Một số vấn đề liên quan đến chủ thể là tổ chức không có tư cách pháp nhân
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ THỂ
LÀ TỔ CHỨC KHÔNG CÓ TƯ CÁCH PHÁP NHÂN
Trương Nhật Quang*
*LS. Công ty luât TNHH YKVN
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày, phân tích các quy định và
thực tiễn về chủ thể là tổ chức không có tư cách pháp nhân dưới bốn góc
độ là (i) năng lực chủ thể, (ii) thẩm quyền đại diện, (iii) trách nhiệm của
các bên tham gia giao dịch và (iv) tư cách tham gia tố tụng.
Từ khóa: Tổ chức không có tư
cách pháp nhân; năng lực chủ
thể; thẩm quyền đại diện; trách
nhiệm của các bên tham gia giao
dịch; tư cách tham gia tố tụng; Bộ
luật Dân sự năm 2015; Bộ luật
Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân
sự năm 1995, Luật Thương mại
năm 2005
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 11/7/2021
: 16/8/2021
: 18/8/2021
Article Infomation:
Abstract:
Within the scope of this article, the author provides discussions and
analysis of the regulations and practices on the subject being an entity
without legal personality under four aspects, namely (i) capacity, (ii)
authority, (iii) liability towards to third parties và (iv) standing in legal
proceedings.
Keywords: Entities without legal
personality; capcacity; authority;
liability towards third parties;
standing in legal proceedings;
Civil Code of 2015; Civil Code
of 2005; Civil Code of 1995;
Law on Commerce of 2005.
Article History:
Received
Edited
: 11 Jul. 2021
: 16 Aug. 2021
: 18 Aug. 2021
Approved
Hộ gia đình1 và tổ hợp tác2 là các ví dụ
điển hình về tổ chức không có tư cách pháp
1. Quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015
về hộ gia đình và tổ hợp tác
1 Nếu khái quát hoá thì có thể hiểu hộ gia đình (i) là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi
dưỡng, (ii) đang sống chung trong gia đình và (iii) có tài sản chung. Hộ gia đình không được định nghĩa tại BLDS
năm 2015 nhưng được quy định ở Điều 106 BLDS năm 2005 và khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013.
2 Theo khoản 1 Điều 3 của Nghị định số 77/2019/NĐ-CP ngày 10/10/2019 của Chính phủ về tổ hợp tác, tổ hợp
tác là “tổ chức không có tư cách pháp nhân, được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác, gồm từ 02 cá nhân,
pháp nhân trở lên tự nguyện thành lập, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất
định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm”.
Số 18(442) - T9/2021
25
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
nhân trong quan hệ dân sự. Theo Báo cáo của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) về
Dự thảo Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS
năm 2015), Dự thảo BLDS năm 2015 “xác
định rõ chủ thể của quan hệ pháp luật dân
sự bao gồm cá nhân và pháp nhân” và trong
trường hợp “hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức
khác không có tư cách pháp nhân tham gia
quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia
đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư
cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập,
thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền
cho người đại diện tham gia xác lập, thực
hiện giao dịch dân sự”.
Cơ sở của cách tiếp cận này là chủ thể
cần được xem xét dưới góc độ năng lực chủ
thể (kể cả quyền giao kết và thực hiện hợp
đồng), quyền kiện và bị kiện, và trách nhiệm
với bên thứ ba. Khi lấy ý kiến các đại biểu
Quốc hội, chuyên gia và nhà khoa học, đa số
ý kiến cho rằng: “chủ thể của quan hệ pháp
luật dân sự theo quy định của luật phải có
đầy đủ quyền, nghĩa vụ chủ thể, phải chịu
trách nhiệm về việc tham gia quan hệ dân
sự của mình, vì vậy, chỉ có cá nhân và pháp
nhân là chủ thể của quan hệ pháp luật dân
sự”. Ngoài ra, theo tổng kết thi hành BLDS
2005, “sự tham gia của hộ gia đình, tổ hợp
tác trong quan hệ dân sự thường được thực
hiện thông qua các thành viên cụ thể”3. Nếu
xem xét Báo cáo của UBTVQH, điều tương
đối rõ ràng về ý định của nhà làm luật là hộ
gia đình và tổ hợp tác không phải là chủ thể
của BLDS năm 2015.
giới hạn ở hộ gia đình và tổ hợp tác mà còn
áp dụng với các tổ chức không có tư cách
pháp nhân nói chung. Việc áp dụng các quy
định mới trong bối cảnh hộ gia đình và tổ
hợp tác dường như không tạo ra vấn đề lớn.
Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này
trong các giao dịch thương mại của các tổ
chức khác không có tư cách pháp nhân có
những điểm bất hợp lý, gây ra xáo động trên
thị trường.
Các loại hợp đồng thương mại thông
dụng thường gặp trên thực tế bao gồm hợp
đồng mở tài khoản, hợp đồng vay, hợp đồng
bảo đảm hoặc hợp đồng mua bán cổ phần.
