Phân tích phạm vi áp dụng của công ước viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và khuyến nghị áp dụng cho Việt Nam
PHÂN TÍCH PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN 1980
VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
VÀ KHUYẾN NGHỊ ÁP DỤNG CHO VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ HỒNG TRINH* - BÙI THỊ QUỲNH TRANG**
Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa (CISG 1980) đã có hiệu lực ở Việt Nam
từ 01/01/2017. Bài viết tập trung phân tích những quy định của Công ước về phạm vi áp dụng
thông qua một số trường hợp tranh chấp, từ đó đưa ra khuyến nghị áp dụng các điều khoản về
phạm vi áp dụng cho các cơ quan kiểm sát, xét xử cũng như doanh nghiệp của Việt Nam.
Từ khóa: Công ước Viên 1980, phạm vi áp dụng, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, khuyến
nghị áp dụng Công ước.
Ngày nhận bài: 29/3/2021; Biên tập xong: 06/4/2021; Duyệt đăng: 10/4/2021
The United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods (Vienna,
1980 - CISG) comes into force in Vietnam on 1st January 2017. The article focuses on analyzing
the provisions of CISG on sphere of application through some dispute cases, then provides
recommendations for CISG 1980’s sphere of application to Vietnamese judicial authorities
and enterprises.
Keyword: CISG 1980, sphere of application, contract for the international sale of goods,
recommendation for Convention’s sphere of application.
1. Quy định của Công ước Viên 1980 về định rằng: Địa điểm liên quan chặt chẽ nhất đến
phạm vi áp dụng
hợp đồng và thực hiện hợp đồng là trụ sở chính
của người bán tại Thụy Sĩ, đây là nơi người bán
tiến hành đàm phán, ký kết các hợp đồng, thực
hiện việc giao hàng và nhận thanh toán tiền hàng.
1.1. Nguyên tắc chung
Những trường hợp áp dụng CISG 1980 được
quy định tại khoản 1 Điều 1 của Công ước này.
Cụ thể, Công ước được áp dụng đối với các hợp
đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có địa
điểm kinh doanh tại các quốc gia khác nhau. Tuy
nhiên, cũng cần lưu ý rằng theo khoản 2 Điều
1 của CISG 1980, Công ước sẽ không được áp
dụng nếu việc hai bên có địa điểm kinh doanh
ở các quốc gia khác nhau là không thể nhận biết
được trong hợp đồng, trong các giao dịch trước
đó giữa các bên và trong thông tin trao đổi giữa
các bên vào bất kì thời điểm nào trước hoặc vào
thời điểm giao kết hợp đồng.
Hơn nữa, trường hợp một bên có nhiều hơn
một địa điểm kinh doanh, theo Điều 10 của CISG
1980, địa điểm kinh doanh được xác định là nơi
có mối quan hệ gần gũi nhất với việc giao kết và
thực hiện hợp đồng, có xem xét đến hoàn cảnh
mà các bên biết hoặc dự liệu vào bất kì thời điểm
nào trước hoặc vào thời điểm giao kết hợp đồng.
Giải thích yếu tố “mối quan hệ gần gũi”, một
Trọng tài trong vụ tranh chấp giữa công ty Thụy
Sĩ và công ty Serbian liên quan tới một hợp đồng
mua bán thiết bị đóng gói sữa vào năm 20081 xác
Trong một vụ tranh chấp khác giữa công ty
Hoa Kỳ và công ty Canada liên quan đến hợp
đồng mua bán các thiết bị máy tính vào năm
2001, Tòa án xác định địa điểm kinh doanh của
người bán là nơi có mối quan hệ gần gũi nhất
với giao dịch và nhận thấy rằng đó là Canada bởi
hàng hóa được sản xuất tại Canada, trụ sở công
ty của người bán ở Canada và cáo buộc vi phạm
đại diện được thực hiện từ Canada2.
Như vậy, đối với các hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế, CISG 1980 sẽ được áp dụng
trong 02 trường hợp: (i) Khi các bên có trụ sở
thương mại ở các quốc gia là thành viên Công
ước (Điều 1.1.a) và (ii) Khi theo các quy tắc của tư
pháp quốc tế thì luật áp dụng là luật của quốc gia
thành viên CISG (Điều 1.1.b).
truy cập ngày 10/01/2020
* Tiến sĩ, Trưởng Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học
Luật, Đại học Huế
** Giảng viên Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học
Luật, Đại học Huế
2ꢀ CLOUT No.433, 30 July 2001. Nguồn truy cập:
108 Khoa học Kiểm sát
Số Chuyên đề 01 - 2021
NGUYỄN THỊ HỒNG TRINH - BÙI THỊ QUỲNH TRANG
Trường hợp thứ nhất: Khi các bên có trụ sở xung đột trong Tư pháp quốc tế của một quốc
thương mại ở các quốc gia là thành viên Công ước
gia (thông thường là quốc gia có tòa án đang giải
quyết tranh chấp) dẫn chiếu đến luật của một
quốc gia thành viên Công ước thì Công ước sẽ
được áp dụng. Ngoài ra, trường hợp này cũng
xảy ra khi các bên lựa chọn luật áp dụng cho hợp
đồng là luật của một nước thành viên Công ước
bởi quy tắc các bên trong hợp đồng được tự do
lựa chọn luật áp dụng là nguyên tắc thông dụng
và cốt lõi của Tư pháp quốc tế về hợp đồng.
