Điều chỉnh điều khoản hợp đồng không công bằng trong pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của một số nước Asean và những liên hệ với Việt Nam

ĐIỀU CHỈNH ĐIỀU KHOẢN HỢP ĐỒNG KHÔNG CÔNG BẰNG TRONG  
PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG CỦA MỘT SỐ  
NƯỚC ASEAN VÀ NHỮNG LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM  
Trần Thăng Long1  
Tóm tắt: Bài viết tìm hiểu khái niệm và quy định pháp luật điều chỉnh điều khoản  
hợp đồng không công bằng của một số quốc gia tiêu biểu trong ASEAN. Đồng thời, bài  
viết nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này để có sự liên hệ và  
so sánh với pháp luật của các quốc gia nói trên. Trên cơ sở đó, bài viết thảo luận một  
số kinh nghiệm và đề xuất cho Việt Nam nhằm hoàn thiện chế định pháp luật này.  
Từ khóa: điều khoản hợp đồng không công bằng, người tiêu dùng, ASEAN, luật  
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, điều khoản tiêu chuẩn  
Abstract: The article explores the concept and legal provisions governing unfair  
contract terms of some typical ASEAN countries. At the same time, the article studies  
provisions of Vietnamese law on this issue in order to refer and compare with the laws  
of the above countries. On that basis, the article draws experiences and discusses  
recommendations for Vietnam to improve this legal framework.  
Keywords: unfair contract terms, consumer, ASEAN, consumer protection law,  
standard clause.  
1. Đặt vấn đề  
Khái niệm “điều khoản không công bằng” xuất hiện trong pháp luật của nhiều quốc gia  
trên thế giới. Mặc dù các cách thể hiện cũng như quy định cấm đoán/điều chỉnh có khác  
nhau, các điều khoản này về cơ bản là những điều khoản trong các hợp đồng tiêu dùng  
(là hợp đồng được giao kết giữa một bên là tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch  
1
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Luật học, P. Trưởng Khoa Ngoại ngữ Pháp lý, Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh. Email:  
279  
vụ (thương nhân) và bên còn lại là người tiêu dùng (là những cá nhân, tổ chức mua, sử  
dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ  
chức).2 Đây là những hợp đồng cũng có tính chất kinh doanh, thương mại với việc mục  
đích của nó là đem lại lợi nhuận cho bên thương nhân. Các hợp đồng này chủ yếu được  
thiết lập ở dạng hợp đồng tiêu chuẩn do thương nhân đơn phương soạn thảo và bao gồm  
các điều khoản và điều kiện chung mà không xuất phát từ sự thương lượng trực tiếp  
giữa người tiêu dùng và thương nhân. Điều khoản hợp đồng không công bằng được  
định nghĩa theo pháp luật của các quốc gia về cơ bản là điều khoản có nội dung nhằm  
miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ  
quyền lợi chính đáng của bên kia… đây là các điều khoản hợp đồng thiếu thiện chí,  
chứa đựng sự bất cân xứng đáng kể về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng,  
dẫn đến thiệt hại cho người tiêu dùng là bên yếu thế trong các quan hệ tiêu dùng.  
Chẳng hạn, theo Luật điều khoản không công bằng của ꢀc (UCTL) và Luật Người tiêu  
dùng ꢀc (ACL) thì một điều khoản của hợp đồng tiêu dùng sẽ không công bằng nếu  
như “nó gây ra sự mất cân bằng đáng kể về quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh  
theo hợp đồng” và những điều khoản này là “không cần thiết một cách hợp lý để bảo  
vệ lợi ích của bên có được điều kiện thuận lợi hơn” cũng như “điều đó sẽ gây ra thiệt  
hại (cho dù tài chính hay cách khác) cho một bên nếu nó được áp dụng hoặc dựa vào”3.  
Theo pháp luật của Cộng hòa Pháp, một điều khoản hợp đồng là không công bằng khi:  
(i) gây ra sự mất cân bằng đáng kể trong các quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh  
theo hợp đồng, gây bất lợi cho người tiêu dùng, và (ii) nó được áp dụng đối với người  
tiêu dùng theo cách trái với yêu cầu thiện chí”4. Còn theo Điều 3(1) Chỉ thị số  
93/13/EEC của Uỷ ban châu Âu năm 1993 về các điều khoản không công bằng thì “Điều  
khoản mẫu là bất công [và vô hiệu] nếu điều khoản đó đi ngược lại với yêu cầu về sự  
thiện chí, dẫn đến một sự bất cân xứng đáng kể đối với quyền và nghĩa vụ của các bên  
phát sinh từ hợp đồng, gây bất lợi cho người tiêu dùng”5  
2 Điều 3 khoản 1 Luật Bảo vệ Quyền lợi Người tiêu dùng Việt Nam năm 2010.  
3
Jeannie Paterson, Critique and Comment The Australian Unfair Contract Terms Law:  
4 Al-Anzy, Sami M. Al-Hathal (2014) Unfair contract terms under the Kuwaiti civil code: a critical analysis and  
suggestions for reform. PhD thesis.  
5 TS. Đỗ Giang Nam, “Từ công bằng thủ tục đến công bằng nội dung: Thành tựu và thách thức của chế định kiểm  
soát điều khoản mẫu trong pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 06 (406), tháng 3/2020.  
280  
Đối với ASEAN, hầu hết các quốc gia đều đã có luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu  
dùng,6 ngoại trừ Campuchia.7 Trong hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu  
dùng, các quy định điều chỉnh hành vi sử dụng điều khoản hợp đồng không công bằng  
thường được quy định là một nội dung quan trọng trong pháp luật về bảo vệ quyền lợi  
người tiêu dùng cũng như điều chỉnh bằng nhiều đạo luật khác nhau có liên quan.8  
Bài viết tìm hiểu khái niệm và quy định pháp luật điều chỉnh điều khoản hợp đồng  
không công bằng của một số quốc gia tiêu biểu trong ASEAN. Đồng thời, bài viết  
nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này để có sự liên hệ và so  
sánh với pháp luật của các quốc gia nói trên. Trên cơ sở đó, bài viết thảo luận một số  
kinh nghiệm và đề xuất cho Việt Nam nhằm hoàn thiện chế định pháp luật này.  
2. Điều chỉnh điều khoản hợp đồng không công bằng trong pháp luật bảo vệ  
quyền lợi người tiêu dùng của các nước ASEAN  
2.1. Khái niệm “điều khoản hợp đồng không công bằng”  
Nhìn chung, “điều khoản hợp đồng không công bằng” hoặc “hành vi sử dụng điều khoản  
hợp đồng không công bằng” không được giải thích cụ thể và chi tiết trong pháp luật về  
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của các quốc gia ASEAN. Thay vào đó, điều khoản  
hợp đồng không công bằng được hiểu chung là việc việc thương nhân (người bán, tổ  
chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ) sử dụng các điều khoản nhằm gây bất lợi  
hoặc sử dụng chúng nhằm mục đích gây bất lợi cho người tiêu dùng (người mua, người  
sử dụng hàng hóa, dịch vụ).  
Cách sử dụng khái niệm cũng có sự khác nhau trong pháp luật của các quốc gia ASEAN.  
Một số quốc gia sử dụng thuật ngữ “điều khoản hợp đồng không công bằng” (unfair  
6
Ở Brunei Darussalam là Lệnh bảo vệ người tiêu dùng (Thương mại Công bằng), 2011 (CPFTO), được thông  
qua vào tháng 11 năm 2011 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2012. Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng  
được thông qua từ năm 2010. Indonesia: Luật chính về bảo vệ người tiêu dùng ở Indonesia là Luật số 8 năm 1999  
về Bảo vệ người tiêu dùng, có hiệu lực vào ngày 20 tháng 4 năm 2000; Luật Bảo vệ Người tiêu dùng Malaysia  
(CPA) năm 1999; Đạo luật Bảo vệ Người tiêu dùng (Thương mại Công bằng) (CPFTA) 2003 của Singapore hiện  
là đạo luật chính về bảo vệ người tiêu dùng ở Singapore. Đạo luật đã trải qua nhiều vòng sửa đổi, lần gần đây nhất  
là vào năm 2016. Tại Myanmar, Luật Bảo vệ Người tiêu dùng (Consumer Protection Law) năm 2014 được thông  
qua vào 14.3.2014 và được sửa đổi phù hợp với tình hình mới. Luật Bảo vệ Người tiêu dùng mới đã được thông  
qua vào ngày 15.3.2019 gồm 25 Chương và 84 mục.  
