Nhân tố tác động đến trợ cấp người cao tuổi theo giới tính
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 53.2021
NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TRỢ CẤP NGƢỜI CAO TUỔI
THEO GIỚI TÍNH
Trần Thị Thu Hƣờng1, Nguyễn Thị Hồng Điệp1
TÓM TẮT
Trợ cấp xã hội là một trụ cột của an sinh thu nhập cho người cao tuổi, thể hiện đạo
lý, truyền thống “uống nước nhớ nguồn” và “tương thân, tương ái” của người Việt Nam
đối với những người có công đối với đất nước, đối với những người rơi vào hoàn cảnh
khó khăn, đặc biệt đối với người cao tuổi. Trợ cấp xã hội là một trụ cột an sinh thu nhập
cho người cao tuổi. Sử dụng mô hình propit và bộ số liệu điều tra Người cao tuổi Việt
Nam (VNAS 2011), tác giả phân tích nhân tố tác động đến thụ hưởng trợ cấp xã hội của
người cao tuổi theo giới tính.
Từ khóa: Trợ cấp xã hội, an sinh xã hội, người cao tuổi.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thu nhập là một yếu tố quan trọng nhằm an sinh thu nhập ngƣời cao tuổi, đƣợc định
nghĩa là dòng chảy của các khoản thu bằng tiền hoặc các khoản hỗ trợ, cụ thể đƣợc thu từ
bốn nguồn: thu nhập từ việc làm (tiền công/tiền lƣơng, tự sản xuất kinh doanh); thu nhập
từ vốn (đề cập đến lãi, cổ tức, lợi nhuận), và tài sản (là lợi tức thu đƣợc cho thuê tài sản,
đất đai, tài sản khác); từ các khoản chuyển cá nhân (bao gồm các khoản chia sẻ của những
ngƣời trong gia đình, tiền cho thuê đất, tài sản tài chính), các khoản trợ cấp xã hội và
lƣơng hƣuꢀ Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến
thu nhập cho ngƣời cao tuổi Việt Nam từ trợ cấp xã hội.
2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Điều tra Quốc gia về ngƣời cao tuổi (VNAS) năm 2011 đã khảo sát 4007 ngƣời từ
50 tuổi trở lên tại 12 tỉnh thành đại diện cho 6 khu vực sinh thái. Tuy nhiên, trong phạm vi
nghiên cứu tác giả chỉ thực hiện các phân tích trên 2789 ngƣời cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên)
tại 12 tỉnh thành, đại diện cho 6 khu vực sinh thái Việt Nam là: Hƣng Yên, Nam Định, Hà
Nội, Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Thanh Hoá, Đắk Lắk, Đồng Nai, thành
phố Hồ Chí Minh, Sóc Trăng và Tiền Giang.
Để xác định ảnh hƣởng của các yếu tố khác nhau đến sự thụ hƣởng trợ cấp xã hội
của NCT nhằm an sinh thu nhập, nghiên cứu thiết lập mô hình hồi quy xác suất đa biến để
phân tích:
P(Pi = 1)= βiXi + Ui
Trong đó:
Xi là các biến độc lập liên quan đến biến phụ thuộc.
Ui là sai số ngẫu nhiên
βi là tham số phản ánh xu hƣớng thay đổi giữa biến Xi và P(Pi = 1)
35
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 53.2021
Sau khi tiến hành mô hình hồi quy probit nhị phân cho nam và nữ xác suất ngƣời
cao tuổi nhận trợ cấp xã hội. Nghiên cứu sẽ tiến hành phân tích hiệu ứng cận biênꢀ Để
xem xét khi các biến độ lập gia tăng một đơn vị thì xác suất thụ hƣởng của ngƣời cao tuổi
sẽ thay đổi nhƣ thế nàoꢀ Mô hình đƣợc sử dụng:
ΔP = αΔXi
Trong đó: Δ là phản ánh sự thay đổi của P và Xi.
