Nhu cầu tham vấn tâm lí học đường của học sinh trung học cơ sở ở tỉnh Quảng Ninh

NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN GIÁO DỤC  
Nhu cầu tham vấn tâm lí học đường của học sinh  
trung học cơ sở ở tỉnh Quảng Ninh  
Trương Quang Lâm1, Đinh Ngọc Sơn2,  
Lê Thị Phượng3, Hoàng Đại4  
TÓM TẮT: Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu thực trạng nhu cầu tham vấn  
1 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn -  
tâm lí học đường của học sinh trung học cơ sở (gồm 1782 học sinh) tại 2  
Đại học Quốc gia Hà Nội  
huyện/thành phố thuộc tỉnh Quảng Ninh là thành phố Hạ Long và huyện Vân  
Đồn. Phương pháp chính được sử dụng là nghiên cứu tài liệu và điều tra bảng  
hỏi. Kết quả cho thấy, đa số học sinh đánh giá cần thiết có phòng tâm lí học  
đường trong trường học của các em. Bên cạnh đó, các vấn đề học sinh có  
nhu cầu được tham vấn tâm lí ở mức cao là về kĩ năng sống, định hướng nghề  
nghiệp, về cảm xúc và mối quan hệ học đường. Có sự khác biệt có ý nghĩa  
thống kê về nhu cầu tham vấn học đường của học sinh xét theo tiêu chí giới  
tính, địa bàn sinh sống và khối lớp học.  
336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam  
Email: lamtq.ps[email protected]  
2 Email: dinhngocson[email protected]  
3 Email: lephuong1[email protected]  
4 Email: hoangdai.vps@quangninh.edu.vn  
Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh  
Tầng 20 - 21, Trụ sở liên cơ quan số 3,  
phường Hồng Hà, thành phố Hạ Long,  
tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam  
TỪ KHÓA: Nhu cầu; tham vấn tâm lí; tham vấn học đường; học sinh trung học cơ sở; phòng  
tham vấn học đường.  
Nhận bài 30/3/2020 Nhận bài đã chỉnh sửa 10/4/2020 Duyệt đăng 05/5/2020.  
1. Đặt vấn đề  
Hằng (2014) [8]; Lê Thị Thanh Hương (2019) [9])… Do  
đó, HS cần được can thiệp, hỗ trợ chuyên nghiệp của tham  
vấn TLHĐ.  
Tham vấn học đường được biết đến như là một hoạt  
động được đưa vào triển khai trong trường học ở Mĩ từ  
những năm 1970 (Mclaughlin, 1999). Tham vấn học  
đường được hiểu là hoạt động trợ giúp tất cả các học  
sinh (HS) nâng cao năng lực tự giải quyết những khó  
khăn, vướng mắc trong học tập, quan hệ xã hội, định  
hướng nghề nghiệp, phát hiện sớm và phát triển các  
chương trình phòng ngừa, can thiệp thích hợp trong nhà  
trường (Hoàng Anh Phước (2014) [1]. Nhiều nghiên cứu  
đã đã chỉ ra tầm quan trọng của tham vấn học đường  
trong bối cảnh giáo dục hướng đến sự phát triển toàn  
diện cho HS trong các trường học (Mclaughlin (1993)  
[2]; Alutu và Etiobhio (2006 [3]; Daniel (2013) [4]). Cho  
đến nay, tham vấn tâm lí học đường (TLHĐ) đã và đang  
phát triển rất mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên thế giới,  
mang lại những hiệu quả tích cực đối với sự phát triển  
toàn diện của HS.  
