Các quy định của pháp luật về công an xã - Thực trạng và kiến nghị
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ CÔNG AN XÃ - THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ
Trần Văn Trọng*
* Khoa Quản lý nhà nước về an ninh, trật tự,
Học viện An ninh nhân dân
Tóm tắt:
Thông tin bài viết:
Công an xã là một cấp công an thuộc tổ chức của Công an nhân dân, có vai trò
quan trọng trong bảo đảm an ninh, trật tự nói chung và quản lý nhà nước về an
ninh, trật tự nói riêng ở địa bàn cơ sở. Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn cũng như bảo
đảm tương xứng giữa trọng trách, nhiệm vụ được giao với thẩm quyền của công
an xã, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật về an ninh, trật tự của
công an xã. Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày, phân tích các quy định
của pháp luật hiện hành về công an xã và đề xuất kiến nghị hoàn thiện.
Từ khóa: Quản lý nhà nước về
an ninh, trật tự; công an xã.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 12/3/2021
: 28/3/2021
: 04/4/2021
Abstract:
Article Infomation:
Commune police is a subdivision in the organizational system of the People’s
Public Security force with an important role of ensuring security and social order
in general and state management on security and social order in the local area in
particular. In order to meet the practical requirement and ensure the equivalence
between the assigned tasks, responsibilities and the authority of commune police
force, it is necessary to proceed with the perfection of provisions of law on the state
management on security and social order of commune police force. In the scope of
this article, the author provides discussion and analysis of the current regulations
of law on the commune police and proposes recommendations for improvement.
Keywords: State management on
security and order; commune police.
Article History:
Received
Edited
: 12 Mar. 2021
: 28 Mar. 2021
: 04 Apr. 2021
Approved
1. Các quy định của pháp luật về Công
an xã
động hiệu lực, hiệu quả theo hướng “Bộ tinh,
tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”1
được ban hành, Bộ Công an đã thực hiện bố
trí công an chính quy đảm nhiệm chức danh
Công an xã trên phạm vi cả nước1. Bước thay
đổi quan trọng và đột phá về xây dựng lực
lượng Công an xã đã đáp ứng yêu cầu bảo
vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn
xã hội trong tình hình hiện nay2. Tuy nhiên,
hiện nay cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt
Công an xã là Công an cấp cơ sở, lực
lượng giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm
an ninh, trật tự ở địa bàn cơ sở. Những năm
qua, vấn đề xây dựng lực lượng Công an xã
ngày càng được Đảng, Nhà nước quan tâm.
Đặc biệt, từ sau Nghị quyết số 22-NQ/TW
ngày 15/3/2018 về tiếp tục đổi mới, sắp xếp
tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động của Công an xã nói chung và trong thực
1 Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 15/3/2018 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ
Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”.
2 Tô Lâm, Xây dựng lực lượng công an nhân dân theo hướng “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám
cơ sở” - Nhìn từ đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, https://www.tapchicongsan.org.vn/quoc-phong-
an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/814409/xay-dung-luc-luong-cong-an-nhan-dan-theo-huong%E2%80%9Cbo-
tinh%2C-tinh-manh%2C-huyen-toan-dien%2C-xa-bam-co-so%E2%80%9D---nhin-tu-doi-moi-phuong-
thuc-lanh-dao-cua-dang.aspx, truy cập ngày 14/11/2020.
60
Số 08(432) - T4/2021
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước an xã; Thông tư số 12/2010/TT-BCA ngày
(QLNN) về an ninh, trật tự (ANTT) ở địa 08/4/2010 của Bộ Công an quy định cụ thể thi
bàn xã còn những hạn chế, bất cập, cần được hành một số điều của Pháp lệnh Công an xã và
hoàn thiện đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Nghị định số 73/2009/NĐ-CP ngày 07/9/2009;
Thông tư số 32/2009/TT-BCA ngày 28/5/2009
của Bộ Công an quy định về chương trình bồi
dưỡng, huấn luyện đối với Công an xã; Thông
tư số 15/2010/TT-BCA ngày 24/5/2010 của Bộ
Công an quy định việc điều động sĩ quan, hạ sĩ
quan Công an nhân dân đảm nhiệm các chức
danh Công an xã ở các xã trọng điểm, phức tạp
về an ninh, trật tự... Các văn bản này quy định
chung về vị trí, vai trò, nguyên tắc tổ chức, hoạt
động và nhiệm vụ của Công an xã trong thực
hiện chức năng QLNN về ANTT.
