Phân tích phạm vi áp dụng của công ước viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và khuyến nghị áp dụng cho Việt Nam

PHÂN TÍCH PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN 1980  
VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ  
VÀ KHUYẾN NGHỊ ÁP DỤNG CHO VIỆT NAM  
NGUYỄN THỊ HỒNG TRINH* - BÙI THỊ QUỲNH TRANG**  
Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa (CISG 1980) đã có hiệu lực ở Việt Nam  
từ 01/01/2017. Bài viết tập trung phân tích những quy định của Công ước về phạm vi áp dụng  
thông qua một số trường hợp tranh chấp, từ đó đưa ra khuyến nghị áp dụng các điều khoản về  
phạm vi áp dụng cho các cơ quan kiểm sát, xét xử cũng như doanh nghiệp của Việt Nam.  
Từ khóa: Công ước Viên 1980, phạm vi áp dụng, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, khuyến  
nghị áp dụng Công ước.  
Ngày nhận bài: 29/3/2021; Biên tập xong: 06/4/2021; Duyệt đăng: 10/4/2021  
The United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods (Vienna,  
1980 - CISG) comes into force in Vietnam on 1st January 2017. The article focuses on analyzing  
the provisions of CISG on sphere of application through some dispute cases, then provides  
recommendations for CISG 1980’s sphere of application to Vietnamese judicial authorities  
and enterprises.  
Keyword: CISG 1980, sphere of application, contract for the international sale of goods,  
recommendation for Convention’s sphere of application.  
1. Quy định của Công ước Viên 1980 về định rằng: Địa điểm liên quan chặt chẽ nhất đến  
phạm vi áp dụng  
hợp đồng và thực hiện hợp đồng là trụ sở chính  
của người bán tại Thụy Sĩ, đây là nơi người bán  
tiến hành đàm phán, ký kết các hợp đồng, thực  
hiện việc giao hàng và nhận thanh toán tiền hàng.  
1.1. Nguyên tắc chung  
Những trường hợp áp dụng CISG 1980 được  
quy định tại khoản 1 Điều 1 của Công ước này.  
Cụ thể, Công ước được áp dụng đối với các hợp  
đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có địa  
điểm kinh doanh tại các quốc gia khác nhau. Tuy  
nhiên, cũng cần lưu ý rằng theo khoản 2 Điều  
1 của CISG 1980, Công ước sẽ không được áp  
dụng nếu việc hai bên có địa điểm kinh doanh  
ở các quốc gia khác nhau là không thể nhận biết  
được trong hợp đồng, trong các giao dịch trước  
đó giữa các bên và trong thông tin trao đổi giữa  
các bên vào bất kì thời điểm nào trước hoặc vào  
thời điểm giao kết hợp đồng.  
Hơn nữa, trường hợp một bên có nhiều hơn  
một địa điểm kinh doanh, theo Điều 10 của CISG  
1980, địa điểm kinh doanh được xác định là nơi  
có mối quan hệ gần gũi nhất với việc giao kết và  
thực hiện hợp đồng, có xem xét đến hoàn cảnh  
mà các bên biết hoặc dự liệu vào bất kì thời điểm  
nào trước hoặc vào thời điểm giao kết hợp đồng.  
Giải thích yếu tố “mối quan hệ gần gũi”, một  
Trọng tài trong vụ tranh chấp giữa công ty Thụy  
Sĩ và công ty Serbian liên quan tới một hợp đồng  
mua bán thiết bị đóng gói sữa vào năm 20081 xác  
Trong một vụ tranh chấp khác giữa công ty  
Hoa Kỳ và công ty Canada liên quan đến hợp  
đồng mua bán các thiết bị máy tính vào năm  
2001, Tòa án xác định địa điểm kinh doanh của  
người bán là nơi có mối quan hệ gần gũi nhất  
với giao dịch và nhận thấy rằng đó là Canada bởi  
hàng hóa được sản xuất tại Canada, trụ sở công  
ty của người bán ở Canada và cáo buộc vi phạm  
đại diện được thực hiện từ Canada2.  
Như vậy, đối với các hợp đồng mua bán  
hàng hóa quốc tế, CISG 1980 sẽ được áp dụng  
trong 02 trường hợp: (i) Khi các bên có trụ sở  
thương mại ở các quốc gia là thành viên Công  
ước (Điều 1.1.a) và (ii) Khi theo các quy tắc của tư  
pháp quốc tế thì luật áp dụng là luật của quốc gia  
thành viên CISG (Điều 1.1.b).  
truy cập ngày 10/01/2020  
* Tiến sĩ, Trưởng Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học  
Luật, Đại học Huế  
** Giảng viên Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học  
Luật, Đại học Huế  
2ꢀ CLOUT No.433, 30 July 2001. Nguồn truy cập:  
1ꢀ CLOUT No.1021,15 July 2008. Nguồn truy cập: https://cisgw3.law.pace.edu/cases/010727u1.html,  
108 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
NGUYỄN THỊ HỒNG TRINH - BÙI THỊ QUỲNH TRANG  
Trường hợp thứ nhất: Khi các bên có trụ sở xung đột trong Tư pháp quốc tế của một quốc  
thương mại ở các quốc gia là thành viên Công ước  
gia (thông thường là quốc gia có tòa án đang giải  
quyết tranh chấp) dẫn chiếu đến luật của một  
quốc gia thành viên Công ước thì Công ước sẽ  
được áp dụng. Ngoài ra, trường hợp này cũng  
xảy ra khi các bên lựa chọn luật áp dụng cho hợp  
đồng là luật của một nước thành viên Công ước  
bởi quy tắc các bên trong hợp đồng được tự do  
lựa chọn luật áp dụng là nguyên tắc thông dụng  
và cốt lõi của Tư pháp quốc tế về hợp đồng.  
