Hình thức của di chúc theo quy định của bộ luật dân sự năm 2015

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015  
Nguyễn Thanh Thư*  
Nguyễn Thị Ngọc Tuyền**  
*ThS. Giảng viên Bộ môn Luật Tư pháp, Khoa Luật, Đại học Cần Thơ.  
**ThS. GVC. Giảng viên Bộ môn Luật Tư pháp, Khoa Luật, Đại học Cần Thơ.  
Tóm tắt:  
Thông tin bài viết:  
Hình thức di chúc là mꢀt điều kiện quan trọng của di chúc. Do vậy, để bảo vệ  
được quyền của người để lại di sản trong việc thể hiện ý chí của họ, bên cạnh việc  
quy định chặt chẽ về hình thức di chúc để tránh tình trạng giả mạo di chúc, cꢁn  
phải đảm bảo tôn trọng quyền tự do ý chí và sự lựa chọn hình thức lập di chúc  
của người để lại di sản thừa kế.  
Từ khóa: Di chúc, hình thức di  
chúc, Bꢀ luật Dân sự năm 2015.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 22/3/2021  
: 07/4/2021  
: 09/4/2021  
Abstract:  
Article Infomation:  
The formality of the will is an important condition of the will. Therefore, in order  
to protect the right of the property leavers in expressing their wishes, in addition  
to strict regulations on the formality of wills to avoid forgery of wills, it is to  
ensure respect of the right to freedom of the formality of will to the heirs.  
Keywords:  
formality of will; the Civil Code of  
2015.  
Testamentary/will;  
Article History:  
Received  
Edited  
: 22 Mar. 2021  
: 07 Apr. 2021  
: 09 Apr. 2021  
Approved  
1. Di chúc bằng văn bản  
quan trưởng thì ngoài việc bị phạt, di chúc  
sẽ không có giá trị. Mặt khác, chúc thư phải  
Từ thời kỳ phong kiến, Bꢀ luật Hꢂng Đức  
thời nhà Lê đã quy định, “những người làm  
chúc thư, văn khế mà không nhờ quan trưởng  
trong làng viết thay và chứng kiến, thì phải  
phạt từ 80 trượng, phạt tiền theo việc nặng  
nhẹ. Chúc thư văn khế ấy không có giá trị.  
Nếu biết chữ mà viết lấy thì được”1. Quy định  
này cho thấy, người có tài sản có thể tự mình  
viết chúc thư, nếu người để lại di sản không  
biết chữ thì chỉ được nhờ quan trưởng viết  
thay, không được nhờ người khác. Nếu nhờ  
người khác viết hꢀ di chúc mà không nhờ  
có người làm chứng là người có chức sắc xã  
hꢀi, là người đứng đꢁu họ tꢀc hoặc hương chủ  
làm chứng. Quy định này nhằm đảm bảo tính  
khách quan của di chúc, tránh những tranh  
chấp về chữ viết, nꢀi dung của di chúc. Từ  
quy định này cũng thấy rõ đã có sự phân loại  
rất cụ thể di chúc bằng văn bản: tự lập hoặc  
nhờ người khác lập và có người làm chứng.  
Đến thời nhà Nguyễn, trong Hoàng Việt Luật  
Lệ không có nhiều quy định về thừa kế nên  
đã không đề cập cụ thể đến hình thức di chúc.  
Đến giai đoạn pháp luật hiện đại, những quy  
1 Điều 366, Bꢀ luật Hꢂng Đức.  
44  
Số 14(438) - T7/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
định hình thức di chúc bằng văn bản có sự  
tiếp nꢃi và thay đổi cho phù hợp. Hiện nay,  
theo quy định của Bꢀ luật Dân sự năm 2015  
(BLDS), di chúc bằng văn bản có 4 loại sau:  
di chúc bằng văn bản không có người làm  
chứng, di chúc bằng văn bản có người làm  
chứng, di chúc có công chứng hoặc chứng  
thực và di chúc có giá trị tương đương như di  
chúc được công chứng hoặc chứng thực.  
ký vào bản di chúc mà thay vào đó là điểm  
chỉ vào bản di chúc thì di chúc đó có giá trị  
hay không? Hoặc thậm chí người đó đã tự  
tay mình viết bản di chúc nhưng lại không  
ký vào bản di chúc. Nếu xét theo quy định  
của BLDS thì di chúc được lập như vậy sẽ  
vi phạm quy định về điều kiện hình thức  
và sẽ bị vô hiệu. Trên thực tế, nhiều trường  
hợp chỉ mꢀt mình người lập di chúc biết về  
nꢀi dung di chúc, nên để có thể làm cơ sở,  
làm bằng chứng cho việc phân chia tài sản,  
bản di chúc này phải do người lập di chúc tự  
viết và ký vào bản di chúc. Việc mꢀt người  
đã tự tay mình viết bản di chúc thì cũng sẽ  
thuận lợi trong việc ký vào bản di chúc mà  
không xem xét đến vấn đề điểm chỉ.  