Đây là trường hợp áp dụng phổ biến nhất
của CISG 1980. Ví dụ, CISG 1980 sẽ được áp dụng
thay cho pháp luật quốc gia đối với hợp đồng
mua bán hàng hóa giữa công ty Việt Nam và
công ty có trụ sở ở Pháp, Đức, Úc, Hàn Quốc,…
bởi lẽ Việt Nam và các nước này đều là thành
viên của Công ước. Quy định này đáp ứng mục
tiêu trọng tâm của Công ước là xây dựng một
khung pháp lý thống nhất cho các giao dịch mua
bán hàng hóa quốc tế diễn ra trên toàn cầu3. Theo
đó, khi các quốc gia phê chuẩn hoặc gia nhập
Công ước thì Công ước trở thành một phần nội
luật của quốc gia đó và sẽ đương nhiên được áp
dụng đối với các giao dịch giữa các công dân của
quốc gia thành viên đó.
Tuy nhiên, trong một vụ tranh chấp giữa
người bán Hoa Kỳ và người mua Anh phát sinh
từ hợp đồng mua bán trứng cá muối, Tòa án
Quận liên bang Kentucky (Hoa Kỳ) lại đưa ra
một quyết định khác biệt. Tòa án này đã áp dụng
Mục 188 của Luật xung đột (Bản sửa đổi thứ hai)
dẫn chiếu tới “luật của tiểu bang mà có mối quan hệ
gần gũi nhất với hợp đồng và các bên...”. Trên cơ sở
đó, Tòa án xác định luật của bang Kentucky, tức
là pháp luật Hoa Kỳ (thành viên của CISG 1980)
sẽ là luật áp dụng đối với tranh chấp này. Về
nguyên tắc, trong trường hợp này, CISG sẽ được
áp dụng thay cho pháp luật Hoa Kỳ theo quy
định tại điểm b khoản 1 Điều 1 của CISG (Tại thời
điểm ký kết hợp đồng, Anh chưa phải là thành
viên của Công ước). Tuy nhiên, Tòa án nhận thấy
rằng Hoa Kỳ đã bảo lưu quy định tại Điều 1.1.b;
do đó, Tòa án quyết định áp dụng luật của bang
Kentucky dẫn chiếu tới Bộ luật thương mại thống
nhất (UCC) để giải quyết các tranh chấp phát
sinh từ hợp đồng5. Đây là trường hợp một quốc
gia thành viên6 tuyên bố bảo lưu Điều 1.1.b nhằm
mục đích tránh việc CISG sẽ thay thế luật nội địa
của họ trong việc điều chỉnh hợp đồng với một
bên có trụ sở tại một quốc gia không phải thành
viên Công ước. Trong trường hợp này, pháp luật
quốc gia (được dẫn chiếu từ các quy phạm xung
đột của Tư pháp quốc tế hoặc do các bên thỏa
thuận trong hợp đồng) sẽ được áp dụng thay vì
áp dụng CISG 1980.
Trường hợp thứ hai: Khi theo các quy tắc của
Tư pháp quốc tế thì luật áp dụng là luật của quốc gia
thành viên CISG
Đây được gọi là trường hợp áp dụng “gián
tiếp” Công ước và mở rộng đáng kể phạm vi áp
dụng của Công ước này đối với các hợp đồng
ngay cả khi một bên hoặc cả hai bên trong hợp
đồng không có địa điểm kinh doanh tại các quốc
gia thành viên của Công ước. Ví dụ, trong một
tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán
giày giữa công ty Đức và công ty Italia vào năm
19894. Tại thời điểm ký kết hợp đồng, Đức không
không phải là thành viên của CISG 1980. Trong
quá trình thực hiện hợp đồng, hai bên phát sinh
tranh chấp liên quan đến chất lượng hàng hóa;
do đó, người mua Đức đã đệ trình một đơn khởi
kiện lên Tòa án quận Aachen (Đức). Để xác định
luật áp dụng đối với hợp đồng này, Tòa án quận
Aachen đã áp dụng các quy tắc Tư pháp quốc
tế của Đức và kết luận rằng: Luật của nước nơi
người bán thực hiện hoạt động kinh doanh chủ
yếu sẽ là luật áp dụng, mà ở đây là luật của Italia.
Tuy nhiên, Italia bấy giờ đã là một thành viên của
CISG 1980, do đó, theo định tại điểm b khoản 1
Điều 1, Công ước sẽ trở thành nguồn luật điều
chỉnh của hợp đồng này.
1.2. Phạm vi áp dụng của Công ước đối với
một số hợp đồng đặc biệt
Công ước được áp dụng cho hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế nhưng không đưa ra định
nghĩa cụ thể nào về hợp đồng mua bán hàng hóa
hay các dạng của hợp đồng mua bán hàng hóa.
Như vậy, trường hợp thứ hai thường được
giải thích như sau: Khi áp dụng các quy phạm
3ꢀ Christophe Bernasconi (1999), The Personal
and Territorial Scope of the Vienna Convention 5ꢀ Princesse D’Isenbourg et CIE Ltd. v. Kinder Caviar,
on Contracts for the International Sale of Goods (Article Inc. and Kinder Caviar, Inc. v. United Airlines, Inc.,
1), Netherlands International Law Review, Vol.46, 22 February 2011. Nguồn truy cập: hꢁps://cisgw3.
pp. 137-170.
law.pace.edu/cases/110222u1.html, truy cập ngày
4ꢀ CLOUT no.46, 3 April 1990. Nguồn truy cập: hꢁps:// 10/09/2020.
cisgw3.law.pace.edu/cases/900403g1.html, truy cập 6ꢀ Bao gồm: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Singapore và Cộng
ngày 10/09/2020
hòa Séc.