Nhóm thứ hai, các văn bản quy phạm pháp
luật quy định về thẩm quyền của Công an xã
trong các lĩnh vực quản lý cụ thể như: quản lý
cư trú, người nước ngoài; quản lý ngành nghề
đầu tư kinh doanh có điều kiện về ANTT; quản
lý vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất nổ, công cụ hỗ
trợ; quản lý phòng cháy, chữa cháy, cứu hộ,
ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn…
Thẩm quyền của Công an xã trong các lĩnh vực
quản lý nêu trên được quy định tại nhiều văn
bản quy phạm pháp luật khác nhau như: Luật
Cư trú năm năm 2006 đã được sửa đổi, bổ sung
một số điều năm 2013; Luật Nhập cảnh, xuất
cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại
Việt Nam năm 2014; Luật phòng cháy và chữa
cháy năm 2001 đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều năm 2013; Luật Phòng, chống bạo lực
gia đình năm 2007; Nghị định số 31/2014/NĐ-
CP ngày 18/4/2014 của Chính phủ quy định
chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật
Cư trú; Nghị định số 167/2013/NĐ-CP, ngày
12/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật
tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội;
Ở nước ta, xã là địa bàn rộng lớn, chiếm
trên 80% diện tích cả nước nên những vấn đề
phức tạp về an ninh, trật tự phát sinh cũng hết
sức đa dạng. Đặc biệt, các loại tội phạm, vi
phạm pháp luật khác vốn trước đây chủ yếu
diễn ra ở địa bàn đô thị đang có chiều hướng
phát sinh, gia tăng ở địa bàn xã như: tội phạm
có yếu tố nước ngoài, tội phạm có tổ chức, tội
phạm sử dụng công nghệ cao, bảo kê, cho vay
nặng lãi, tội phạm chống người thi hành công
vụ, tình trạng vi phạm pháp luật của tuổi vị
thành niên. Với tính chất là cấp công an gần
dân nhất, gắn với địa bàn, đối tượng quản lý
trực tiếp, tại chỗ, Công an xã có điều kiện,
khả năng để nắm bắt, giải quyết các vấn đề
an ninh, trật tự phát sinh ở địa bàn cơ sở. Vì
vậy, việc bố trí công an chính quy đảm nhiệm
chức danh Công an xã trên phạm vi cả nước
là chủ trương đúng đắn, cấp thiết giúp thực
hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ QLNN
về ANTT ở địa bàn cơ sở. Tuy nhiên, theo
nguyên tắc phân cấp QLNN, việc tăng cường
chức năng, nhiệm vụ phải gắn với việc trao
thêm quyền hạn. Do đó, để giúp Công an xã
thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ QLNN về
ANTT ở địa bàn cơ sở cần phải tiếp tục hoàn
thiện cơ sở pháp lý cho lực lượng này.
Hiện nay, cơ sở pháp lý cho việc thực hiện
chức năng, nhiệm vụ QLNN về ANTT của
Công an xã được quy định trong hai nhóm
văn bản quy phạm pháp luật.
Nhóm thứ nhất, các văn bản quy phạm pháp
luật quy định về tổ chức, hoạt động và các điều
kiện bảo đảm hoạt động của Công an xã như:
Luật Công an nhân dân năm 2018; Pháp lệnh
Công an xã năm 2008; Nghị định số 73/2009/ phòng cháy, chữa cháy; phòng, chống bạo lực
NĐ-CP ngày 07/9/2009 của Chính phủ quy gia đình; Nghị định số 79/2014/NĐ-CP ngày
định chi tiết một số điều của Pháp lệnh Công 31/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi
Số 08(432) - T4/2021
61
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
hành một số điều của Luật Phòng cháy và chữa và cấp xã). Như vậy, về mặt hành chính, Công
cháy; Thông tư số 66/2014/TT-BCA của Bộ an xã và Công an phường là cùng cấp, nhưng
trưởng Bộ Công an hướng dẫn Nghị định số
79/2014/NĐ-CP,…
2. Những hạn chế, bất cập trong các quy
định của pháp luật về Công an xã
Các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên
đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thực
hiện chức năng, nhiệm vụ QLNN về ANTT tại
cơ sở của Công an xã thời gian qua. Tuy nhiên,
thực tiễn bảo đảmANTT tại địa bàn xã, đặc biệt
là sau khi Bộ Công an thực hiện bố trí công an
hiện nay, Bộ Công an mới chỉ ban hành thông
tư quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và tổ chức bộ máy của Công an phường.