Trong phạm vi bài viết, chúng tôi trình bày kết quả điều  
tra thực trạng nhu cầu tham vấn TLHĐ của HS trung học  
cơ sở (THCS), khảo sát tại thành phố Hạ Long và huyện  
Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Bài viết là một phần kết  
quả nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu và đề xuất mô  
hình tham vấn TLHĐ cho HS THCS trên địa bàn tỉnh  
Quảng Ninh, theo quyết định số 3241/QD-UBND tỉnh  
Quảng Ninh ngày 23 tháng 8 năm 2018, Sở Giáo dục  
và Đào tạo tỉnh Quảng Ninh chủ trì, ThS. Đinh Ngọc  
Sơn làm chủ nhiệm.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Khách thꢀ và phương pháp nghiên cứu  
2.1.1. Khách thể nghiên cứu  
Nghiên cứu được khảo sát trên 1782 HS THCS từ lớp  
6 đến lớp 9 (độ tuổi trung bình là 13,28 tuổi; ĐLC =  
1,15). Địa bàn khảo sát tại 2 huyện/ thành phố thuộc tỉnh  
Quảng Ninh. Đây là một nghiên cứu cắt ngang, chọn  
mẫu theo phương pháp thuận tiện. Một số đặc điểm về  
khách thể nghiên cứu được thể hiện qua bảng số liệu sau  
(xem Bảng 1):  
Ở Việt Nam, tham vấn TLHĐ là một hoạt động còn khá  
mới mẻ, đang dần được triển khai trong các trường phổ  
thông theo thông tư 31/2017/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục  
và Đào tạo (GD&ĐT). Điều này cho thấy vai trò của tham  
vấn TLHĐ trong trường phổ thông. Qua các nghiên cứu  
dưới góc độ tâm lí học, giáo dục học cho thấy, có nhiều  
vấn đề về sức khỏe tinh thần đang diễn ra ở HS như: HS  
có hành vi gây hấn trong học đường (Nguyễn Thị Nhân  
ꢀi, Phạm Thị Diệu Thúy (2019) [5], Bùi Thị Thu Huyền  
(2019) [6]) vấn đề về cảm xúc, mối quan hệ học đường  
(Đặng Hoàng Minh, Bahr Weiss, Nguyễn Cao Minh, Trần  
Nguyên Ngọc (2013) [7]), vấn đề sức khỏe tâm thần của  
HS liên quan đến môi trường gia đình (Nguyễn Thị Minh  
Bảng 1: Đặc điểm mẫu khách thể nghiên cứu  
Tiêu chí  
Số lượng Tỉ lệ %  
THCS Bãi Cháy  
319  
280  
316  
17.9  
15.7  
17.7  
Thành phố  
Hạ Long  
THCS Lê Văn Tám  
THCS Nguyễn Văn Thuộc  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
54  
Trương Quang Lâm, Đinh Ngọc Sơn, Lê Thị Phượng, Hoàng Đại  
Tiêu chí  
Số lượng Tỉ lệ %  
THCS TT Cái Rồng  
THCS Hạ Long  
THCS Đông Xá  
Nam  
314  
263  
290  
718  
999  
65  
17.7  
14.8  
16.3  
40.2  
56.0  
3.8  
Huyện Vân  
Đồn  
Giới tính  
Khối lớp  
Nữ  
Không trả lời  
Lớp 6  
323  
485  
439  
527  
8
18.1  
27.2  
24.7  
29.6  
0.4  
Biểu đồ 1: Đánh giá của HS về sự cần thiết có phòng  
tham vấn TLHĐ trong trường học  
Lớp 7  
Lớp 8  
trợ HS về các vấn đề tâm lí, nâng cao sức khỏe tinh thần  
của các em. Hoạt động của phòng tham vấn giúp HS  
được động viên tinh thần, tăng cường năng lực để tạo ra  
những thay đổi tích cực của HS về nhận thức, cảm xúc  
và hành vi. Đó là nơi các em có thể nói ra những suy  
nghĩ, tâm sự của bản thân. Các em được lắng nghe và  
thấu hiểu... trong môi trường an toàn, lành mạnh. Kết  
quả nghiên cứu trên cũng có sự tương đồng với nghiên  
cứu của tác giả Phạm Thanh Bình (2014) [10] khi nghiên  
cứu trên cùng nhóm khách thể đã chỉ ra, đó là đa số HS  
có nhu cầu tham vấn học đường với nhiều biểu hiện đa  
dạng ở cả mặt nhận thức, thái độ và hành vi. HS đánh  
giá mức độ cần thiết và rất cần thiết có tham vấn TLHĐ.  
Như vậy, kết quả này phản ánh về cơ bản HS THCS tại  
các trường được khảo sát đã nhận thức được vai trò của  
tham vấn học đường đối với các em trong bối cảnh hiện  
nay. Tuy nhiên, có một tỉ lệ nhỏ 8,6% và 5,2% HS cho  
rằng không cần thiết và hoàn toàn không cần thiết. Điều  
này phản ánh thực tế ở mỗi trường, số HS chưa thấy hoặc  
chưa hiểu về vai trò và hiệu quả của phòng tham vấn tâm lí  
đối với các em. Đánh giá của HS về sự cần thiết có phòng  
tham vấn xét theo từng trường như sau (xem Biểu đồ 2).  