Khi các hợp đồng này được giao kết bởi một
tổ chức không có tư cách pháp nhân như văn
phòng đại diện, chi nhánh, doanh nghiệp tư
nhân hoặc quỹ đầu tư không có tư cách pháp
nhân, các hợp đồng này sẽ được điều chỉnh
bởi các quy định mới trên. Trên thực tế, văn
phòng đại diện thường xuyên mở tài khoản
ngân hàng; chi nhánh ngân hàng và doanh
nghiệp tư nhân tham gia vào các giao dịch
cho vay và bảo đảm; và quỹ đầu tư không
có tư cách pháp nhân là nhà đầu tư trong các
giao dịch mua bán cổ phần.
Bốn loại tổ chức không có tư cách pháp
nhân kể trên có thể được chia làm hai nhóm
là (i) văn phòng đại diện và chi nhánh; và (ii)
doanh nghiệp tư nhân và quỹ đầu tư không
có tư cách pháp nhân. Văn phòng đại diện
và chi nhánh được coi là một bộ phận của
pháp nhân và pháp nhân “có quyền, nghĩa
vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do
chi nhánh, văn phòng đại diện xác lập, thực
hiện”4. Nói cách khác, văn phòng đại diện và
chi nhánh giao kết và thực hiện giao dịch dân
sự thay mặt cho pháp nhân. Ở một khía cạnh
khác, bản thân doanh nghiệp tư nhân5 và quỹ
1.2. Văn phòng đại diện, chi nhánh,
doanh nghiệp tư nhân và quỹ đầu tư
Mặc dù chủ yếu hướng tới đối tượng là hộ
gia đình và tổ hợp tác, các quy định mới tại
Chương VI của BLDS năm 2015 không chỉ
3 Báo cáo số 1002/BC-UBTVQH13 của UBTVQH gửi đại biểu Quốc hội giải trình Dự thảo BLDS năm 2015
ngày 22 tháng 11 năm 2015, Mục 1.
4 Khoản 6 Điều 84 BLDS năm 2015.
5 Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân và theo khoản 1 Điều 188 Luật Doanh nghiệp năm 2020,
thì doanh nghiệp tư nhân là “doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản
của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”.
26
Số 18(442) - T9/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
đầu tư6 là các chủ thể được quy định riêng
theo pháp luật chuyên ngành và có thể tham
gia giao dịch theo pháp luật chuyên ngành.
Doanh nghiệp tư nhân và quỹ đầu tư không
phải là một bộ phận của pháp nhân và là một
chủ thể độc lập.
bị đơn. Trong một số trường hợp khác, các
tòa án chấp nhận chính văn phòng đại diện
hoặc chi nhánh và doanh nghiệp tư nhân làm
nguyên đơn và bị đơn9.
Như vậy, có thể thấy vẫn có sự giao thoa
và không rõ ràng giữa các cách tiếp cận khác
nhau về chủ thể là pháp nhân và tổ chức
không có tư cách pháp nhân cả từ góc độ lý
thuyết và thực tiễn trước và sau khi BLDS
năm 2015 ra đời. Tại thời điểm hiện nay, các
khía cạnh chủ yếu cần xem xét liên quan đến
chủ thể là tổ chức không có tư cách pháp
nhân bao gồm: (i) năng lực chủ thể, (ii) thẩm
quyền đại diện, (iii) trách nhiệm của các bên
tham gia giao dịch và (iv) tư cách tham gia
tố tụng.
1.3. Pháp luật chuyên ngành và thực
tiễn áp dụng
Ngoài các quy định tại BLDS năm 2015,
pháp luật chuyên ngành cũng có các quy định
về chủ thể và các quy định này chấp nhận
các cách tiếp cận khác nhau về chủ thể là tổ
chức không có tư cách pháp nhân. Cách tiếp
cận chủ thể chỉ bao gồm pháp nhân đã được
áp dụng trong luật chuyên ngành trước khi
BLDS năm 2015 ra đời. Ví dụ, Luật Doanh
nghiệp năm 2014 quy định tổ chức không có
tư cách pháp nhân không có quyền thành lập
và quản lý doanh nghiệp và chỉ có pháp nhân
mới có quyền này7. Ở chiều ngược lại, ngay
cả sau khi BLDS năm 2015 ra đời, cũng có
luật chuyên ngành vẫn tiếp tục quy định chủ
thể bao gồm pháp nhân và tổ chức không có
tư cách pháp nhân. Ví dụ, theo Luật Đầu tư
năm 2020, nhà đầu tư có thể là cá nhân và tổ
chức và không loại trừ nhà đầu tư là tổ chức
không có tư cách pháp nhân8.