Đây là trường hợp áp dụng phổ biến nhất  
của CISG 1980. Ví dụ, CISG 1980 sẽ được áp dụng  
thay cho pháp luật quốc gia đối với hợp đồng  
mua bán hàng hóa giữa công ty Việt Nam và  
công ty có trụ sở ở Pháp, Đức, Úc, Hàn Quốc,…  
bởi lẽ Việt Nam và các nước này đều là thành  
viên của Công ước. Quy định này đáp ứng mục  
tiêu trọng tâm của Công ước là xây dựng một  
khung pháp lý thống nhất cho các giao dịch mua  
bán hàng hóa quốc tế diễn ra trên toàn cầu3. Theo  
đó, khi các quốc gia phê chuẩn hoặc gia nhập  
Công ước thì Công ước trở thành một phần nội  
luật của quốc gia đó và sẽ đương nhiên được áp  
dụng đối với các giao dịch giữa các công dân của  
quốc gia thành viên đó.  
Tuy nhiên, trong một vụ tranh chấp giữa  
người bán Hoa Kỳ và người mua Anh phát sinh  
từ hợp đồng mua bán trứng cá muối, Tòa án  
Quận liên bang Kentucky (Hoa Kỳ) lại đưa ra  
một quyết định khác biệt. Tòa án này đã áp dụng  
Mục 188 của Luật xung đột (Bản sửa đổi thứ hai)  
dẫn chiếu tới “luật của tiểu bang mà có mối quan hệ  
gần gũi nhất với hợp đồng và các bên...”. Trên cơ sở  
đó, Tòa án xác định luật của bang Kentucky, tức  
là pháp luật Hoa Kỳ (thành viên của CISG 1980)  
sẽ là luật áp dụng đối với tranh chấp này. Về  
nguyên tắc, trong trường hợp này, CISG sẽ được  
áp dụng thay cho pháp luật Hoa Kỳ theo quy  
định tại điểm b khoản 1 Điều 1 của CISG (Tại thời  
điểm ký kết hợp đồng, Anh chưa phải là thành  
viên của Công ước). Tuy nhiên, Tòa án nhận thấy  
rằng Hoa Kỳ đã bảo lưu quy định tại Điều 1.1.b;  
do đó, Tòa án quyết định áp dụng luật của bang  
Kentucky dẫn chiếu tới Bộ luật thương mại thống  
nhất (UCC) để giải quyết các tranh chấp phát  
sinh từ hợp đồng5. Đây là trường hợp một quốc  
gia thành viên6 tuyên bố bảo lưu Điều 1.1.b nhằm  
mục đích tránh việc CISG sẽ thay thế luật nội địa  
của họ trong việc điều chỉnh hợp đồng với một  
bên có trụ sở tại một quốc gia không phải thành  
viên Công ước. Trong trường hợp này, pháp luật  
quốc gia (được dẫn chiếu từ các quy phạm xung  
đột của Tư pháp quốc tế hoặc do các bên thỏa  
thuận trong hợp đồng) sẽ được áp dụng thay vì  
áp dụng CISG 1980.  
Trường hợp thứ hai: Khi theo các quy tắc của  
Tư pháp quốc tế thì luật áp dụng là luật của quốc gia  
thành viên CISG  
Đây được gọi là trường hợp áp dụng “gián  
tiếp” Công ước và mở rộng đáng kể phạm vi áp  
dụng của Công ước này đối với các hợp đồng  
ngay cả khi một bên hoặc cả hai bên trong hợp  
đồng không có địa điểm kinh doanh tại các quốc  
gia thành viên của Công ước. Ví dụ, trong một  
tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán  
giày giữa công ty Đức và công ty Italia vào năm  
19894. Tại thời điểm ký kết hợp đồng, Đức không  
không phải là thành viên của CISG 1980. Trong  
quá trình thực hiện hợp đồng, hai bên phát sinh  
tranh chấp liên quan đến chất lượng hàng hóa;  
do đó, người mua Đức đã đệ trình một đơn khởi  
kiện lên Tòa án quận Aachen (Đức). Để xác định  
luật áp dụng đối với hợp đồng này, Tòa án quận  
Aachen đã áp dụng các quy tắc Tư pháp quốc  
tế của Đức và kết luận rằng: Luật của nước nơi  
người bán thực hiện hoạt động kinh doanh chủ  
yếu sẽ là luật áp dụng, mà ở đây là luật của Italia.  
Tuy nhiên, Italia bấy giờ đã là một thành viên của  
CISG 1980, do đó, theo định tại điểm b khoản 1  
Điều 1, Công ước sẽ trở thành nguồn luật điều  
chỉnh của hợp đồng này.  
1.2. Phạm vi áp dụng của Công ước đối với  
một số hợp đồng đặc biệt  
Công ước được áp dụng cho hợp đồng mua  
bán hàng hóa quốc tế nhưng không đưa ra định  
nghĩa cụ thể nào về hợp đồng mua bán hàng hóa  
hay các dạng của hợp đồng mua bán hàng hóa.  
Như vậy, trường hợp thứ hai thường được  
giải thích như sau: Khi áp dụng các quy phạm  
3ꢀ Christophe Bernasconi (1999), The Personal  
and Territorial Scope of the Vienna Convention 5ꢀ Princesse D’Isenbourg et CIE Ltd. v. Kinder Caviar,  
on Contracts for the International Sale of Goods (Article Inc. and Kinder Caviar, Inc. v. United Airlines, Inc.,  
1), Netherlands International Law Review, Vol.46, 22 February 2011. Nguồn truy cập: hꢁps://cisgw3.  
pp. 137-170.  
law.pace.edu/cases/110222u1.html, truy cập ngày  
4ꢀ CLOUT no.46, 3 April 1990. Nguồn truy cập: hꢁps:// 10/09/2020.  
cisgw3.law.pace.edu/cases/900403g1.html, truy cập 6ꢀ Bao gồm: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Singapore và Cộng  
ngày 10/09/2020  
hòa Séc.  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 109  
PHÂN TÍCH PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN 1980...  