7
Hiện tại, Campuchia chưa có luật bảo vệ người tiêu dùng toàn diện và nước này đang soạn thảo luật bảo vệ  
quyền lợi người tiêu dùng của nước này. Luật bảo vệ người tiêu dùng gần nhất mà Campuchia có là Luật Quản lý  
Chất lượng và An toàn Sản phẩm 2000 (LMQSP).  
8 Chẳng hạn, việc áp dụng “điều khoản mẫu” là một trong những nội dung điều chỉnh của Luật Bảo vệ quyền lợi  
người tiêu dùng Indonesia năm 1999. Đạo luật về điều khoản hợp đồng không công bằng của Brunei năm 1999  
có quy định về các điều khoản hợp đồng không công bằng.  
281  
contract terms) hoặc “điều khoản loại trừ” (exemption clause) hoặc “điều khoản tiêu  
chuẩn” (standard clause”. Cho dù được gọi tên như thế nào, nội dung chính của các đạo  
luật liên quan đến các điều khoản này bao gồm các vấn đề chính: (i) định nghĩa về điều  
khoản; (ii) những quy định nhằm loại trừ/cấm đoán các hành vi sử dụng điều khoản  
nhằm gây bất lợi cho người tiêu dùng.  
Chẳng hạn, theo Đạo luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Brunei năm 2011  
(CPFTO),9 “sử dụng các điều khoản hợp đồng không công bằng” được coi là việc lợi  
dụng người tiêu dùng thông qua việc đưa vào thỏa thuận giao dịch các điều khoản hoặc  
điều kiện khắc nghiệt, áp bức hoặc gây khó khăn quá mức cho một bên.10 Trong khi  
đó, theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Indonesia năm 1999, hành vi sử  
dụng điều khoản không công bằng được điều chỉnh bởi các quy định về “các điều khoản  
mẫu” (standard clause)11. Mặc dù không đề cập cụ thể về việc sử dụng chúng trong  
giao kết hợp đồng, đạo luật nghiêm cấm hành vi áp đặt đơn phương đối với người tiêu  
dùng chúng có các hoặc tìm cách chuyển giao trách nhiệm của chủ thể kinh doanh và  
có những quy định chi tiết về những hành vi bị cấm khi sử dụng các điều khoản mẫu.12  
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Malaysia năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm  
201913 định nghĩa cụ thể về “điều khoản hợp đồng không công bằng”.14 Theo đó, đây  
là những điều khoản trong hợp đồng tiêu dùng, đối với tất cả các trường hợp, gây ra sự  
mất cân bằng đáng kể về quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh trong hợp đồng, làm  
phương hại đến khách hàng. (Mục 24a (c)).15  
Các điều khoản hợp đồng không công bằng ở Myanmar được quy định theo Đạo luật  
hợp đồng 1872, Đạo luật bán hàng hóa 1930 và Đạo luật khắc phục đặc biệt 1877. Luật  
Bảo vệ người tiêu dùng 2014 cũng có một số cách diễn đạt liên quan đến hợp đồng.  
9
No.  
s64,  
Consumer  
Protection  
(Fair  
Trading)  
Order,  
2011.  
10 Section 4(d), Second Schedule, point 11 (taking advantage of a consumer by including an agreement terms or  
conditions that are harsh, oppressive, or excessively one-sided so as to be unconscionable.  
11 Theo Điều 1 khoản 10 “Standard Clause is any regulations or provisions and conditions unilaterally prepared  
and predetermined by the entrepreneurs in the form of a document and/or an agreement which is binding and must  
be met by the consumers.  
12  
Luật số 08 Consumer Protection Law 1999, Chương V, Điều 18, khoản 1.  
13 Đạo luật Bảo vệ Người tiêu dùng 1999 bao gồm 14 phần và tổng số 150 phần, có hiệu lực vào ngày 15 tháng  
11  
năm  
1999  
14 Part IIIA, “Unfair Contract Terms”,  
15  
“unfair term” means a term in a consumer contract which, with regard to all the circumstances, causes a  
significant imbalance in the rights and obligations of the parties arising under the contract to the detriment of the  
consumer.  
282  
Theo Đạo luật Hợp đồng, các hợp đồng và thỏa thuận được ký kết không phải do sự  
đồng ý của cả hai bên mà do “ép buộc”, “gây áp lực”, “gian lận”, “trình bày sai sự thật  
”và “nhầm lẫn” sẽ được coi là bất hợp pháp và do đó “vô hiệu” (Phần 14-22).  
Luật của Philippines16 không có định nghĩa chi tiết về “điều khoản hợp đồng không  
công bằng” nhưng xác định một hành động hoặc thực hành được coi là không công  
bằng và vô lương tâm nếu nhà sản xuất, nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà cung cấp hoặc  
người bán đã tận dụng sự yếu thế của người tiêu dùng trong việc bảo vệ lợi ích của mình  
một cách hợp lý vì không thể hiểu ngôn ngữ của thỏa thuận hoặc các yếu tố tương tự.  
Điều 52 giải thích hành vi thương mại không công bằng hoặc không hợp lý được hiểu  
là mỗi khi nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà cung cấp hoặc người bán lợi dụng vị thế  
yếu hơn về thể chất và tinh thần, sự thiếu thông tin, kiến thức, hạn chế về thời gian hoặc  
những điều kiện chung của môi trường xung quanh nhằm dụ dỗ người tiêu dùng ký kết  
các hợp đồng mua bán hoặc cho thuê.17  
Thái Lan có hai luật điều chỉnh điều khoản hợp đồng không công bằng cho người tiêu  
dùng là Đạo luật Bảo vệ Người tiêu dùng năm 1979 (CPA)18 và Đạo luật về Điều khoản  
Hợp đồng Không công bằng năm 1997.19 Cụ thể, Mục số 4 Đạo luật về Điều khoản  
Hợp đồng không công bằng định nghĩa “Các điều khoản trong hợp đồng giữa người  
tiêu dùng và doanh nghiệp, thương mại hoặc nhà điều hành chuyên nghiệp hoặc trong  
hợp đồng mẫu tiêu chuẩn hoặc trong hợp đồng mua bán có quyền mua lại khiến cho  
thương nhân hoặc nhà điều hành chuyên nghiệp hoặc bên quy định về hình thức tiêu  
chuẩn hợp đồng hoặc người mua ở vào một vị thế bất hợp lý so với bên kia sẽ được coi  
là các điều khoản hợp đồng không công bằng và chỉ có hiệu lực trong chừng mực chúng  
công bằng và hợp lý tùy theo hoàn cảnh”.20  
16 Republic Act No. 7394 the Consumer Act of the Philippines 1991.  
17 An act or practice shall be deemed unfair or uncionscionable whenever the producer, manufacturer, distributor,  
supplier or seller, by taking advantage of the consumer's physical or mental infirmity, ignorance, illiteracy, lack  
of time or the general conditions of the environment or surroundings, induces the consumer to enter into a sales  
or lease transaction.  
18  
Consumer  
protection  
Act,  
B.E.  
2522  
(1979).  