Qua biểu đồ cho thấy, trong số các trường được khảo  
sát, hai trường có điểm trung bình cao nhất là Trường  
THCS Nguyễn Văn Thuộc (ĐTB = 3,66) và Trường  
THCS thị trấn Cái Rồng (ĐTB = 3,61). Hai trường có  
điểm trung bình thấp nhất là Trường THCS Hạ Long  
(ĐTB = 3,44) và Trường THCS Lê Văn Tám (ĐTB =  
Lớp 9  
Không trả lời  
2.1.2. Phương pháp nghiên cứu  
Để nghiên cứu nhu cầu tham vấn tâm lí của HS, chúng  
tôi tìm hiểu ở hai nội dung: Thứ nhất, đánh giá của HS về  
mức độ cần thiết của phòng tham vấn học đường trong  
trường học của các em với các mức độ trả lời được cho  
điểm từ 1 điểm - Hoàn toàn không cần thiết đến 5 điểm  
- Rất cần thiết. Thứ hai, nghiên cứu thiết kế thang đo để  
đánh giá nhu cầu tham vấn TLHĐ của HS qua các khía  
cạnh cụ thể là: về cảm xúc, về hành vi, về mối quan hệ học  
đường, về gia đình, vấn đề bắt nạt học đường, về ngoại  
hình, thể chất, về sức khỏe sinh sản, tình yêu, các vấn đề  
về kĩ năng sống và định hướng tương lai. HS trả lời bằng  
cách lựa chọn điểm số phù hợp nhất với quan điểm của  
bản thân. Mức độ trả lời được cho điểm từ 1 điểm - Hoàn  
toàn không mong muốn đến 5 điểm - Rất mong muốn.  
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 12 năm 2018  
đến tháng 5 năm 2019. Số liệu khảo sát được xử lí bằng  
phần mềm toán học SPSS phiên bản 22.0. Một số phép  
phân tích thống kê được sử dụng như phân tích độ tin  
cậy Alpha của Cronbach, tính điểm trung bình, độ lệch  
chuẩn, kiểm định sự khác biệt T-test, Anova. Trong  
nghiên cứu này, thang đo nhu cầu tham vấn TLHĐ có độ  
tin cậy Alpha của Cronbach là 0,90. Đồng thời, kết quả  
điểm trung bình càng cao phản ánh nhu cầu tham vấn  
tâm lí của HS càng cao, và ngược lại, điểm càng thấp  
phản ánh nhu cầu tham vấn tâm lí của các em càng thấp.  
2.2. Kết quả nghiên cứu  
2.2.1. Đánh giá của học sinh về sự cần thiết có phòng tham vấn  
tâm lí học đường  
Kết quả khảo sát về sự cần thiết có phòng tham vấn  
TLHĐ của HS được thể hiện qua Biểu đồ 1.  
Nhìn chung, đa số HS đánh giá là cần thiết có phòng  
tham vấn TLHĐ trong trường học của các em. Cụ thể: có  
52,6% HS cho rằng cần thiết và rất cần thiết, có 33,6%  
HS đánh giá là khá cần thiết. Trên thực tế, phòng tham Biểu đồ 2: Đánh giá của HS về sự cần thiết có phòng  
vấn tâm lí tại mỗi trường học là địa chỉ tin cậy có thể hỗ tham vấn học đường xét theo trường học  
Số 29 tháng 5/2020  
55  
NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN GIÁO DỤC  
3,48). Với hai trường HS đánh giá cao việc cần thiết có tham vấn ở mức cao, 69,4% HS có nhu cầu tham vấn ở  
phòng tham vấn trong nhà trường, điều này có thể được  
lí giải bởi đây là hai trường trọng điểm của thành phố  
Hạ Long và huyện Vân Đồn. Chất lượng HS đầu vào tốt  
hơn, các em có ý thức cao trong học tập và rèn luyện.  
mức khá, 14,8% số HS có nhu cầu tham vấn ở mức thấp.  