Số Chuyên đề 01 - 2021
Khoa học Kiểm sát 109
PHÂN TÍCH PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN 1980...
Xem xét các quy định về nghĩa vụ của người bán giá hàng hóa. Các thỏa thuận khung, về nguyên
và người mua tại Điều 30 và Điều 53 của Công tắc, không cấu thành “hợp đồng mua bán hàng
ước, có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hóa là hóa” theo khoản 1 Điều 1 vì thiếu yêu cầu về tính
xác định theo quy định tại Điều 14 của CISG nên
không chịu sự điều chỉnh của Công ước.
hợp đồng theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng,
giao chứng từ và chuyển quyền sở hữu hàng hóa,
còn bên mua có nghĩa vụ trả tiền và nhận hàng7.
Tuy nhiên, hiện nay, thực tiễn hoạt động thương
mại quốc tế ghi nhận nhiều “biến thể” của hợp
đồng mua bán hàng hóa như hợp đồng phân
phối, hợp đồng trao đổi hàng hóa hay hợp đồng
hỗn hợp. Từ đó, câu hỏi đặt ra là: Liệu CISG 1980
có áp dụng đối với những hợp đồng này không?
Tuy nhiên, trên thực tế, các bên thường ký kết
một Hợp đồng phân phối dưới dạng Hợp đồng
khung và sau đó, với mỗi lần đặt hàng, các bên sẽ
tiếp tục ký kết các “hợp đồng riêng” dựa trên các
nguyên tắc được quy định trong Hợp đồng phân
phối. Các hợp đồng này được xem là hợp đồng
mua bán hàng hóa và thuộc phạm vi điều chỉnh
của Công ước. Một Tòa án tại Đức đã giải quyết
một vụ việc tương tự phát sinh vào tháng 7/1996
từ một Hợp đồng phân phối độc quyền sản
phẩm động cơ của máy cắt cỏ giữa một công ty
Đức và một công ty Italia9. Trên cơ sở Hợp đồng
phân phối, để thực hiện các đơn đặt hàng cụ thể,
hai công ty đã tiến hành ký kết một số hợp đồng
riêng, trong đó quy định rõ số lượng, chất lượng
và giá cả hàng hóa. Tòa án lập luận rằng: CISG
được áp dụng đối với các hợp đồng riêng cho các
đơn đặt hàng nhưng không áp dụng đối với hợp
đồng phân phối. Thay vào đó, hợp đồng phân
phối được kiểm soát bởi luật hiện hành theo các
quy tắc xung đột pháp luật. Do đó, Tòa án xác
định rằng theo quy tắc xung đột pháp luật của
Đức, hợp đồng phân phối được điều chỉnh bởi
luật nội địa của Italia, không phải CISG.
Thứ nhất, đối với Hợp đồng phân phối
(Distribution Agreements)
Tháng 01/1996, công ty Helen Karninski
Pty của Úc (Karninski) và công ty Marketing
Australian Products của Hoa Kỳ (MAP) ký một
hợp đồng phân phối độc quyền phụ kiện thời
trang8. Các điều khoản của hợp đồng này bao gồm
phương thức thanh toán, bảo hành, giao hàng và
các giao dịch mua hàng tiếp theo của MAP. Tháng
02/1996, hợp đồng phân phối được sửa đổi, trong
đó bổ sung thêm quy định về việc bán các loại
hàng hóa được xác định cụ thể. Tranh chấp phát
sinh khi các bên đang thực hiện các đợt giao hàng
tiếp theo. Trong quá trình giải quyết tranh chấp,
Tòa án quận phía Nam New York tuyên bố CISG
không áp dụng đối với các hợp đồng phân phối.
Tòa án này lý giải rằng “CISG yêu cầu một hợp
đồng mua bán hàng hóa phải có các điều khoản cụ
thể quy định số lượng hàng hóa và giá cả”. Ngoài
ra, Tòa án cũng tuyên bố “rất ít án lệ của CISG liên
quan đến vấn đề này và không có án lệ nào xác
định rằng một hợp đồng phân phối thuộc phạm
vi điều chỉnh của Công ước”.
Quyết định này của Tòa án quận phía Nam
New York trở thành một trong những vấn đề
nhận được sự quan tâm nhiều nhất của các học
giả nghiên cứu về CISG 1980. Xét từ bản chất của
Hợp đồng phân phối, các học giả cho rằng: Loại
hợp đồng này được xem là “Hợp đồng khung
(hay Hợp đồng nguyên tắc)” điều chỉnh các
nguyên tắc cơ bản nhất liên quan đến việc đặt
hàng và giao hàng nhưng không quy định cụ thể
về số lượng và chất lượng hàng hóa cũng như
Thứ hai, đối với Hợp đồng trao đổi hàng hóa
(Barter Transaction)
Hợp đồng trao đổi hàng hóa có thể hiểu
một cách đơn giản là việc các bên mua bán hàng
hóa mà không sử dụng tiền, tức là không xuất
hiện nghĩa vụ thanh toán. Theo đó, các bên đều
có nghĩa vụ giao hàng và chuyển quyền sở hữu
hàng hóa cho nhau, mỗi bên đều được xem là
người bán đối với tài sản giao cho bên kia và là
người mua đối với tài sản nhận về.
