Một số vấn đề liên quan đến chủ thể là tổ chức không có tư cách pháp nhân

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ THỂ  
LÀ TỔ CHỨC KHÔNG CÓ TƯ CÁCH PHÁP NHÂN  
Trương Nhật Quang*  
*LS. Công ty luât TNHH YKVN  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày, phân tích các quy định và  
thực tiễn về chủ thể là tổ chức không có tư cách pháp nhân dưới bốn góc  
độ là (i) năng lực chủ thể, (ii) thẩm quyền đại diện, (iii) trách nhiệm của  
các bên tham gia giao dịch và (iv) tư cách tham gia tố tụng.  
Từ khóa: Tổ chức không có tư  
cách pháp nhân; năng lực chủ  
thể; thẩm quyền đại diện; trách  
nhiệm của các bên tham gia giao  
dịch; tư cách tham gia tố tụng; Bộ  
luật Dân sự năm 2015; Bộ luật  
Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân  
sự năm 1995, Luật Thương mại  
năm 2005  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 11/7/2021  
: 16/8/2021  
: 18/8/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Within the scope of this article, the author provides discussions and  
analysis of the regulations and practices on the subject being an entity  
without legal personality under four aspects, namely (i) capacity, (ii)  
authority, (iii) liability towards to third parties và (iv) standing in legal  
proceedings.  
Keywords: Entities without legal  
personality; capcacity; authority;  
liability towards third parties;  
standing in legal proceedings;  
Civil Code of 2015; Civil Code  
of 2005; Civil Code of 1995;  
Law on Commerce of 2005.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 11 Jul. 2021  
: 16 Aug. 2021  
: 18 Aug. 2021  
Approved  
Hộ gia đình1 và tổ hợp tác2 là các ví dụ  
điển hình về tổ chức không có tư cách pháp  
1. Quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015  
về hộ gia đình và tổ hợp tác  
1 Nếu khái quát hoá thì có thể hiểu hộ gia đình (i) là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi  
dưỡng, (ii) đang sống chung trong gia đình và (iii) có tài sản chung. Hộ gia đình không được định nghĩa tại BLDS  
năm 2015 nhưng được quy định ở Điều 106 BLDS năm 2005 và khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013.  
2 Theo khoản 1 Điều 3 của Nghị định số 77/2019/NĐ-CP ngày 10/10/2019 của Chính phủ về tổ hợp tác, tổ hợp  
tác là “tổ chức không có tư cách pháp nhân, được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác, gồm từ 02 cá nhân,  
pháp nhân trở lên tự nguyện thành lập, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất  
định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm”.  
Số 18(442) - T9/2021  
25  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
nhân trong quan hệ dân sự. Theo Báo cáo của  
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) về  
Dự thảo Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS  
năm 2015), Dự thảo BLDS năm 2015 “xác  
định rõ chủ thể của quan hệ pháp luật dân  
sự bao gồm cá nhân và pháp nhân” và trong  
trường hợp “hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức  
khác không có tư cách pháp nhân tham gia  
quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia  
đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư  
cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập,  
thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền  
cho người đại diện tham gia xác lập, thực  
hiện giao dịch dân sự”.  
Cơ sở của cách tiếp cận này là chủ thể  
cần được xem xét dưới góc độ năng lực chủ  
thể (kể cả quyền giao kết và thực hiện hợp  
đồng), quyền kiện và bị kiện, và trách nhiệm  
với bên thứ ba. Khi lấy ý kiến các đại biểu  
Quốc hội, chuyên gia và nhà khoa học, đa số  
ý kiến cho rằng: “chủ thể của quan hệ pháp  
luật dân sự theo quy định của luật phải có  
đầy đủ quyền, nghĩa vụ chủ thể, phải chịu  
trách nhiệm về việc tham gia quan hệ dân  
sự của mình, vì vậy, chỉ có cá nhân và pháp  
nhân là chủ thể của quan hệ pháp luật dân  
sự”. Ngoài ra, theo tổng kết thi hành BLDS  
2005, “sự tham gia của hộ gia đình, tổ hợp  
tác trong quan hệ dân sự thường được thực  
hiện thông qua các thành viên cụ thể”3. Nếu  
xem xét Báo cáo của UBTVQH, điều tương  
đối rõ ràng về ý định của nhà làm luật là hộ  
gia đình và tổ hợp tác không phải là chủ thể  
của BLDS năm 2015.  
giới hạn ở hộ gia đình và tổ hợp tác mà còn  
áp dụng với các tổ chức không có tư cách  
pháp nhân nói chung. Việc áp dụng các quy  
định mới trong bối cảnh hộ gia đình và tổ  
hợp tác dường như không tạo ra vấn đề lớn.  
Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này  
trong các giao dịch thương mại của các tổ  
chức khác không có tư cách pháp nhân có  
những điểm bất hợp lý, gây ra xáo động trên  
thị trường.  
Các loại hợp đồng thương mại thông  
dụng thường gặp trên thực tế bao gồm hợp  
đồng mở tài khoản, hợp đồng vay, hợp đồng  
bảo đảm hoặc hợp đồng mua bán cổ phần.  