2.2.2. Thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lí học đường của học  
sinh trung học cơ sở  
Bảng 2 trình bày kết quả nhu cầu tham vấn TLHĐ của  
HS THCS ở địa bàn tỉnh Quảng Ninh, gồm khía cạnh cụ  
thể sau:  
Biểu đồ 3: Thực trang nhu cầu tham vấn tâm lí chung  
của HS THCS (%)  
Bảng 2: Nhu cầu tham vấn TLHĐ của HS THCS  
Nhu cầu tham vấn TLHĐ của HS THCS  
1. Về cảm xúc  
ĐTB  
3.93  
2.97  
3.57  
2.89  
2.82  
3.42  
3.20  
4.09  
ĐLC  
0.80  
0.82  
0.82  
1.05  
1.19  
0.98  
0.86  
0.71  
Có sự chênh lệch tương đối về mức độ đánh giá của HS  
theo địa bàn sinh sống so với tổng thể, cụ thể là: ở thành  
phố Hạ Long, tỉ lệ HS có nhu cầu tham vấn TLHĐ ở mức  
khá cao hơn so với tổng 2 địa bàn và tỉ lệ HS có nhu cầu  
tham vấn ở mức cao là cao hơn so với tổng thể và so với  
huyện Vân Đồn (xem Bảng 3).  
2. Về hành vi  
3. Mối quan hệ học đường  
4. Mối quan hệ gia đình  
5. Bắt nạt học đường  
Ở Bảng 3, sử dụng phép kiểm định so sánh điểm trung  
bình t-test và One way ANOVA, kết quả cho thấy có  
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nhu cầu tham vấn  
TLHĐ của HS THCS qua các khía cạnh, cụ thể như sau:  
- Xét theo địa bàn sinh sống: Nhìn chung, HS ở thành  
phố Hạ Long có nhu cầu được tham vấn tâm lí cao hơn  
HS ở huyện Vân Đồn, cụ thể là: Về cảm xúc (ĐTB =  
4,03 so với 3,18; p < 0,01); Về mối quan hệ học đường  
(ĐTB = 3,66 so với 3,48; p < 0,01); Về mối quan hệ  
trong gia đình (ĐTB = 2,95 so với 2,84; p < 0,05); Về  
vấn đề bắt nạt (ĐTB = 2,88 so với 2,75; p < 0,05); Về  
ngoại hình thể chất (ĐTB = 3,51 so với 3,33; p < 0,01);  
Về vấn đề sức khỏe sinh sản, tình bạn khác giới (ĐTB =  
3,25 so với 3,14; p < 0,01); Về kĩ năng sống, định hướng  
tương lai (ĐTB = 4,18 so với 4,00; p < 0,01). Đây là kết  
quả khá thú vị mà chúng tôi thu được trong nghiên cứu  
này. Câu hỏi đặt ra là: Điều gì dẫn đến việc HS ở thành  
phố Hạ Long có nhu cầu được tham vấn tâm lí cao hơn  
HS ở huyện Vân Đồn? Điều này có thể được lí giải bởi  
điều kiện kinh tế, xã hội của hai địa bàn. Trên thực tế, Hạ  
Long là một thành phố du lịch, đời sống văn hóa xã hội  
và chất lượng cuộc sống của người dân tốt hơn, có nhiều  
điều kiện phát triển hơn. Trẻ em ở Hạ Long có nhiều điều  
kiện hơn để được học tập trong môi trường tốt. Trẻ được  
tham gia vào nhiều hoạt động học tập ngoại khóa, học  
kĩ năng mềm, học ngoại ngữ…(Trương Quang Lâm, Vũ  
Liên Oanh (2019) [14] nên trẻ nhận thức rõ hơn về tầm  
quan trọng của tham vấn học đường. Một lí do nữa là trẻ  
ở thành phố, sự phát triển thể chất diễn ra sớm hơn và  
nhanh hơn, cùng với đó các mối quan hệ tương tác diễn  
ra nhiều hơn. Do đó, các em có nhu cầu được tham vấn ở  
các khía cạnh trên cao hơn.  
