Tạo cảm hứng học tập cho sinh viên trong các giờ Tâm lí - Giáo dục học ở trường cao đẳng sư phạm
Võ Thị Thanh
Tạo cảm hứng học tập cho sinh viên trong các giờ
Tâm lí - Giáo dục học ở trường cao đẳng sư phạm
Võ Thị Thanh
TÓM TẮT: Bài viết đề cập đến khái niệm cảm hứng và cảm hứng học tập, chỉ ra những
yếu tố ảnh hưởng đến cảm hứng học tập và đề xuất những giải pháp tạo cảm hứng
học tập cho sinh viên trong các giờ Tâm lí - Giáo dục học ở trường cao đẳng sư phạm.
Những biện pháp tạo cảm hứng học tập cho sinh viên, bao gồm: Cải tiến phương
pháp dạy học; Đánh giá sở trường của sinh viên; Hướng dẫn sinh viên ứng dụng tâm
lí học vào giáo dục và cuộc sống qua việc thiết kế kịch bản dạy học các học phần
Tâm lí học; Kĩ năng sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ; Nuôi dưỡng
cảm xúc tích cực đối với nghề dạy học. Việc tạo môi trường học tập thân thiện cũng
như chọn lọc nội dung giảng dạy cần được giảng viên chú ý chọn lọc kĩ. Giảng viên
cần hiểu sâu sắc và nhận thấy được sự cần thiết phải tạo cảm hứng học tập cho sinh
viên. Từ đó, giảng viên tích cực rèn luyện để có thể tổ chức những giờ học gây cảm
hứng học tập cho sinh viên.
Trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa - Vũng Tàu
689 Cách Mạng Tháng Tám, Bà Riạ - Vũng Tàu, Việt Nam
Email: thanhcdspv[email protected]
TỪ KHÓA: Cảm hứng học tập; sinh viên; cao đẳng sư phạm.
Nhận bài 19/08/2017 Nhận kết quả phản biện và chỉnh sửa 20/11/2017 Duyệt đăng 25/02/2018.
1. Đặt vấn đề
liệt, tạo điều kiện để óc tưởng tượng sáng tạo hoạt động có
Một trong những yêu cầu của đổi mới căn bản, toàn diện hiệu quả.
giáo dục (GD) và đào tạo (ĐT) theo tinh thần của Nghị
Chúng ta phải tự mình cảm thấy hứng thú, có xúc cảm tích
quyết số 29-NQ/TW là chuyển từ việc trang bị kiến thức cực với việc đó thì mới cố gắng để hoàn thành nó một cách
sang việc phát triển năng lực (NL) và phẩm chất người sáng tạo. Nguồn cảm hứng còn là nhiên liệu của niềm đam
học. Hiện nay, bên cạnh những sinh viên (SV) tích cực mê. Từ đó, cảm hứng là trạng thái dâng trào những cảm xúc,
vẫn còn rất nhiều SV có hiện tượng chán học, học miễn thúc đẩy óc tưởng tượng sáng tạo, hoạt động có hiệu quả.
cưỡng, bắt buộc, học để đối phó qua được kì thi cử, không
cảm hứng, không có niềm vui và một bộ phận SV có hiện
tượng buông bỏ… Nguyên nhân thì có nhiều, song một
b. Khái niệm cảm hứng học tập
Cảm hứng là một trạng thái tâm lí, là một yếu tố thuộc về
phần không nhỏ là do giảng viên chưa kích thích, chưa tạo tinh thần. Nó không trực tiếp tạo nên kết quả HT cho người
cảm hứng cho SV học tập (HT), còn người học thiếu tích học nhưng lại là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình
cực, mất phương hướng. Hiện tượng này diễn ra ở nhiều HT sáng tạo. Nó khiến người học có tinh thần thoải mái, tạo
môn học nói chung và ở cả các môn Tâm lí – GD học (TL - niềm hứng khởi cho việc HT.