Khi các hợp đồng này được giao kết bởi một  
tổ chức không có tư cách pháp nhân như văn  
phòng đại diện, chi nhánh, doanh nghiệp tư  
nhân hoặc quỹ đầu tư không có tư cách pháp  
nhân, các hợp đồng này sẽ được điều chỉnh  
bởi các quy định mới trên. Trên thực tế, văn  
phòng đại diện thường xuyên mở tài khoản  
ngân hàng; chi nhánh ngân hàng và doanh  
nghiệp tư nhân tham gia vào các giao dịch  
cho vay và bảo đảm; và quỹ đầu tư không  
có tư cách pháp nhân là nhà đầu tư trong các  
giao dịch mua bán cổ phần.  
Bốn loại tổ chức không có tư cách pháp  
nhân kể trên có thể được chia làm hai nhóm  
là (i) văn phòng đại diện và chi nhánh; và (ii)  
doanh nghiệp tư nhân và quỹ đầu tư không  
có tư cách pháp nhân. Văn phòng đại diện  
và chi nhánh được coi là một bộ phận của  
pháp nhân và pháp nhân “có quyền, nghĩa  
vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do  
chi nhánh, văn phòng đại diện xác lập, thực  
hiện”4. Nói cách khác, văn phòng đại diện và  
chi nhánh giao kết và thực hiện giao dịch dân  
sự thay mặt cho pháp nhân. Ở một khía cạnh  
khác, bản thân doanh nghiệp tư nhân5 và quỹ  
1.2. Văn phòng đại diện, chi nhánh,  
doanh nghiệp tư nhân và quỹ đầu tư  
Mặc dù chủ yếu hướng tới đối tượng là hộ  
gia đình và tổ hợp tác, các quy định mới tại  
Chương VI của BLDS năm 2015 không chỉ  
3 Báo cáo số 1002/BC-UBTVQH13 của UBTVQH gửi đại biểu Quốc hội giải trình Dự thảo BLDS năm 2015  
ngày 22 tháng 11 năm 2015, Mục 1.  
4 Khoản 6 Điều 84 BLDS năm 2015.  
5 Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân và theo khoản 1 Điều 188 Luật Doanh nghiệp năm 2020,  
thì doanh nghiệp tư nhân là “doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản  
của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”.  
26  
Số 18(442) - T9/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
đầu tư6 là các chủ thể được quy định riêng  
theo pháp luật chuyên ngành và có thể tham  
gia giao dịch theo pháp luật chuyên ngành.  
Doanh nghiệp tư nhân và quỹ đầu tư không  
phải là một bộ phận của pháp nhân và là một  
chủ thể độc lập.  
bị đơn. Trong một số trường hợp khác, các  
tòa án chấp nhận chính văn phòng đại diện  
hoặc chi nhánh và doanh nghiệp tư nhân làm  
nguyên đơn và bị đơn9.  
Như vậy, có thể thấy vẫn có sự giao thoa  
và không rõ ràng giữa các cách tiếp cận khác  
nhau về chủ thể là pháp nhân và tổ chức  
không có tư cách pháp nhân cả từ góc độ lý  
thuyết và thực tiễn trước và sau khi BLDS  
năm 2015 ra đời. Tại thời điểm hiện nay, các  
khía cạnh chủ yếu cần xem xét liên quan đến  
chủ thể là tổ chức không có tư cách pháp  
nhân bao gồm: (i) năng lực chủ thể, (ii) thẩm  
quyền đại diện, (iii) trách nhiệm của các bên  
tham gia giao dịch và (iv) tư cách tham gia  
tố tụng.  
1.3. Pháp luật chuyên ngành và thực  
tiễn áp dụng  
Ngoài các quy định tại BLDS năm 2015,  
pháp luật chuyên ngành cũng có các quy định  
về chủ thể và các quy định này chấp nhận  
các cách tiếp cận khác nhau về chủ thể là tổ  
chức không có tư cách pháp nhân. Cách tiếp  
cận chủ thể chỉ bao gồm pháp nhân đã được  
áp dụng trong luật chuyên ngành trước khi  
BLDS năm 2015 ra đời. Ví dụ, Luật Doanh  
nghiệp năm 2014 quy định tổ chức không có  
tư cách pháp nhân không có quyền thành lập  
và quản lý doanh nghiệp và chỉ có pháp nhân  
mới có quyền này7. Ở chiều ngược lại, ngay  
cả sau khi BLDS năm 2015 ra đời, cũng có  
luật chuyên ngành vẫn tiếp tục quy định chủ  
thể bao gồm pháp nhân và tổ chức không có  
tư cách pháp nhân. Ví dụ, theo Luật Đầu tư  
năm 2020, nhà đầu tư có thể là cá nhân và tổ  
chức và không loại trừ nhà đầu tư là tổ chức  
không có tư cách pháp nhân8.  