1.1. Di chúc bằng văn bản không có  
người làm chứng  
Về di chúc bằng văn bản không có người  
làm chứng thì BLDS quy định: “Người lập  
di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc”2.  
Đây là loại di chúc do người lập di chúc phải  
tự tay viết vào bản di chúc, sẽ không chấp  
nhận đánh máy hoặc lưu trữ dưới dạng nào  
khác như viết trên máy tính bảng, viết và  
lưu vào các phꢁn mềm trên điện thoại, máy  
tính3,… mà chỉ có thể thể hiện trên bản giấy.  
Chúng ta có thể thấy quy định của pháp luật  
về hình thức của di chúc bằng văn bản không  
có người làm chứng khá là chặt chẽ. Di chúc  
được thể hiện dưới hình thức này phải thỏa  
mãn hai điều kiện: (1) người để lại di sản  
thừa kế tự tay viết bản di chúc; (2) người này  
phải tự tay ký vào bản di chúc. Do vậy, ở  
mỗi trang phải được đánh sꢃ thứ tự và có  
chữ ký của người lập di chúc. Quy định khắt  
khe nhằm tránh tình trạng di chúc của người  
để lại di sản bị người khác sꢄa đổi, thay thế,  
bị giả mạo… Trong trường hợp cꢁn kiểm tra  
tính xác thực bản di chúc nếu tranh chấp xảy  
ra thì có thể giám định chữ viết trong bản di  
chúc, chữ ký của bản di chúc là được.  
Tuy nhiên, nếu bắt buꢀc rằng phải có  
chữ ký trong bản di chúc mà không xem xét  
đến vấn đề điểm chỉ hoặc thậm chí không  
cꢁn chữ ký thì dường như quy định đang  
không mang tính linh hoạt. Trong An lệ sꢃ  
07/2016/AL: Bên mua chưa ký tên vào hợp  
đꢂng mua bán nhưng bên mua là người giữ  
hợp đꢂng thì hướng giải quyết của Tòa án  
là vẫn công nhận hợp đꢂng mua bán4. Mặc  
dù mꢃi quan hệ hợp đꢂng có tính chất hoàn  
toàn trái ngược với hành vi lập di chúc. Tuy  
nhiên, Án lệ này chứng minh mꢀt vấn đề,  
hợp đꢂng thiếu đi mꢀt chữ ký thì vẫn có thể  
dựa vào các chứng cứ khác để xác định ý chí  
của các bên khi giao kết hợp đꢂng. Quay trở  
lại đꢃi với di chúc, di chúc khi đã có chứng  
cứ chứng minh rằng di chúc là do tự bản thân  
người để lại di sản thừa kế viết, di chúc đúng  
với ý chí của người để lại di sản thừa kế thì  
việc có chữ ký hay không có chữ ký, được  
điểm chỉ thay vì là ký sẽ không còn là quan  
trọng nữa. Mặt khác, chữ ký của con người  
Vậy trong trường hợp nếu người lập di  
chúc đã tự tay viết bản di chúc nhưng không  
2 Điều 633 BLDS .  
3 Điều 1 Luật Giao dịch điện tꢄ.  
4 Xem thêm Án lệ sꢃ 07/2016/AL tại Trang thông tin diện tꢄ án lệ của Tòa án nhân dân tꢃi cao, https://anle.  
toaan.gov.vn/webcenter/portal/anle/chitietanle?dDocName=TAND014305 (truy cập ngày 3/6/2021).  
Số 14(438) - T7/2021  
45  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
có thể khác nhau theo thời gian. Vì vậy, việc  
xác định chữ ký của người lập di chúc là mꢀt  
vấn đề không đơn giản. Trong khi đó, tính  
chính xác của việc điểm chỉ có đꢀ tin cậy  
cao hơn so với chữ ký, vì điểm chỉ để lại dấu  
vân tay mà dấu vân tay thì khoa học hình sự  
đã chứng minh được tính cá biệt của nó. Mặt  
khác, dấu vân tay của mꢀt người cụ thể được  
thể hiện trên giấy chứng minh nhân dân của  
người đó được lưu giữ ở cơ quan công an.  