Thực tiễn áp dụng pháp luật cũng không
rõ ràng. Đối với tranh chấp liên quan đến văn
phòng đại diện, chi nhánh và doanh nghiệp
tư nhân, các tòa án cũng có cách tiếp cận
không đồng nhất cả trước và sau khi BLDS
năm 2015 ra đời. Trong một số trường hợp,
các tòa án chỉ chấp nhận doanh nghiệp có
văn phòng đại diện hoặc chi nhánh và chủ
doanh nghiệp tư nhân làm nguyên đơn và
2. Năng lực chủ thể
Sự thay đổi về cách tiếp cận đối với tổ
chức không có tư cách pháp nhân được quy
định tại Điều 101 BLDS năm 2015 có tiêu
đề “Chủ thể trong quan hệ dân sự có sự tham
gia của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác
không có tư cách pháp nhân”. Liên quan đến
năng lực chủ thể, Điều 101 quy định:
“1. Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ
chức khác không có tư cách pháp nhân tham
gia quan hệ dân sự thì các thành viên của
hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không
có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia
xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy
quyền cho người đại diện tham gia xác lập,
thực hiện giao dịch dân sự. Việc ủy quyền
phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp
có thỏa thuận khác. Khi có sự thay đổi người
đại diện thì phải thông báo cho bên tham gia
quan hệ dân sự biết.
6 Pháp luật Việt Nam nói chung không quy định cụ thể về quỹ đầu tư. Đã có quy định cho thấy có những loại
quỹ đầu tư thành lập ở Việt Nam không có tư cách pháp nhân (ví dụ, Thông tư số 99/2020/TT-BTC ngày 16
tháng 11 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn hoạt động của công ty quản lý quỹ đầu tư chứng
khoán, Phụ lục VI).
7 Khoản 2(đ) Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Khoản 2(đ) Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2020 tiếp
tục quy định như vậy.
8 Khoản 18 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020.
9 Hướng dẫn số 29/HD-VKSTC ngày 25 tháng 9 năm 2020 của VKSNDTC về một số nội dung trong công
tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại, Mục 5.
Số 18(442) - T9/2021
27
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Trường hợp thành viên của hộ gia đình,
tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách
pháp nhân tham gia quan hệ dân sự không
được các thành viên khác ủy quyền làm
người đại diện thì thành viên đó là chủ
thể của quan hệ dân sự do mình xác lập,
thực hiện.
2. Việc xác định chủ thể của quan hệ dân
sự có sự tham gia của hộ gia đình sử dụng
đất được thực hiện theo quy định của Luật
Đất đai”.
Như trình bày ở trên, nếu xem xét Báo
cáo của UBTVQH, điều tương đối rõ ràng
về ý định của nhà làm luật là hộ gia đình và
tổ hợp tác không phải là chủ thể của BLDS
năm 2015. Tuy nhiên, nếu áp dụng cách tiếp
cận này vào các tổ chức không có tư cách
pháp nhân khác như văn phòng đại diện, chi
nhánh, doanh nghiệp tư nhân và quỹ đầu tư
không có tư cách pháp nhân thì có những
điểm bất hợp lý.
và sử dụng tài khoản ngân hàng là một giao
dịch dân sự và theo đó, tổ chức không có tư
cách pháp nhân không được mở và sử dụng
tài khoản ngân hàng. Việc mở và sử dụng tài
khoản ngân hàng phải được thực hiện bởi
thành viên của tổ chức không có tư cách pháp
nhân. Ví dụ theo quy định trên, văn phòng đại
diện và doanh nghiệp tư nhân không được
phép mở tài khoản tại ngân hàng.
Khi xem xét tính pháp lý của Thông tư số
32, BTP cho rằng, quy định của NHNN đã
hạn chế quyền của các tổ chức không có tư
cách pháp nhân và trái với Hiến pháp năm
201311. BTP cũng cho rằng, BLDS năm
2015 không nên được giải thích là hạn chế
chủ thể của quan hệ dân sự ở cá nhân và
pháp nhân và tổ chức không có tư cách pháp
nhân vẫn có tư cách chủ thể12. BTP dường
như có cách tiếp cận thực tế để xử lý tình
huống phát sinh, tránh gây xáo động trong
hoạt động tài khoản của tổ chức không có
tư cách pháp nhân. Thông tư số 32 sau đó
đã được bãi bỏ và thay thế bởi Thông tư số
02/2019/TT-NHNN của NHNN ngày 28
tháng 2 năm 2019 hướng dẫn việc mở và sử
dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung
ứng dịch vụ thanh toán, hiệu lực từ ngày 1
tháng 3 năm 2019. Theo Thông tư mới này,
các tổ chức không có tư cách pháp nhân
được mở tài khoản thanh toán và tham gia
xác lập và thực hiện các giao dịch liên quan
đến tài khoản đó13.