Liên quan đến phạm vi áp dụng của CISG
1980 đối với hợp đồng trao đổi hàng hóa, các cơ
quan tài phán và các học giả có nhiều quan điểm
trái chiều. Nhiều nhà bình luận cho rằng CISG
không hướng đến việc điều chỉnh các hợp đồng
trao đổi hàng hóa và Công ước cũng không có
bất kỳ quy định nào để điều chỉnh loại hợp đồng
này10, bởi Công ước yêu cầu các hợp đồng mua
7ꢀ UNCITRAL Digest of Case Law on the United
Nations Convention on the International Sale of
Goods, Article 1. Nguồn truy cập: hꢁps://www. 9ꢀ CLOUT No.169, 11 July 1996. Nguồn truy cập:
pdf, truy cập ngày 11/09/2020
truy cập ngày 13/09/2020
8ꢀ CLOUT no.187, 21 July 1997. Nguồn truy cập: 10ꢀ Andrew J. Horowiꢂ (2010), Revisiting Barter under
truy cập ngày 13/09/2020
No.1, pp. 99-115. Nguồn truy cập: hꢁps://www.
110 Khoa học Kiểm sát
Số Chuyên đề 01 - 2021
NGUYỄN THỊ HỒNG TRINH - BÙI THỊ QUỲNH TRANG
bán phải là sự trao đổi hàng hóa lấy tiền11. Một số nay, xu hướng đồng ý áp dụng CISG cho hợp
cơ quan tài phán cũng đưa ra kết luận tương tự đồng trao đổi hàng hóa có phần trội hơn do tần
khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến phạm suất xuất hiện của dạng hợp đồng này ngày càng
vi áp dụng của CISG đối với hợp đồng trao đổi
hàng hóa. Trong một vụ việc phát sinh từ hợp
đồng trao đổi hàng hóa được ký kết vào ngày
17/01/2003 giữa một công ty của Nga và một
công ty của Lichtenstein12, Trọng tài Liên bang
Nga nhận thấy CISG 1980 không thể áp dụng cho
hợp đồng này theo thỏa thuận của các bên. Trọng
tài cho rằng quan hệ của các bên được điều chỉnh
bởi các điều khoản của một hợp đồng trao đổi
hàng hóa mà không có bất kỳ khoản thanh toán
bằng tiền nào; do đó, hợp đồng này không phải
là một hợp đồng mua bán hàng hóa.
Tuy nhiên, một số ý kiến khác lại cho rằng
CISG có thể được áp dụng đối với hợp đồng trao
đổi hàng hóa dựa trên học thuyết hợp đồng đối
ứng. Hơn nữa, trong báo cáo của UNCITRAL
năm 1979, Ban thư ký giải thích rằng các giao
dịch trao đổi hàng hóa có thể được điều chỉnh
bằng CISG khi sử dụng học thuyết hợp đồng đối
ứng13. Một Trọng tài tại Trung Quốc đã áp dụng
học thuyết hợp đồng đối ứng để xác định phạm
vi áp dụng của CISG đối với hợp đồng trao đổi
vừng – u rê giữa một công ty Trung Quốc và một
công ty Jordan14.
lớn, đặc biệt tại các nước đang phát triển, dẫn
đến nhu cầu cần một khung pháp lý hiệu quả để
điều chỉnh một cách thống nhất16.
Thứ ba, đối với Hợp đồng hỗn hợp (Mixed
contracts)
Phạm vi áp dụng của CISG 1980 đối với các
hợp đồng hỗn hợp được quy định cụ thể tại Điều
3 dưới 02 hình thức sau: (i) Hợp đồng cung ứng
hàng hóa để chế tạo hoặc sản xuất (Điều 3.1) và
(ii) Hợp đồng bao gồm nghĩa vụ giao hàng và
nghĩa vụ cung ứng dịch vụ (Điều 3.2).
Trường hợp 1: Hợp đồng cung ứng hàng hóa để
chế tạo hoặc sản xuất
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3, hợp đồng
cung ứng hàng hóa để chế tạo hoặc sản xuất
được xem là hợp đồng mua bán hàng hóa và
thuộc phạm vi điều chỉnh của CISG 1980 nếu
người mua (người đặt hàng) không có nghĩa vụ
cung ứng “phần lớn” nguyên vật liệu cần thiết
cho việc chế tạo hay sản xuất hàng hóa đó. Tòa
phúc thẩm Muchen (Đức), trong một vụ tranh
chấp giữa người mua Đức và người bán Italia
phát sinh từ hợp đồng mua bán máy sản xuất
cửa sổ17 nhận thấy mặc dù bên mua có nghĩa vụ
cung ứng một số nguyên liệu và yêu cầu về thông
số kĩ nhưng các nguyên liệu này không đáng kể
về giá trị cũng như chức năng so với sản phẩm
cuối cùng. Do đó, Tòa phúc thẩm kết luận rằng:
Hợp đồng cung ứng hàng hóa để chế tạo máy
sản xuất cửa sổ trong trường hợp này là hợp
đồng mua bán hàng hóa, thuộc phạm vi điều
chỉnh của Công ước. Công ước không giải thích
trường hợp nào người mua cung ứng nguyên
vật liệu sẽ tạo thành việc cung ứng “phần lớn”
nguyên vật liệu theo quy định tại khoản 1 Điều
3. Trong quá trình giải quyết các tranh chấp phát
sinh từ các hợp đồng cung ứng hàng hóa để sản
xuất, các cơ quan tài phán đã nỗ lực để đưa ra
một cách giải thích hợp lý đối với tiêu chí “phần
lớn” này. Tòa phúc thẩm Muchen trong vụ việc
kể trên đã so sánh giá trị của nguyên vật liệu mà
Ngoài ra, Trung tâm Trọng tài thương mại
quốc tế, Phòng Thương mại và Công nghiệp
Ukraina trong tranh chấp giữa một công ty Mỹ
và một công ty Ukraina kết luận rằng CISG được
áp dụng cho hợp đồng trao đổi hàng hóa vì các
bên tranh chấp đã thỏa thuận áp dụng15. Hiện
researchgate.net/publication/271069123_Revisiting_
Barter_under_the_CISG, truy cập ngày 13/09/2020
11ꢀ Jelena Perovi (2011), Selected Critical Issues Regarding
the Sphere of Application of the CISG, Belgrade Law
Review, Vol.3, pp. 181-195.