Theo quy định của Điều 3 Pháp lệnh Công
an xã năm 2008: “Công an xã là lực lượng
vũ trang bán chuyên trách, thuộc hệ thống tổ
chức của Công an nhân dân, làm nòng cốt
trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ
quốc, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trên địa
bàn xã”, Theo quy định này, Công an xã là
chính quy đảm nhiệm chức danh Công an xã lực lượng vũ trang bán chuyên trách. Ngoài
cho thấy, quy định trong các văn bản nêu trên ra, theo quy định của Luật cán bộ, công chức
đã bộc lộ những bất cập, hạn chế sau đây:
năm 2008, Trưởng Công an xã được xác định
là công chức cấp xã4. Như vậy, rõ ràng, địa vị
pháp lý của Công an xã đang bị chồng chéo
bởi nhiều quy định khác nhau, lại chưa thống
nhất. Do đó, trên thực tế, dù đã thực hiện bố
trí công an chính quy đảm nhiệm chức danh
Công an xã (tức là về mặt lực lượng đã thực
hiện chính quy), nhưng chưa có văn bản quy
phạm pháp luật quy định về chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Công an
xã (như đã quy định đối với Công an phường).
Ngoài ra, do chưa có quy định rõ ràng về địa
vị pháp lý của Công an xã nên có địa phương,
Ủy ban nhân dân (UBND) cùng cấp vẫn giữ
quan điểm, cách thức chỉ đạo Công an xã như
là lực lượng bán chuyên trách trước đây, tức
là Công an xã phải thực hiện những nhiệm vụ
ngoài chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền thuộc
lĩnh vự an ninh, trật tự. Những hạn chế, vướng
mắc này ảnh hưởng không nhỏ đến việc tổ
chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ bảo đảm
ANTT ở địa bàn xã, trong đó có QLNN về
ANTT của Công an xã.
Thứ nhất, quy định về tổ chức, hoạt động
và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
Công an xã chưa thống nhất, đồng bộ.
Đây là bất cập lớn nhất, có tính cốt lõi
nhất. Theo quy định hiện hành, địa vị pháp
lý của Công an xã vừa chịu sự điều chỉnh bởi
Luật Công an nhân dân năm 2018, Nghị định
số 01/NĐ-CP ngày 06/8/2018 của Chính phủ
quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an3, vừa chịu
sự điều chỉnh của Pháp lệnh Công an xã năm
2008 và Luật Cán bộ, công chức năm 2008
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm
2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Điều 17 Luật Công an nhân dân năm 2018
quy định: “Hệ thống tổ chức của Công an
nhân dân bao gồm: Bộ Công an; Công an
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Công
an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh,
thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung
ương; Công an xã, phường, thị trấn”. Theo
quy định này, Công an xã được xác định là
một cấp công an trong hệ thống tổ chức của
Thứ hai, quy định về thẩm quyền của
Công an nhân dân (cấp bộ, cấp tỉnh, cấp huyện Công an xã chưa tương xứng với trách
3 Nghị định số 01/2018/NĐ-CP, ngày 6-8-2018, của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
cơ cấu tổ chức của Bộ Công an.
4 Khoản 3 Điều 61 Luật Cán bộ, công chức năm 2008.
62
Số 08(432) - T4/2021
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
nhiệm được giao trong bảo đảm ANTT tại giao trách nhiệm cho Công an xã tiếp nhận
địa bàn cơ sở.
thông báo của cơ sở kinh doanh, xử lý các vụ
việc vi phạm có liên quan đến lĩnh vực ANTT
tại cơ sở kinh doanh theo thẩm quyền, nhưng
Công an xã không có thẩm quyền trong kiểm
tra cũng như tham gia vào quá trình xử lý vi
phạm của cơ sở kinh doanh có điều kiện về
ANTT…
Thứ ba, các quy định về điều kiện bảo đảm
về cơ sở vật chất, kỹ thuật và nguồn lực khác
cho Công an xã trong thực hiện chức năng,
nhiệm vụ QLNN về ANTT cũng như chế độ,
chính sách còn thiếu, ảnh hưởng đến việc huy
động các nguồn lực cho hoạt động bảo đảm
ANTT tại địa bàn xã.
