tạo ra hệ thống các chủ thể kinh tế tiên tiến, phù hợp, tương hỗ và bổ sung lẫn  
nhau. Giúp từng HTX, từng cộng đồng và toàn khu vực HTX phát triển nhanh, mạnh, hiệu quả,  
ít sự cố, như là các miếng ghép cơ cấu, vừa giúp tạo ra tăng trưởng cao, đóng góp được nhiều  
vào nâng cao chất lượng tăng trưởng…  
Bốn là, phát huy sức mạnh của toàn hệ thống chính trị, sự hỗ trợ của giới khoa học, doanh  
nhân, sự chung sức của cộng đồng và giúp đỡ quốc tế, nhằm giúp các HTX hoạt động suôn sẻ,  
hiệu quả cao, đóng góp được nhiều vào tăng trưởng và nâng cao chất lượng tăng trưởng  
Để thành công, từng HTX cần nỗ lực, lãnh đạo cần có tầm nhìn, nhạy bén và năng động;  
các thành viên cần tự tin, tương trợ khi đóng góp, hợp tác trong công việc, nhường nhịn trong  
phân phối. Nhưng nhận thức, khả năng và nỗ lực của họ đều có hạn, mỗi HTX, cộng đồng HTX,  
lại có nhiều vấn đề riêng, với mức độ khác nhau, nên dĩ nhiên, cần các người gỡ rối khác nhau.  
Do đó, họ cần có thêm nhiều hỗ trợ khác, dù không thường xuyên, nhưng cần trong đó, đầu tiên  
là từ hệ thống chính trị. Bởi hệ thống chính trị ở nước ta không chỉ là “kép” – mà là “tứ” với bốn  
trục dọc tương ứng “tứ trụ”, đã nhiều ban bệ, lại nhiều tầng nấc, nhiều nơi coi trọng “quyền anh,  
quyền tôi”. Do đó, cần giảm thiểu việc để kỳ vọng xa xôi cản trở hoạt động hiện tại; không để cơ  
quan hành pháp soạn luật, cài cắm lợi ích nhóm. Giảm sự cát cứ và lợi ích cục bộ làm chính sách  
thiếu toàn cục, khó thông suốt, không để quy định dưới luật, hoạt động thanh, kiểm tra, cùng tư  
lợi của quan chức gây khó. Sau đó là hỗ trợ từ các hiệp hội, nơi hiểu rõ tiềm năng, thực trạng,  
vấn đề và lợi thế trong từng ngành, hàng, của các chủ thể kinh tế trong vùng. Nên có thể tư vấn  
nên kinh doanh gì, quy mô ở mức nào để có hiệu quả; nên nhận hỗ trợ gì, từ đâu, khi sản xuất,  
đến thu hoạch, chế biến, tiêu thụ. Đồng thời, cần sự chung sức của giới khoa học, để có ý tưởng,  
dự báo sản phẩm và thị trường, nhất là sản phẩm có thể thay đổi lớn dưới tác động của CMCN  
4.0. Giúp ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ để các HTX dù ở công nghệ thấp, đủ sức cạnh  
tranh với các sản phẩm của các nền kinh tế công nghệ 4.0 trong hội nhập. Cần giới đầu tư, doanh  
nhân hỗ trợ trong phát triển sản phẩm có giá trị cao, nhất là sản phẩm cần đầu tư ban đầu lớn,  
hoặc có mức mạo hiểm cao. Cần sự góp sức của cộng đồng, các người con quê hương, sự giúp  
đỡ quốc tế để giúp HTX định hướng phát triển, lựa chọn sản phẩm và công nghệ, giúp tiêu thụ  
sản phẩm. Từ đó, giúp các HTX hoạt động suôn sẻ, kinh doanh hiệu quả, đóng góp được nhiều  
vào tăng trưởng và nâng cao chất lượng tăng trưởng…  
3. Kết luận  
Quá trình phục hưng của HTX từ năm 2004 tới nay, cho thấy đây là mô hình kinh tế thích  
72  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
ứng và có thể phát triển mở rộng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Phát  
triển HTX càng quan trọng, khi đa phần nông sản và hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu đều chủ  
yếu được sản xuất ở đây. Hơn nữa, nếu không phát triển kịp, chỉ cần mỗi một trong hơn 50 đối  
tác trong các FTA, có một vài sản phẩm vượt qua sản phẩm Việt, thì sẽ mang đến hậu quả khó  
lường cho nền kinh tế. Vì thế, trong giai đoạn tới, ở các vùng doanh nghiệp chưa phát triển, nước  
ta càng cần đẩy mạnh phát triển HTX kiểu mới để khuếch trương lợi thế của cường quốc nông  
nghiệp. Đồng thời cần phát triển HTX kiểu cũ dạng cải lương, để mở đường cho các cá thể, hộ  
kinh doanh và tổ hợp tác có điều kiện phát triển tốt hơn, chuẩn bị tiền đề để phát triển doanh  