6. Ngoại hình, thể chất  
7. Sức khỏe sinh sản, tình bạn khác giới  
8. Kĩ năng sống, định hướng tương lai  
(Ghi chú: Điểm thấp nhất là 1, cao nhất là 5. Điểm càng cao  
phản ánh nhu cầu tham vấn càng cao)  
Trong các nội dung nêu trên, HS có nhu cầu được tham  
vấn tâm lí cao nhất là về kĩ năng sống, định hướng tương  
lai (ĐTB = 4,09), thứ hai là về cảm xúc (ĐTB = 3,93),  
thứ ba là khía cạnh mối quan hệ học đường (ĐTB chung  
= 3,57). Có ba nội dung HS ít có nhu cầu được tham vấn  
nhất là về bắt nạt học đường (ĐTB = 2,82), về mối quan  
hệ trong gia đình (ĐTB = 2.87) và về vấn đề hành vi  
(ĐTB = 2,97). Như vậy, với những nội dung HS có nhu  
cầu cao được tham vấn tâm lí cũng phản ánh phần nào  
thực trạng hiện nay, đó là kĩ năng sống của các em còn  
hạn chế, HS lúng túng trong ứng xử với các tình huống  
trong cuộc sống, HS cần được định hướng về tương lai  
dựa trên năng lực, sở thích của các em... Bên cạnh đó,  
kết quả trên cũng phù hợp với các nghiên cứu đã chỉ ra ở  
lứa tuổi thiếu niên, đó là: các em dễ nổi nóng, khó kiểm  
soát cảm xúc (Ogden và Hagen (2014) [11]). Đồng thời,  
ở lứa tuổi này, HS cũng gặp những khó khăn nhất định  
trong học tập, đặc điểm tâm lí cá nhân cũng như gặp khó  
khăn quan hệ với bạn bè và thầy cô (Trương Thị Khánh  
Hà (2013) [12]; Nguyễn Thị Minh Hằng (2014) [8]; Lê  
Minh Nguyệt, Ngô Thị Hạnh và Nguyễn Phương Linh  
(2018) [13]). Vì vậy, HS có nhu cầu cao được tham vấn  
tâm lí với các vấn đề trên.  
Đánh giá về nhu cầu tham vấn TLHĐ nói chung của  
HS, kết quả Biểu đồ 3 cho thấy, có 15,8% HS có nhu cầu  
- Xét theo giới tính: Có sự tương đồng giữa HS nam  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
56  
Trương Quang Lâm, Đinh Ngọc Sơn, Lê Thị Phượng, Hoàng Đại  
Bảng 3: So sánh giữa các nhóm HS về nhu cầu tham vấn TLHĐ  
Tiêu  
chí  
Phân nhóm  
Về cảm  
xúc  
Về hành vi Mối quan  
Mối quan  
hệ trong  
gia đình  
Bắt nạt  
Ngoại  
hình, thể  
chất  
Sức khỏe  
sinh sản,  
tình bạn  
khác giới  
Kỹ năng  
sống, định  
hướng  
hệ học  
đường  
tương lai  
ĐTB (ĐLC)  
ĐTB (ĐLC) ĐTB (ĐLC)  
ĐTB (ĐLC) ĐTB (ĐLC) ĐTB (ĐLC)  
ĐTB (ĐLC)  
ĐTB (ĐLC)  
Thành phố Hạ  
Long  
4,03 (0,77) 3,00 (0,82) 3,66 (0,81) 2,95 (1,04) 2,88 (1,18) 3,51 (0,97) 3,25 (0,84) 4,18 (0,65)  
Địa  
bàn  
sinh  
sống  
Huyện Vân Đồn  
3,18 (0,81) 2,95 (0,83) 3,48 (0,82) 2,84 (1,06) 2,75 (1,12) 3,33 (0,99) 3,14 (0,88) 4,00 (0,75)  