Xem xét các quy định về nghĩa vụ của người bán giá hàng hóa. Các thỏa thuận khung, về nguyên  
và người mua tại Điều 30 và Điều 53 của Công tắc, không cấu thành “hợp đồng mua bán hàng  
ước, có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hóa là hóa” theo khoản 1 Điều 1 vì thiếu yêu cầu về tính  
xác định theo quy định tại Điều 14 của CISG nên  
không chịu sự điều chỉnh của Công ước.  
hợp đồng theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng,  
giao chứng từ và chuyển quyền sở hữu hàng hóa,  
còn bên mua có nghĩa vụ trả tiền và nhận hàng7.  
Tuy nhiên, hiện nay, thực tiễn hoạt động thương  
mại quốc tế ghi nhận nhiều “biến thể” của hợp  
đồng mua bán hàng hóa như hợp đồng phân  
phối, hợp đồng trao đổi hàng hóa hay hợp đồng  
hỗn hợp. Từ đó, câu hỏi đặt ra là: Liệu CISG 1980  
có áp dụng đối với những hợp đồng này không?  
Tuy nhiên, trên thực tế, các bên thường ký kết  
một Hợp đồng phân phối dưới dạng Hợp đồng  
khung và sau đó, với mỗi lần đặt hàng, các bên sẽ  
tiếp tục ký kết các “hợp đồng riêng” dựa trên các  
nguyên tắc được quy định trong Hợp đồng phân  
phối. Các hợp đồng này được xem là hợp đồng  
mua bán hàng hóa và thuộc phạm vi điều chỉnh  
của Công ước. Một Tòa án tại Đức đã giải quyết  
một vụ việc tương tự phát sinh vào tháng 7/1996  
từ một Hợp đồng phân phối độc quyền sản  
phẩm động cơ của máy cắt cỏ giữa một công ty  
Đức và một công ty Italia9. Trên cơ sở Hợp đồng  
phân phối, để thực hiện các đơn đặt hàng cụ thể,  
hai công ty đã tiến hành ký kết một số hợp đồng  
riêng, trong đó quy định rõ số lượng, chất lượng  
và giá cả hàng hóa. Tòa án lập luận rằng: CISG  
được áp dụng đối với các hợp đồng riêng cho các  
đơn đặt hàng nhưng không áp dụng đối với hợp  
đồng phân phối. Thay vào đó, hợp đồng phân  
phối được kiểm soát bởi luật hiện hành theo các  
quy tắc xung đột pháp luật. Do đó, Tòa án xác  
định rằng theo quy tắc xung đột pháp luật của  
Đức, hợp đồng phân phối được điều chỉnh bởi  
luật nội địa của Italia, không phải CISG.  
Thứ nhất, đối với Hợp đồng phân phối  
(Distribution Agreements)  
Tháng 01/1996, công ty Helen Karninski  
Pty của Úc (Karninski) và công ty Marketing  
Australian Products của Hoa Kỳ (MAP) ký một  
hợp đồng phân phối độc quyền phụ kiện thời  
trang8. Các điều khoản của hợp đồng này bao gồm  
phương thức thanh toán, bảo hành, giao hàng và  
các giao dịch mua hàng tiếp theo của MAP. Tháng  
02/1996, hợp đồng phân phối được sửa đổi, trong  
đó bổ sung thêm quy định về việc bán các loại  
hàng hóa được xác định cụ thể. Tranh chấp phát  
sinh khi các bên đang thực hiện các đợt giao hàng  
tiếp theo. Trong quá trình giải quyết tranh chấp,  
Tòa án quận phía Nam New York tuyên bố CISG  
không áp dụng đối với các hợp đồng phân phối.  
Tòa án này lý giải rằng “CISG yêu cầu một hợp  
đồng mua bán hàng hóa phải có các điều khoản cụ  
thể quy định số lượng hàng hóa và giá cả”. Ngoài  
ra, Tòa án cũng tuyên bố “rất ít án lệ của CISG liên  
quan đến vấn đề này và không có án lệ nào xác  
định rằng một hợp đồng phân phối thuộc phạm  
vi điều chỉnh của Công ước”.  
Quyết định này của Tòa án quận phía Nam  
New York trở thành một trong những vấn đề  
nhận được sự quan tâm nhiều nhất của các học  
giả nghiên cứu về CISG 1980. Xét từ bản chất của  
Hợp đồng phân phối, các học giả cho rằng: Loại  
hợp đồng này được xem là “Hợp đồng khung  
(hay Hợp đồng nguyên tắc)” điều chỉnh các  
nguyên tắc cơ bản nhất liên quan đến việc đặt  
hàng và giao hàng nhưng không quy định cụ thể  
về số lượng và chất lượng hàng hóa cũng như  
Thứ hai, đối với Hợp đồng trao đổi hàng hóa  
(Barter Transaction)  
Hợp đồng trao đổi hàng hóa có thể hiểu  
một cách đơn giản là việc các bên mua bán hàng  
hóa mà không sử dụng tiền, tức là không xuất  
hiện nghĩa vụ thanh toán. Theo đó, các bên đều  
có nghĩa vụ giao hàng và chuyển quyền sở hữu  
hàng hóa cho nhau, mỗi bên đều được xem là  
người bán đối với tài sản giao cho bên kia và là  
người mua đối với tài sản nhận về.  