Thực tiễn áp dụng pháp luật cũng không  
rõ ràng. Đối với tranh chấp liên quan đến văn  
phòng đại diện, chi nhánh và doanh nghiệp  
tư nhân, các tòa án cũng có cách tiếp cận  
không đồng nhất cả trước và sau khi BLDS  
năm 2015 ra đời. Trong một số trường hợp,  
các tòa án chỉ chấp nhận doanh nghiệp có  
văn phòng đại diện hoặc chi nhánh và chủ  
doanh nghiệp tư nhân làm nguyên đơn và  
2. Năng lực chủ thể  
Sự thay đổi về cách tiếp cận đối với tổ  
chức không có tư cách pháp nhân được quy  
định tại Điều 101 BLDS năm 2015 có tiêu  
đề “Chủ thể trong quan hệ dân sự có sự tham  
gia của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác  
không có tư cách pháp nhân”. Liên quan đến  
năng lực chủ thể, Điều 101 quy định:  
“1. Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ  
chức khác không có tư cách pháp nhân tham  
gia quan hệ dân sự thì các thành viên của  
hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không  
có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia  
xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy  
quyền cho người đại diện tham gia xác lập,  
thực hiện giao dịch dân sự. Việc ủy quyền  
phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp  
có thỏa thuận khác. Khi có sự thay đổi người  
đại diện thì phải thông báo cho bên tham gia  
quan hệ dân sự biết.  
6 Pháp luật Việt Nam nói chung không quy định cụ thể về quỹ đầu tư. Đã có quy định cho thấy có những loại  
quỹ đầu tư thành lập ở Việt Nam không có tư cách pháp nhân (ví dụ, Thông tư số 99/2020/TT-BTC ngày 16  
tháng 11 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn hoạt động của công ty quản lý quỹ đầu tư chứng  
khoán, Phụ lục VI).  
7 Khoản 2(đ) Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Khoản 2(đ) Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2020 tiếp  
tục quy định như vậy.  
8 Khoản 18 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020.  
9 Hướng dẫn số 29/HD-VKSTC ngày 25 tháng 9 năm 2020 của VKSNDTC về một số nội dung trong công  
tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại, Mục 5.  
Số 18(442) - T9/2021  
27  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Trường hợp thành viên của hộ gia đình,  
tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách  
pháp nhân tham gia quan hệ dân sự không  
được các thành viên khác ủy quyền làm  
người đại diện thì thành viên đó là chủ  
thể của quan hệ dân sự do mình xác lập,  
thực hiện.  
2. Việc xác định chủ thể của quan hệ dân  
sự có sự tham gia của hộ gia đình sử dụng  
đất được thực hiện theo quy định của Luật  
Đất đai”.  
Như trình bày ở trên, nếu xem xét Báo  
cáo của UBTVQH, điều tương đối rõ ràng  
về ý định của nhà làm luật là hộ gia đình và  
tổ hợp tác không phải là chủ thể của BLDS  
năm 2015. Tuy nhiên, nếu áp dụng cách tiếp  
cận này vào các tổ chức không có tư cách  
pháp nhân khác như văn phòng đại diện, chi  
nhánh, doanh nghiệp tư nhân và quỹ đầu tư  
không có tư cách pháp nhân thì có những  
điểm bất hợp lý.  
và sử dụng tài khoản ngân hàng là một giao  
dịch dân sự và theo đó, tổ chức không có tư  
cách pháp nhân không được mở và sử dụng  
tài khoản ngân hàng. Việc mở và sử dụng tài  
khoản ngân hàng phải được thực hiện bởi  
thành viên của tổ chức không có tư cách pháp  
nhân. Ví dụ theo quy định trên, văn phòng đại  
diện và doanh nghiệp tư nhân không được  
phép mở tài khoản tại ngân hàng.  
Khi xem xét tính pháp lý của Thông tư số  
32, BTP cho rằng, quy định của NHNN đã  
hạn chế quyền của các tổ chức không có tư  
cách pháp nhân và trái với Hiến pháp năm  
201311. BTP cũng cho rằng, BLDS năm  
2015 không nên được giải thích là hạn chế  
chủ thể của quan hệ dân sự ở cá nhân và  
pháp nhân và tổ chức không có tư cách pháp  
nhân vẫn có tư cách chủ thể12. BTP dường  
như có cách tiếp cận thực tế để xử lý tình  
huống phát sinh, tránh gây xáo động trong  
hoạt động tài khoản của tổ chức không có  
tư cách pháp nhân. Thông tư số 32 sau đó  
đã được bãi bỏ và thay thế bởi Thông tư số  
02/2019/TT-NHNN của NHNN ngày 28  
tháng 2 năm 2019 hướng dẫn việc mở và sử  
dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung  
ứng dịch vụ thanh toán, hiệu lực từ ngày 1  
tháng 3 năm 2019. Theo Thông tư mới này,  
các tổ chức không có tư cách pháp nhân  
được mở tài khoản thanh toán và tham gia  
xác lập và thực hiện các giao dịch liên quan  
đến tài khoản đó13.  