Vì vậy, nếu có tranh chấp xảy ra thì việc xác  
định dấu vân tay để lại trên di chúc lúc đó có  
đúng là của người để lại di sản hay không là  
việc làm đơn giản hơn, chính xác hơn so với  
việc giám định chữ ký của người để lại di  
chúc. Chính vì vậy, tác giả cho rằng, cꢁn sꢄa  
đổi Điều 633 BLDS theo hướng “người lập  
di chúc phải tự viết vào bản di chúc”. Việc  
ký tên, điểm chỉ có hay không là không bắt  
buꢀc. Quy định này sẽ mang tính linh hoạt để  
cho người để lại di sản thừa kế quyền được  
lựa chọn mà cũng không mất đi tính an toàn  
của di chúc.  
thể tự mình đánh máy bản di chúc; (2) nhờ  
người khác viết hꢀ hoặc đánh máy hꢀ bản  
di chúc. Trên thực tế, có nhiều nguyên nhân  
dẫn đến việc mꢀt người không tự mình viết  
bản di chúc, có thể do không biết chữ (trình  
đꢀ học vấn), trường hợp người lập di chúc có  
thể tự mình lập di chúc nhưng người đó lại  
không muꢃn tự viết, do sức khỏe đang yếu  
không tiện viết di chúc,…  
Đây là điểm mới của BLDS năm 2015  
so với BLDS năm 2005. Bản chất quy định  
này là rất tiến bꢀ và phù hợp với thực tiễn,  
với xu hướng phát triển của xã hꢀi hiện nay  
vì chấp nhận bản đánh máy của di chúc chứ  
không cứ bắt buꢀc phải thể hiện bằng bản  
viết tay. Việc người lập di chúc tự đánh máy  
bản di chúc hoặc người đó nhờ đánh máy  
bản di chúc vẫn đảm bảo tính xác thực của  
bản di chúc vì còn có sự tham gia của người  
làm chứng5. Người làm chứng là cơ sở cho  
việc khẳng định tính đúng đắn, tính xác thực  
của di chúc. Hoặc trường hợp, người để lại  
di sản thừa kế tự mình đánh máy bản di chúc  
thì cũng thông qua người làm chứng để xác  
nhận đây chính là ý chí của người để lại di  
sản thừa kế. Sự thể hiện ý chí của người để  
lại di sản thừa kế, người làm chứng được  
chứng minh thông qua việc họ sẽ ký vào bản  
di chúc hoặc điểm chỉ vào bản di chúc.  
1.2. Di chúc bằng văn bản có người  
làm chứng  
Điều 634 BLDS quy định: “Trường hợp  
người lập di chúc không tự mình viết bản  
di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc  
nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di  
chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm  
chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm  
chỉ vào bản di chúc trước mặt những người  
làm chứng; những người làm chứng xác  
nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc  
và ký vào bản di chúc”. Người lập di chúc  
không tự mình viết bản di chúc vì mꢀt sꢃ  
lý do nhất định nào đó có thể lựa chọn hình  
thức di chúc này. Hình thức di chúc bằng văn  
bản có người làm chứng cho phép người để  
lại di sản thừa kế có hai lựa chọn: (1) họ có  
Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 630 BLDS  
quy định, di chúc của người bị hạn chế về  
thể chất hoặc của người không biết chữ  
phải được người làm chứng lập thành văn  
bản và có công chứng hoặc chứng thực. Để  
làm rõ hơn quy định này cꢁn phải giải thích  
người như thế nào là người bị hạn chế về  
thể chất. Người bị hạn chế thể chất là người  
có khiếm khuyết về thể chất như mù lòa, tay  
chân không lành lặn, bị câm, bị điếc,… Có  
những trường hợp người bị hạn chế thể chất  
5 Đỗ Văn Đại, “Luật thừa kế Việt Nam, Bản án và bình luận bản án”, tập 1, Nxb. Chính trị quꢃc gia, 2013,  
tr.419.  
46  
Số 14(438) - T7/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
không thể đọc được nꢀi dung bản di chúc  
của mình khi người viết hꢀ viết. Nhưng sẽ  
có trường hợp người bị hạn chế thể chất vẫn  
có thể xác định được rất rõ nꢀi dung di chúc  
của mình khi nhờ người viết hꢀ viết hoặc  
đánh máy hꢀ bản di chúc. Vậy thì có cꢁn  
thiết phải bắt buꢀc đi công chứng bản di  
chúc này không, hay chỉ cꢁn chính bản thân  
người đó và người làm chứng xác nhận. Do  
vậy, tác giả cho rằng, Tòa án nhân dân tꢃi  
cao cꢁn ban hành văn bản hướng dẫn xác  
định cụ thể nhóm đꢃi tượng sẽ áp dụng  
khoản 3 Điều 630 BLDS, trong đó cꢁn loại  
trừ mꢀt sꢃ đꢃi tượng để họ có thể lựa chọn  
hình thức di chúc có người làm chứng.  