Liên quan đến phạm vi áp dụng của CISG  
1980 đối với hợp đồng trao đổi hàng hóa, các cơ  
quan tài phán và các học giả có nhiều quan điểm  
trái chiều. Nhiều nhà bình luận cho rằng CISG  
không hướng đến việc điều chỉnh các hợp đồng  
trao đổi hàng hóa và Công ước cũng không có  
bất kỳ quy định nào để điều chỉnh loại hợp đồng  
này10, bởi Công ước yêu cầu các hợp đồng mua  
7ꢀ UNCITRAL Digest of Case Law on the United  
Nations Convention on the International Sale of  
Goods, Article 1. Nguồn truy cập: hꢁps://www. 9ꢀ CLOUT No.169, 11 July 1996. Nguồn truy cập:  
pdf, truy cập ngày 11/09/2020  
truy cập ngày 13/09/2020  
8ꢀ CLOUT no.187, 21 July 1997. Nguồn truy cập: 10ꢀ Andrew J. Horowiꢂ (2010), Revisiting Barter under  
truy cập ngày 13/09/2020  
No.1, pp. 99-115. Nguồn truy cập: hꢁps://www.  
110 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
NGUYỄN THỊ HỒNG TRINH - BÙI THỊ QUỲNH TRANG  
bán phải là sự trao đổi hàng hóa lấy tiền11. Một số nay, xu hướng đồng ý áp dụng CISG cho hợp  
cơ quan tài phán cũng đưa ra kết luận tương tự đồng trao đổi hàng hóa có phần trội hơn do tần  
khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến phạm suất xuất hiện của dạng hợp đồng này ngày càng  
vi áp dụng của CISG đối với hợp đồng trao đổi  
hàng hóa. Trong một vụ việc phát sinh từ hợp  
đồng trao đổi hàng hóa được ký kết vào ngày  
17/01/2003 giữa một công ty của Nga và một  
công ty của Lichtenstein12, Trọng tài Liên bang  
Nga nhận thấy CISG 1980 không thể áp dụng cho  
hợp đồng này theo thỏa thuận của các bên. Trọng  
tài cho rằng quan hệ của các bên được điều chỉnh  
bởi các điều khoản của một hợp đồng trao đổi  
hàng hóa mà không có bất kỳ khoản thanh toán  
bằng tiền nào; do đó, hợp đồng này không phải  
là một hợp đồng mua bán hàng hóa.  
Tuy nhiên, một số ý kiến khác lại cho rằng  
CISG có thể được áp dụng đối với hợp đồng trao  
đổi hàng hóa dựa trên học thuyết hợp đồng đối  
ứng. Hơn nữa, trong báo cáo của UNCITRAL  
năm 1979, Ban thư ký giải thích rằng các giao  
dịch trao đổi hàng hóa có thể được điều chỉnh  
bằng CISG khi sử dụng học thuyết hợp đồng đối  
ứng13. Một Trọng tài tại Trung Quốc đã áp dụng  
học thuyết hợp đồng đối ứng để xác định phạm  
vi áp dụng của CISG đối với hợp đồng trao đổi  
vừng – u rê giữa một công ty Trung Quốc và một  
công ty Jordan14.  
lớn, đặc biệt tại các nước đang phát triển, dẫn  
đến nhu cầu cần một khung pháp lý hiệu quả để  
điều chỉnh một cách thống nhất16.  
Thứ ba, đối với Hợp đồng hỗn hợp (Mixed  
contracts)  
Phạm vi áp dụng của CISG 1980 đối với các  
hợp đồng hỗn hợp được quy định cụ thể tại Điều  
3 dưới 02 hình thức sau: (i) Hợp đồng cung ứng  
hàng hóa để chế tạo hoặc sản xuất (Điều 3.1) và  
(ii) Hợp đồng bao gồm nghĩa vụ giao hàng và  
nghĩa vụ cung ứng dịch vụ (Điều 3.2).  
Trường hợp 1: Hợp đồng cung ứng hàng hóa để  
chế tạo hoặc sản xuất  
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3, hợp đồng  
cung ứng hàng hóa để chế tạo hoặc sản xuất  
được xem là hợp đồng mua bán hàng hóa và  
thuộc phạm vi điều chỉnh của CISG 1980 nếu  
người mua (người đặt hàng) không có nghĩa vụ  
cung ứng “phần lớn” nguyên vật liệu cần thiết  
cho việc chế tạo hay sản xuất hàng hóa đó. Tòa  
phúc thẩm Muchen (Đức), trong một vụ tranh  
chấp giữa người mua Đức và người bán Italia  
phát sinh từ hợp đồng mua bán máy sản xuất  
cửa sổ17 nhận thấy mặc dù bên mua có nghĩa vụ  
cung ứng một số nguyên liệu và yêu cầu về thông  
số kĩ nhưng các nguyên liệu này không đáng kể  
về giá trị cũng như chức năng so với sản phẩm  
cuối cùng. Do đó, Tòa phúc thẩm kết luận rằng:  
Hợp đồng cung ứng hàng hóa để chế tạo máy  
sản xuất cửa sổ trong trường hợp này là hợp  
đồng mua bán hàng hóa, thuộc phạm vi điều  
chỉnh của Công ước. Công ước không giải thích  
trường hợp nào người mua cung ứng nguyên  
vật liệu sẽ tạo thành việc cung ứng “phần lớn”  
nguyên vật liệu theo quy định tại khoản 1 Điều  
3. Trong quá trình giải quyết các tranh chấp phát  
sinh từ các hợp đồng cung ứng hàng hóa để sản  
xuất, các cơ quan tài phán đã nỗ lực để đưa ra  
một cách giải thích hợp lý đối với tiêu chí “phần  
lớn” này. Tòa phúc thẩm Muchen trong vụ việc  
kể trên đã so sánh giá trị của nguyên vật liệu mà  
Ngoài ra, Trung tâm Trọng tài thương mại  
quốc tế, Phòng Thương mại và Công nghiệp  
Ukraina trong tranh chấp giữa một công ty Mỹ  
và một công ty Ukraina kết luận rằng CISG được  
áp dụng cho hợp đồng trao đổi hàng hóa vì các  
bên tranh chấp đã thỏa thuận áp dụng15. Hiện  
researchgate.net/publication/271069123_Revisiting_  
Barter_under_the_CISG, truy cập ngày 13/09/2020  
11ꢀ Jelena Perovi (2011), Selected Critical Issues Regarding  
the Sphere of Application of the CISG, Belgrade Law  
Review, Vol.3, pp. 181-195.  