12ꢀ Russian Federation arbitration proceeding, 9 March
2004. Nguồn truy cập: hꢁps://cisgw3.law.pace.edu/
cases/040309r1.html, truy cập ngày 14/09/2020
13ꢀ Andrew J. Horowiꢂ (2010), Revisiting Barter
under the CISG, Journal of Law and Commerce, Vol.29
No.1, pp. 99-115. Nguồn truy cập: hꢁps://www.
researchgate.net/publication/271069123_Revisiting_ 15/09/2020
Barter_under_the_CISG, truy cập ngày 15/09/2020
16ꢀ Andrew J. Horowiꢂ (2010), Revisiting Barter
14ꢀ Sesame/ urea case, 13 June 1989. Nguồn truy cập: under the CISG, Journal of Law and Commerce, Vol.29
truy cập ngày 15/09/2020
researchgate.net/publication/271069123_Revisiting_
15ꢀ Tribunal of International Commercial Arbitration Barter_under_the_CISG, truy cập ngày 15/09/2020
at the Ukrainian Chamber of Commerce and Trade, 17ꢀ CLOUT no.430, 3 December 1999. Nguồn truy cập:
law.pace.edu/cases/031010u5.html, truy cập ngày truy cập ngày 16/09/2020
Số Chuyên đề 01 - 2021
Khoa học Kiểm sát 111
PHÂN TÍCH PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN 1980...
người mua cung cấp so với giá trị của sản phẩm ký kết dưới hình thức “hỗn hợp”, trong đó một
phần hợp đồng liên quan đến việc giao hàng hóa
và phần còn lại quy định các nghĩa vụ về dịch
vụ như giám sát việc lắp đặt và đào tạo nhân sự
cho người mua. Về nguyên tắc, khoản 2 Điều 3
quy định loại hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi
Công ước nếu phần liên quan đến nghĩa vụ cung
ứng dịch vụ không phải là “nghĩa vụ chủ yếu”
của hợp đồng. Tòa phúc thẩm Muchen trong
vụ tranh chấp hợp đồng mua bán máy sản xuất
cửa sổ nêu trên cũng đã giải quyết trường hợp
hợp đồng “hỗn hợp” theo quy định tại Điều 3.2.
Trong hợp đồng giữa người mua Đức và người
bán Italia, ngoài việc người mua sẽ cung cấp một
số nguyên vật liệu, các bên còn thỏa thuận rằng
hàng hóa sau khi hoàn thành sẽ được vận chuyển
đến địa điểm kinh doanh của người mua, tại đó
các kỹ thuật viên của người bán sẽ tiến hành
lắp ráp. Tòa án nhận thấy giá trị của dịch vụ sử
dụng các thợ máy trong 06 tuần chỉ cấu thành
một phần nhỏ trong tổng giá trị chi phí của hợp
đồng, ngoài ra, đặc điểm quá trình chế tạo hàng
hóa quan trọng hơn so với việc lắp đặt và đưa
hàng hóa vào hoạt động. Vì vậy, nghĩa vụ chủ
yếu trong trường hợp này là cung cấp hàng hóa
chứ không phải là dịch vụ.
đầu ra để đưa ra kết luận cuối cùng. Một số cơ
quan tài phán khác cũng có cách tiếp cận tương
tự khi sử dụng phương pháp định lượng thuần
túy để xác định tỉ lệ đóng góp của nguyên vật
liệu mà người mua cung cấp đối với quá trình
sản xuất hàng hóa.
Trong một vụ việc diễn ra vào năm 1995 giữa
người bán Hungary và người mua Úc liên quan
đến hợp đồng mua bán container18, Tòa trọng
tài của Hungary đã sử dụng phương pháp định
lượng thuần túy trong bối cảnh giải thích khoản
1 Điều 3 của CISG 1980. Tòa trọng tài nhận định
người mua đã cung cấp kim loại và phụ kiện cần
thiết để sản xuất các thùng chứa. Ví dụ, người
mua đã cung cấp nguyên liệu và phụ kiện với giá
trị 23.000 sA để sản xuất 12 container, tức là xấp
xỉ 2.000 sA cho mỗi container. Trong khi đó, giá
trung bình của một thùng chứa được sản xuất là
từ 12.000 sA đến 20.000 sA. Do đó, không thể nói
rằng nguyên vật liệu người mua cung cấp là một
phần quan trọng đối với quá trình sản xuất các
container.