α là cho biết khi các yếu tố khác không đổi Xi thay đổi ΔXi thì xác suất
(P) thay đổi α lần sự thay đổi của Xi.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Tỷ lệ ngƣời cao tuổi Việt Nam nhận trợ cấp xã hội theo giới tính và theo
nhóm nhân tố tác động
Bảng 1. Tỷ lệ ngƣời cao tuổi có thu nhập từ trợ cấp xã hội theo giới tính (%)
Khác biệt
Nam - Nữ
Biến số
Yếu tố nhân khẩu học
Nam
Nữ
Nhóm tuổi
60-69 (nhóm tham chiếu)
70-79
13.66
17.94
79.09
12.27
18.21
81.87
1.39**
0.27
≥80
2.78***
Trình độ học vấn
Dƣới THPT (nhóm tham chiếu)
Trên THPT
33.88
9.53
34.42
9.47
0.54***
0.06***
Tình trạng hôn nhân
Chƣa từng kết hôn, khác (nhóm tham chiếu)
Có vợ/chồng
Goá/ly thân, ly dị
Tình trạng sức khỏe
Tốt (nhóm tham chiếu)
Yếu
48.4
24.47
50.4
34.05
19.56
49.01
14.35
4.91***
1.39
20.38
32.28
21.25
37.67
0.87
5.39**
Yếu tố gia đình
Khu vực sống
30.48
20.11
34.82
26.85
4.34
6.74
Nông thôn (nhóm tham chiếu)
Thành thị
Hộ nghꢁo
Nghèo (nhóm tham chiếu)
Không nghèo
57.09
23.17
48.24
28.97
8.85
5.8
Hoàn cảnh sống
Sống một mình z
Sống cùng vợ/chồng
Sống cùng con cháu
60.13
25.1
26.92
52.16
23.48
32.42
7.97***
1.62***
5.5**
36
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 53.2021
Hỗ trợ gia đình cho cuộc sống hàng ngày của NCT
Không (nhóm tham chiếu)
30.37
18.67
33.88
26.15
3.51
7.48
Có
Yếu tố xã hội và cộng đồng
Tham gia hoạt động xã hội
31.84
22.0
36.89
21.92
5.05***
0.08***
Không (nhóm tham chiếu)
Có
Vị thế NCT trong cộng đồng
46.22
26.0
63.56
29.67
17.34*
3.67
Không (nhóm tham chiếu)
Có
ASXH và hiểu biết quyền lợi dành cho NCT
Lƣơng hƣu
33.27
7.71
36.88
4.99
3.61***
2.72***
Không có (nhóm tham chiếu)
Có
Bảo hiểm y tế
9.58
33.47
15.42
38.83
5.84***
5.36
Không có (nhóm tham chiếu)
Có
Kiến thức về quyền lợi giành cho NCT
Không có (nhóm tham chiếu)
Có
29.21
26.86
34.9
31.21
5.69**
4.35
****;**;* tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5%,10%
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra Người cao tuổi Việt Nam(VNAS) 2011
Tỷ lệ ngƣời cao tuổi nhận trợ cấp xã hội tăng lên theo độ tuổi, ở độ tuổi 60 - 69
(13,66% nam, 12,27% nữ), tỷ lệ nam cao hơn nữ là 1,39% với ý nghĩa thống kê 5%, nhóm
tuổi; nhóm tuổi 70 - 79 tỷ lệ nữ nhận trợ cấp xã hội cao hơn nam (17,94% nam, 18.21% nữ),
tuy nhiên sự chênh lệch này không có ý nghĩa thống kê; nhóm 80 tuổi trở lên tỷ lệ hƣởng trợ
cấp xã hội là rất cao (79,09% nam, 81,87% nữ), tỷ lệ nữ nhận trợ cấp cao hơn nam 2,78% với
ý nghĩa thống kê 1%, điều này là do quy định của Chính phủ quy định độ tuổi đƣợc hƣởng trợ
cấp xã hội hàng tháng đối với ngƣời cao tuổi. Ngƣời cao tuổi có trình độ thấp hƣởng trợ cấp