GDH) nói riêng. Với mong muốn góp phần nâng cao chất
Theo chúng tôi, cảm hứng HT là một trạng thái cảm xúc được
lượng dạy và học các môn TL - GDH trong nhà trường để dâng trào, thúc đẩy người học tích cực và say mê. Như vậy, yếu
người học thực học, thực nghiệp và để Tâm lí học, GD học tố cảm xúc giữ vai trò quan trọng trong việc có cảm hứng hay
thực sự là khoa học ứng dụng trong GD và ĐT, trong phạm không. Nguồn cảm xúc tích cực ấy là cơ sở để có cảm hứng
vi bài viết này, chúng tôi đề xuất một số biện pháp tạo cảm HT. Trong Tâm lí học, cảm xúc tích cực là những xúc cảm xuất
hứng HT cho SV trong các giờ TL - GDH ở trường cao hiện khi con người được thỏa mãn các nhu cầu hoặc hài lòng về
đẳng sư phạm (CĐSP).
các mối quan hệ hay công việc như: Vui mừng, phấn khởi, lâng
lâng, nhẹ nhõm, thích thú, thanh thản, hào hứng, quyết tâm, hi
vọng, biết chấp nhận, vượt khó. Khi có cảm hứng, người học dễ
hoàn thành nhiệm vụ HT một cách sáng tạo.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến cảm hứng học tập của
sinh viên
2.1.1. Khái niệm cảm hứng và cảm hứng học tập
a. Khái niệm cảm hứng
2.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến cảm hứng học tập của
sinh viên
Có rất nhiều yếu tố tác động, ảnh hưởng đến cảm hứng học
Cảm hứng là một trạng thái tâm lí của con người. Theo
Từ điển tiếng Việt, đây là trạng thái tâm lí đặc biệt khi sức tập của SV, có những yếu tố thuộc về giảng viên và có những
chú ý được tập trung cao độ, kết hợp với cảm xúc mãnh yếu tố thuộc về SV. Sau đây là một số yếu tố cơ bản:
Số 02, tháng 02/2018
65
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
a. Các yếu tố thuộc về giảng viên
- Phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và cách đánh
2.2. Biện pháp tạo cảm hứng học tập cho sinh viên
Đối với giảng viên, nhiệm vụ khó khăn và quan trọng là
giá của của giảng viên: Trong dạy học, giảng viên áp dụng làm sao cho SV thích học. Vì thế, chúng tôi quan niệm rằng
các phương pháp và hình thức dạy học vừa khoa học, vừa thực chất của việc dạy học là truyền cảm hứng và đánh thức
phù hợp với sở thích của SV cũng là một nhân tố ảnh hưởng khả năng tự học của người học. Để SV có cảm hứng khi
đến cảm hứng HT. Đó chính là cách tổ chức dạy học bằng tham gia vào lớp học, giảng viên có thể áp dụng các biện
trắc nghiệm, dạy học theo tình huống, dạy học dự án và tổ pháp sau:
chức dạy học online ngoài lớp học…
- Kĩ năng sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và phi
ngôn ngữ: Giảng viên có thái độ thân thiện, giọng nói hay,
truyền cảm sẽ góp phần làm cho bài giảng có hồn, có sức
2.2.1. Cải tiến phương pháp dạy học để tạo cảm hứng
học tập cho sinh viên
Các môn Tâm lí học – GD học rất quan trọng trong các
thuyết phục và mang tính lan tỏa hơn. Giọng nói truyền cảm trường ĐT giáo viên. Nhưng người dạy dù có nỗ lực đến
là phương tiện tốt nhất để giảng viên thực hiện truyền cảm mấy mà chưa truyền được cảm hứng cho người học, chưa
hứng đến người học.
làm cho người học thấy cái hay, cái thú vị, cái giá trị chân
- Cảm xúc của giảng viên: Bằng cảm xúc của mình, giảng thực mà tri thức đem lại thì giờ dạy vẫn không có hiệu quả.