Hiện nay, các quy định về bảo đảm cơ
sở vật chất, trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ,
phương tiện, trụ sở làm việc… của Công an
xã là chưa cụ thể và chưa đáp ứng được yêu
cầu thực tiễn hoạt động bảo đảm ANTT của
Công an xã. Bên cạnh đó, sự chồng chéo,
thiếu thống nhất trong các quy định về tổ
chức và hoạt động của Công an xã cũng gây
trở ngại nhất định cho việc áp dụng quy định
về điều kiện bảo đảm về cơ sở vật chất, kỹ
thuật, trang thiết bị, phương tiện cho thực
hiện nhiệm vụ bảo đảm ANTT tại địa bàn
xã. Ngoài ra, phần lớn trụ sở làm việc và các
điều kiện về cơ sở vật chất khác của Công
an xã đang sử dụng hiện nay là UBND xã
cũng là một trong những trở ngại cho việc
tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo đảm ANTT,
nhất là với những vụ việc yêu cầu công tác
phải đảm bảo bí mật về chuyên môn nghiệp
vụ, bảo vệ thông tin nội bộ…
Với những điều kiện sẵn có về trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm đã
được đào tạo, bồi dưỡng và rèn luyện trong
thực tiễn, công an chính quy khi đảm nhiệm
chức danh Công an xã được giao nhiều
trọng trách, nhiệm vụ nặng nề, áp lực lớn
hơn trong bảo đảm ANTT so với Công an
xã là lực lượng bán chuyên trách trước đây.
Tuy nhiên, thẩm quyền của Công an xã hiện
nay trong các lĩnh vực quản lý cụ thể chưa
tương xứng với các nhiệm vụ đặt ra đối với
hoạt động của Công an xã tại địa bàn cơ sở.
Thời gian qua, nhiều văn bản quy phạm
pháp luật đã bổ sung trách nhiệm của Công an
xã như: Luật Căn cước công dân; Luật Xử lý vi
phạm hành chính; Luật Sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy; Luật
Cư trú; Luật Đặc xá; Luật Thi hành án hình sự;
Pháp lệnh Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ
và công cụ hỗ trợ;... Tuy nhiên, nhiều lĩnh vực
quản lý mà thẩm quyền của Công an xã chủ
yếu là thu thâp thông tin, tiếp nhận, báo cáo
Công an cấp trên, tuyên truyền phổ biến pháp
luật hay phối hợp thực hiện nhiệm vụ của công
an cấp trên khi có yêu cầu… Do đó, dù gắn với
địa bàn, đối tượng quản lý trực tiếp nhưng thẩm
quyền được giao còn mức độ nên “sức mạnh
quyền uy” (dưới góc độ khoa học quản lý) của
Công an xã còn hạn chế. Ví dụ, trong lĩnh vực
quản lý công dân Việt Nam xuất cảnh ra nước
ngoài, quy định hiện hành yêu cầu Công an xã
phải nắm số lượng công dân trên địa bàn xuất
cảnh ra nước ngoài nhất là trường hợp có dấu
hiệu xuất cảnh trái phép, nhưng quy trình, thủ
tục giải quyết cho công dân xuất cảnh lại không
Một điểm nữa là về ngân sách cho hoạt
động của Công an xã. Các quy định hiện
có cơ chế bảo đảm cho Công an xã nắm bắt hàn vẫn chưa xác định thống nhất nguồn
được thông tin cần thiết cho việc thống kê số ngân sách cho hoạt động của Công an xã. Vì
lượng công dân trên địa bàn xã xuất cảnh ra vậy, nhiều hoạt động không rõ nguồn kinh
nước ngoài; trong quản lý ngành nghề đầu tư, phí do Công an huyện cấp hay ngân sách
kinh doanh có điều kiện về ANTT, pháp luật của UBND xã.
Số 08(432) - T4/2021
63
Bạn đang xem tài liệu "Các quy định của pháp luật về công an xã - Thực trạng và kiến nghị", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
cac_quy_dinh_cua_phap_luat_ve_cong_an_xa_thuc_trang_va_kien.pdf