12ꢀ Russian Federation arbitration proceeding, 9 March  
2004. Nguồn truy cập: hꢁps://cisgw3.law.pace.edu/  
cases/040309r1.html, truy cập ngày 14/09/2020  
13ꢀ Andrew J. Horowiꢂ (2010), Revisiting Barter  
under the CISG, Journal of Law and Commerce, Vol.29  
No.1, pp. 99-115. Nguồn truy cập: hꢁps://www.  
researchgate.net/publication/271069123_Revisiting_ 15/09/2020  
Barter_under_the_CISG, truy cập ngày 15/09/2020  
16ꢀ Andrew J. Horowiꢂ (2010), Revisiting Barter  
14ꢀ Sesame/ urea case, 13 June 1989. Nguồn truy cập: under the CISG, Journal of Law and Commerce, Vol.29  
truy cập ngày 15/09/2020  
researchgate.net/publication/271069123_Revisiting_  
15ꢀ Tribunal of International Commercial Arbitration Barter_under_the_CISG, truy cập ngày 15/09/2020  
at the Ukrainian Chamber of Commerce and Trade, 17ꢀ CLOUT no.430, 3 December 1999. Nguồn truy cập:  
Ukraine, 10/10/2003. Nguồn truy cập: hꢁp://cisgw3. https://cisgw3.law.pace.edu/cases/991203g1.html,  
law.pace.edu/cases/031010u5.html, truy cập ngày truy cập ngày 16/09/2020  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 111  
PHÂN TÍCH PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN 1980...  
người mua cung cấp so với giá trị của sản phẩm ký kết dưới hình thức “hỗn hợp”, trong đó một  
phần hợp đồng liên quan đến việc giao hàng hóa  
và phần còn lại quy định các nghĩa vụ về dịch  
vụ như giám sát việc lắp đặt và đào tạo nhân sự  
cho người mua. Về nguyên tắc, khoản 2 Điều 3  
quy định loại hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi  
Công ước nếu phần liên quan đến nghĩa vụ cung  
ứng dịch vụ không phải là “nghĩa vụ chủ yếu”  
của hợp đồng. Tòa phúc thẩm Muchen trong  
vụ tranh chấp hợp đồng mua bán máy sản xuất  
cửa sổ nêu trên cũng đã giải quyết trường hợp  
hợp đồng “hỗn hợp” theo quy định tại Điều 3.2.  
Trong hợp đồng giữa người mua Đức và người  
bán Italia, ngoài việc người mua sẽ cung cấp một  
số nguyên vật liệu, các bên còn thỏa thuận rằng  
hàng hóa sau khi hoàn thành sẽ được vận chuyển  
đến địa điểm kinh doanh của người mua, tại đó  
các kỹ thuật viên của người bán sẽ tiến hành  
lắp ráp. Tòa án nhận thấy giá trị của dịch vụ sử  
dụng các thợ máy trong 06 tuần chỉ cấu thành  
một phần nhỏ trong tổng giá trị chi phí của hợp  
đồng, ngoài ra, đặc điểm quá trình chế tạo hàng  
hóa quan trọng hơn so với việc lắp đặt và đưa  
hàng hóa vào hoạt động. Vì vậy, nghĩa vụ chủ  
yếu trong trường hợp này là cung cấp hàng hóa  
chứ không phải là dịch vụ.  
đầu ra để đưa ra kết luận cuối cùng. Một số cơ  
quan tài phán khác cũng có cách tiếp cận tương  
tự khi sử dụng phương pháp định lượng thuần  
túy để xác định tỉ lệ đóng góp của nguyên vật  
liệu mà người mua cung cấp đối với quá trình  
sản xuất hàng hóa.  
Trong một vụ việc diễn ra vào năm 1995 giữa  
người bán Hungary và người mua Úc liên quan  
đến hợp đồng mua bán container18, Tòa trọng  
tài của Hungary đã sử dụng phương pháp định  
lượng thuần túy trong bối cảnh giải thích khoản  
1 Điều 3 của CISG 1980. Tòa trọng tài nhận định  
người mua đã cung cấp kim loại và phụ kiện cần  
thiết để sản xuất các thùng chứa. Ví dụ, người  
mua đã cung cấp nguyên liệu và phụ kiện với giá  
trị 23.000 sA để sản xuất 12 container, tức là xấp  
xỉ 2.000 sA cho mỗi container. Trong khi đó, giá  
trung bình của một thùng chứa được sản xuất là  
từ 12.000 sA đến 20.000 sA. Do đó, không thể nói  
rằng nguyên vật liệu người mua cung cấp là một  
phần quan trọng đối với quá trình sản xuất các  
container.  