viên lôi cuốn SV vào tiết học là một điều hết sức quan trọng, Giảng viên cần cải tiến phương pháp dạy học để SV say mê
đó là một nghệ thuật và cũng là một yêu cầu ở phẩm chất việc học chứ không phải để SV lệ thuộc vào giảng viên. Sau
người thầy. Theo các nhà tâm lí học sư phạm: Nếu giảng đây là một số cách:
viên có cảm xúc, có hứng thì bài giảng rất sinh động, sáng
tạo, thậm chí hết giờ mà SV vẫn chưa muốn rời khỏi giảng
- Tạo cơ hội cho SV HT chủ động
Học chủ động nghĩa là SV tham gia trao đổi tích cực/chủ
đường, muốn được nghe tiếp. Ngược lại, nếu mất cảm xúc thì động. Tại đó, SV không lắng nghe thụ động và cắm cúi ghi
chất lượng bài giảng giảm sút rõ rệt và sau những giờ học đó, chép bài giảng mà chủ động/tích cực đóng góp suy nghĩ và ý
SV thường rơi vào trạng thái căng thẳng, mệt mỏi.
tưởng xác đáng trong các hoạt động và thảo luận tương tác,
theo sự dẫn dắt của giảng viên. Một lớp học theo cách học
chủ động sẽ tràn ngập tiếng nói bởi những cuộc đối thoại
b. Các yếu tố thuộc về bản thân sinh viên
- Các giá trị thuộc về cá nhân: Giá trị và phẩm chất hoặc các nhóm hợp tác với nhau (trên máy tính hoặc trực
không phải hoàn toàn giống nhau. Có thể coi giá trị chính tiếp). Muốn vậy, giảng viên cần có sự thay đổi. Nếu trước
là con người thật, còn phẩm chất là những gì ta làm để biểu đây giảng viên chú tâm vào việc phân tích giảng giải thì bây
thị các giá trị ấy. Ví dụ: SV xem trọng tri thức, chú trọng các giờ cần thiết kế các hoạt động để SV trao đổi, đặt câu hỏi và
kĩ năng nghề nghiệp thì họ sẽ tích cực, chăm chỉ… Nếu SV tranh luận trong suốt buổi học, tự phát hiện kiến thức hoặc có
nhận diện được giá trị của bản thân, điều chỉnh chúng theo thể tổ chức một lớp học như một trò chơi có chủ đề. Giảng
hướng cân bằng, lành mạnh và tìm cách thể hiện chúng thông viên cũng tham gia vào chia sẻ những kiến thức, kinh nghiệm
qua mọi hành động thì chắc chắn SV sẽ sở hữu một sức mạnh thực tế của mình cho SV. Trong những giờ học các môn TL
nội lực vô cùng to lớn.
- GDH, phần trình bày của giảng viên chỉ nên chiếm 50%,
- Hệ thống nhu cầu: Những nhu cầu chính đáng sẽ tạo thời gian còn lại là phần trình bày ý tưởng của SV. Cách tổ
động lực cho SV HT và phấn đấu. Ví dụ: Nhu cầu HT, nhu chức giờ học như vậy sẽ giúp SV có thêm sự tự tin, tính chủ
cầu học liệu, nhu cầu giao lưu văn hóa, nhu cầu thành đạt…
động và tạo động lực cho việc nghiên cứu và tìm hiểu kiến
- Tính tích cực HT: Tính tích cực là một nhân tố quan thức trước khi đến lớp cũng như phát triển các nét tính cách
trọng trong HT. Nếu tích cực, SV sẽ HT chủ động, có ý chí tích cực. Khi SV được phát huy tính chủ động sẽ có nhiều
vượt khó, luôn tìm kiếm tri thức và sáng tạo để không ngừng xúc cảm tích cực trong HT và nguồn cảm hứng cũng dần
nâng cao hiệu quả HT.
được hình thành.
- Cảm xúc của SV: M.Gorki từng nói: “Thiên tài nảy nở
từ tình yêu đối với công việc”. HT cũng cần phải có cảm xúc,
- Tạo những tình huống thách thức
Giảng viên tạo cơ hội cho SV HT chủ động đồng thời
có hứng thì học mới hiệu quả và có khả năng khơi dậy mạch cũng tạo những tình huống thách thức đòi hỏi SV phải nỗ
nguồn của sự sáng tạo.