20 Section 4 The terms in a contract between the consumer and the business, trading or professional operator or in  
a standard form contract or in a contract of sale with right of redemption which render the business, trading or  
professional operator or the party prescribing the standard form contract or the buyer an unreasonable advantage  
over the other party shall be regarded as unfair contract terms, and shall only be enforceable to the extent that they  
are fair and reasonable according to the circumstances. Unfair Contract Terms Act 1997,  
283  
Singapore có Luật riêng về điều khoản hợp đồng không công bằng (Unfair Contract  
Terms Act 1977 (UCTA), sửa đổi 1994.21 Bên cạnh Đạo luật điều khoản hợp đồng  
không công bằng năm 1994, liên quan đến các điều khoản không công bằng trong hợp  
đồng tiêu dùng, một Đạo luật khác có liên quan là Đạo luật bảo vệ người tiêu dùng  
(Thương mại công bằng). Theo pháp luật Singapore, các điều khoản hợp đồng không  
công bằng được sử dụng bằng thuật ngữ “điều khoản loại trừ” (exemption clause).  
Tuy nhiên, pháp luật của Lào22 không có quy định về điều khoản hợp đồng không công  
bằng. Campuchia chưa có Luật về Bảo vệ Quyền lợi Người tiêu dùng nên vấn đề này  
chưa được điều chỉnh. Tại Việt Nam, Bộ luật dân sự năm 2015 cũng như Luật bảo vệ  
quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 đều không có định nghĩa về “điều khoản không  
công bằng”. Thay vào đó, khái niệm này được định nghĩa thông qua hành vi của các  
chủ thể kinh doanh sử dụng các điều khoản gây bất lợi cho người tiêu dùng trong các  
hợp đồng theo mẫu.  
Mặc dù cách giải thích và thuật ngữ sử dụng “điều khoản hợp đồng không công bằng”  
có sự khác nhau giữa các quốc gia, các điều khoản này có những điểm chung sau:  
Một là, đây là các điều khoản được sử dụng trong các hợp đồng giao kết giữa thương  
nhân (tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ) và người tiêu dùng. Các hợp đồng  
này xuất hiện trong quan hệ tiêu dùng (mua bán, cung ứng hàng hóa dịch vụ không  
nhằm mục đích kinh doanh).  
Hai là, các điều khoản này được sử dụng chủ yếu trong các hợp đồng theo mẫu hay hợp  
đồng tiêu chuẩn hoặc các cách gọi tương tự. Đặc điểm chung của các loại hợp đồng này  
là được soạn thảo bởi một bên, cụ thể là bên thương nhân, kết quả là việc giao kết hợp  
đồng không có sự thương lượng, thỏa thuận trực tiếp giữa các bên. Việc giao kết hợp  
đồng có nghĩa là chấp nhận toàn bộ nội dung của hợp đồng.  
21  
Là một nước thuộc địa của Anh trong gần 150 năm, luật Anh tiếp tục có ảnh hưởng quan trọng đến luật  
Singapore. Hệ thống này bao gồm cả luật thành văn và luật không thành văn. Theo Mục 2 (1) của Đạo luật Giải  
thích Singapore 1965, luật thành văn bao gồm Hiến pháp Liên bang, Đạo luật của Quốc hội, Pháp lệnh và Cơ  
quan lập pháp con, trong khi luật không thành văn quy định những vấn đề chưa được ban hành dưới dạng luật  
thành văn. Luật không thành văn ở Singapore về cơ bản xuất phát từ án lệ và tập quán. Luật hợp đồng ở Singapore  
dựa trên luật hợp đồng thông thường ở Anh. Sau khi giành được độc lập vào năm 1965, Singapore đã không thực  
hiện bất kỳ nỗ lực nào để pháp điển hóa luật hợp đồng của họ. Do đó, phần lớn luật hợp đồng của Singapore vẫn  
ở dạng các quy tắc do thẩm phán đưa ra, trong đó, một số đã được sửa đổi bởi các đạo luật cụ thể ở Anh. Kết quả  
là, đã có 13 quy chế thương mại của Anh đã được đưa vào như một phần của Quy chế của Cộng hòa Singapore  
theo Mục 4 của Đạo luật Áp dụng Luật của Anh năm 1993. Xem Unfair Contract Terms Act  
22 https://aseanconsumer.org/file/post_image/Law%20on%20Consumer%20Protection%20-%20English.pdf  
284  
Ba là, các điều khoản này tạo ra sự không cân xứng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên,  
đưa người tiêu dùng là bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng vào vị trí bất lợi và do đó  
không thể bảo vệ được quyền lợi của mình. Trái lại, các điều khoản được bên thương  
nhân đưa vào hợp đồng có chủ ý nhằm khai thác tốt nhất lợi ích từ người tiêu dùng,  
cũng như hạn chế các rủi ro, thiệt hại về phía mình.  
Bốn là, tính chất “không công bằng” được thể hiện ở những điều kiện mà nó đặt ra đối  
với người tiêu dùng là khắc nghiệt, áp bức và gây khó khăn quá mức mà không thể được  
lý giải một cách hợp lý. Việc áp dụng các điều khoản này xuất phát từ sự “thiếu thiện  
chí”, “không trung thức hoặc ý đồ không lành mạnh, trái với những chuẩn mực của đạo  
đức trong kinh doanh của các thương nhân.  
Năm là, các điều khoản không công bằng dẫn đến hậu quả là điều khoản đó, hoặc hợp  
đồng, giao dịch giữa thương nhân và người tiêu dùng, có khả năng bị vô hiệu. Trong  
trường hợp pháp luật xác định hợp đồng vô hiệu do tồn tại các điều khoản hợp đồng  
không công bằng, đây được coi là sự “can thiệp” của pháp luật vào quan hệ hợp đồng,  
ngay cả khi hợp đồng ấy được các bên giao kết phù hợp với nguyên tắc tự do ý chí và  
không có sự lừa dối. 23  
2.2. Các dạng hành vi sử dụng “điều khoản hợp đồng không công  
bằng”  
Luật Bảo vệ Quyền lợi Người tiêu dùng Indonesia nghiêm cấm sử dụng các điều khoản  
không công bằng trong hợp đồng tiêu chuẩn (standard clause). Cụ thể, theo Điều 18,  
khi giao dịch cung cấp hàng hóa và/hoặc dịch vụ, các thương nhân bị cấm đưa ra hoặc  
bao gồm trong hợp đồng các điều khoản tiêu chuẩn nếu những điều khoản này bao gồm  
các tuyên bố, hoặc xác định như sau:  
- Quy định chuyển giao trách nhiệm pháp lý của thương nhân  
- Quy định thương nhân có quyền từ chối nhận lại hàng hoá mà người tiêu dùng đã mua;  
23 Chẳng hạn, hợp đồng theo mẫu có hiệu lực, ngoài các điều kiện khác, khi hợp đồng là kết quả của sự thỏa thuận  
và việc người mua (người tiêu dùng) đã xác nhận nội dung, đã hiễu rõ và ký hoặc thể hiện bằng các hình thức  
tương tự. Trong trường hợp này, việc coi các điều khoản trong hợp đồng là vô hiệu do yếu tố “không công bằng”  
là sự “can thiệp” của pháp luật vào hợp đồng nhằm bảo vệ quyền của người tiêu dùng không bị lợi dụng hoặc xâm  
hại.  