Ngoài ra, một số Tòa án cho rằng các hướng
dẫn, thiết kế hoặc thông số kỹ thuật này được
xem là các “nguyên vật liệu” phục vụ cho quá
trình sản xuất (nguyên vật liệu có thể tồn tại ở
dạng hữu hình hoặc vô hình), do đó, các Tòa án
vẫn xem xét tiêu chí “cung ứng phần lớn” tại
khoản 1 Điều 3 để xác định phạm vi áp dụng của
“Tính chủ yếu” của các nghĩa vụ thông thường
được xác định dựa trên giá trị kinh tế của nghĩa vụ
đó trong hợp đồng. Trong vụ tranh chấp diễn ra
vào năm 2006 giữa người mua Đan Mạch và người
bán Thụy Sĩ liên quan đến hợp đồng mua bán hệ
CISG 198019. Một số Tòa án khác nhận thấy các thống máy đóng chai, Tòa án dân sự (Zivilgericht)
Basel-Stadt nhận thấy: Nếu giá trị kinh tế của các
nghĩa vụ cung ứng dịch vụ lớn hơn 50% giá trị
kinh tế của toàn bộ nghĩa vụ của người bán thì
hợp đồng này không thuộc phạm vi điều chỉnh
của CISG 198021. Theo đó, một Tòa án tại Pháp đã
kết luận rằng hợp đồng mua bán và tháo dỡ nhà
kho cũ thuộc phạm vi áp dụng của CISG 1980 với
lý do giá trị của các dịch vụ tháo dỡ chỉ chiếm 25%
tổng giá trị của hợp đồng22.
thiết kế hay thông số kỹ thuật không được coi là
“các nguyên vật liệu cần thiết để sản xuất hoặc
chế tạo hàng hóa” theo nghĩa tại Điều 3.1 của
Công ước20.
Trường hợp 2: Hợp đồng bao gồm nghĩa vụ giao
hàng và nghĩa vụ cung ứng dịch vụ
Trong thực tiễn của hoạt động mua bán hàng
hóa quốc tế, ngày càng nhiều các hợp đồng được
Bên cạnh việc tính toán giá trị kinh tế của
nghĩa vụ cung ứng dịch vụ, một số Tòa án cho
rằng cần thiết phải xét đến các hoàn cảnh ký kết
hợp đồng, mục đích của hợp đồng để xác định
“tính chủ yếu” khi áp dụng quy định tại khoản
2 Điều 3. Tòa án quận Mainz (Đức) lập luận là
18ꢀ CLOUT case No. 164 Arbitration—Arbitration
Court aꢁached to the Hungarian Chamber of
Commerce and Industry, Hungary, 5 December
1995, Nguồn truy cập: hꢁps://cisgw3.law.pace.edu/
cases/951205h1.html, truy cập ngày 16/09/2020
19ꢀ CLOUT case No. 157 [Cour d’appel Chambéry,
France, 25 May 1993]. Nguồn truy cập: hꢁps:// 21ꢀ Swiꢂerland 8 November 2006 Civil Court Basil-
cisgw3.law.pace.edu/cases/930525f1.html, truy cập Stadt (Packaging machine case). Nguồn truy cập:
ngày 17/09/2020
20ꢀ CLOUT case No. 331, Handelsgericht des Kantons truy cập ngày 17/09/2020
Zürich, Swiꢂerland, 10 February 1999. Nguồn truy 22ꢀ CLOUT case No. 152, Cour d’appel Grenoble, France,
cập:
hꢁps://cisgw3.law.pace.edu/cases/990210s1. 26 April 1995. Nguồn truy cập: hꢁps://cisgw3.law.pace.
html, truy cập ngày 17/09/2020
edu/cases/950426f2.html, truy cập ngày 17/09/2020
112 Khoa học Kiểm sát
Số Chuyên đề 01 - 2021
NGUYỄN THỊ HỒNG TRINH - BÙI THỊ QUỲNH TRANG
tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên đều đặt việc loại trừ phạm vi áp dụng Công ước theo quy
trọng tâm vào các nghĩa vụ trong hợp đồng đối
với việc bán và giao loại hàng hóa chất lượng cao
này. Tòa án nhận thấy trước các nghĩa vụ khác
của hợp đồng như vận chuyển, lắp đặt, bảo trì là
nghĩa vụ phụ so với nghĩa vụ giao hàng23.
1.3. Phạm vi áp dụng của Công ước đối với
các loại hàng hóa
định tại Điều 6.
Trong một hợp đồng mua bán xe ô tô giữa
người mua Singapore và người bán Đức, các bên
đã thỏa thuận về một điều khoản chọn luật, trong
đó luật của Đức được áp dụng đối với hợp đồng
này, đồng thời loại trừ việc áp dụng Công ước về
Mua bán hàng hóa quốc tế (ULIS) và Công ước
về Giao kết Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế (ULF). Tòa phúc thẩm Muchen cho rằng CISG
1980 được áp dụng theo quy định tại Điều 1.1.a
bởi tại thời điểm ký kết hợp đồng, cả Đức và
Singapore đều là thành viên của Công ước. Ngoài
ra, Tòa án lập luận rằng việc các bên loại trừ áp
dụng ULIS và ULF không đồng nghĩa với việc loại
trừ áp dụng CISG 1980. Tòa án cũng lưu ý trong
một giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, việc loại
trừ áp dụng CISG 1980 phải được thể hiện bằng
quyết định rõ ràng của các bên tham gia24.
Trong một tranh chấp khác phát sinh từ hợp
đồng mua bán máy giữa người bán Bỉ và người
mua Đức, Tòa án quận Namur (Bỉ) cũng đưa ra
kết luận tương tự. Tòa án nhận thấy hợp đồng
được điều chỉnh bởi CISG 1980 bởi các bên có địa
điểm kinh doanh tại các quốc gia thành viên của
Công ước và các điều kiện áp dụng Công ước
đều thỏa mãn. Về việc loại trừ áp dụng CISG
1980, Tòa án cho rằng các bên không loại trừ việc
áp dụng Công ước một cách rõ ràng hoặc ngầm
định. Hợp đồng không có bất kỳ điều khoản nào
đề cập đến luật áp dụng cũng như việc loại trừ
áp dụng CISG 1980, các bên chỉ có thể loại trừ
việc áp dụng Công ước bằng điều khoản rõ ràng,
ví dụ “Hợp đồng này được điều chỉnh bởi luật
mua bán hàng hóa theo Bộ luật dân sự Đức”.