p
0,00  
0,20  
0,00  
0,02  
0,03  
0,00  
0,01  
0,00  
Nam  
Nữ  
3,85 (0,85) 2,95 (0,83) 3,53 (0,84) 2,76 (1,07) 2,71 (1,23) 3,40 (1,00) 3,05 (0,91) 4,05 (0,75)  
3,98 (0,75) 2,99 (0,82) 3,60 (0,80) 2,99 (1,01) 2,89 (1,15) 3,44 (0,96) 3,30 (0,81) 4,13 (0,67)  
Giới  
tính  
p
0,00  
0,26  
0,05  
0,00  
0,00  
0,40  
0,00  
0,01  
Lớp 6  
Lớp 7  
Lớp 8  
Lớp 9  
p
3,97 (0,80) 2,90 (0,87) 3,62 (0,82) 2,83 (1,17) 2,79 (1,36) 3,40 (1,03) 3,15 (0,82) 4,09 (0,77)  
4,03 (0,77) 3,00 (0,86) 3,67 (0,84) 2,85 (1,07) 2,85 (1,22) 3,52 (1,01) 3,10 (0,94) 4,18 (0,65)  
3,76 (0,80) 3,00 (0,79) 3,49 (0,82) 2,93 (0,98) 2,77 (1,10) 3,32 (0,95) 3,19 (0,84) 3,95 (0,76)  
3,94 (0,79) 2,96 (0,79) 3,53 (0,78) 2,95 (1,02) 2,84 (1,12) 3,42 (0,96) 3,33 (0,81) 4,14 (0,67)  
Khối  
lớp  
học  
0,00  
0,32  
0,00  
0,24  
0,77  
0,02  
0,00  
0,00  
(Ghi chú: Mức ý nghĩa p ≤ 0,01 và p ≤ 0,05)  
và HS nữ về nhu cầu tham vấn về vấn đề hành vi và về mối quan hệ học đường (ĐTB = 3,67 so với 3,62; 3,49 và  
ngoại hình, thể chất. Tuy nhiên, ở các vấn đề khác cho 3,53; p < 0,01); Về ngoại hình thể chất (ĐTB = 3,52 so với  
thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đó là: HS nữ có 3,40; 3,32 và 3,42; p < 0,05); Về kĩ năng sống, định hướng  
nhu cầu cần được tham vấn cao hơn HS nam về cảm xúc tương lai (ĐTB = 4,18 so với 4,09; 3,95 và 4,14; p < 0,01).  
(ĐTB = 3,98 so với 3,85; p < 0,01); Về mối quan hệ học Ngược lại, HS lớp 8 lại có đánh giá thấp nhất trong 3 khối  
đường (ĐTB = 3,60 so với 3,53; p = 0,05); Về mối quan khi xét theo các khía cạnh này. Một điều thú vị là ở khía  
hệ trong gia đình (ĐTB = 2,99 so với 2,76; p < 0,01); cạnh sức khỏe sinh sản, tình bạn khác giới, HS lớp 9 và  
Về vấn đề bắt nạt (ĐTB = 2,89 so với 2,71; p < 0,01); lớp 8 có nhu cầu tham vấn về vấn đề này cao hơn so với  
Về vấn đề sức khỏe sinh sản, tình bạn khác giới (ĐTB = lớp 6 và lớp 7 (ĐTB = 3,33 và 3,19 so với 3,15 và 3,10; p  
3,25 so với 3,14; p < 0,01); Về kĩ năng sống, định hướng < 0,01). Kết quả trên có thể được lí giải bởi với HS lớp 7,  
tương lai (ĐTB = 4,13 so với 4,05; p < 0,05). Như vậy, cảm xúc còn chưa ổn định, các em còn bỡ ngỡ với những  
kết quả này cũng cho thấy một số khía cạnh tâm lí đó là ở thay đổi về ngoại hình thể chất… Vì vậy, HS có nhu cầu  
lứa tuổi HS THCS, HS nữ có nhiều khó khăn tâm lí hơn được tham vấn tâm lí cao hơn ở các vấn đề nêu trên.  