285  
- Quy định thương nhân có quyền từ chối hoàn lại tiền cho hàng hóa và/hoặc dịch vụ  
mà người tiêu dùng đã mua;  
- Tuyên bố người tiêu dùng sẽ trao quyền cho các thương nhân để thực hiện trực tiếp  
hoặc gián tiếp tất cả các các hoạt động liên quan đến hàng hóa được mua trên ứng cài  
đặt của người tiêu dùng;  
- Quy định về xác thực nhằm tước bỏ việc sử dụng hàng hóa hoặc lợi ích của các dịch  
vụ mà người tiêu dùng đã mua;  
- Trao quyền cho thương nhân để giảm bớt lợi ích của dịch vụ hoặc làm giảm sút tài sản  
của người tiêu dùng là đối tượng của kinh doanh dịch vụ;  
- Tuyên bố người tiêu dùng phải tuân theo quy định mới, các quy định bổ sung, quy  
định đang tiếp diễn và/hoặc sự thay đổi thường xuyên do thương nhân đơn phương thực  
hiện trong khoảng thời gian mà người tiêu dùng đang sử dụng các dịch vụ mà họ đã  
mua;  
- Tuyên bố người tiêu dùng trao quyền cho các thương nhân khi thế chấp, cầm cố hoặc  
bảo lãnh đối với hàng hóa được người tiêu dùng mua trả góp.24  
Tương tự như cách tiếp cận của Indonesia, luật của Thái Lan liệt kê các dạng hành vi  
sử dụng điều khoản không công bằng. Theo quy định tại Mục số 4 Luật về Điều khoản  
Hợp đồng không công bằng Thái Lan, “các điều khoản có ký tự hoặc được hiểu theo  
cách mà bên có nghĩa vụ phải tuân thủ hoặc chịu nhiều gánh nặng hơn những gì một  
người hợp lý có thể dự đoán trong trường hợp bình thường có thể được coi là các điều  
khoản mang lại lợi thế hơn bên kia”.25 Chẳng hạn như các loại điều khoản sau:  
- Các điều khoản loại trừ hoặc hạn chế trách nhiệm pháp lý phát sinh do vi phạm hợp  
đồng;  
- Các điều khoản buộc bên kia phải chịu trách nhiệm pháp lý hoặc chịu nhiều trách  
nhiệm hơn so với quy định của pháp luật;  
24 https://aseanconsumer.org/file/pdf_file/04%20Law-No.-8-Concerning-Consumer-Protection.pdf  
25 The terms with characters or effects in a way that the other party is obliged to comply or bear more burden than  
that could have been anticipated by a reasonable person in normal circumstance may be regarded as terms that  
render an advantage over them.  
286  
- Các điều khoản về việc chấm dứt hợp đồng mà không có căn cứ chính đáng hoặc cho  
phép chấm dứt hợp đồng mặc dù bên kia không vi phạm đối với nội dung cơ bản của  
hợp đồng;  
- Các điều khoản cho phép không tuân thủ bất kỳ điều khoản nào của hợp đồng hoặc  
tuân thủ hợp đồng trong thời hạn chậm trễ mà không có căn cứ hợp lý;  
- Các điều khoản cho phép một bên trong hợp đồng yêu cầu hoặc buộc bên kia phải chịu  
nhiều gánh nặng hơn những gì tồn tại tại thời điểm giao kết hợp đồng;  
- Các điều khoản trong hợp đồng mua bán có quyền mua lại, theo đó người mua ấn định  
giá mua lại cao hơn giá bán cộng với lãi suất vượt quá mười lăm phần trăm một năm;  
- Các điều khoản trong hợp đồng thuê mua quy định giá thuê mua quá cao hoặc gây  
gánh nặng bất hợp lý cho bên thuê mua;  
- Các điều khoản trong hợp đồng thẻ phát hành thẻ tín dụng buộc người tiêu dùng phải  
trả quá mức lãi suất, tiền phạt, chi phí hoặc bất kỳ lợi ích nào khác, trong trường hợp  
không trả được nợ hoặc trong trường hợp có liên quan;  
- Các điều khoản quy định một phương pháp tính lãi kép khiến người tiêu dùng phải  
chịu gánh nặng quá mức.26  
Ủy ban Hợp đồng do Ủy ban Bảo vệ Người tiêu dùng Thái Lan chỉ định sẽ xem xét bất  
kỳ doanh nghiệp nào sử dụng hợp đồng bằng văn bản là một doanh nghiệp “được kiểm  
soát theo hợp đồng”. Cái gọi là "hợp đồng được kiểm soát" mà nhà điều hành doanh  
nghiệp và người tiêu dùng là các bên phải tuân thủ các yếu tố sau: (i) Các điều khoản  
thiết yếu, theo quyết định của Ủy ban, theo đó nếu không có điều khoản thiết yếu đó,  
người tiêu dùng có thể ở vị thế bất lợi so với người điều hành doanh nghiệp; (ii) Cấm  
áp dụng các điều khoản không công bằng cho người tiêu dùng; (iii) Trong trường hợp  
bất kỳ (các) điều khoản thiết yếu hoặc không công bằng nào trong hợp đồng được kiểm  
soát được Ủy ban cho là đã bị loại trừ nhưng vẫn tồn tại trong đó, thì các điều khoản  
không công bằng được chỉ định sẽ bị coi là vô hiệu, không ảnh hưởng đến phần còn lại  
của hợp đồng.27  
26 https://www.samuiforsale.com/law-texts/unfair-contract-terms-act.html  
27 Ban Thư ký ASEAN (2018), Handbook on ASEAN Consumer Protection Laws and Regulations, Jakarta  
287  
Đối với Malaysia, một trong những đạo luật quan trọng quy định việc loại trừ các điều  
khoản không công bằng là Đạo luật Bán hàng năm 1957.28 Đạo luật Bán hàng hoá 1957  
áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hoá như được định nghĩa trong phần 4 của  
Đạo luật. Mục 62 Đạo luật 1957 theo mục 62 cho phép loại trừ các điều khoản và điều  
kiện ngụ ý bằng “thỏa thuận rõ ràng”, cụ thể như sau:  
Trong trường hợp bất kỳ quyền, nghĩa vụ hoặc trách nhiệm pháp lý nào phát sinh theo  
hợp đồng mua bán theo quy định của pháp luật, nó có thể bị phủ nhận hoặc thay đổi  
theo thỏa thuận rõ ràng hoặc theo quy trình giao dịch giữa các bên, hoặc theo cách sử  
dụng, nếu việc sử dụng là để ràng buộc cả hai bên tham gia hợp đồng.29  
Đạo luật Bảo vệ Quyền lợi Người tiêu dùng Malaysia 1999 áp dụng các tiếp cận theo  
hướng xác định tính chất vi phạm của việc sử dụng điều khoản không công bằng theo  
hướng (i) tính chất bất bình đẳng, vô lý và rõ ràng là áp đặt; và (ii) xác định lợi ích bất  
chính tạo ra cho thương nhân khi sử dụng các điều khoản này. Theo Luật Bảo vệ Quyền  
lợi người tiêu dùng Malaysia, hợp đồng hoặc thời hạn của hợp đồng sẽ được coi không  
công bằng về mặt thủ tục nếu nó dẫn đến lợi ích bất chính cho nhà cung cấp hoặc bất  
lợi bất chính cho người tiêu dùng do hành vi của nhà cung cấp hoặc cách thức hoặc  
hoàn cảnh mà hợp đồng hoặc thời hạn của hợp đồng đã được người tiêu dùng và nhà  
cung cấp ký kết hoặc đã đến. Hợp đồng hoặc thời hạn của hợp đồng về cơ bản là không  
công bằng nếu bản thân hợp đồng hoặc thời hạn của hợp đồng là khắc nghiệt; hoặc là  
áp bức; hoặc là vô lương tâm; hoặc loại trừ hoặc hạn chế trách nhiệm pháp lý do sơ  
suất; hoặc loại trừ hoặc hạn chế trách nhiệm pháp lý đối với việc vi phạm các điều khoản  
rõ ràng hoặc ngụ ý của hợp đồng mà không có sự biện minh thích hợp. 30  
Tại Singapore, quy định liên quan đến các điều khoản miễn trừ về cơ bản dựa trên luật  
của Anh. Đạo luật Điều khoản Hợp đồng Không công bằng 1994 thường chỉ áp dụng  
cho các điều khoản ảnh hưởng đến trách nhiệm pháp lý do vi phạm nghĩa vụ phát sinh  
trong quá trình kinh doanh hoặc từ việc chiếm dụng cơ sở kinh doanh. Đạo luật này  
cũng quy định sự bảo vệ cho những người đang giao dịch với tư cách là người tiêu dùng.  
Theo Đạo luật Điều khoản Hợp đồng Không công bằng năm 1994, các điều khoản miễn  
trừ hoàn toàn không có hiệu lực hoặc không có hiệu lực trừ khi được chỉ ra để đáp ứng  
29 Exclusion of implied terms and conditions:  
62. Where any right, duty or liability would arise under a contract of sale by implication of law, it may be negatived  
or varied by express agreement or by the course of dealing between the parties, or by usage, if the usage is such  
as to bind both parties to the contract.  