Hơn nữa, Tòa án chỉ ra là hợp đồng bằng tiếng
Đức không được xem là loại trừ áp dụng Công
ước một cách ngầm định25.
CISG 1980 không áp dụng đối với một số
loại hàng hóa nhất định. Dựa vào mục đích của
việc mua hàng, theo quy định tại Điều 2.a, Công
ước không áp dụng nếu hàng hóa được mua để
phục vụ mục đích cá nhân hoặc gia đình. Tuy
nhiên, nếu hàng được mua bởi một cá nhân cho
mục đích kinh doanh, giao dịch thì sẽ được điều
chỉnh bởi CISG 1980. Riêng đối với hợp đồng tiêu
dùng, yếu tố quyết định phạm vi áp dụng của
Công ước là ý định sử dụng của hàng hóa. Một
hợp đồng tiêu dùng thuộc trường hợp loại trừ
áp dụng Công ước khi ý định dùng cho cá nhân
hoặc gia đình được bên bán biết trước hoặc vào
thời điểm giao kết hợp đồng.
Dựa vào loại giao dịch, theo quy định tại Điều
2.b, Công ước không áp dụng cho các giao dịch
bán đấu giá bởi giao dịch bán đấu giá có các quy
định đặc thù trong pháp luật của các quốc gia. Do
vậy, những giao dịch này sẽ tiếp tục được điều
chỉnh bởi những quy định đó, mặc dù người đấu
giá thành công có thể đến từ một quốc gia khác.
Tương tự, Điều 2.c loại trừ việc áp dụng Công
ước cho những giao dịch mua bán hàng hóa để
thi hành luật hoặc các quyết định tư pháp. Điều
2.d loại trừ các giao dịch mua bán chứng khoán
vì những giao dịch này liên quan đến những vấn
đề khác với thương mại hàng hóa thông thường,
và một số hệ thống pháp luật không xem chứng
khoán là một loại hàng hóa.
Dựa vào loại hàng hóa, Điều 2.e loại trừ áp
dụng CISG cho những giao dịch mua bán tàu
thủy, máy bay, thủy phi cơ. Điều 2.f loại trừ áp
dụng Công ước cho giao dịch mua bán điện năng
trên cơ sở rằng trong một số hệ thống pháp luật,
điện năng không được xem là hàng hóa và mua
bán quốc tế điện năng liên quan đến những vấn
đề đặc thù so với những vấn đề thông thường
của mua bán hàng hóa quốc tế.
Theo thực tiễn xét xử, các bên trong hợp
đồng có thể loại trừ việc áp dụng CISG 1980
một cách rõ ràng hoặc ngầm định. Các bên có
thể loại trừ việc áp dụng CISG một cách rõ ràng
thông qua việc soạn thảo một điều khoản trong
hợp đồng quy định việc CISG sẽ không được áp
dụng, đồng thời chỉ rõ luật áp dụng để giải quyết
các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng. Ngoài ra,
các bên còn có thể loại trừ việc áp dụng CISG
1.4. Loại trừ phạm vi áp dụng của Công ước
CISG 1980 được xây dựng trên nền tảng
nguyên tắc tự do trong giao kết hợp đồng. Do đó,
Công ước cho phép các bên có thể thỏa thuận về
24ꢀ CLOUT No.826, Appellate Court München, Auto case,
19 October 2006. Nguồn truy cập: hꢁps://cisgw3.law.
pace.edu/cases/061019g1.html, truy cập ngày 18/09/2020
23ꢀ CLOUT case No. 346, Landgericht Mainz, Germany, 25ꢀ Belgium 15 January 2002 District Court Namur (SA
26 November 1998. Nguồn truy cập: hꢁps://cisgw3.law. P. v. AWS). Nguồn truy cập: hꢁps://cisgw3.law.pace.
pace.edu/cases/981126g1.html, truy cập ngày 17/09/2020 edu/cases/020115b1.html, truy cập ngày 18/09/2020
Số Chuyên đề 01 - 2021
Khoa học Kiểm sát 113
PHÂN TÍCH PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN 1980...
một cách ngầm định. Theo đó, việc các bên thỏa chấp đối với hợp đồng này.
thuận lựa chọn luật của một quốc gia không phải
Thứ ba, một lưu ý nữa đối với các cơ quan
thành viên của Công ước cũng được xem là một
trường hợp loại trừ áp dụng Công ước. Hoặc
trong một số trường hợp, Tòa án cũng công nhận
ý chí loại trừ áp dụng Công ước khi các bên thỏa
thuận chọn luật của quốc gia thành viên Công
ước nhưng trong đó phải chỉ rõ luật nào của quốc
gia sẽ được áp dụng đối với hợp đồng.