so với HS nam. Điều này cũng có điểm tương đồng với  
nghiên cứu của các tác giả Đặng Hoàng Minh và cộng sự  
(2013) [7], Nguyễn Thị ꢀnh Nguyệt (2018) [15] đã chỉ  
3. Kết luận  
Để triển khai hiệu quả hoạt động tham vấn TLHĐ cho  
ra, ở lứa tuổi vị thành niên, trẻ nữ có khó khăn về cảm HS nói chung và HS THCS nói riêng, rất cần phải đánh  
xúc cao hơn so với trẻ nam. Bên cạnh đó, chúng tôi cho giá đúng nhu cầu của HS, chỉ ra được những vấn đề tâm lí  
rằng, sự phát triển sinh lí ở nữ diễn ra sớm hơn so với đang diễn ra ở HS trong bối cảnh hiện nay. Kết quả nghiên  
nam nên HS sẽ không ổn định về tâm trạng, cảm xúc thất cứu của chúng tôi đã cho thấy, đa số HS THCS ở Quảng  
thường, từ đó nảy sinh ở các em nhu cầu quan tâm đến Ninh đánh giá cần thiết có phòng TLHĐ trong trường  
nội tâm, muốn hiểu về tâm lí. Thêm vào đó, ở lứa tuổi học của các em. Bên cạnh đó, các vấn đề HS có nhu cầu  
THCS, ngôn ngữ, ý thức của HS nữ phát triển hơn so với được tham vấn tâm lí ở mức độ cao là về kĩ năng sống,  
HS nam, nên các em nữ hiểu về vai trò, sự cần thiết của định hướng nghề nghiệp, về cảm xúc và mối quan hệ học  
tham vấn TLHĐ đối với bản thân. Vì vậy, HS nữ đánh đường. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt có ý  
giá cao hơn HS nam các khía cạnh nêu trên. Do đó, gia nghĩa thống kê về nhu cầu tham vấn học đường của HS  
đình và nhà trường cần quan tâm nhiều hơn đến các vấn theo các biến số. HS nữ có nhu cầu tham vấn cao hơn HS  
đề tâm lí của nhóm HS nữ.  
nam. HS ở thành phố Hạ Long có nhu cầu tham vấn cao  
- Xét theo khía cạnh lớp: HS lớp 7 đánh giá có nhu cầu hơn so với HS ở huyện Vân Đồn. Nhu cầu tham vấn có sự  
tham vấn tâm lí cao hơn HS lớp 6, lớp 8 và lớp 9: Về cảm thay đổi theo các khối lớp, HS khối 7 có nhu cầu tham vấn  
xúc (ĐTB = 4,03 so với 3,97; 3,76 và 3,94; p < 0,01); Về cao hơn so với HS khối lớp 6, lớp 8 và lớp 9.  
Số 29 tháng 5/2020  
57  
NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN GIÁO DỤC  
Trên thực tế, việc triển khai Thông tư 31/2017/TT- giám sát, hỗ trợ về chuyên môn cho những người làm  
BGDĐT của Bộ GD&ĐT ngày 18 tháng 12 năm 2017 công tác tham vấn. Nguồn kinh phí phục vụ cho hoạt  
Hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm lí cho HS trong động này ở các trường còn hạn hẹp, chủ yếu dựa vào  
trường phổ thông, chúng tôi nhận thấy sẽ có một số khó nguồn kinh phí thường xuyên của nhà trường... Kết quả  
khăn cho các trường trong việc triển khai hiệu quả hoạt trên gợi mở cho chúng tôi những nghiên cứu tiếp theo  
động tham vấn TLHĐ như: còn thiếu đội ngũ cán bộ làm trong tương lai, cần có những nghiên cứu đánh giá thực  
công tác tham vấn tâm lí được đào tạo chuyên sâu về tâm trạng về những khó khăn TLHĐ của HS cũng như nghiên  
lí học. Ở các trường phổ thông, chưa có một mô hình cứu đánh giá mô hình tham vấn tâm lí cho HS phù hợp  
tham vấn học đường chuyên nghiệp cũng như thiếu sự với địa phương.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Hoàng Anh Phước, (2014), Kĩ năng tham vấn học đường  
- Những vấn đề lí luận và thực tiễn, NXB Đại học Sư  
phạm, Hà Nội.  
[2] Mclaughlin. C, (1993), Counselling in a secondary  
setting - developing policy and practice, In K.  
[3] Alutu, A.N.G & Etibhio C, (2006), Need to Introduce  
classroom guidance and counseling in the secondary  
school curriculum in Nigeria, Paped accepted fof  
Publication in Guidance and Counselling, Canada. Youth  
Problems. Ibadan: University press.  
[4] Daniel, D, (2013), The role of school counsellors in  
supporting teaching and learning in schools of skills  
in the Western cape, Thesis of the degree of Masters  
of Education (Educational Psychology), Faculty of  
Education, Department of Educational Psychology,  
University of the Western Cape.  
[9] Lê Thị Thanh Hương, (2019), Tác động của môi trường  
gia đình đến tình trạng rối loạn lo âu và trầm cảm của HS  
trung học phổ thông, Tạp chí Tâm lí học, tr.3 - 16.  