2.1. Thông tư số 32/2016/TT-NHNN  
Vấn đề phát sinh từ Điều 101 BLDS năm  
2015 đã gây sự lúng túng giữa Bộ Tư pháp  
(BTP) và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) liên  
quan đến Thông tư số 32/2016/TT-NHNN  
(Thông tư số 32) do NHNN ban hành quy  
định các đối tượng được mở và sử dụng tài  
khoản thanh toán tại ngân hàng và các đối  
tượng này không bao gồm tổ chức không có  
10. Dựa trên cách hiểu tổ  
tư cách pháp nhân  
chức không có tư cách pháp nhân không có  
năng lực chủ thể, Thông tư số 32 coi việc mở  
Mặc dù NHNN chấp nhận tổ chức không  
có tư cách pháp nhân có thể mở tài khoản,  
10 Điều 11 Thông tư số 32/2016/TT-NHNN ngày 26 tháng 12 năm 2016 của NHNN về sửa đổi, bổ sung một  
số điều của Thông tư số 23/2014/TT-NHNN ngày 19 tháng 8 năm 2014 của NHNN hướng dẫn việc mở và  
sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, hiệu lực từ ngày 1 tháng 3 năm 2017.  
11 Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013. Theo Hiến pháp năm 2013, quyền công dân chỉ có thể bị  
hạn chế bởi luật và không thể bị hạn chế bởi văn bản dưới luật như một thông tư của NHNN. Dường  
như BTP áp dụng nguyên tắc trên đối với tổ chức không phải pháp nhân trên cơ sở tương tự.  
12 Kết luận kiểm tra số 05/KL-KTrVB của Cục Kiểm tra Văn bản quy phạm pháp luật của BTP về Thông tư  
số 32/2016/TT-NHNN ngày 16 tháng 12 năm 2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 23/2014/  
TT-NHNN ngày 19 tháng 8 năm 2014 của NHNN hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ  
chức cung ứng dịch vụ thanh toán.  
13 Xem Trương Nhật Quang (2020), Pháp luật về hợp đồng – Các vấn đề pháp lý cơ bản, Nxb. Dân Trí, từ tr. 41  
đến tr. 44.  
28  
Số 18(442) - T9/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
NHNN chỉ cho phép cá nhân và pháp nhân  
là bên vay trong quan hệ tín dụng với ngân  
hàng. Tổ chức không có tư cách pháp nhân  
không thể là bên vay14, tức là tại thời điểm  
hiện nay, NHNN có cách tiếp cận khác nhau  
đối với chủ thể trong quan hệ mở tài khoản  
và quan hệ cho vay.  
Nguyễn Ngọc Điện cho rằng, tổ chức không  
có tư cách pháp nhân không có tư cách chủ  
thể và đây là quan điểm “tương đồng với luật  
của các nước và hoàn toàn phù hợp với thông  
lệ quốc tế”15.  
Theo luồng ý kiến thứ hai, bản thân Điều  
101 BLDS năm 2015 vẫn quy định “trường  
hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác  
không có tư cách pháp nhân tham gia quan  
hệ dân sự”, ngầm hiểu là tổ chức không có  
tư cách pháp nhân có tư cách chủ thể tham  
gia quan hệ dân sự. Như phân tích dưới đây,  
Điều 103 BLDS năm 2015 cũng quy định về  
tài sản chung của tổ chức không có tư cách  
pháp nhân khi xác định “nghĩa vụ dân sự  
phát sinh từ việc tham gia quan hệ dân sự  
của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác  
không có tư cách pháp nhân”. Trong trường  
hợp tài sản chung không đủ thực hiện nghĩa  
vụ thì các thành viên tổ chức liên đới chịu  
trách nhiệm bằng tài sản riêng của mình.  
Cách quy định trên cho thấy, tổ chức không  
có tư cách pháp nhân vẫn có năng lực chủ  
thể và các thành viên giao kết và thực hiện  
hợp đồng với tư cách đại diện hoặc nhân  
danh cho tổ chức không có tư cách pháp  
nhân mà họ là thành viên.  
2.2. Hai cách hiểu Điều 101 BLDS  
năm 2015  
Vấn đề phát sinh từ Thông tư số 32 liên  
quan đến việc mở tài khoản và cách hiểu của  
BTP đã đặt lại câu hỏi về năng lực chủ thể  
theo quy định tại Điều 101 BLDS năm 2015  
và sự không rõ ràng trong các quy định của  
BLDS năm 2015. Khi vấn đề phát sinh, có  
hai luồng ý kiến về cách hiểu quy định Điều  
101 BLDS năm 2015.  
Theo luồng ý kiến thứ nhất, Điều 101  
BLDS năm 2015 quy định tổ chức không có  
tư cách pháp nhân không được tự mình giao  
kết và thực hiện hợp đồng, mà chủ thể giao  
kết và thực hiện hợp đồng phải là các thành  
viên của tổ chức không có tư cách pháp nhân  
đó. Nói cách khác, tổ chức không có tư cách  
pháp nhân không có năng lực chủ thể. Nếu  
theo logic này thì các thành viên phải là cá  
nhân hoặc pháp nhân. Trong trường hợp  
thành viên của tổ chức không có tư cách pháp  
nhân, về logic, Điều 101 BLDS năm 2015 sẽ  
tiếp tục áp dụng và thành viên đó không thể  
là chủ thể giao kết và thực hiện hợp đồng, mà  
phải hành động thông qua các thành viên là  
cá nhân hoặc pháp nhân của thành viên đó.  