2.1. Thông tư số 32/2016/TT-NHNN
Vấn đề phát sinh từ Điều 101 BLDS năm
2015 đã gây sự lúng túng giữa Bộ Tư pháp
(BTP) và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) liên
quan đến Thông tư số 32/2016/TT-NHNN
(Thông tư số 32) do NHNN ban hành quy
định các đối tượng được mở và sử dụng tài
khoản thanh toán tại ngân hàng và các đối
tượng này không bao gồm tổ chức không có
10. Dựa trên cách hiểu tổ
tư cách pháp nhân
chức không có tư cách pháp nhân không có
năng lực chủ thể, Thông tư số 32 coi việc mở
Mặc dù NHNN chấp nhận tổ chức không
có tư cách pháp nhân có thể mở tài khoản,
10 Điều 11 Thông tư số 32/2016/TT-NHNN ngày 26 tháng 12 năm 2016 của NHNN về sửa đổi, bổ sung một
số điều của Thông tư số 23/2014/TT-NHNN ngày 19 tháng 8 năm 2014 của NHNN hướng dẫn việc mở và
sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, hiệu lực từ ngày 1 tháng 3 năm 2017.
11 Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013. Theo Hiến pháp năm 2013, quyền công dân chỉ có thể bị
hạn chế bởi luật và không thể bị hạn chế bởi văn bản dưới luật như một thông tư của NHNN. Dường
như BTP áp dụng nguyên tắc trên đối với tổ chức không phải pháp nhân trên cơ sở tương tự.
12 Kết luận kiểm tra số 05/KL-KTrVB của Cục Kiểm tra Văn bản quy phạm pháp luật của BTP về Thông tư
số 32/2016/TT-NHNN ngày 16 tháng 12 năm 2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 23/2014/
TT-NHNN ngày 19 tháng 8 năm 2014 của NHNN hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ
chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
13 Xem Trương Nhật Quang (2020), Pháp luật về hợp đồng – Các vấn đề pháp lý cơ bản, Nxb. Dân Trí, từ tr. 41
đến tr. 44.
28
Số 18(442) - T9/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
NHNN chỉ cho phép cá nhân và pháp nhân
là bên vay trong quan hệ tín dụng với ngân
hàng. Tổ chức không có tư cách pháp nhân
không thể là bên vay14, tức là tại thời điểm
hiện nay, NHNN có cách tiếp cận khác nhau
đối với chủ thể trong quan hệ mở tài khoản
và quan hệ cho vay.
Nguyễn Ngọc Điện cho rằng, tổ chức không
có tư cách pháp nhân không có tư cách chủ
thể và đây là quan điểm “tương đồng với luật
của các nước và hoàn toàn phù hợp với thông
lệ quốc tế”15.
Theo luồng ý kiến thứ hai, bản thân Điều
101 BLDS năm 2015 vẫn quy định “trường
hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác
không có tư cách pháp nhân tham gia quan
hệ dân sự”, ngầm hiểu là tổ chức không có
tư cách pháp nhân có tư cách chủ thể tham
gia quan hệ dân sự. Như phân tích dưới đây,
Điều 103 BLDS năm 2015 cũng quy định về
tài sản chung của tổ chức không có tư cách
pháp nhân khi xác định “nghĩa vụ dân sự
phát sinh từ việc tham gia quan hệ dân sự
của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác
không có tư cách pháp nhân”. Trong trường
hợp tài sản chung không đủ thực hiện nghĩa
vụ thì các thành viên tổ chức liên đới chịu
trách nhiệm bằng tài sản riêng của mình.
Cách quy định trên cho thấy, tổ chức không
có tư cách pháp nhân vẫn có năng lực chủ
thể và các thành viên giao kết và thực hiện
hợp đồng với tư cách đại diện hoặc nhân
danh cho tổ chức không có tư cách pháp
nhân mà họ là thành viên.
2.2. Hai cách hiểu Điều 101 BLDS
năm 2015
Vấn đề phát sinh từ Thông tư số 32 liên
quan đến việc mở tài khoản và cách hiểu của
BTP đã đặt lại câu hỏi về năng lực chủ thể
theo quy định tại Điều 101 BLDS năm 2015
và sự không rõ ràng trong các quy định của
BLDS năm 2015. Khi vấn đề phát sinh, có
hai luồng ý kiến về cách hiểu quy định Điều
101 BLDS năm 2015.
Theo luồng ý kiến thứ nhất, Điều 101
BLDS năm 2015 quy định tổ chức không có
tư cách pháp nhân không được tự mình giao
kết và thực hiện hợp đồng, mà chủ thể giao
kết và thực hiện hợp đồng phải là các thành
viên của tổ chức không có tư cách pháp nhân
đó. Nói cách khác, tổ chức không có tư cách
pháp nhân không có năng lực chủ thể. Nếu
theo logic này thì các thành viên phải là cá
nhân hoặc pháp nhân. Trong trường hợp
thành viên của tổ chức không có tư cách pháp
nhân, về logic, Điều 101 BLDS năm 2015 sẽ
tiếp tục áp dụng và thành viên đó không thể
là chủ thể giao kết và thực hiện hợp đồng, mà
phải hành động thông qua các thành viên là
cá nhân hoặc pháp nhân của thành viên đó.