nghiệp về sau. Đây còn là giải pháp tốt để các vùng nông thôn, miền núi phát triển, đưa tăng  
trưởng cả nước thêm cao, giảm dần tình trạng 80% địa phương chưa tự đảm bảo được chi ngân  
sách. Góp phần cung cấp thêm hàng xuất khẩu, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống, xóa đói  
giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao chất lượng tăng trưởng. Sự nghiệp này tuy có  
thuận lợi lớn, là nước ta do một Đảng duy nhất lãnh đạo toàn diện, kiên định phát triển XHCN,  
có nhiều kinh nghiệm của trên 1/3 thế kỷ phát triển HTX kiểu cũ. Song cũng đan xen nhiều thách  
thức không nhỏ, khi trình độ phát triển chưa cao, các quá trình: công nghiệp hóa, chuyển đổi nền  
kinh tế, tăng trưởng bắt kịp – đều đang dang dở. Tư duy kinh tế chưa theo kịp thời đại, hiệu lực  
quản lý chưa cao, các chính sách tốt khó và chậm đi vào cuộc sống, nhiều bất ổn lẩn khuất ở  
nhiều nơi, nên lòng tin vào HTX không cao… Song với quyết tâm đổi mới của Đảng, nỗ lực cải  
cách, chuyển sang kiến tạo – phát triển của Chính phủ, những bài học tổng kết rút ra từ thực tiễn,  
cùng sự chung sức của toàn dân. Cùng nỗ lực triển khai các giải pháp tương thích, thực hiện  
Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm”, chắc chắn phong trào HTX ở Việt Nam sẽ đổi mới căn  
bản. Không chỉ giúp phát triển nhanh, mạnh và nhiều HTX kiểu mới, phát triển hợp lý các HTX  
kiểu cũ, mà còn tạo ra hệ thống các chủ thể kinh tế tiên tiến, giúp tạo ra tăng trưởng cao và bền  
vững, mang đến bước ngoặt trong phát triển kinh tế đất nước...  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Bùi Trinh (2014), GDP chạy đi đâu? Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2020 từ:  
<http://vneconomy.vn/thoi-su/gdp-chay-di-dau-20140206031427536.htm>.  
Chương Đài (2019), Kinh nghiệm của Nhật Bản trong phát triển HTX nông nghiệp, truy  
hop-tac-xa-nong-nghiep-a20081.html>.  
Dan Senor & Saul Singer (2014), Quốc gia khởi nghiệp: câu chuyện về nền kinh tế thần kỳ  
của Israel, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, 2014, trang 373.  
Nguyễn Đình Cung (2019), Việt Nam ở vào tình thế ‘bây giờ hoặc không bao giờ’, truy  
the-bay-gio-hoac-khong-bao-gio-516683.html>.  
Nhật Bắc (2020), Để HTX là ngôi nhà chung, tối ưu hóa lợi ích cho người nông dân, truy  
nuoc/de-hop-tac-xa-la-ngoi-nha-chung-toi-uu-hoa-loi-ich-cho-nguoi-nong-dan/399052.vgp>.  
73  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Todd G. Buchholz (2008), Ý tưởng mới từ các kinh tế gia tiền bối, bản dịch của Phạm Hồng  
Bắc và Bùi Ngọc Sơn, Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội  
Trần Đình Thiên (2011), Lát cắt cơ cấu nền kinh tế Việt, truy cập ngày 15 tháng 9 năm  
2020 từ: <https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/lat-cat-co-cau-nen-kinh-te-viet-41378.html>  
Trần Thọ Đạt & Tô Trung Thành (biên soạn, 2020), Tóm tắt Ấn phẩm Đánh giá Kinh tế  
Việt Nam thường niên 2019, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội  
VCA (2019), Kinh nghiệm của CHLB Đức trong phát triển HTX, truy cập ngày 9 tháng 9  
năm 2020 từ: <http://vca.org.vn/kinh-nghiem-cua-chlb-duc-trong-phat-trien-htx-a19660.html>.  
Vinod Thomas, Mansoor Dailami, Ashok Dhareshwar, Daniel Kaufmann, Nalin Kishor,  
Ramón E. López and Yan Wang (2000), The Quality of Growth, Published for the World Bank,  
Oxford University Press.  
74  
pdf 17 trang Thùy Anh 14880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển hợp tác xã để nâng cao chất lượng tăng trưởng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphat_trien_hop_tac_xa_de_nang_cao_chat_luong_tang_truong.pdf