Trong trường hợp này, các thành viên của tổ  
chức không có tư cách pháp nhân giao kết và  
thực hiện hợp đồng với tư cách của bản thân  
mình mà không đại diện hoặc nhân danh cho  
tổ chức không có tư cách pháp nhân mà họ là  
thành viên. Ủng hộ quan điểm này, PGS,TS.  
2.3. Cách hiểu phù hợp  
Hiện nay, cách hiểu nào trong hai cách  
hiểu trên là cách hiểu đúng vẫn chưa hoàn  
toàn rõ ràng. BTP ủng hộ cách hiểu thứ hai  
và đây được cho là cơ sở áp dụng cách hiểu  
thứ hai. NHNN cũng chấp nhận quan điểm  
này đối với vấn đề mở tài khoản, nhưng vẫn  
giữ nguyên quan điểm giới hạn chủ thể ở  
pháp nhân trong giao dịch cho vay.  
Nếu chỉ đọc riêng câu chữ của Điều 1  
và Điều 101 BLDS năm 2015, có lẽ cách  
hiểu thứ nhất phù hợp hơn với ý định trong  
14  
Khoản 3(a) Điều 2 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN của NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về  
hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, hiệu lực từ ngày  
15 tháng 3 năm 2017.  
15 Nguyễn Ngọc Điện, “Chủ thể theo BLDS năm 2015 – giải pháp của sự hội nhập”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn,  
truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2020.  
Số 18(442) - T9/2021  
29  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Báo cáo của UBTVQH khi trình Dự thảo  
BLDS năm 2015. Tuy nhiên, cách quy định  
trong BLDS năm 2015 không rõ ràng và gây  
ra tranh cãi. Quan trọng hơn là đứng từ góc  
độ thực tiễn, cho đến khi vấn đề trên được  
UBTVQH hoặc TANDTC giải thích rõ ràng  
thì rủi ro áp dụng cách hiểu thứ nhất, đặc  
biệt là bởi các cơ quan xét xử, không thể bị  
loại trừ. BTP không có chức năng giải thích  
BLDS năm 2015 mặc dù BTP là cơ quan  
chủ trì soạn thảo BLDS năm 2015. Đây là  
một rủi ro lớn và có thể ảnh hưởng đến hiệu  
lực của giao dịch nếu bên tham gia giao dịch  
không có năng lực chủ thể16. Như trình bày  
tại phần 5 dưới đây, đứng từ góc độ tư cách  
tham gia tố tụng, các cơ quan xét xử có xu  
hướng đã chấp nhận cách tiếp cận thứ nhất.  
Điều đó cũng cho thấy, cách tiếp cận thứ nhất  
có lẽ sẽ dần dần thay thế cách tiếp cận thứ hai  
về lâu dài nếu việc áp dụng không gây xáo  
động trong hoạt động của tổ chức không có  
tư cách pháp nhân như đối với trường hợp  
mở tài khoản.  
Theo cách hiểu thứ nhất, tổ chức không có  
tư cách pháp nhân không phải là bên giao kết  
và thực hiện hợp đồng, cá nhân và pháp nhân  
là thành viên của tổ chức đó mới là bên giao  
kết và thực hiện hợp đồng. Quan hệ đại diện  
theo ủy quyền phải được phát sinh từ cá nhân  
và pháp nhân là thành viên của tổ chức đó  
chứ không phát sinh từ tổ chức đó. Ví dụ, khi  
xem xét quan hệ cho vay giữa một chi nhánh  
ngân hàng và một doanh nghiệp tư nhân, bên  
giao kết và thực hiện hợp đồng vay, hay nói  
một cách dễ hiểu là bên cho vay và bên vay  
là bản thân ngân hàng (chứ không phải chi  
nhánh ngân hàng) và chủ doanh nghiệp tư  
nhân (chứ không phải là doanh nghiệp tư  
nhân). Trong trường hợp này, quan hệ đại  
diện theo ủy quyền phát sinh trên cơ sở ngân  
hàng ủy quyền cho giám đốc chi nhánh là  
người đại diện được ủy quyền để ký kết hợp  
đồng và chi nhánh là bên thực hiện cấp vốn  
và thu hồi nợ.  
Theo cách hiểu thứ hai, bản thân chi nhánh  
ngân hàng có thể là bên cho vay và giám đốc  
chi nhánh có thể không cần ủy quyền của  
ngân hàng để ký hợp đồng. Trong ví dụ trên,  
có lẽ vấn đề không quá phức tạp và trên thực  
tế, một số ngân hàng đã dần chuyển sang  
hướng đáp ứng yêu cầu theo cách hiểu thứ  
nhất vì không tốn quá nhiều thời gian, chi  
phí của các ngân hàng và cũng an toàn hơn  
cho các ngân hàng. Đơn giản là bên cho vay  
trong các hợp đồng được quy định là ngân  
hàng chứ không phải chi nhánh và có thêm  
các ủy quyền từ ngân hàng cho người đại  
diện của chi nhánh để người đại diện có thể  
ký kết hợp đồng thay mặt ngân hàng. Bên  
vay cũng là chủ doanh nghiệp tư nhân chứ  
không phải là doanh nghiệp tư nhân.  