lực mới vượt qua. Ở đó, SV phải thể hiện khả năng để tìm
chỗ đứng của mình trong các loại hình hoạt động này hay
hoạt động khác. SV tự điều chỉnh, chủ động tìm kiếm giải
c. Các yếu tố khác
Ngoài các yếu tố trên, còn một số yếu tố khác tham gia tạo pháp để phát triển việc học của chính mình. Bản chất của
cảm hứng HT cho SV như: SV là thích tìm tòi, khám phá nên việc tạo những thách thức
- Cơ sở vật chất: Phòng ốc thoáng mát, giáo trình tài liệu cũng khiến họ có hứng với việc HT. Hơn nữa, khi giảng
phong phú… viên giúp SV thêm tin tưởng vào chính bản thân, tìm thấy
- Môi trường xung quanh: Quan hệ bạn bè thân thiện, nhiều chỗ đứng của mình thì giảng viên mới thực sự là người
SV đam mê HT, nghiên cứu…
truyền cảm hứng.
66 TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
Võ Thị Thanh
- Kết hợp hình thức HT chủ động trên lớp với học
online ngoài lớp học
Giảng viên thiết kế kiểu HT chủ động với học online ngoài
2.2.4. Kĩ năng sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và phi
ngôn ngữ
Giảng viên cần có kĩ năng sử dụng các phương tiện ngôn
lớp học thông qua các phương tiện truyền thông kĩ thuật số. ngữ và phi ngôn ngữ để mỗi khi giao tiếp với giảng viên, SV
Như vậy, ngoài giờ học, SV được yêu cầu xem video mà đều thấy thích thú:
giảng viên dạy thông qua website hoặc người học sẽ hoàn
- Sử dụng những ngôn ngữ tích cực và lời khen: Thông
thành hoạt động HT online. Như vậy, SV sẽ không bị gò bó thường, con người hay nhớ về những kí ức đau buồn, những
mà chủ động về thời gian HT.
tổn thương bởi lời nói của người khác. Nếu bị chê bai, SV
sẽ mất đi động lực phấn đấu, dẫn đến buông xuôi. Khi giao
tiếp với SV, giảng viên cần sử dụng ngôn ngữ tích cực, khen
2.2.2. Đánh giá sở trường của sinh viên
Để đánh giá NL HT của SV, trong số các bài kiểm tra ngợi những cố gắng hay thành tích của SV dù rất nhỏ để
giữa kì, bài thi cuối kì có thể chọn một hoặc một số bài động viên, khích lệ tinh thần cho SV. Giảng viên biết nói lời
áp dụng kiểu kiểm tra, đánh giá theo sở trường của SV, khen chân thành cũng được nhìn nhận là người thân thiện,
đó là: Tập trung kiểm tra, đánh giá đúng vào kĩ năng, NL cởi mở.
hoặc phần kiến thức mà SV tự cho là họ giỏi nhất, chứ
- Về giọng nói: Giảng viên cần phải nói rõ ràng, âm lượng
không tập trung vào những chỗ mà thầy cho là trò yếu đủ nghe. Ngữ điệu sôi nổi, trầm bổng và đầy nhiệt huyết thì
nhất. Xuất phát từ ĐT theo học chế tín chỉ, SV tự lập ra mới có sức truyền cảm hứng. Giọng đều đều, đơn điệu hoặc
lộ trình, kế hoạch HT cho mình, tự chọn môn học bổ trợ tốc độ chậm sẽ khiến cho SV mất hứng, buồn ngủ.
bên cạnh các môn học bắt buộc, SV sẽ chỉ đăng kí thi,
- Tạo dáng điệu hào hứng: Dáng điệu đó là cách đi, đứng,
kiểm tra khi cho rằng mình đã đủ trình độ để thi, kiểm cười, nói… Giảng viên bước chân vào lớp với dáng điệu
tra. Khi đó họ gặp giảng viên, đăng kí trước 2 hoặc 3 vấn hoạt bát sẽ tạo cảm xúc tích cực cho SV. Ngược lại, dáng
đề thuộc nội dung môn học mà họ cho là mình nắm vững điệu chậm chạp, uể oải… sẽ gây xúc cảm chán nản, mệt
nhất. Giảng viên xem xét và sau khi đã chấp thuận thì mỏi. Vì thế, giảng viên cần phải tạo dáng điệu hào hứng,
khi kiểm tra hay thi, giảng viên chỉ kiểm tra phần kiến phấn chấn khi bước chân vào lớp để truyền cảm xúc tích
thức đã được đăng kí. Đối với chúng tôi, quan trọng nhất cực cho SV.
là đánh giá đúng những chỗ mà SV cho là họ giỏi, là sở
- Giảng viên cần thể hiện thái độ thân thiện, cởi mở với SV.
trường, xem có thực sự là giỏi, là mạnh không. Với cách Thái độ lạnh lùng, xa cách cũng làm SV mất hứng HT.