Trong trường hợp này, các thành viên của tổ
chức không có tư cách pháp nhân giao kết và
thực hiện hợp đồng với tư cách của bản thân
mình mà không đại diện hoặc nhân danh cho
tổ chức không có tư cách pháp nhân mà họ là
thành viên. Ủng hộ quan điểm này, PGS,TS.
2.3. Cách hiểu phù hợp
Hiện nay, cách hiểu nào trong hai cách
hiểu trên là cách hiểu đúng vẫn chưa hoàn
toàn rõ ràng. BTP ủng hộ cách hiểu thứ hai
và đây được cho là cơ sở áp dụng cách hiểu
thứ hai. NHNN cũng chấp nhận quan điểm
này đối với vấn đề mở tài khoản, nhưng vẫn
giữ nguyên quan điểm giới hạn chủ thể ở
pháp nhân trong giao dịch cho vay.
Nếu chỉ đọc riêng câu chữ của Điều 1
và Điều 101 BLDS năm 2015, có lẽ cách
hiểu thứ nhất phù hợp hơn với ý định trong
14
Khoản 3(a) Điều 2 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN của NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về
hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, hiệu lực từ ngày
15 tháng 3 năm 2017.
15 Nguyễn Ngọc Điện, “Chủ thể theo BLDS năm 2015 – giải pháp của sự hội nhập”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn,
truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2020.
Số 18(442) - T9/2021
29
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Báo cáo của UBTVQH khi trình Dự thảo
BLDS năm 2015. Tuy nhiên, cách quy định
trong BLDS năm 2015 không rõ ràng và gây
ra tranh cãi. Quan trọng hơn là đứng từ góc
độ thực tiễn, cho đến khi vấn đề trên được
UBTVQH hoặc TANDTC giải thích rõ ràng
thì rủi ro áp dụng cách hiểu thứ nhất, đặc
biệt là bởi các cơ quan xét xử, không thể bị
loại trừ. BTP không có chức năng giải thích
BLDS năm 2015 mặc dù BTP là cơ quan
chủ trì soạn thảo BLDS năm 2015. Đây là
một rủi ro lớn và có thể ảnh hưởng đến hiệu
lực của giao dịch nếu bên tham gia giao dịch
không có năng lực chủ thể16. Như trình bày
tại phần 5 dưới đây, đứng từ góc độ tư cách
tham gia tố tụng, các cơ quan xét xử có xu
hướng đã chấp nhận cách tiếp cận thứ nhất.
Điều đó cũng cho thấy, cách tiếp cận thứ nhất
có lẽ sẽ dần dần thay thế cách tiếp cận thứ hai
về lâu dài nếu việc áp dụng không gây xáo
động trong hoạt động của tổ chức không có
tư cách pháp nhân như đối với trường hợp
mở tài khoản.
Theo cách hiểu thứ nhất, tổ chức không có
tư cách pháp nhân không phải là bên giao kết
và thực hiện hợp đồng, cá nhân và pháp nhân
là thành viên của tổ chức đó mới là bên giao
kết và thực hiện hợp đồng. Quan hệ đại diện
theo ủy quyền phải được phát sinh từ cá nhân
và pháp nhân là thành viên của tổ chức đó
chứ không phát sinh từ tổ chức đó. Ví dụ, khi
xem xét quan hệ cho vay giữa một chi nhánh
ngân hàng và một doanh nghiệp tư nhân, bên
giao kết và thực hiện hợp đồng vay, hay nói
một cách dễ hiểu là bên cho vay và bên vay
là bản thân ngân hàng (chứ không phải chi
nhánh ngân hàng) và chủ doanh nghiệp tư
nhân (chứ không phải là doanh nghiệp tư
nhân). Trong trường hợp này, quan hệ đại
diện theo ủy quyền phát sinh trên cơ sở ngân
hàng ủy quyền cho giám đốc chi nhánh là
người đại diện được ủy quyền để ký kết hợp
đồng và chi nhánh là bên thực hiện cấp vốn
và thu hồi nợ.
Theo cách hiểu thứ hai, bản thân chi nhánh
ngân hàng có thể là bên cho vay và giám đốc
chi nhánh có thể không cần ủy quyền của
ngân hàng để ký hợp đồng. Trong ví dụ trên,
có lẽ vấn đề không quá phức tạp và trên thực
tế, một số ngân hàng đã dần chuyển sang
hướng đáp ứng yêu cầu theo cách hiểu thứ
nhất vì không tốn quá nhiều thời gian, chi
phí của các ngân hàng và cũng an toàn hơn
cho các ngân hàng. Đơn giản là bên cho vay
trong các hợp đồng được quy định là ngân
hàng chứ không phải chi nhánh và có thêm
các ủy quyền từ ngân hàng cho người đại
diện của chi nhánh để người đại diện có thể
ký kết hợp đồng thay mặt ngân hàng. Bên
vay cũng là chủ doanh nghiệp tư nhân chứ
không phải là doanh nghiệp tư nhân.