3. Thẩm quyền đại diện  
Năng lực chủ thể và thẩm quyền đại diện  
là hai vấn đề khác nhau nhưng thường có liên  
quan đến nhau. Việc xác định năng lực chủ  
thể sẽ giúp xác định ai là bên tham gia quan  
hệ hợp đồng mà cụ thể hơn ai là bên giao kết  
và thực hiện hợp đồng. Trong quan hệ đại  
diện, bên tham gia quan hệ hợp đồng cũng là  
bên có thể ủy quyền cho cá nhân hoặc pháp  
nhân giao kết và thực hiện hợp đồng thay  
mặt cho bên đó.  
3.1. Bên ủy quyền và bên được  
ủy quyền  
16 Trong một số bản án mà chúng tôi thu thập được từ trang https://congbobanan.toaan.gov.vn/ thì khi gặp các  
hợp đồng mà chủ thể ký kết là hộ gia đình, tổ hợp tác hay doanh nghiệp tư nhân thì các tòa án không nhận định  
đó là vi phạm pháp luật hay tuyên vô hiệu các hợp đồng đó trên cơ sở chủ thể không có quyền tham gia giao  
dịch mặc dù các tòa án có thể xác định thành viên hộ gia đình, thành viên tổ hợp tác hay chủ doanh nghiệp tư  
nhân là đương sự trong vụ kiện.  
30  
Số 18(442) - T9/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Trong nhiều trường hợp khác, việc tuân  
thủ cách tiếp cận thứ nhất không dễ dàng.  
Ví dụ về việc mở tài khoản theo Thông tư số  
32 của NHNN như phân tích ở trên là một ví  
dụ điển hình. Một trường hợp khác rất phức  
tạp hiện đang phát sinh là hợp đồng mua  
bán cổ phần của một quỹ đầu tư không có  
tư cách pháp nhân để đầu tư vào một công  
ty Việt Nam. Quỹ đầu tư có thể là quỹ thành  
viên hoặc quỹ đại chúng. Công ty quản lý  
quỹ đóng vai trò quản lý quỹ đầu tư và được  
hưởng phí quản lý. Trên thực tiễn, quỹ đầu  
tư có thể là bên giao kết hợp đồng và công ty  
quản lý quỹ đại diện cho quỹ đầu tư trong quá  
trình thực hiện hợp đồng. Cổ phiếu được ghi  
dưới tên quỹ đầu tư với tư cách là cổ đông và  
công ty quản lý cử người để đại diện cho quỹ  
đầu tư thực hiện quyền cổ đông. Bản thân  
công ty quản lý không phải là cổ đông. Thực  
tiễn này thể hiện cách tiếp cận thứ hai. Nếu  
chuyển sang cách tiếp cận thứ nhất thì các  
nhà đầu tư phải ủy quyền cho công ty quản lý  
quỹ là bên giao kết và thực hiện hợp đồng, kể  
cả việc đứng tên cổ đông trong cổ phiếu. Một  
điều cần lưu ý là thông tin về quỹ thường hạn  
chế do công ty quản lý quỹ và các nhà đầu tư  
không muốn tiết lộ về cơ cấu quỹ. Cơ chế ủy  
quyền cho công ty quản lý quỹ cũng thường  
không được quy định tại một văn bản rõ ràng  
như yêu cầu tại Điều 101 BLDS năm 2015.  
Trong trường hợp quỹ đại chúng, việc buộc  
tất cả các thành viên quỹ (có thể thay đổi liên  
tục) ủy quyền còn phức tạp hơn. Do vậy, nếu  
chuyển sang cách tiếp cận thứ nhất thì có thể  
gây nhiều xáo động trên thị trường.  
của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác  
không có tư cách pháp nhân hoặc người đại  
diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại  
diện thì hậu quả pháp lý của giao dịch được  
áp dụng theo quy định tại các điều 130, 142  
và 143 của Bộ luật này.  
2. Giao dịch dân sự do bên không có  
quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại  
diện xác lập, thực hiện mà gây thiệt hại cho  
thành viên khác của hộ gia đình, tổ hợp tác,  
tổ chức khác không có tư cách pháp nhân  
hoặc người thứ ba thì phải bồi thường cho  
người bị thiệt hại”.  
Điều 104 BLDS năm 2015 dẫn chiếu đến  
các quy định chung về đại diện và hậu quả  
của việc đại diện khi không có quyền đại  
diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện theo các  
Điều 130, 142 và 143 của BLDS năm 2015.  
Theo các quy định trên, khi giao dịch dân sự  
do thành viên không có quyền đại diện hoặc  
vượt quá phạm vi đại diện xác lập và thực  
hiện thì (i) việc xác lập và thực hiện như vậy  
không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của  
các thành viên khác của tổ chức không có  
tư cách pháp nhân đối với toàn bộ giao dịch  
hoặc đối với phần giao dịch vượt quá phạm vi  
đại diện và (ii) thành viên đó phải chịu trách  
nhiệm đối với toàn bộ giao dịch hoặc đối với  
phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện.  
Ngoài ra, thành viên đó phải bồi thường thiệt  
hại cho các thành viên khác hoặc bên thứ ba  
(ví dụ, bên còn lại trong hợp đồng).  