đánh giá theo sở trường của SV, họ sẽ cảm thấy được tôn
trọng và rất phấn khởi HT.
2.2.5. Nuôi dưỡng cảm xúc tích cực đối với nghề dạy học
Cảm xúc tích cực làm cho con người dễ bày tỏ sự quan
tâm, cởi mở với người khác, dễ gây thiện cảm hơn, sẵn
sàng hi sinh hay vượt khó hơn… Cảm xúc cảm tích cực
là yếu tố quan trọng để tạo cảm hứng. Trong hoạt động
2.2.3. Hướng dẫn sinh viên ứng dụng tâm lí học vào
giáo dục và cuộc sống qua việc thiết kế kịch bản dạy
học các học phần Tâm lí học
Trong dạy học, việc thiết kế được kịch bản dạy học là hay trong các mối quan hệ giao tiếp, cảm xúc tích cực có
khâu thiết yếu, quyết định khả năng thành công của tiết tác dụng thúc đẩy con người vào trạng thái dâng trào cảm
học. Kịch bản dạy học các học phần Tâm lí học ở các hứng. Người giảng viên giữ vai trò là người truyền cảm
trường CĐSP không chỉ hàm chứa tiềm năng tạo ra tình hứng thì bản thân họ phải có hứng khi vào lớp. Giảng viên
huống có vấn đề, tổ chức được hoạt động HT mang tính cần phải nhận biết được cảm xúc của mình về chủ đề, xem
khám phá, kích thích SV suy nghĩ, tư duy mà còn phải mình có khả năng xúc động trước nó để dạy tốt hay không.
thể hiện tính ứng dụng của Tâm lí học vào GD và cuộc Nếu giảng viên hờ hững, không cảm xúc thì sẽ “giết chết”
sống. Có như vậy, những giờ học Tâm lí học mới thực sự lòng ham muốn HT của SV. Nếu giảng viên tự nhận thấy
vừa có ý nghĩa vừa tạo được cảm xúc cho SV. Sau đây là mình chưa đủ xúc động trước vấn đề sẽ trình bày thì cần
minh họa một phần của kịch bản dạy học (có ứng dụng tập trung nghiên cứu về nó nhiều hơn để phát hiện ra cái
trắc nghiệm khách quan - xem phần minh họa môn Tâm hay và hào hứng với nó.
lí học ở trang 68):
Để nuôi dưỡng những cảm xúc tích cực, người giảng viên
Ứng dụng Tâm lí học vào GD và cuộc sống khi xây cần sống khỏe mạnh, lạc quan yêu đời, yêu người, yêu nghề,
dựng kịch bản dạy học các học phần Tâm lí học, SV cho dù cuộc sống có nhiều khó khăn, thách thức hay những
không những thấy rõ giá trị của các giờ Tâm lí học mà trở ngại nào khác.
còn cảm nhận được sự bổ ích và lí thú từ những giờ học
đó, Qua đó, SV được hoạt động nhiều hơn, suy nghĩ,
sáng tạo nhiều hơn và biết ứng dụng vào dạy học, cuộc
2.2.6. Một số biện pháp khác
- Giảng viên tạo môi trường HT thân thiện, tất cả vì mục
sống nhiều hơn trên con đường tìm kiếm, phát hiện ra tiêu chung. Ở đó, mọi người cùng HT và chia sẻ, cổ vũ cho
tri thức. nhau hoàn thành nhiệm vụ HT, cũng sẽ tạo cảm hứng cho
Số 02, tháng 02/2018
67
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
Môn: Tâm lí học
Bài: Các quy luật của đời sống tình cảm con người
Nội dung
Học liệu
Hoạt động của giảng viên và sinh viên
1. Quy luật thích 1. Tình huống và câu tục 1. Nghiên cứu tình huống, nhận xét, kết luận
ứng
ngữ
* Trả lời các câu hỏi:
Một loại xúc cảm - Giảng viên áp dụng
- Giáo viên áp dụng phương pháp dạy học tình huống cho nhiều tiết học liên tiếp, học sinh
lặp đi lặp lại nhiều phương pháp dạy học tình sẽ thấy (hứng thú nhiều hơn/kém dần sự háo hức).