30 Điều 24C(1) và 24D(1)  
288  
yêu cầu về tính hợp lý.31 Các điều khoản cố gắng loại trừ hoặc hạn chế trách nhiệm của  
một bên đối với cái chết hoặc thương tật cá nhân do sơ suất của bên đó hoàn toàn không  
có hiệu lực theo Đạo luật năm 1994, trong khi các điều khoản tìm cách loại trừ hoặc  
hạn chế trách nhiệm pháp lý do sơ suất dẫn đến mất mát hoặc thiệt hại không phải là tử  
vong hoặc cá nhân thương tật, và những trường hợp cố gắng loại trừ hoặc hạn chế trách  
nhiệm pháp lý theo hợp đồng, phải tuân theo yêu cầu về tính hợp lý. Tính hợp lý của  
điều khoản miễn trừ được đánh giá tại thời điểm hợp đồng được thực hiện. Do đó, về  
lý thuyết, hậu quả thực tế của vi phạm ít nhất là phi vật chất.32  
Liên quan đến các hợp đồng mẫu chuẩn có các điều khoản miễn trừ, việc sử dụng các  
loại hợp đồng này đã được xác định là một hành vi không công bằng theo Đạo luật Bảo  
vệ Người tiêu dùng (Thương mại Công bằng) năm 2003.33 Biểu thứ hai (Second  
Schedule) của Đạo luật này đưa ra danh sách 20 hành vi không công bằng cụ thể, năm  
trong số đó mô tả các đặc điểm của hợp đồng mẫu chuẩn như sau:34  
Số 9: Tuyên bố rằng một giao dịch liên quan đến hàng hóa hoặc dịch vụ liên quan đến  
hoặc không liên quan đến các quyền, biện pháp khắc phục hoặc nghĩa vụ trong đó, tuyên  
bố này là lừa dối hoặc gây hiểu lầm.  
Số 10: Tuyên bố rằng một người có hoặc không có thẩm quyền thương lượng các điều  
khoản cuối cùng của một thỏa thuận liên quan đến hàng hóa hoặc dịch vụ nếu sự trình  
bày khác với thực tế.  
Số 11: Lợi dụng người tiêu dùng bằng cách đưa vào thỏa thuận các điều khoản hoặc  
điều kiện khắc nghiệt, áp bức hoặc phiến diện một cách thái quá đến mức vô lương tâm.  
Số 12: Lợi dụng người tiêu dùng bằng cách gây áp lực hoặc ảnh hưởng quá mức đến  
người tiêu dùng để thực hiện giao dịch liên quan đến hàng hóa hoặc dịch vụ.  
31  
Unreasonable indemnity clauses: 4.—(1) A person dealing as consumer cannot by reference to any contract  
term be made to indemnify another person (whether a party to the contract or not) in respect of liability that may  
be incurred by the other for negligence or breach of contract, except in so far as the contract term satisfies the  
requirement of reasonableness  
32 Aziz, A.A., Isa, S.M., Yusoff, S.S., & Ong, T.C. (2011). Towards Harmonisation of the Asean Contract Law:  
The Legal Treatment of Unfair Consumer Contract Terms Among Selected ASEAN Member States.  
33 Khoản 2 của Đạo luật Thương mại Công bằng Singapore 2003 định nghĩa hành vi không lành mạnh là hành vi  
được hiểu theo Mục 4 (c), cụ thể là “lợi dụng người tiêu dùng khi người cung cấp biết hoặc có cơ sở hợp lý để  
biết rằng người tiêu dùng là (i) không có khả năng bảo vệ lợi ích của chính mình, hoặc (ii) không có khả năng  
một cách hợp lý để hiểu về từ ngữ, bản chất, ngôn ngữ hoặc hiệi lực của bất kỳ vấn đề nào liên quan đến giao  
34 https://sso.agc.gov.sg/Acts-Supp/27-2003/Published/20041231?DocDate=20031226&ProvIds=Sc2-#Sc2-  
289  
Số 20: Sử dụng chữ in nhỏ để che giấu một sự thật quan trọng đối với người tiêu dùng  
hoặc để đánh lừa người tiêu dùng về một sự thật quan trọng, liên quan đến việc cung  
cấp hàng hóa hoặc dịch vụ.  
Các quy định nêu trên đã liên quan đến nội dung và hình thức của hợp đồng mẫu chuẩn  
đã được các thương nhân thừa nhận là hành vi không công bằng đối với người tiêu dùng  
của họ. Điều này chỉ ra rằng luật liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng ở Singapore  
không chỉ nhấn mạnh đến yếu tố áp bức trong việc sử dụng và thực hành hợp đồng mẫu  
chuẩn, mà nó còn đi sâu hơn để thảo luận về đặc điểm của chữ in nhỏ là đáp ứng yếu tố  
áp bức trong loại hình này của hợp đồng.  
Đối với Philippines, theo Điều 52 Luật Bảo vệ Người tiêu dùng 1992, các hành vi được  
coi là bất công và vô lương tâm thuộc một trong các trường hợp sau đây:  
- Nhà sản xuất, chế tạo, nhà phân phối, nhà cung cấp hoặc người bán đã lợi dụng sự  
thiếu khả năng (inability) của người tiêu dùng trong việc bảo vệ một cách hợp lý quyền  
lợi của mình vì họ không thể hiểu được ngôn ngữ của một hợp đồng, hoặc là các yếu tố  
tương tự;  
- Khi giao dịch tiêu dùng được thực hiện mà giá tổng cộng vượt quá giá mà một sản  
phẩm hoặc dịch vụ tương tự nào khác có thể dễ dàng đạt tới trong giao dịch đối với  
những người tiêu dùng tương tự;  
- Khi giao dịch tiêu dùng được thực hiện, người tiêu dùng không có khả năng nhận được  
những lợi ích đáng kể từ chủ thể của giao dịch;  
- Khi thực hiện giao dịch tiêu dùng, người bán hoặc nhà cung cấp biết rằng không người  
tiêu dùng sẽ không có khả năng thanh toán đầy đủ nghĩa vụ của mình.  
- Giao dịch mà người bán hoặc nhà cung cấp dụ dỗ người tiêu dùng tham gia nhưng chỉ  
đem lại lợi ích một chiều cho người bán hoặc nhà cung cấp.35  
Tuy các dạng điều khoản hợp đồng không công bằng được mô tả khác nhau, tính chất  
chung của các hành vi này có thể được tóm tắt như sau:  
35 Republic Act No. 7394 the Consumer Act of the Philippines 1991.  
290  
Một là, các điều khoản tồn tại dưới hình thức tuyên bố, khẳng định hoặc xác định về  
quyền của thương nhân trong hợp đồng với người tiêu dùng, bao gồm các quyền đối  
với một hoặc một số vấn đề nhất định trong hợp đồng, chẳng hạn như quyền yêu cầu  
thanh toán, quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ đơn phương, quyền yêu cầu thực hiện các  
nghĩa vụ cao hơn, và đặc biệt là quyền từ chối trách nhiệm pháp lý và loại trừ khả năng  
khiếu nại. Các điều khoản này dẫn đến sự thiệt hại và thiệt thòi về quyền lợi của người  
tiêu dùng.  
Hai là, các điều khoản chứa đựng yếu tố “bất bình đẳng”, “không hợp lý” và không  
được biện minh bằng các lý do thuyết phục. Yếu tố này được thể hiện qua việc các  
quyền có tính “đơn phương” của bên thương nhân, chẳng hạn như quyền đơn phương  
giải thích nội dung hợp đồng, quyền đơn phương tăng giá, đơn phương thay đổi các  
điều kiện của hợp đồng mà không thông báo trước hoặc đơn phương loại trừ các trách  
nhiệm pháp lý phát sinh sau này.  
Ba là, các điều khoản đem lại sự bất lợi, thiệt hại hoặc thiệt thòi cho người tiêu dùng  
xuất phát từ hợp đồng, bao gồm chủ yếu là các thiệt hại vật chất và có thể là thiệt hại  
về tinh thần. Những thiệt hại này bao gồm những thiệt hại mà người tiêu dùng không  
thể hoặc không có khả năng tính đến lúc giao kết hợp đồng, hoặc là sự mất đi đối với  
các lợi ích mà lẽ ra họ phải được hưởng.  