Ngoài ra, một số Tòa án cho rằng các hướng  
dẫn, thiết kế hoặc thông số kỹ thuật này được  
xem là các “nguyên vật liệu” phục vụ cho quá  
trình sản xuất (nguyên vật liệu có thể tồn tại ở  
dạng hữu hình hoặc vô hình), do đó, các Tòa án  
vẫn xem xét tiêu chí “cung ứng phần lớn” tại  
khoản 1 Điều 3 để xác định phạm vi áp dụng của  
“Tính chủ yếu” của các nghĩa vụ thông thường  
được xác định dựa trên giá trị kinh tế của nghĩa vụ  
đó trong hợp đồng. Trong vụ tranh chấp diễn ra  
vào năm 2006 giữa người mua Đan Mạch và người  
bán Thụy Sĩ liên quan đến hợp đồng mua bán hệ  
CISG 198019. Một số Tòa án khác nhận thấy các thống máy đóng chai, Tòa án dân sự (Zivilgericht)  
Basel-Stadt nhận thấy: Nếu giá trị kinh tế của các  
nghĩa vụ cung ứng dịch vụ lớn hơn 50% giá trị  
kinh tế của toàn bộ nghĩa vụ của người bán thì  
hợp đồng này không thuộc phạm vi điều chỉnh  
của CISG 198021. Theo đó, một Tòa án tại Pháp đã  
kết luận rằng hợp đồng mua bán và tháo dỡ nhà  
kho cũ thuộc phạm vi áp dụng của CISG 1980 với  
lý do giá trị của các dịch vụ tháo dỡ chỉ chiếm 25%  
tổng giá trị của hợp đồng22.  
thiết kế hay thông số kỹ thuật không được coi là  
“các nguyên vật liệu cần thiết để sản xuất hoặc  
chế tạo hàng hóa” theo nghĩa tại Điều 3.1 của  
Công ước20.  
Trường hợp 2: Hợp đồng bao gồm nghĩa vụ giao  
hàng và nghĩa vụ cung ứng dịch vụ  
Trong thực tiễn của hoạt động mua bán hàng  
hóa quốc tế, ngày càng nhiều các hợp đồng được  
Bên cạnh việc tính toán giá trị kinh tế của  
nghĩa vụ cung ứng dịch vụ, một số Tòa án cho  
rằng cần thiết phải xét đến các hoàn cảnh ký kết  
hợp đồng, mục đích của hợp đồng để xác định  
“tính chủ yếu” khi áp dụng quy định tại khoản  
2 Điều 3. Tòa án quận Mainz (Đức) lập luận là  
18ꢀ CLOUT case No. 164 Arbitration—Arbitration  
Court aꢁached to the Hungarian Chamber of  
Commerce and Industry, Hungary, 5 December  
1995, Nguồn truy cập: hꢁps://cisgw3.law.pace.edu/  
cases/951205h1.html, truy cập ngày 16/09/2020  
19ꢀ CLOUT case No. 157 [Cour d’appel Chambéry,  
France, 25 May 1993]. Nguồn truy cập: hꢁps:// 21ꢀ Swiꢂerland 8 November 2006 Civil Court Basil-  
cisgw3.law.pace.edu/cases/930525f1.html, truy cập Stadt (Packaging machine case). Nguồn truy cập:  
ngày 17/09/2020  
20ꢀ CLOUT case No. 331, Handelsgericht des Kantons truy cập ngày 17/09/2020  
Zürich, Swiꢂerland, 10 February 1999. Nguồn truy 22ꢀ CLOUT case No. 152, Cour d’appel Grenoble, France,  
cập:  
hꢁps://cisgw3.law.pace.edu/cases/990210s1. 26 April 1995. Nguồn truy cập: hꢁps://cisgw3.law.pace.  
html, truy cập ngày 17/09/2020  
edu/cases/950426f2.html, truy cập ngày 17/09/2020  
112 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
NGUYỄN THỊ HỒNG TRINH - BÙI THỊ QUỲNH TRANG  
tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên đều đặt việc loại trừ phạm vi áp dụng Công ước theo quy  
trọng tâm vào các nghĩa vụ trong hợp đồng đối  
với việc bán và giao loại hàng hóa chất lượng cao  
này. Tòa án nhận thấy trước các nghĩa vụ khác  
của hợp đồng như vận chuyển, lắp đặt, bảo trì là  
nghĩa vụ phụ so với nghĩa vụ giao hàng23.  
1.3. Phạm vi áp dụng của Công ước đối với  
các loại hàng hóa  
định tại Điều 6.  
Trong một hợp đồng mua bán xe ô tô giữa  
người mua Singapore và người bán Đức, các bên  
đã thỏa thuận về một điều khoản chọn luật, trong  
đó luật của Đức được áp dụng đối với hợp đồng  
này, đồng thời loại trừ việc áp dụng Công ước về  
Mua bán hàng hóa quốc tế (ULIS) và Công ước  
về Giao kết Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc  
tế (ULF). Tòa phúc thẩm Muchen cho rằng CISG  
1980 được áp dụng theo quy định tại Điều 1.1.a  
bởi tại thời điểm ký kết hợp đồng, cả Đức và  
Singapore đều là thành viên của Công ước. Ngoài  
ra, Tòa án lập luận rằng việc các bên loại trừ áp  
dụng ULIS và ULF không đồng nghĩa với việc loại  
trừ áp dụng CISG 1980. Tòa án cũng lưu ý trong  
một giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, việc loại  
trừ áp dụng CISG 1980 phải được thể hiện bằng  
quyết định rõ ràng của các bên tham gia24.  
Trong một tranh chấp khác phát sinh từ hợp  
đồng mua bán máy giữa người bán Bỉ và người  
mua Đức, Tòa án quận Namur (Bỉ) cũng đưa ra  
kết luận tương tự. Tòa án nhận thấy hợp đồng  
được điều chỉnh bởi CISG 1980 bởi các bên có địa  
điểm kinh doanh tại các quốc gia thành viên của  
Công ước và các điều kiện áp dụng Công ước  
đều thỏa mãn. Về việc loại trừ áp dụng CISG  
1980, Tòa án cho rằng các bên không loại trừ việc  
áp dụng Công ước một cách rõ ràng hoặc ngầm  
định. Hợp đồng không có bất kỳ điều khoản nào  
đề cập đến luật áp dụng cũng như việc loại trừ  
áp dụng CISG 1980, các bên chỉ có thể loại trừ  
việc áp dụng Công ước bằng điều khoản rõ ràng,  
ví dụ “Hợp đồng này được điều chỉnh bởi luật  
mua bán hàng hóa theo Bộ luật dân sự Đức”.  