lần sẽ bị suy yếu. huống cho nhiều tiết học - Câu tục ngữ “xa thương gần thường” hiểu như thế nào là đúng hơn cả:
• Cảm xúc lặp lại liên tiếp.
• Suy yếu - Câu tục ngữ: “Gần
thường xa thương”
a. Ở xa mới thương, ở gần không thương
b. Ở xa thương nhiều, ở gần thương ít
c. Tình cảm, xúc cảm chỉ thể hiện khi ở xa nhau
d. Xúc cảm nếu thường xuyên lặp lại sẽ giảm bớt cường độ
Các tình huống trên đều là biểu hiện của quy luật thích ứng.
* Hoàn tất kết luận sau bằng cách chọn từ thích hợp điền vào chỗ trống:
Nếu một loại xúc cảm nào đó (...) sẽ dần dần (...) (bị suy yếu đi/lặp lại nhiều lần/được
mạnh hơn).
* Ứng dụng vào GD và cuộc sống
(Chia nhóm thảo luận, SV cử đại diện phát biểu, các nhóm khác bổ sung, giảng viên chốt lại
kiến thức). Gợi ý:
Trong GD:
- Giáo viên cần làm gì để làm mất tính nhát cho học sinh?
- Giáo viên cần làm gì để giờ học không bị nhàm chán?
Trong cuộc sống:
- Cần làm gì để tình yêu thêm xanh và đẹp mãi?
- Chúng ta cần làm gì để khắc phục sự nhàm chán trong công việc?
- Nhà quản lí quản lí cần phải làm gì để nhân viên hứng thú với công việc?
2. Quy luật tương 2. Tình huống và đoạn
2. Nghiên cứu tình huống, clip, nhận xét, kết luận
* Nghiên cứu tình huống:
phản
clip
Một trải nghiệm
cảm xúc này
có thể làm tăng
cường một trải
- Trong bóng đá: Sự lo âu - Họ đang theo dõi trận đấu với sự (lo âu hồi hộp/vinh dự,tự hào/tin tưởng tuyệt đối), vì vậy,
hồi hộp khi theo dõi suốt niềm hân hoan khi trận đấu kết thúc thắng lợi (không đáng kể/càng tăng lên/càng giảm đi)
trận đấu sẽ làm tăng niềm - Chờ đợi trong sự (buồn bã, lo lắng/dửng dưng, thờ ơ/lạnh lùng, vô cảm) thì niềm vui hạnh
hân hoan khi chiến thắng. phúc khi gặp mặt (bị giảm đi/tăng gấp bội)
nghiệm cảm xúc - Trong cuộc sống: Sự
Các tình huống trên đều là biểu hiện của quy luật tương phản.
khác trái ngược
với nó.
buồn bã khi chờ đợi sẽ
* Từ các nhận xét trên, hãy rút ra kết luận:
làm niềm vui tăng gấp bội Một trải nghiệm cảm xúc này có thể làm (giảm đi / tăng cường / không đổi) một trải nghiệm
• Trải nghiệm cảm khi gặp mặt.
cảm xúc khác (cùng loại / tương đồng / trái ngược) với nó
* Ứng dụng vào GD và cuộc sống
(Chia nhóm thảo luận, SV cử đại diện phát biểu, các nhóm khác bổ sung, giảng viên chốt lại
kiến thức). Gợi ý:
xúc làm tăng cảm - Càng yêu nước càng
xúc trái ngược
căm thù lũ giặc độc ác.
Trong GD:
- Quy luật “tương phản” là cơ sở của phương pháp bùng nổ của A. X. Macarenco.
- Quy luật này được vận dụng vào GD nhằm GD truyền thống cho học sinh.