đã tự mình viết mꢀt di chúc khác có mꢀt phꢁn  
nꢀi dung thay đổi di chúc ban đꢁu đã được  
công chứng và yêu cꢁu: Sau này, việc chia  
thừa kế phải dựa vào di chúc được lập ban  
đꢁu có công chứng và di chúc do ông tự lập. Ý  
nguyện của ông A phù hợp với quy định của  
BLDS nhưng không phù hợp với quy định  
của Luật Công chứng.  
Quy định của Luật Công chứng năm  
2014 không tạo điều kiện cho người để lại  
di sản thừa kế lựa chọn loại hình di chúc.  
Tác giả cho rằng, người để lại di sản thừa  
kế phải được quyền lựa chọn loại hình thức  
di chúc trong giới hạn luật cho phép. Vì vậy,  
cꢁn sꢄa đổi khoản 3 Điều 56 Luật Công  
chứng năm 2014 theo hướng bỏ quy định  
bắt buꢀc này.  
1.3. Di chúc bằng văn bản có công chứng  
Theo quy định của BLDS, người lập di  
chúc có thể yêu cꢁu công chứng hoặc chứng  
thực bản di chúc6. Khoản 3 Điều 56 Luật  
Công chứng năm 2014 quy định: “Di chúc đã  
được công chứng nhưng sau đó người lập di  
chúc muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ  
một phần hoặc toàn bộ di chúc thì có thể yêu  
cầu bất kỳ công chứng viên nào công chứng  
việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ  
đó. Trường hợp di chúc trước đó đang được  
lưu giữ tại một tổ chức hành nghề công chứng  
thì người lập di chúc phải thông báo cho tổ  
chức hành nghề công chứng đang lưu giữ  
di chúc biết việc sửa đổi, bổ sung, thay thế,  
hủy bỏ di chúc đó”7. Quy định này yêu cꢁu  
việc sꢄa đổi, bổ sung di chúc trước đó được  
công chứng vẫn phải công chứng lại phꢁn sꢄa  
đổi, bổ sung. Trong khi đó, Điều 640 BLDS  
không đặt ra yêu cꢁu về hình thức đꢃi với việc  
sꢄa đổi, bổ sung di chúc. Từ hai quy định này  
có thể dẫn đến vấn đề sau: chẳng hạn ông A  
trước khi chết có lập mꢀt di chúc được mang  
đi công chứng và được gꢄi lưu giữ tại Phòng  
công chứng. Sau đó, mꢀt thời gian khi ông A  
2. Di chúc miệng  
Theo quy định của khoản 5 Điều 630  
BLDS, di chúc miệng chỉ được xem là hợp  
pháp nếu đáp ứng những điều kiện về hình  
thức sau đây: người di chúc miệng thể hiện  
ý chí cuꢃi cùng của mình trước mặt ít nhất  
hai người làm chứng; ngay sau khi người di  
chúc miệng thể hiện ý chí cuꢃi cùng, người  
làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc  
điểm chỉ; trong thời hạn 05 ngày làm việc,  
kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý  
chí cuꢃi cùng thì di chúc phải được công  
chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền  
chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ  
của người làm chứng. Tuy nhiên, tác giả cho  
rằng, quy định này còn mꢀt sꢃ bất cập sau:  
Thứ nhất, về thời hạn đi công chứng,  
chứng thực di chúc miệng. Theo quy định của  
BLDS, thời hạn này là 5 ngày làm việc kể từ  
thời điểm người để lại di sản thừa kế thể hiện  
ý chí của mình ra bên ngoài. Vì sao BLDS  
giới hạn thời hạn công chứng, chứng thực  
6 Điều 635 BLDS.  