Bốn là, các điều khoản chứa đựng những điều kiện được che dấu bằng việc không rõ  
ràng, mập mờ hoặc tận dụng sự hạn chế trong việc tiếp cận nội dung hợp đồng về từ  
ngữ, ngôn ngữ, hình thức trình bày… Vấn đề này xuất phát từ việc lợi dụng khả năng  
hạn chế về nhận thức đối với hợp đồng, kết hợp với yếu tố loại trừ sự thương lượng,  
thỏa thuận trực tiếp giữa các bên về nội dung hợp đồng. Trong trường hợp này, hành vi  
sử dụng các điều khoản không công bằng có yếu tố chủ ý và sự lừa dối.  
2.3. Xử lý vi phạm  
Việc kiểm soát cũng như áp dụng các chế tài được trao cho các cơ quan chuyên trách  
về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Các quốc gia thành viên ASEAN đều thiết lập  
những cơ quan chuyên trách nhằm thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng  
và quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Mặc dù vậy, các cơ quan này có tên gọi, vị trí  
khác nhau trong hệ thống cơ quan nhà nước. Hệ thống các cơ quan bảo vệ quyền lợi  
291  
của người tiêu dùng ở các quốc gia ASEAN nhìn chung là các cơ quan quản lý nhà  
nước.36  
Vấn đề giải thích hợp đồng, theo quy định của pháp luật Thái Lan, trong trường hợp có  
sự không rõ ràng, hợp đồng tiêu chuẩn (standard form contract) sẽ được giải thích theo  
hướng có lợi cho bên không phải là bên đưa ra hợp đồng đó.37  
Khác với Đạo luật Bán hàng, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Malaysia hướng  
tới việc khắc phục các tác động của sự bất bình đẳng, khôi phục trạng thái cân bằng  
giữa nhà cung cấp và người tiêu dùng. Mục 6 của Đạo luật cấm ký hợp đồng ngoài các  
quy định của Đạo luật. Phần này quy định thêm rằng mọi nhà cung cấp hoặc nhà sản  
xuất có ý định ký hợp đồng với bất kỳ điều khoản nào của Đạo luật này đều phạm tội  
và theo mục 145, những người đó phải chịu một khoản tiền phạt không quá năm mươi  
nghìn ringgit hoặc bị phạt tù trong thời hạn không quá ba năm hoặc cho cả hai.  
Theo Điều 18 Luật Bảo vệ Quyền lợi Người tiêu dùng Indonesia 1999, để đảm bảo  
thương nhân không sử dụng các điều khoản không công bằng gây bất lợi cho người tiêu  
dùng, theo khoản (2) thì thương nhân bị cấm đưa vào một điều khoản tiêu chuẩn tại các  
vị trí hoặc dưới hình thức khó nhìn thấy hoặc không thể đọc được một cách rõ ràng hoặc  
những sự thể hiện khó hiểu. Thêm vào đó, theo khoản 3 thì mỗi điều khoản tiêu chuẩn  
do thương nhân đơn phương quy định trong hợp đồng hoặc tài liệu giao dịch thuộc các  
điều khoản được quy định tại khoản 1 và 2 Điều 18 sẽ bị tuyên bố là vô hiệu theo quy  
định của pháp luật. Ngoài ra, thương nhân có nghĩa vụ điều chỉnh điều khoản tiêu chuẩn  
trái quy định của luật này.38  
Theo quy định của Philippines thì một loạt các hình phạt có thể được áp dụng, ngay cả  
khi không được yêu cầu trong đơn khiếu nại. Chúng bao gồm lệnh ngừng và hủy bỏ,  
đảm bảo thu hồi, thay thế sửa chữa hoặc hoàn lại giá trị tiền, bồi thường hoặc hủy bỏ  
36 Ở Lào các tổ chức Nhà nước thực hiện các hoạt động bảo vệ người tiêu dùng từ trung ương đến địa phương ở  
CHDCND Lào chủ yếu bao gồm bốn (4) lĩnh vực: Công thương, Y tế công cộng, Nông nghiệp và Lâm nghiệp,  
Khoa học và Công nghệ thuộc trách nhiệm của bốn (4) Bộ tương ứng: Bộ Công Thương (MOIC), Bộ Y tế, Bộ  
Nông nghiệp và Lâm nghiệp và Bộ Khoa học và Công nghệ. Lào Luật cũng quy định về vai trò và nhiệm vụ,  
quyền và nghĩa vụ của các hiệp hội người tiêu dùng, mặc dù cho đến nay chưa có hiệp hội nào được thành lập.  
37  
Mục số 4 Unfair Contract Terms Act 1997, https://www.samuiforsale.com/law-texts/unfair-contract-terms-  
38 https://aseanconsumer.org/file/pdf_file/04%20Law-No.-8-Concerning-Consumer-Protection.pdf  
292  
hợp đồng và áp dụng khoản tiền phạt từ PhP500 đến 300.000 tùy thuộc vào mức độ  
nghiêm trọng của hành vi phạm.39  
Theo Luật Bảo vệ Quyền lợi Người tiêu dùng Singapore (CPA) 2003 thì một người tiêu  
dùng tham gia vào hợp đồng trong đó có hành vi không công bằng có thể khởi kiện đến  
Tòa án có thẩm quyền chống lại hành vi đó.40 Theo khoản 7(4), khi tòa án phát hiện  
rằng một nhà cung cấp đã tham gia vào một hành vi không công bằng, tòa có quyền: (a)  
ra lệnh bồi hoàn lại bất kỳ tiền, tài sản hoặc lợi ích đối ứng khác (consideration) do  
người tiêu dùng đưa ra hoặc cung cấp; (b) yêu cầu bồi thường thiệt hại cho người tiêu  
dùng bằng tiền đối với bất kỳ tổn thất hoặc thiệt hại nào mà người tiêu dùng phải gánh  
chịu do kết quả của hành vi không công bằng; (c) yêu cầu nhà cung cấp phải tiếp tục  
thực hiện hợp đồng (specific performance); (d) yêu cầu nhà cung cấp sửa chữa hàng  
hóa hoặc cung cấp các bộ phận cho hàng hóa; hoặc (e) yêu cầu thay đổi hợp đồng giữa  
nhà cung cấp và người tiêu dùng.41 Theo khoản 9 thì tòa án có thẩm quyền hoặc Tòa  
Cấp cao có thể (a) tuyên bố rằng hành vi mà nhà cung cấp đã/có thể tham gia là một  
hành vi không công bằng; và (b) ban hành lệnh cấm nhà cung cấp tham gia vào hành vi  
không bằng đó. Đáng chú ý là, khi có cơ sở hợp lý để tin rằng nhà cung cấp đã, hoặc có  
thể đã thực hiện một hành vi không lành mạnh, nhà cung cấp có thể được đề nghị tham  
gia vào thỏa thuận tuân thủ tự nguyện (voluntary compliance agreement), theo đó nhà  
cung cấp sẽ (a) bồi thường cho bất kỳ người tiêu dùng nào bị thiệt hại hoặc tổn thất do  
hành vi không công bằng; (b) hoàn trả các chi phí phát sinh bởi nó; và (c) công bố thỏa  
thuận tuân thủ tự nguyện theo cam kết.42  
Về vấn đề này, kinh nghiệm xử lý đối với việc áp dụng các điều khoản không công bằng  
của các quốc gia ASEAN mà Việt Nam có thể học hỏi như sau:  
Một là, trong trường hợp có sự nghi ngờ hoặc tranh cãi về điều khoản hợp đồng không  
công bằng mà kết quả có thể dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng thì cơ chế về giải thích  
hợp đồng là cần thiết và nên được quy định cụ thể. Trong trường hợp này, việc giải  
thích hợp đồng nên theo nguyên tắc giải thích theo hướng có lợi cho người tiêu dùng.  