Hơn nữa, Tòa án chỉ ra là hợp đồng bằng tiếng  
Đức không được xem là loại trừ áp dụng Công  
ước một cách ngầm định25.  
CISG 1980 không áp dụng đối với một số  
loại hàng hóa nhất định. Dựa vào mục đích của  
việc mua hàng, theo quy định tại Điều 2.a, Công  
ước không áp dụng nếu hàng hóa được mua để  
phục vụ mục đích cá nhân hoặc gia đình. Tuy  
nhiên, nếu hàng được mua bởi một cá nhân cho  
mục đích kinh doanh, giao dịch thì sẽ được điều  
chỉnh bởi CISG 1980. Riêng đối với hợp đồng tiêu  
dùng, yếu tố quyết định phạm vi áp dụng của  
Công ước là ý định sử dụng của hàng hóa. Một  
hợp đồng tiêu dùng thuộc trường hợp loại trừ  
áp dụng Công ước khi ý định dùng cho cá nhân  
hoặc gia đình được bên bán biết trước hoặc vào  
thời điểm giao kết hợp đồng.  
Dựa vào loại giao dịch, theo quy định tại Điều  
2.b, Công ước không áp dụng cho các giao dịch  
bán đấu giá bởi giao dịch bán đấu giá có các quy  
định đặc thù trong pháp luật của các quốc gia. Do  
vậy, những giao dịch này sẽ tiếp tục được điều  
chỉnh bởi những quy định đó, mặc dù người đấu  
giá thành công có thể đến từ một quốc gia khác.  
Tương tự, Điều 2.c loại trừ việc áp dụng Công  
ước cho những giao dịch mua bán hàng hóa để  
thi hành luật hoặc các quyết định tư pháp. Điều  
2.d loại trừ các giao dịch mua bán chứng khoán  
vì những giao dịch này liên quan đến những vấn  
đề khác với thương mại hàng hóa thông thường,  
và một số hệ thống pháp luật không xem chứng  
khoán là một loại hàng hóa.  
Dựa vào loại hàng hóa, Điều 2.e loại trừ áp  
dụng CISG cho những giao dịch mua bán tàu  
thủy, máy bay, thủy phi cơ. Điều 2.f loại trừ áp  
dụng Công ước cho giao dịch mua bán điện năng  
trên cơ sở rằng trong một số hệ thống pháp luật,  
điện năng không được xem là hàng hóa và mua  
bán quốc tế điện năng liên quan đến những vấn  
đề đặc thù so với những vấn đề thông thường  
của mua bán hàng hóa quốc tế.  
Theo thực tiễn xét xử, các bên trong hợp  
đồng có thể loại trừ việc áp dụng CISG 1980  
một cách rõ ràng hoặc ngầm định. Các bên có  
thể loại trừ việc áp dụng CISG một cách rõ ràng  
thông qua việc soạn thảo một điều khoản trong  
hợp đồng quy định việc CISG sẽ không được áp  
dụng, đồng thời chỉ rõ luật áp dụng để giải quyết  
các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng. Ngoài ra,  
các bên còn có thể loại trừ việc áp dụng CISG  
1.4. Loại trừ phạm vi áp dụng của Công ước  
CISG 1980 được xây dựng trên nền tảng  
nguyên tắc tự do trong giao kết hợp đồng. Do đó,  
Công ước cho phép các bên có thể thỏa thuận về  
24ꢀ CLOUT No.826, Appellate Court München, Auto case,  
19 October 2006. Nguồn truy cập: hꢁps://cisgw3.law.  
pace.edu/cases/061019g1.html, truy cập ngày 18/09/2020  
23ꢀ CLOUT case No. 346, Landgericht Mainz, Germany, 25ꢀ Belgium 15 January 2002 District Court Namur (SA  
26 November 1998. Nguồn truy cập: hꢁps://cisgw3.law. P. v. AWS). Nguồn truy cập: hꢁps://cisgw3.law.pace.  
pace.edu/cases/981126g1.html, truy cập ngày 17/09/2020 edu/cases/020115b1.html, truy cập ngày 18/09/2020  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 113  
PHÂN TÍCH PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN 1980...  
một cách ngầm định. Theo đó, việc các bên thỏa chấp đối với hợp đồng này.  
thuận lựa chọn luật của một quốc gia không phải  
Thứ ba, một lưu ý nữa đối với các cơ quan  
thành viên của Công ước cũng được xem là một  
trường hợp loại trừ áp dụng Công ước. Hoặc  
trong một số trường hợp, Tòa án cũng công nhận  
ý chí loại trừ áp dụng Công ước khi các bên thỏa  
thuận chọn luật của quốc gia thành viên Công  
ước nhưng trong đó phải chỉ rõ luật nào của quốc  
gia sẽ được áp dụng đối với hợp đồng.  