7 Khoản 3 Điều 56 Luật Công chứng.  
Số 14(438) - T7/2021  
47  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
trong khoảng thời gian chỉ có 5 ngày ngắn  
ngủi? Việc giới hạn khoảng thời gian sẽ có tác  
dụng gì trong trường hợp này? Tác giả cho  
rằng, quy định này nhằm mục đích bảo đảm  
sự an toàn và tính hợp pháp cho di chúc miệng  
đã được lập, không ảnh hưởng đến quyền lợi  
của người để lại di sản thừa kế. Bởi lẽ, bất  
kỳ bất trắc nào đó xảy ra dẫn đến người làm  
chứng không thể công chứng, chứng thực di  
chúc được sẽ ảnh hưởng đến hiệu lực của di  
chúc miệng đã được lập. Ví dụ, trường hợp  
mꢀt trong hai người làm chứng lại xảy ra  
chuyện mà chưa kịp công chứng, chứng thực  
di chúc. Ngoài ra, cꢁn phải giới hạn thời gian  
vì di chúc miệng có thể bị ảnh hưởng nếu sau  
3 tháng kể từ thời điểm người để lại di sản  
thừa kế thể hiện ý chí còn sꢃng, minh mẫn,  
sáng suꢃt8. Do vậy, luật giới hạn thời gian  
công chứng, chứng thực di chúc miệng.  
di chúc vì việc công chứng, chứng thực di  
chúc chỉ là thực hiện cho đúng về hình thức  
theo như yêu cꢁu. Bởi lẽ, về bản chất, những  
người làm chứng đã xác nhận đây đúng là  
di chúc của người để lại di sản thừa kế. Bên  
cạnh đó, việc công chứng, chứng thực chỉ là  
xác nhận chữ ký của người làm chứng. Do  
vậy, không thể vì thiếu công chứng, chứng  
thực mà lại không công nhận di chúc này9.  
Thứ hai, về chủ thể được quyền để lại di sản  
thừa kế bằng hình thức di chúc miệng: Theo  
quy định của BLDS, người bị hạn chế về thể  
chất, người không biết chữ chỉ có thể lập di  
chúc thông qua việc người làm chứng thể hiện  
dưới văn bản. Văn bản này sau đó được mang  
đi công chứng hoặc chứng thực10. Quy định  
này có thể được hiểu theo hai cách sau:  
Cách thứ nhất, người hạn chế về thể  
chất, người không biết chữ chỉ có thể lập  
di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc  
chứng thực.  
Tuy nhiên, việc giới hạn thời điểm 5  
ngày là quá ngắn. Bởi lẽ, người lập di chúc  
miệng là những người đang ở trong tình  
trạng tính mạng bị cái chết đe dọa, có thể  
là bệnh nặng sắp chết hay gặp hoạn nạn,…  
Sau khi người lập di chúc miệng chết, gia  
đình phải lo tang lễ mất ba đến năm ngày  
nên không thể kịp công chứng, chứng thực  
di chúc trong thời gian luật định. Vì vậy,  
để bảo đảm tính khả thi của hình thức di  
chúc miệng, tác giả cho rằng, cꢁn sꢄa đổi  
khoản 5 Điều 630 BLDS theo hướng kéo  
dài thời hạn đi công chứng, chứng thực di  
chúc miệng lên thành 07 ngày làm việc.  
Cách thứ hai, người bị hạn chế về thể  
chất, người không biết chữ có thể lập di  
chúc bằng miệng. Bởi lẽ, theo quy định của  
khoản 3 Điều 630 BLDS, người làm chứng  
phải lập thành văn bản và có công chứng  
hoặc chứng thực. Đây cũng là mꢀt điều kiện  
đꢃi với di chúc miệng. Cách hiểu này đảm  
bảo quyền lựa chọn và sự tự do ý chí của  
người để lại di sản thừa kế theo di chúc là  
đꢃi tượng thuꢀc nhóm người đặc biệt.  
Tuy nhiên, để tránh việc suy luận ra hai  
cách hiểu như trên, tác giả cho rằng, cꢁn sꢄa  
đổi khoản 3 Điều 630 BLDS theo hướng  
quy định rõ, người bị hạn chế về thể chất,  
người không biết chữ có thể lập di chúc  
Mặtkhác, trongthờigianngườilàmchứng  
đang đi công chứng, chứng thực di chúc mà  
người để lại di sản thừa kế chết thì liệu rằng  
di chúc có thỏa mãn điều kiện về hình thức  
hay không? Tác giả cho rằng, cꢁn công nhận  
bằng miệng  
8 Khoản 2 Điều 629 BLDS 2015.  
9 Xem thêm Đỗ Văn Đại, “Bình luận khoa học Những điểm mới của BLDS năm 2015”, Nxb. Hꢂng Đức - Hꢀi  
Luật gia Việt Nam, 2016, tr.572.  
10 Khoản 3 Điều 630 BLDS.  
48  
Số 14(438) - T7/2021  
pdf 5 trang Thùy Anh 10860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hình thức của di chúc theo quy định của bộ luật dân sự năm 2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhinh_thuc_cua_di_chuc_theo_quy_dinh_cua_bo_luat_dan_su_nam_2.pdf