4. Trách nhiệm của các bên tham gia  
giao dịch  
Để làm rõ trách nhiệm phát sinh từ “việc  
tham gia quan hệ dân sự của hộ gia đình, tổ  
hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp  
nhân,” Điều 103 BLDS năm 2015 quy định:  
“1. Nghĩa vụ dân sự phát sinh từ việc  
tham gia quan hệ dân sự của hộ gia đình, tổ  
hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp  
nhân được bảo đảm thực hiện bằng tài sản  
chung của các thành viên.  
3.2. Hậu quả pháp lý khi không có quyền  
đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện  
Điều 104 BLDS năm 2015 quy định hậu  
quả pháp lý đối với giao dịch dân sự do thành  
viên không có quyền đại diện hoặc vượt quá  
phạm vi đại diện xác lập, thực hiện:  
“1. Trường hợp thành viên không có  
quyền đại diện mà xác lập, thực hiện giao  
dịch dân sự nhân danh các thành viên khác  
2. Trường hợp các thành viên không có  
hoặc không đủ tài sản chung để thực hiện  
Số 18(442) - T9/2021  
31  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
nghĩa vụ chung thì người có quyền có thể  
yêu cầu các thành viên thực hiện nghĩa vụ  
theo quy định tại Điều 288 của Bộ luật này.  
3. Trường hợp các bên không có thỏa  
thuận, hợp đồng hợp tác hoặc luật không có  
quy định khác thì các thành viên chịu trách  
nhiệm dân sự quy định tại khoản 1 và khoản  
2 Điều này theo phần tương ứng với phần  
đóng góp tài sản của mình, nếu không xác  
định được theo phần tương ứng thì xác định  
theo phần bằng nhau”.  
Như lưu ý ở trên, việc Điều 103 BLDS  
năm 2015 dẫn chiếu đến nghĩa vụ phát sinh  
từ “việc tham gia quan hệ dân sự của hộ gia  
đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư  
cách pháp nhân” ngầm chỉ là các tổ chức  
không có tư cách pháp nhân mới là chủ thể  
của giao dịch. Tuy nhiên, nếu gạt điều này  
sang một bên, vấn đề quan trọng hơn cần lưu  
ý là trách nhiệm của các thành viên trong  
quan hệ với bên còn lại trong hợp đồng. Các  
thành viên có thể phải chịu trách nhiệm vô  
hạn. Theo quy định của Điều 103 BLDS  
năm 2015:  
- Trước hết, các thành viên của tổ chức  
không có tư cách pháp nhân chịu trách  
nhiệm bằng toàn bộ tài sản chung của các  
thành viên. Hiểu một cách đơn giản, tài sản  
chung của các thành viên là tài sản do các  
thành viên đóng góp hoặc cùng nhau tạo lập  
hoặc bằng cách khác được xác định theo thỏa  
thuận của các thành viên (ví dụ theo điều lệ  
hoặc hợp đồng hợp tác của tổ chức không có  
tư cách pháp nhân) hoặc theo quy định của  
pháp luật17.  
vụ trên cơ sở trách nhiệm liên đới nếu hợp  
đồng quy định cụ thể về vấn đề này. Nói cách  
khác, bên còn lại trong hợp đồng có quyền  
yêu cầu một thành viên chịu toàn bộ nghĩa  
vụ theo hợp đồng18.  
- Nếu thành viên được yêu cầu không  
thực hiện toàn bộ nghĩa vụ theo hợp đồng,  
các thành viên sẽ chịu trách nhiệm riêng theo  
phần nếu hợp đồng không quy định về trách  
nhiệm của các thành viên. Trách nhiệm riêng  
theo phần được xác định theo thỏa thuận của  
các thành viên (ví dụ theo điều lệ hoặc hợp  
đồng hợp tác của tổ chức không có tư cách  
pháp nhân) hoặc theo quy định của pháp luật  
áp dụng cho loại hình tổ chức không có tư  
cách pháp nhân có liên quan. Trong trường  
hợp không có thỏa thuận hoặc quy định có  
liên quan, trách nhiệm của các thành viên là  
theo phần bằng nhau19.  
Trên thực tế, việc xác định tài sản chung  
của các thành viên của tổ chức không có  
tư cách pháp nhân rất phức tạp và thường  
không được quy định trong điều lệ hoặc hợp  
đồng hợp tác của tổ chức không có tư cách  
pháp nhân. Văn phòng đại diện và chi nhánh  
là một bộ phận của pháp nhân và không đặt  
ra vấn đề tài sản chung của văn phòng đại  
diện và chi nhánh. Sẽ rất khó xác định tài sản  
chung của doanh nghiệp tư nhân hay quỹ đầu  
tư. Doanh nghiệp tư nhân có điều lệ nhưng  
điều lệ thường không xác định tài sản chung  
của chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân20. Đối  
với quỹ đầu tư, tài sản chung của các thành  
viên có thể hiểu là các khoản đóng góp vào  
quỹ để công ty quản lý đầu tư. Do vậy, các  
thành viên có thể phải chịu trách nhiệm vô  
hạn trên cơ sở liên đới hoặc trách nhiệm riêng  
theo phần.  