[10] Phạm Thanh Bình (2014), Nhu cầu tham vấn tâm lí học  
đường của học sinh trung học cơ sở, Luận án Tiến sĩ Tâm  
lí học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.  
[11] Ogden T. & Hagen K.A, (2014), Adolescent mental  
health: Prevention and intervention, London, Routledge  
Taylor & Francis Group.  
[12] Trương Thị Khánh Hà, (2013), Giáo trình Tâm lí học  
phát triển, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.  
[13] Lê Minh Nguyệt - Ngô Thị Hạnh - Nguyễn Phương Linh,  
(2018), Áp lực gây căng thăng tâm lí ở học sinh trung học  
cơ sở, Kỉ yếu hội thảo Vai trò của tâm lí học trường học  
trong việc đảm bảo sức khỏe tâm lí cho học sinh và gia  
đình, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.  
[14] Trương Quang Lâm, Vũ Liên Oanh, (2019), Cái tôi học  
đường của học sinh trung học cơ sở, Tạp chí Tâm lí học,  
tr.45 - 54.  
[15] Nguyễn Thị ꢀnh Nguyệt, (2018), Rối nhiễu cảm xúc ở  
học sinh trung học cơ sở. Luận án Tiến sĩ Tâm lí học,  
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học  
Quốc gia Hà Nội.  
[16] Mclaughlin. C, (1999), Counselling in schools:  
Looking back and looking forward, British  
Journal of Guidance and Counselling 27(1):13-22.  
DOI:10.1080/03069889900760021.  
[5] Nguyễn Thị Nhân ꢀi, Phạm Thị Diệu Thúy, (2019), Thực  
trạng hành vi gây hấn của thanh thiếu niên Việt Nam  
trong bối cảnh học đường, Tạp chí Tâm lí học, tr.50 - 62.  
[6] Bùi Thị Thu Huyền, (2019), Hành vi gây hấn và sự đồng cảm  
ở học sinh trung học cơ sở, Tạp chí Tâm lí học, tr.69 - 83.  
[7] Đặng Hoàng Minh, Bahr Weiss, Nguyễn Cao Minh, Trần  
Nguyên Ngọc, (2013), Nghiên cứu dịch tễ các vấn đề sức  
khỏe tâm thần ở trẻ em Việt Nam trên nhóm mẫu đại diện  
toàn quốc, Tạp chí Tâm lí học, tr.54 - 67.  
[8] Nguyễn Thị Minh Hằng, (2014), Nhận thức và ứng xử  
của cha mẹ với rối nhiễu cảm xúc ở học sinh trung học cơ  
sở, Tạp chí Tâm lí học, tr.50 - 64.  
THE NEEDS ON PSYCHOLOGICAL COUNSELLING  
OF JUNIOR HIGH SCHOOL STUDENTS IN QUANG NINH PROVINCE  
Truong Quang Lam1, Dinh Ngoc Son2  
Le Thi Phuong3, Hoang Dai4  
ABSTRACT: The paper presents the results of studying the current situation  
1 Email: lamtq.ps[email protected]  
of psychological counselling needs for junior high school students,  
VNU University of Social Science and Humanities  
including 1782 students in Ha Long city and Van Don district of Quang Ninh  
336 Nguyen Trai, Thanh Xuan, Hanoi, Vietnam  
province. The main methods were literature and questionnaire surveys.  
The results show that the majority of students acknowledge the needs of a  
school counselling room in their schools. Besides, the issues that students  
need to have a high level of psychological counselling are about life skills,  
career orientation as well as emotions and school relationships. There  
is a statistically significant difference in the student’s needs for school  
consultations by gender, location and grade.  
2 Email: dinhngocson[email protected]  
3 Email: lephuong1[email protected]  
4 Email: hoangdai.vps@quangninh.edu.vn  
Department of Education and Training of Quang Ninh  
20th - 21st Floor, the Provincial Administrative Building  
No.3, Hong Ha ward, Ha Long city,  
Quang Ninh province, Vietnam  
KEYWORDS: Needs; counselling; school counselling; junior high school; school  
counselling room.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
58  
pdf 5 trang Thùy Anh 14040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhu cầu tham vấn tâm lí học đường của học sinh trung học cơ sở ở tỉnh Quảng Ninh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhu_cau_tham_van_tam_li_hoc_duong_cua_hoc_sinh_trung_hoc_co.pdf