- Trong Văn học, quy luật này được vận dụng để xây dựng tính cách nhân vật.
- Giáo viên phải nghiêm khắc trên tinh thần thương yêu học sinh.
Trong cuộc sống:
- Chỉ khi mất đi một điều gì đó, ta mới nhận ra giá trị của chúng. Vì vậy, hãy biết trân trọng
những gì mình đang có.
người học. Bởi vì, học là hạnh phúc không chỉ vì những lợi bài học, lí giải các hiện tượng trong cuộc sống theo quan
ích mà nó mang lại mà hạnh phúc còn nằm ngay trong chính điểm khoa học như: Hiện tượng thần đồng ở trẻ lên ba; hiện
sự học.
tượng nhiều tài năng được xuất hiện qua các thế hệ trong một
- Bên cạnh kiến thức khô khan, giảng viên cần chọn lọc gia đình (khi dạy bài NL)… Từ đó, khơi gợi hứng thú và tình
những nội dung hay, có ý nghĩa, có tính thực tiễn để đưa vào yêu môn học đối với mỗi SV.
68 TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
Võ Thị Thanh
3. Kết luận
thầy vĩ đại truyền cảm hứng là động lực để mỗi giảng viên
Làm sao để SV có được cảm hứng và duy trì các thói TL - GDH thêm yêu nghề, yêu người, nỗ lực thay đổi, tìm
quen học tập tích cực các môn TL - GDH trong suốt những kiếm phương pháp dạy học tích cực thích hợp. Đồng thời
năm học ở trường? Đó chính là mối quan tâm lớn nhất của rèn luyện kĩ năng sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và
các giảng viên TL - GDH có tâm huyết với nghề nghiệp. phi ngôn ngữ, kết hợp cách dẫn dắt hài hước, sự thân thiện
Quan niệm cho rằng: Người thầy tầm thường tường thuật, trong từng tiết dạy sẽ thành công với vai trò “sứ giả truyền
người thầy tốt giải thích, người thầy giỏi thể hiện, người cảm hứng”.
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2015), Dự thảo Chương trình giáo dục phổ
[4] Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên) - Trần Trọng ủy, (2004), Tâm lí
học đại cương, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.
[5] Nhiều tác giả, (2014), Cẩm nang kinh doanh Harvard – Tuyển dụng
và đãi ngộ người tài, NXB Tổng hợp ành phố Hồ Chí Minh.
[6] Sổ tay doanh nhân, (2002), uật động viên, NXB Trẻ.
thông tổng thể.
[2] Trung tâm Từ điển Tiếng Việt, (1995), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà
Nẵng.
[3] Phan Trọng Ngọ (chủ biên), (2005), Bộ câu hỏi ôn tập và đánh giá
kết quả học tập môn Tâm lí học đại cương, NXB Đại học Sư phạm,
Hà Nội.
DEVELOPING STUDENTS’ LEARNING INSPIRATION IN PSYCHOLOGY-
EDUCATION PERIODS AT COLLEGES OF EDUCATION
Vo Thi Thanh
ABSTRACT: The article mentions the concept of inspiration and learning inspiration,
impact factors on learning inspiration, and suggests inspired solutions to students in
Psychology-Education periods at colleges of education. These solutions were: Improving
teaching methods; Student's interest assessment; Guide students to apply psychology
into education and life through designing instructional modules in Psychology; Skill to use
language and non-verbal means; Nurture positive emotions in the teaching profession.
Lecturers should carefully create a friendly learning environment as well as select the
teaching contents. They need to thoroughly understand and realize the need to inspire
students’ learning. Then, they actively self- train to organize inspired learning sessions
for students.
Ba Ria - Vung Tau College of Education
689 Cach Mang Thang Tam,
Ba Ria - Vung Tau, Vietnam
Email: Thanhcdspv[email protected]
Keywords: Learning inspiration; students; colleges of education.
Số 02, tháng 02/2018
69
Bạn đang xem tài liệu "Tạo cảm hứng học tập cho sinh viên trong các giờ Tâm lí - Giáo dục học ở trường cao đẳng sư phạm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tao_cam_hung_hoc_tap_cho_sinh_vien_trong_cac_gio_tam_li_giao.pdf