tài phán của Việt Nam là Công ước sẽ không áp  
dụng đối với một số hợp đồng nhất định. Từ thực  
tiễn xét xử, có thể nhận thấy các hợp đồng phân  
phối sẽ không thuộc phạm vi áp dụng của Công  
ước. Tuy nhiên, các hợp đồng riêng biệt cho các  
đơn đặt hàng được xem là hợp đồng mua bán  
hàng hóa và được điều chỉnh bởi Công ước. Đối  
với hợp đồng trao đổi hàng hóa, Luật thương  
mại Việt Nam năm 2005 chưa có quy định về hợp  
đồng trao đổi hàng hóa, nhưng Bộ luật dân sự  
năm 2005 và Bộ luật dân sự năm 2015 đều có quy  
định về hợp đồng trao đổi tài sản: “Hợp đồng  
trao đổi tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên,  
theo đó, các bên giao tài sản và chuyển quyền sở  
hữu đối với tài sản cho nhau”26, đồng thời, khẳng  
định mỗi bên đều được coi là người bán đối với  
tài sản giao cho bên kia và là người mua đối với  
tài sản nhận về. Theo pháp luật Việt Nam, hợp  
đồng trao đổi hàng hóa là một dạng đặc biệt của  
hợp đồng mua bán hàng hóa. Do đó, theo cách  
2. Một số khuyến nghị  
Trên cơ sở phân tích các quy định của Công  
ước Viên 1980 về phạm vi áp dụng thông qua  
một số tranh chấp tiêu biểu, bài viết đưa ra một  
số khuyến nghị đối với các cơ quan nhà nước có  
thẩm quyền cũng như các doanh nghiệp trong  
quá trình áp dụng các điều khoản về phạm vi áp  
dụng như sau:  
Thứ nhất, Việt Nam đã trở thành thành viên  
của Công ước từ ngày 01/01/2017; do đó, tất cả  
các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa công ty có  
địa điểm kinh doanh tại Việt Nam và các đối tác  
có địa điểm kinh doanh tại các quốc gia khác sẽ tiếp cận của một số học giả, Công ước có thể áp  
dụng cho loại hợp đồng này nếu pháp luật quốc  
gia xem nó là một hợp đồng mua bán hàng hóa.  
mặc nhiên thuộc phạm vi áp dụng của Công ước.  
Tuy nhiên, cần hiểu rằng CISG được áp dụng  
không có nghĩa là luật quốc gia không còn vai trò  
gì nữa. Trật tự công cộng vẫn phải được tuân thủ  
và luật quốc gia vẫn điều chỉnh những vấn đề mà  
CISG không chạm tới.  
Thứ tư, một vấn đề khác các bên cần xét đến  
là: Liệu rằng các bên có thể lựa chọn áp dụng  
Công ước trong các trường hợp không thỏa mãn  
các điều kiện tiên quyết để áp dụng Công ước  
hay không? Đối với một quốc gia thành viên  
Công ước, đây là một trong những vấn đề quan  
trọng mà các doanh nghiệp cần quan tâm, đặc  
biệt là trong các hợp đồng hỗn hợp khi nghĩa vụ  
cung ứng dịch vụ là chủ yếu như Hợp đồng xây  
dựng hay các loại hợp đồng chìa khóa trao tay.  
Về nguyên tắc, Công ước sẽ không loại trừ phạm  
vi áp dụng đối với các hợp đồng này nếu các bên  
muốn lựa chọn áp dụng Công ước thông qua  
điều khoản chọn luật trong hợp đồng.  
Thứ hai, trong trường hợp một công ty có địa  
điểm kinh doanh tại Việt Nam ký kết một hợp  
đồng mua bán hàng hóa với một đối tác có địa  
điểm kinh doanh tại một quốc gia không phải là  
thành viên của Công ước thì hợp đồng này chỉ có  
thể được điều chỉnh bởi Công ước theo các quy  
tắc tại Điều 1.1.b. Cụ thể, nếu tranh chấp phát  
sinh và các bên khởi kiện tại một tòa án của Việt  
Nam thì tòa án sẽ áp dụng các quy tắc Tư pháp  
quốc tế của Việt Nam để xác định luật thực định  
áp dụng đối với quyền và nghĩa vụ của các bên  
theo hợp đồng. Quy phạm xung đột cho hợp  
đồng hiện hành là Điều 683 Bộ luật dân sự năm  
2015. Theo điểm a khoản 2 Điều 683 của Bộ luật,  
nếu các bên không thỏa thuận luật áp dụng thì  
luật của nước có mối liên hệ mật thiết nhất với  
hợp đồng là luật của nước nơi người bán cư trú  
nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu là pháp  
Thứ năm, Công ước cho phép việc loại trừ  
áp dụng Công ước, tuy nhiên, các bên phải thể  
hiện ý định loại trừ một cách rõ ràng hoặc ngầm  
định. Tuy vậy, từ khía cạnh doanh nghiệp, việc  
loại trừ áp dụng Công ước không phải là một lựa  
chọn được khuyến khích cho các doanh nghiệp  
Việt Nam. Trong các giao dịch mua bán hàng hóa  
quốc tế, nếu các bên loại trừ việc áp dụng Công  
nhân (đối với hợp đồng mua bán hàng hóa). Do ước, thay vào đó lựa chọn áp dụng pháp luật của  
một quốc gia khác, các bên sẽ phải đối mặt với  
nhiều vấn đề khó khăn trong việc tiếp cận và tìm  
hiểu các quy định của pháp luật nước ngoài khi  
tranh chấp xảy ra./.  
đó, luật thực định trong trường hợp này là luật  
của nước người bán. Nếu người bán là công ty  
của Việt Nam thì Công ước được áp dụng thay  
cho luật quốc gia Việt Nam bởi Công ước lúc này  
đã trở thành một phần nội luật của Việt Nam.  
Ngược lại, nếu người bán là đối tác thì luật của  
26ꢀ Khoản 1 Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2005 và  
nước đó sẽ được áp dụng để giải quyết tranh khoản 1 Điều 455 Bộ luật dân sự năm 2015  
114 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
pdf 7 trang Thùy Anh 12180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích phạm vi áp dụng của công ước viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và khuyến nghị áp dụng cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_tich_pham_vi_ap_dung_cua_cong_uoc_vien_1980_ve_hop_dong.pdf