3. Thẩm quyền đại diện
Năng lực chủ thể và thẩm quyền đại diện
là hai vấn đề khác nhau nhưng thường có liên
quan đến nhau. Việc xác định năng lực chủ
thể sẽ giúp xác định ai là bên tham gia quan
hệ hợp đồng mà cụ thể hơn ai là bên giao kết
và thực hiện hợp đồng. Trong quan hệ đại
diện, bên tham gia quan hệ hợp đồng cũng là
bên có thể ủy quyền cho cá nhân hoặc pháp
nhân giao kết và thực hiện hợp đồng thay
mặt cho bên đó.
3.1. Bên ủy quyền và bên được
ủy quyền
16 Trong một số bản án mà chúng tôi thu thập được từ trang https://congbobanan.toaan.gov.vn/ thì khi gặp các
hợp đồng mà chủ thể ký kết là hộ gia đình, tổ hợp tác hay doanh nghiệp tư nhân thì các tòa án không nhận định
đó là vi phạm pháp luật hay tuyên vô hiệu các hợp đồng đó trên cơ sở chủ thể không có quyền tham gia giao
dịch mặc dù các tòa án có thể xác định thành viên hộ gia đình, thành viên tổ hợp tác hay chủ doanh nghiệp tư
nhân là đương sự trong vụ kiện.
30
Số 18(442) - T9/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Trong nhiều trường hợp khác, việc tuân
thủ cách tiếp cận thứ nhất không dễ dàng.
Ví dụ về việc mở tài khoản theo Thông tư số
32 của NHNN như phân tích ở trên là một ví
dụ điển hình. Một trường hợp khác rất phức
tạp hiện đang phát sinh là hợp đồng mua
bán cổ phần của một quỹ đầu tư không có
tư cách pháp nhân để đầu tư vào một công
ty Việt Nam. Quỹ đầu tư có thể là quỹ thành
viên hoặc quỹ đại chúng. Công ty quản lý
quỹ đóng vai trò quản lý quỹ đầu tư và được
hưởng phí quản lý. Trên thực tiễn, quỹ đầu
tư có thể là bên giao kết hợp đồng và công ty
quản lý quỹ đại diện cho quỹ đầu tư trong quá
trình thực hiện hợp đồng. Cổ phiếu được ghi
dưới tên quỹ đầu tư với tư cách là cổ đông và
công ty quản lý cử người để đại diện cho quỹ
đầu tư thực hiện quyền cổ đông. Bản thân
công ty quản lý không phải là cổ đông. Thực
tiễn này thể hiện cách tiếp cận thứ hai. Nếu
chuyển sang cách tiếp cận thứ nhất thì các
nhà đầu tư phải ủy quyền cho công ty quản lý
quỹ là bên giao kết và thực hiện hợp đồng, kể
cả việc đứng tên cổ đông trong cổ phiếu. Một
điều cần lưu ý là thông tin về quỹ thường hạn
chế do công ty quản lý quỹ và các nhà đầu tư
không muốn tiết lộ về cơ cấu quỹ. Cơ chế ủy
quyền cho công ty quản lý quỹ cũng thường
không được quy định tại một văn bản rõ ràng
như yêu cầu tại Điều 101 BLDS năm 2015.
Trong trường hợp quỹ đại chúng, việc buộc
tất cả các thành viên quỹ (có thể thay đổi liên
tục) ủy quyền còn phức tạp hơn. Do vậy, nếu
chuyển sang cách tiếp cận thứ nhất thì có thể
gây nhiều xáo động trên thị trường.
của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác
không có tư cách pháp nhân hoặc người đại
diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại
diện thì hậu quả pháp lý của giao dịch được
áp dụng theo quy định tại các điều 130, 142
và 143 của Bộ luật này.
2. Giao dịch dân sự do bên không có
quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại
diện xác lập, thực hiện mà gây thiệt hại cho
thành viên khác của hộ gia đình, tổ hợp tác,
tổ chức khác không có tư cách pháp nhân
hoặc người thứ ba thì phải bồi thường cho
người bị thiệt hại”.
Điều 104 BLDS năm 2015 dẫn chiếu đến
các quy định chung về đại diện và hậu quả
của việc đại diện khi không có quyền đại
diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện theo các
Điều 130, 142 và 143 của BLDS năm 2015.
Theo các quy định trên, khi giao dịch dân sự
do thành viên không có quyền đại diện hoặc
vượt quá phạm vi đại diện xác lập và thực
hiện thì (i) việc xác lập và thực hiện như vậy
không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của
các thành viên khác của tổ chức không có
tư cách pháp nhân đối với toàn bộ giao dịch
hoặc đối với phần giao dịch vượt quá phạm vi
đại diện và (ii) thành viên đó phải chịu trách
nhiệm đối với toàn bộ giao dịch hoặc đối với
phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện.
Ngoài ra, thành viên đó phải bồi thường thiệt
hại cho các thành viên khác hoặc bên thứ ba
(ví dụ, bên còn lại trong hợp đồng).