tài phán của Việt Nam là Công ước sẽ không áp
dụng đối với một số hợp đồng nhất định. Từ thực
tiễn xét xử, có thể nhận thấy các hợp đồng phân
phối sẽ không thuộc phạm vi áp dụng của Công
ước. Tuy nhiên, các hợp đồng riêng biệt cho các
đơn đặt hàng được xem là hợp đồng mua bán
hàng hóa và được điều chỉnh bởi Công ước. Đối
với hợp đồng trao đổi hàng hóa, Luật thương
mại Việt Nam năm 2005 chưa có quy định về hợp
đồng trao đổi hàng hóa, nhưng Bộ luật dân sự
năm 2005 và Bộ luật dân sự năm 2015 đều có quy
định về hợp đồng trao đổi tài sản: “Hợp đồng
trao đổi tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên,
theo đó, các bên giao tài sản và chuyển quyền sở
hữu đối với tài sản cho nhau”26, đồng thời, khẳng
định mỗi bên đều được coi là người bán đối với
tài sản giao cho bên kia và là người mua đối với
tài sản nhận về. Theo pháp luật Việt Nam, hợp
đồng trao đổi hàng hóa là một dạng đặc biệt của
hợp đồng mua bán hàng hóa. Do đó, theo cách
2. Một số khuyến nghị
Trên cơ sở phân tích các quy định của Công
ước Viên 1980 về phạm vi áp dụng thông qua
một số tranh chấp tiêu biểu, bài viết đưa ra một
số khuyến nghị đối với các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cũng như các doanh nghiệp trong
quá trình áp dụng các điều khoản về phạm vi áp
dụng như sau:
Thứ nhất, Việt Nam đã trở thành thành viên
của Công ước từ ngày 01/01/2017; do đó, tất cả
các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa công ty có
địa điểm kinh doanh tại Việt Nam và các đối tác
có địa điểm kinh doanh tại các quốc gia khác sẽ tiếp cận của một số học giả, Công ước có thể áp
dụng cho loại hợp đồng này nếu pháp luật quốc
gia xem nó là một hợp đồng mua bán hàng hóa.
mặc nhiên thuộc phạm vi áp dụng của Công ước.
Tuy nhiên, cần hiểu rằng CISG được áp dụng
không có nghĩa là luật quốc gia không còn vai trò
gì nữa. Trật tự công cộng vẫn phải được tuân thủ
và luật quốc gia vẫn điều chỉnh những vấn đề mà
CISG không chạm tới.
Thứ tư, một vấn đề khác các bên cần xét đến
là: Liệu rằng các bên có thể lựa chọn áp dụng
Công ước trong các trường hợp không thỏa mãn
các điều kiện tiên quyết để áp dụng Công ước
hay không? Đối với một quốc gia thành viên
Công ước, đây là một trong những vấn đề quan
trọng mà các doanh nghiệp cần quan tâm, đặc
biệt là trong các hợp đồng hỗn hợp khi nghĩa vụ
cung ứng dịch vụ là chủ yếu như Hợp đồng xây
dựng hay các loại hợp đồng chìa khóa trao tay.
Về nguyên tắc, Công ước sẽ không loại trừ phạm
vi áp dụng đối với các hợp đồng này nếu các bên
muốn lựa chọn áp dụng Công ước thông qua
điều khoản chọn luật trong hợp đồng.
Thứ hai, trong trường hợp một công ty có địa
điểm kinh doanh tại Việt Nam ký kết một hợp
đồng mua bán hàng hóa với một đối tác có địa
điểm kinh doanh tại một quốc gia không phải là
thành viên của Công ước thì hợp đồng này chỉ có
thể được điều chỉnh bởi Công ước theo các quy
tắc tại Điều 1.1.b. Cụ thể, nếu tranh chấp phát
sinh và các bên khởi kiện tại một tòa án của Việt
Nam thì tòa án sẽ áp dụng các quy tắc Tư pháp
quốc tế của Việt Nam để xác định luật thực định
áp dụng đối với quyền và nghĩa vụ của các bên
theo hợp đồng. Quy phạm xung đột cho hợp
đồng hiện hành là Điều 683 Bộ luật dân sự năm
2015. Theo điểm a khoản 2 Điều 683 của Bộ luật,
nếu các bên không thỏa thuận luật áp dụng thì
luật của nước có mối liên hệ mật thiết nhất với
hợp đồng là luật của nước nơi người bán cư trú
nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu là pháp
Thứ năm, Công ước cho phép việc loại trừ
áp dụng Công ước, tuy nhiên, các bên phải thể
hiện ý định loại trừ một cách rõ ràng hoặc ngầm
định. Tuy vậy, từ khía cạnh doanh nghiệp, việc
loại trừ áp dụng Công ước không phải là một lựa
chọn được khuyến khích cho các doanh nghiệp
Việt Nam. Trong các giao dịch mua bán hàng hóa
quốc tế, nếu các bên loại trừ việc áp dụng Công
nhân (đối với hợp đồng mua bán hàng hóa). Do ước, thay vào đó lựa chọn áp dụng pháp luật của
một quốc gia khác, các bên sẽ phải đối mặt với
nhiều vấn đề khó khăn trong việc tiếp cận và tìm
hiểu các quy định của pháp luật nước ngoài khi
tranh chấp xảy ra./.
đó, luật thực định trong trường hợp này là luật
của nước người bán. Nếu người bán là công ty
của Việt Nam thì Công ước được áp dụng thay
cho luật quốc gia Việt Nam bởi Công ước lúc này
đã trở thành một phần nội luật của Việt Nam.
Ngược lại, nếu người bán là đối tác thì luật của
26ꢀ Khoản 1 Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2005 và
nước đó sẽ được áp dụng để giải quyết tranh khoản 1 Điều 455 Bộ luật dân sự năm 2015
114 Khoa học Kiểm sát
Số Chuyên đề 01 - 2021
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích phạm vi áp dụng của công ước viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và khuyến nghị áp dụng cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phan_tich_pham_vi_ap_dung_cua_cong_uoc_vien_1980_ve_hop_dong.pdf