39  
Handbook  
on  
ASEAN  
Consumer  
Protection  
Laws  
and  
Regulations  
40  
6.—(1) A consumer who has entered a consumer transaction involving an unfair practice may commence an  
action in a court of competent jurisdiction against the supplier.  
41 Khoản 9: Declaration or injunction https://sso.agc.gov.sg/Act/CPFTA2003  
42 Khoản 8: Voluntary compliance agreement https://sso.agc.gov.sg/Act/CPFTA2003  
293  
Hai là, bên cạnh việc áp dụng chế tài phạt và buộc bồi thường, cũng như các lệnh cấm  
đối với hành vi sử dụng điều khoản không công bằng, bên vi phạm còn được áp dụng  
các biện pháp khắc phục, theo đó thương nhân vi phạm được yêu cầu thay đổi các điều  
khoản bất lợi, điều chỉnh hợp đồng, loại bỏ yếu tố không công bằng hoặc được phép  
tiếp tục thực hiện hợp đồng với người tiêu dùng sau khi đã thực hiện các biện pháp khắc  
phục nêu trên.  
Ba là, các hành vi sử dụng điều khoản hợp đồng không công bằng dẫn đến thiệt hại cho  
người tiêu dùng, bên yếu thế trong quan hệ tiêu dùng và cần được bảo vệ. Ngoài ra, tác  
động của các hành vi không lành mạnh, bao gồm hành vi sử dụng điều khoản hợp đồng  
không công bằng không chỉ đối với cá nhân người tiêu dùng liên quan cụ thể mà còn có  
thể tác động đến số đông người tiêu dùng trong xã hội cũng như sự ổn định, phát triển  
bền vững của xã hội. Do đó, các hành vi này cần phải được trừng phạt nghiêm khắc và  
các quy định đưa ra mang tính tư pháp để có tính răn đe. Yêu cầu này nên được thực  
hiện bởi tòa án chuyên trách về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thay vì cơ quan quản  
lý nhà nước với các chế tài thiên về hành chính.  
Bốn là, cơ chế thỏa thuận tuân thủ tự nguyện như trong pháp luật của Singapore là rất  
đáng lưu ý. Cơ chế này cho phép khắc phục hoặc chấm dứt những tác động tiêu cực từ  
các điều khoản không công bằng gây ra trong khi cho phép bên vi phạm (thương nhân)  
tự nguyện tuân thủ, cam kết thực hiện các biện pháp khắc phục, bồi thường mà không  
cần đến các quyết định của tòa án.  
3. Điều khoản hợp đồng không công bằng trong pháp luật Việt Nam và những  
bài học kinh nghiệm  
Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015 (BLDS 2015) cũng đã đề cập đến những loại điều  
khoản không công bằng này. Mặc dù BLDS 2015 không sử dụng trực tiếp thuật ngữ  
“điều khoản không công bằng” nhưng nội dung của Điều 405 khoản 3 đã hàm ý về các  
điều khoản như vậy, cụ thể“trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách  
nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính  
đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực.”43. Như vậy, nếu một điều  
khoản chứa đựng nội dung nhằm tăng trách nhiệm hoặc ngược lại, loại bỏ quyền lợi  
43 Điều 405 khoản 3 BLDS 2015  
294  
chính đáng của một bên thì điều khoản này sẽ vô hiệu vì không đảm bảo sự công bằng  
về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng.  
Luật Bảo vệ Quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 (BVQLNTD 2010), cơ sở pháp lý  
quan trọng để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam, hiện không có quy định riêng  
và cụ thể về “điều khoản hợp đồng không công bằng” cũng những điều chỉnh đối với  
các hành vi này. Theo Điều 3 Luật BVQLNTD 2010, “hợp đồng theo mẫu” là hợp đồng  
do tổ chức cá nhân kinh doanh hàng hóa dịch vụ soạn thảo để giao dịch với người tiêu  
dùng.44 Mặc dù vậy, khái niệm “hợp đồng theo mẫu” của Luật BVQLNTD 2010 chưa  
thể hiện được hết tính chất của hợp đồng theo mẫu. Khái niệm này còn hẹp hơn khái  
niệm tại BLDS 2015. BLDS 2015 quy định thời hạn hợp lý để người tiêu dùng trả lời  
đối với hợp đồng theo mẫu mà bên cung cấp hàng hóa dịch vụ đưa ra và việc chấp nhận  
giao kết hợp đồng chính là chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng và đây cũng chính là  
đặc điểm đặc trưng của hợp đồng theo mẫu đã được BLDS 2015 thể hiện trong khái  
niệm.45  
Điều khoản hợp đồng không công bằng có thể được hiểu là những điều khoản được đưa  
vào trong hợp đồng theo mẫu nhằm các mục đích như gây bất lợi một cách vô lý cho  
khách hàng; gây khó khăn cho khách hàng trong việc xem trước hợp đồng để có thể  
hiểu đúng, hiểu rõ về các đặc điểm, đặc tính của giao kết; hạn chế các quyền cơ bản của  
khách hàng đến mức độ mục tiêu của hợp đồng không đạt được; quy định ngăn cản  
khách hàng nộp đơn khởi kiện vụ tranh chấp ra tòa án, ép buộc khách hàng thỏa thuận  
lựa chọn cơ quan xét xử vụ kiện hay buộc khách hàng có nghĩa vụ cung cấp bằng chứng  
nếu không có lý do chính đáng….  
Luật BVQLNTD năm 2010 xác định các điều khoản bị cấm, không có hiệu lực trong  
hợp đồng theo mẫu giữa thương nhân và người tiêu dùng. các điều khoản này là những  
điều khoản soạn sẵn trong hợp đồng theo mẫu, chứa đựng những bất lợi đáng kể cho  
người tiêu dùng, những điều khoản có mục đích ưu tiên quyền lợi, đồng thời làm giảm  
trách nhiệm của thương nhân, từ đó gây bất lợi cho người tiêu dùng. Có thể nói rằng,  
những điều khoản này đã vi phạm nguyên tắc công bằng trong giao kết hợp đồng và  
xâm phạm đến quyền lợi của người tiêu dùng và có bản chất của các điều khoản không  
công bằng như quy định của các quốc gia ASEAN. Mặc dù không được định nghĩa cụ  
44 Điều 3 Luật BVQLNTD  
45 Nguyễn Công Đại (2017) “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch có sử dụng hợp đồng theo mẫu  
ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, tr.  
12  
295  
thể, theo quy định tại Điều 16 về điều khoản của hợp đồng giao kết với người tiêu dùng,  
điều kiện giao dịch chung không có hiệu lực, các “điều khoản hợp đồng không công  
bằng” theo pháp luật Việt Nam bao gồm các dạng sau:46  
- Loại trừ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (gọi chung là  
thương nhân) đối với người tiêu dùng. Thông qua các điều khoản trong hợp đồng theo  
mẫu, thương nhân có thể loại trừ các trách nhiệm theo quy định của pháp luật.47 Đây  
là điều khoản thể hiện sự bất bình đẳng trong quan hệ hợp đồng nói chung và quan hệ  
giữa thương nhân và người tiêu dùng.  
- Hạn chế, loại trừ quyền khiếu nại, khởi kiện của người tiêu dùng. Những điều khoản  
này được đưa ra nhằm hạn chế hoặc thực hiện quyền khiếu nại về hàng hóa dịch vụ sau  
khi đã nhận hàng, hoặc người tiêu dùng chỉ có quyền khởi kiện sau khi có kết quả giải  
quyết khiếu nại của bên cung cấp hàng hóa dịch vụ.  
- Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đơn phương thay đổi điều  
kiện của hợp đồng đã thỏa thuận trước với người tiêu dùng hoặc quy tắc, quy định bán  
hàng, cung ứng dịch vụ áp dụng đối với người tiêu dùng khi mua, sử dụng hàng hóa,  
dịch vụ không được thể hiện cụ thể trong hợp đồng. Quy định này cho phép thương  
nhân có quyền thay đổi các quy định, quy tắc mà họ đã đặt ra trong hợp đồng, tùy vào  
từng thời điểm mà không cần có ý kiến đồng ý của người tiêu dùng, buộc người tiêu  
dùng phải tuân theo để tiếp tục hợp đồng mà không có quyền từ chối.  
- Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đơn phương xác định người  
tiêu dùng không thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ, thông thường đây là những nghĩa  
vụ theo luật định mà thương nhân phải thực hiện.48  
46  
Điều 16 Luật BVQLNTD 2010  
47 Bao gồm các trách nhiệm về việc cung cấp thông tin hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng, trách nhiệm của  
bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng, trách nhiệm cung cấp bằng chứng  
giao dịch, trách nhiệm bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện, trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật, trách  
nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây raXem các Điều 12, 13, 20, 21, 22, 23 Luật BVQLNTD  
2010  
48 Như “Kiểm tra hàng hóa trước khi nhận; lựa chọn tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng,  
không làm tổn hại đến môi trường, trái với thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội, không gây nguy hại đến tính  
mạng, sức khỏe của mình và của người khác; thực hiện chính xác, đầy đủ hướng dẫn sử dụng hàng hóa, dịch vụ.  
Thông tin cho cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan khi phát hiện hàng hóa, dịch vụ lưu hành trên thị  
trường không bảo đảm an toàn, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người  
tiêu dùng; hành vi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của  
người tiêu dùng”.Xem Điều 9 Luật BVQLNTD 2010  
296  
- Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ quy định hoặc thay đổi giá  
tại thời điểm giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Đây là việc thương nhân đưa vào hợp  
đồng khả năng thay đổi thay đổi thỏa thuận về giá đã được ghi nhận lúc giao kết hợp  
đồng và được các bên thống nhất tại thời điểm giao kết.  
- Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ giải thích hợp đồng trong  
trường hợp điều khoản của hợp đồng được hiểu khác nhau. Các điều khoản này cho  
phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ được quyền giải thích hợp đồng  
khi điều khoản của hợp đồng được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tạo điều kiện cho  
việc giải thích chúng theo hướng có lợi cho họ.  
- Loại trừ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong trường  
hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ  
thông qua bên thứ ba. Trong trường hợp này, thương nhân không trực tiếp thực hiện mà  
thông qua bên thứ ba để giao kết, thực hiện hợp đồng với người tiêu dùng.49 Với các  
điều kiện này, trách nhiệm đối với người tiêu dùng của tổ chức, cá nhân kinh doanh  
hàng hóa, dịch vụ sẽ được loại trừ.  
- Buộc người tiêu dùng phải tuân thủ các nghĩa vụ ngay cả khi tổ chức, cá nhân kinh  
doanh hàng hóa, dịch vụ không hoàn thành nghĩa vụ của mình. Trong trường hợp này,  
thương nhân có thể lợi dụng vị trí của mình để đưa vào những điều khoản buộc người  
tiêu dùng phải thực hiện các nghĩa vụ ngay cả khi tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng  
hóa, dịch vụ không thực hiện hoặc thực hiện chưa hết các nghĩa vụ của họ hoặc buộc  
người tiêu dùng phải thực hiện cả những phần nghĩa vụ mà quyền lợi của họ chưa được  
bên kia thực hiện.  
- Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chuyển giao quyền, nghĩa vụ  
cho bên thứ ba mà không được người tiêu dùng đồng ý. Theo BLDS 2015, đối với  
trường hợp chuyển giao nghĩa vụ thì đòi hỏi phải được sự chấp nhận của bên có  
quyền50. Luật BVQLNTD 2010 cũng quy định việc chuyển giao quyền cho bên thứ ba  
cũng phải được sự đồng ý của người tiêu dùng. Do đó, đây là hành vi đơn phương  
chuyển giao cho bên thứ ba trái với ý muốn ban đầu của người tiêu dùng.  
49 Bao gồm phương thức đại diện cho thương nhân, môi giới, ủy thác và đại lý mua bán hàng hóa hoặc cung ứng  
dịch vụ.  
50 Xem Điều 365 và Điều 370 BLDS 2015  
297  
Luật BVQLNTD 2010 quy định các biện pháp sau nhằm điều chỉnh các hợp đồng theo  
mẫu, qua đó điều chỉnh hành vi sử dụng điều khoản hợp đồng không công bằng:  
Một là, quy định về hình thức hợp đồng giao kết với người tiêu dùng, bao gồm cả hợp  
đồng theo mẫu. Cụ thể, theo Điều 14, hình thức hợp đồng giao kết với người tiêu dùng  
được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự. Trường hợp giao kết hợp đồng  
với người tiêu dùng bằng văn bản thì ngôn ngữ của hợp đồng phải được thể hiện rõ  
ràng, dễ hiểu. Ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng giao kết với người tiêu dùng là tiếng  
Việt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.  
Trường hợp giao kết hợp đồng bằng phương tiện điện tử thì tổ chức, cá nhân kinh  
doanh hàng hóa, dịch vụ phải tạo điều kiện để người tiêu dùng xem xét toàn bộ hợp  
đồng trước khi giao kết. Đối với hợp đồng theo mẫu thì hợp đồng phải được lập thành  
văn bản, nội dung phải rõ ràng, dễ hiểu; cỡ chữ ít nhất là 12. Nền giấy và màu mực thể  
hiện nội dung hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung phải tương phản nhau.51  
Nghị định 99 cũng quy định chi tiết các nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng  
hóa dịch vụ như phải tạo điều kiện để NTD đọc kỹ hợp đồng trước khi giao kết, phải  
lưu giữ hợp đồng theo mẫu đã giao kết cho đến khi hợp đồng hết hiệu lực. Trường hợp  
hợp đồng do người tiêu dùng bị mất hoặc hư hỏng thì tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng  
hóa, dịch vụ có trách nhiệm cấp cho người tiêu dùng bản sao của hợp đồng  
Hai là, cung cấp các thông tin cho người tiêu dùng. Đối với hợp đồng theo mẫu thì tổ  
chức cá nhân kinh doanh phải thông báo chính xác, đầy đủ cho người tiêu dùng về hợp  
đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trước khi giao dịch.  
Ba là, yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh phải thực hiện việc đăng ký hợp đồng theo  
mẫu với Cục Bảo vệ Quyền lợi Người tiêu dùng trực thuộc Bộ Công thương nếu thuộc  
danh mục hàng hóa, dịch vụ phải đăng ký.52  
Các điều khoản vi phạm thuộc các trường hợp đã được kiệt kê tại điều 16 Luật  
BVQLNTD sẽ không có hiệu lực và giải quyết hậu quả theo pháp luật về dân sự. Điều  
51 Điều 7 NĐ.99/2001/NĐ-CP Hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ Quyền lợi Người tiêu dùng 2010.  
52 Các hợp đồng theo mẫu được quy định bao gồm những loại hợp đồng cung cấp dịch vụ thiết yếu như cung cấp  
điện sinh hoạt, cung cấp nước sinh hoạt, truyền hình trả tiền, dịch vụ điện thoại cố định mặt đất, dịch vụ thông tin  
di động mặt đất (hình thức thanh toán trả sau); Dịch vụ thông tin di động mặt đất (hình thức thanh toán trả trước),  
dịch vụ truy nhập Internet, vận chuyển hành khách đường hàng không, Vận chuyển hành khách đường sắt, mua  
bán căn hộ chung cư, các dịch vụ sinh hoạt do đơn vị quản lý khu chung cư cung cấp. Quy định tại Điều 17  
NĐ.99/2001/NĐ-CP Hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ Quyền lợi Người tiêu dùng 2010 và Theo Quyết định số  
02/2012/QĐ-TTg ngày 13 tháng 01 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 25/2019/QĐ-TTg ngày  
13 tháng 8 năm 2019  
298  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 25 trang Thùy Anh 12200 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Điều chỉnh điều khoản hợp đồng không công bằng trong pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của một số nước Asean và những liên hệ với Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdieu_chinh_dieu_khoan_hop_dong_khong_cong_bang_trong_phap_lu.pdf