4. Trách nhiệm của các bên tham gia
giao dịch
Để làm rõ trách nhiệm phát sinh từ “việc
tham gia quan hệ dân sự của hộ gia đình, tổ
hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp
nhân,” Điều 103 BLDS năm 2015 quy định:
“1. Nghĩa vụ dân sự phát sinh từ việc
tham gia quan hệ dân sự của hộ gia đình, tổ
hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp
nhân được bảo đảm thực hiện bằng tài sản
chung của các thành viên.
3.2. Hậu quả pháp lý khi không có quyền
đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện
Điều 104 BLDS năm 2015 quy định hậu
quả pháp lý đối với giao dịch dân sự do thành
viên không có quyền đại diện hoặc vượt quá
phạm vi đại diện xác lập, thực hiện:
“1. Trường hợp thành viên không có
quyền đại diện mà xác lập, thực hiện giao
dịch dân sự nhân danh các thành viên khác
2. Trường hợp các thành viên không có
hoặc không đủ tài sản chung để thực hiện
Số 18(442) - T9/2021
31
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
nghĩa vụ chung thì người có quyền có thể
yêu cầu các thành viên thực hiện nghĩa vụ
theo quy định tại Điều 288 của Bộ luật này.
3. Trường hợp các bên không có thỏa
thuận, hợp đồng hợp tác hoặc luật không có
quy định khác thì các thành viên chịu trách
nhiệm dân sự quy định tại khoản 1 và khoản
2 Điều này theo phần tương ứng với phần
đóng góp tài sản của mình, nếu không xác
định được theo phần tương ứng thì xác định
theo phần bằng nhau”.
Như lưu ý ở trên, việc Điều 103 BLDS
năm 2015 dẫn chiếu đến nghĩa vụ phát sinh
từ “việc tham gia quan hệ dân sự của hộ gia
đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư
cách pháp nhân” ngầm chỉ là các tổ chức
không có tư cách pháp nhân mới là chủ thể
của giao dịch. Tuy nhiên, nếu gạt điều này
sang một bên, vấn đề quan trọng hơn cần lưu
ý là trách nhiệm của các thành viên trong
quan hệ với bên còn lại trong hợp đồng. Các
thành viên có thể phải chịu trách nhiệm vô
hạn. Theo quy định của Điều 103 BLDS
năm 2015:
- Trước hết, các thành viên của tổ chức
không có tư cách pháp nhân chịu trách
nhiệm bằng toàn bộ tài sản chung của các
thành viên. Hiểu một cách đơn giản, tài sản
chung của các thành viên là tài sản do các
thành viên đóng góp hoặc cùng nhau tạo lập
hoặc bằng cách khác được xác định theo thỏa
thuận của các thành viên (ví dụ theo điều lệ
hoặc hợp đồng hợp tác của tổ chức không có
tư cách pháp nhân) hoặc theo quy định của
pháp luật17.
vụ trên cơ sở trách nhiệm liên đới nếu hợp
đồng quy định cụ thể về vấn đề này. Nói cách
khác, bên còn lại trong hợp đồng có quyền
yêu cầu một thành viên chịu toàn bộ nghĩa
vụ theo hợp đồng18.
- Nếu thành viên được yêu cầu không
thực hiện toàn bộ nghĩa vụ theo hợp đồng,
các thành viên sẽ chịu trách nhiệm riêng theo
phần nếu hợp đồng không quy định về trách
nhiệm của các thành viên. Trách nhiệm riêng
theo phần được xác định theo thỏa thuận của
các thành viên (ví dụ theo điều lệ hoặc hợp
đồng hợp tác của tổ chức không có tư cách
pháp nhân) hoặc theo quy định của pháp luật
áp dụng cho loại hình tổ chức không có tư
cách pháp nhân có liên quan. Trong trường
hợp không có thỏa thuận hoặc quy định có
liên quan, trách nhiệm của các thành viên là
theo phần bằng nhau19.
Trên thực tế, việc xác định tài sản chung
của các thành viên của tổ chức không có
tư cách pháp nhân rất phức tạp và thường
không được quy định trong điều lệ hoặc hợp
đồng hợp tác của tổ chức không có tư cách
pháp nhân. Văn phòng đại diện và chi nhánh
là một bộ phận của pháp nhân và không đặt
ra vấn đề tài sản chung của văn phòng đại
diện và chi nhánh. Sẽ rất khó xác định tài sản
chung của doanh nghiệp tư nhân hay quỹ đầu
tư. Doanh nghiệp tư nhân có điều lệ nhưng
điều lệ thường không xác định tài sản chung
của chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân20. Đối
với quỹ đầu tư, tài sản chung của các thành
viên có thể hiểu là các khoản đóng góp vào
quỹ để công ty quản lý đầu tư. Do vậy, các
thành viên có thể phải chịu trách nhiệm vô
hạn trên cơ sở liên đới hoặc trách nhiệm riêng
theo phần.