- Nếu tài sản chung của các thành viên  
không có hoặc không đủ để thực hiện nghĩa  
vụ theo hợp đồng, bên còn lại trong hợp đồng  
có thể yêu cầu các thành viên thực hiện nghĩa  
17 Điều 102 BLDS năm 2015.  
18 Khoản 2 Điều 103 và 288 BLDS năm 2015.  
19 Khoản 3 Điều 103 BLDS năm 2015.  
20 Tài sản chung của doanh nghiệp tư nhân có thể là vốn đầu tư được ghi nhận trong giấy chứng nhận đăng ký  
doanh nghiệp. Khoản 4 Điều 28 Luật Doanh nghiệp 2020.  
32  
Số 18(442) - T9/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
5. Tư cách tham gia tố tụng  
(VKSNDTC) hướng dẫn về nguyên đơn và  
bị đơn trong hợp đồng có liên quan đến văn  
phòng đại diện, chi nhánh và doanh nghiệp  
tư nhân thì nguyên đơn và bị đơn phải là  
pháp nhân có văn phòng đại diện hoặc chi  
nhánh và chủ doanh nghiệp tư nhân21.  
Tư cách tham gia tố tụng liên quan đến  
tổ chức không có tư cách pháp nhân không  
được quy định trong BLDS năm 2015. Liên  
quan đến quyền khởi kiện, điều đáng lưu ý là  
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không loại  
trừ tổ chức không có tư cách pháp nhân là  
bên khởi kiện. Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân  
sự năm 2015 quy định:  
“Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự  
mình hoặc thông qua người đại diện hợp  
pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là  
người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền  
để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp  
của mình”.  
Trên thực tiễn, dường như tòa án chấp  
nhận cả cách tiếp cận thứ nhất và cách tiếp  
cận thứ hai. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân tối  
cao (TANDTC) đã có quan điểm, phải áp  
dụng cách tiếp cận thứ nhất là thành viên  
của tổ chức không có tư cách pháp nhân mới  
có tư cách tham gia tố tụng, còn bản thân tổ  
chức không có tư cách pháp nhân không có  
tư cách tham gia tố tụng.  
Cụ thể đã có một bản án của tòa án cấp  
tỉnh tuyên liên quan đến tranh chấp theo hợp  
đồng tín dụng xác nhận nguyên đơn là một  
chi nhánh của Ngân hàng Nông nghiệp và  
Phát triển nông thôn Việt Nam và bị đơn là  
một doanh nghiệp tư nhân. Bản án này đã bị  
hủy bởi Quyết định giám đốc thẩm ngày 19  
tháng 11 năm 2015 của Ủy ban thẩm phán  
TANDTC. Một trong những nguyên nhân bị  
hủy là do tòa án cấp tỉnh xác định sai nguyên  
đơn và bị đơn. Theo Ủy ban thẩm phán  
TANDTC, nguyên đơn là Ngân hàng Nông  
nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam  
và bị đơn chủ doanh nghiệp tư nhân. Đồng  
ý với Quyết định của Ủy ban thẩm phán  
TANDTC, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao  
Cách tiếp cận của TANDTC và  
VKSNDTC áp dụng đối với văn phòng đại  
diện, chi nhánh và doanh nghiệp tư nhân.  
Nếu khái quát hóa nguyên tắc áp dụng cho  
các tổ chức không có tư cách pháp nhân nói  
chung thì có thể kết luận là các thành viên  
của tổ chức không có tư cách pháp nhân mới  
có tư cách tham gia tố tụng. Bản thân tổ chức  
không có tư cách pháp nhân không có tư  
cách tham gia tố tụng.  
6. Kết luận  
Từ sự phân tích ở trên, có thể thấy vẫn có  
sự không rõ ràng giữa các cách tiếp cận khác  
nhau về chủ thể là tổ chức không có tư cách  
pháp nhân. Tại thời điểm hiện nay, các cơ  
quan nhà nước có cách tiếp cận thực tế để xử  
lý tình huống phát sinh mà chưa có sự thống  
nhất về vấn đề này. Về lâu dài, cách tiếp cận  
chủ thể tham gia giao dịch dân sự không bao  
gồm tổ chức không có tư cách pháp nhân có  
lẽ sẽ dần thay thế cách tiếp cận chủ thể tham  
gia giao dịch dân sự bao gồm tổ chức không  
có tư cách pháp nhân. Đã đến lúc UBTVQH  
hoặc TANDTC cần tổng kết và có quan điểm  
chính thức về vấn đề này để tránh rủi ro cho  
các bên tham gia giao dịch. Cho đến khi có  
quan điểm chính thức này, các bên tham gia  
giao dịch nên áp dụng cách tiếp cận chủ thể  
tham gia giao dịch dân sự không bao gồm tổ  
chức không có tư cách pháp nhân.  
21 Hướng dẫn số 29/HD-VKSTC ngày 25 tháng 9 năm 2020 của VKSNDTC về một số nội dung trong công  
tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại, Mục 5.  
Số 18(442) - T9/2021  
33  
pdf 9 trang Thùy Anh 11920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số vấn đề liên quan đến chủ thể là tổ chức không có tư cách pháp nhân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_van_de_lien_quan_den_chu_the_la_to_chuc_khong_co_tu_c.pdf