- Nếu tài sản chung của các thành viên
không có hoặc không đủ để thực hiện nghĩa
vụ theo hợp đồng, bên còn lại trong hợp đồng
có thể yêu cầu các thành viên thực hiện nghĩa
17 Điều 102 BLDS năm 2015.
18 Khoản 2 Điều 103 và 288 BLDS năm 2015.
19 Khoản 3 Điều 103 BLDS năm 2015.
20 Tài sản chung của doanh nghiệp tư nhân có thể là vốn đầu tư được ghi nhận trong giấy chứng nhận đăng ký
doanh nghiệp. Khoản 4 Điều 28 Luật Doanh nghiệp 2020.
32
Số 18(442) - T9/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
5. Tư cách tham gia tố tụng
(VKSNDTC) hướng dẫn về nguyên đơn và
bị đơn trong hợp đồng có liên quan đến văn
phòng đại diện, chi nhánh và doanh nghiệp
tư nhân thì nguyên đơn và bị đơn phải là
pháp nhân có văn phòng đại diện hoặc chi
nhánh và chủ doanh nghiệp tư nhân21.
Tư cách tham gia tố tụng liên quan đến
tổ chức không có tư cách pháp nhân không
được quy định trong BLDS năm 2015. Liên
quan đến quyền khởi kiện, điều đáng lưu ý là
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không loại
trừ tổ chức không có tư cách pháp nhân là
bên khởi kiện. Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015 quy định:
“Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự
mình hoặc thông qua người đại diện hợp
pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là
người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền
để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình”.
Trên thực tiễn, dường như tòa án chấp
nhận cả cách tiếp cận thứ nhất và cách tiếp
cận thứ hai. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân tối
cao (TANDTC) đã có quan điểm, phải áp
dụng cách tiếp cận thứ nhất là thành viên
của tổ chức không có tư cách pháp nhân mới
có tư cách tham gia tố tụng, còn bản thân tổ
chức không có tư cách pháp nhân không có
tư cách tham gia tố tụng.
Cụ thể đã có một bản án của tòa án cấp
tỉnh tuyên liên quan đến tranh chấp theo hợp
đồng tín dụng xác nhận nguyên đơn là một
chi nhánh của Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn Việt Nam và bị đơn là
một doanh nghiệp tư nhân. Bản án này đã bị
hủy bởi Quyết định giám đốc thẩm ngày 19
tháng 11 năm 2015 của Ủy ban thẩm phán
TANDTC. Một trong những nguyên nhân bị
hủy là do tòa án cấp tỉnh xác định sai nguyên
đơn và bị đơn. Theo Ủy ban thẩm phán
TANDTC, nguyên đơn là Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
và bị đơn chủ doanh nghiệp tư nhân. Đồng
ý với Quyết định của Ủy ban thẩm phán
TANDTC, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
Cách tiếp cận của TANDTC và
VKSNDTC áp dụng đối với văn phòng đại
diện, chi nhánh và doanh nghiệp tư nhân.
Nếu khái quát hóa nguyên tắc áp dụng cho
các tổ chức không có tư cách pháp nhân nói
chung thì có thể kết luận là các thành viên
của tổ chức không có tư cách pháp nhân mới
có tư cách tham gia tố tụng. Bản thân tổ chức
không có tư cách pháp nhân không có tư
cách tham gia tố tụng.
6. Kết luận
Từ sự phân tích ở trên, có thể thấy vẫn có
sự không rõ ràng giữa các cách tiếp cận khác
nhau về chủ thể là tổ chức không có tư cách
pháp nhân. Tại thời điểm hiện nay, các cơ
quan nhà nước có cách tiếp cận thực tế để xử
lý tình huống phát sinh mà chưa có sự thống
nhất về vấn đề này. Về lâu dài, cách tiếp cận
chủ thể tham gia giao dịch dân sự không bao
gồm tổ chức không có tư cách pháp nhân có
lẽ sẽ dần thay thế cách tiếp cận chủ thể tham
gia giao dịch dân sự bao gồm tổ chức không
có tư cách pháp nhân. Đã đến lúc UBTVQH
hoặc TANDTC cần tổng kết và có quan điểm
chính thức về vấn đề này để tránh rủi ro cho
các bên tham gia giao dịch. Cho đến khi có
quan điểm chính thức này, các bên tham gia
giao dịch nên áp dụng cách tiếp cận chủ thể
tham gia giao dịch dân sự không bao gồm tổ
chức không có tư cách pháp nhân.
21 Hướng dẫn số 29/HD-VKSTC ngày 25 tháng 9 năm 2020 của VKSNDTC về một số nội dung trong công
tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại, Mục 5.
Số 18(442) - T9/2021
33
Bạn đang xem tài liệu "Một số vấn đề liên quan đến chủ thể là tổ chức không có tư cách pháp nhân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mot_so_van_de_lien_quan_den_chu_the_la_to_chuc_khong_co_tu_c.pdf