xã hội cao hơn so với ngƣời có trình độ cao (dƣới THPT: 33,88% nam, 34,42% nữ) sự chênh
lệch tỷ lệ của nữ so với nam 0,54% với mức ý nghĩa thống kê 1%, (trên THPT: 9,53% nam,
9,47% nữ), chênh lệch nữ so với nam 0,06 với ý nghĩa thống kê 1%, điều này phù hợp với
thực tế, khi ngƣời cao tuổi có trình độ hạn chế, sự tham gia vào làm việc thấp hơnꢀ
Nhóm các yếu tố gia đình: ở khu vực thành thị và nông thôn tỷ lệ ngƣời cao tuổi là
nữ hƣởng trợ cấp xã hội đều cao hơn nam, tuy nhiên sự chênh lệch này không có ý nghĩa
về mặt thống kê. ngƣời cao tuổi sống trong hộ nghèo, có tỷ lệ nhận trợ cấp cao hơn tỷ lệ
ngƣời cao tuổi sống trong hộ không nghèo, sự chênh lệch tỷ lệ giữa nam và nữ lại không
có ý nghĩa thống kê. ngƣời cao tuổi ở nhóm hoàn cảnh sống: cả nam và nữ ở nhóm sống
một mình có tỷ lệ hƣởng trợ cấp cao hơn, đặc biệt tỷ lệ nam hƣởng trợ cấp nhóm này cao
hơn nữ 7,97% có ý nghĩa thống kê 1%. Sống cùng con cháu tỷ lệ nữ nhận trợ cấp cao hơn
37
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 53.2021
nam 5,5% với ý nghĩa thống kê 5%. ngƣời cao tuổi không nhận hỗ trợ từ gia đình cho
cuộc sống hàng ngày nhận trợ cấp xã hội cao hơn nhóm có hỗ trợ từ gia đình, tỷ lệ ngƣời
cao tuổi là nữ nhận trợ cấp cao hơn nam, tuy nhiên kết quả ƣớc lƣợng chênh lệch lại
không có ý nghĩa về mặt thống kê.
Nhóm yếu tố xã hội và cộng đồng: Nữ cao tuổi không tham gia hoạt động xã hội, có
tỷ lệ nhận trợ cấp cao hơn nam 5,05% (31,84% nam, 36,89% nữ) với ý nghĩa thống kê 1%.
Ngƣời cao tuổi tham gia hoạt động xã hội tỷ lệ nhận trợ cấp thấp hơn nhóm không tham gia
hoạt động xã hội (26,0% nam, 29,67% nữ). Nữ giới cao tuổi không có vị thế trong cộng
đồng có tỷ lện nhận trợ cấp xã hội cao hơn so với nam 17,34% có ý nghĩa thống kê 1%.
Nam cao tuổi có vị thế trong cộng đồng, tỷ lệ nữ nhận trợ cấp cũng cao hơn nam tuy nhiên,
sự chênh lệch này không có ý nghĩa thống kê.
Nhóm các yếu tố ASXH và hiểu biết quyền lợi giành cho người cao tuổi: Ngƣời cao
tuổi không có lƣơng hƣu có tỷ lệ nhận trợ cấp xã hội cao hơn nhóm có lƣơng hƣu, mặt
khác tỷ lệ nữ cao tuổi nhận trợ cấp cao hơn tỷ lệ nam (3,61% với ý nghĩa thống kê 5%).
ngƣời cao tuổi có bảo hiểm y tế, tỷ lệ nữ nhận trợ cấp xã hội cao hơn nam 5,36% nhƣng
không có ý nghĩa thống kê, ngƣời cao tuổi không có bảo hiểm y tế là nữ, tỷ lệ nhận trợ
cấp xã hội cao hơn nam 5,84% có ý nghĩa thống kê 1%. Không có kiến thức về quyền lợi
giành cho ngƣời cao tuổi , tỷ lệ nữ nhận trợ cấp xã hội vẫn cao hơn tỷ lệ nam 5,69% với ý
nghĩa thống kê 5%, nhƣng sự khác nhau lại không có ý nghĩa thống kê.
3.2. Nhân tố tác động đến sự hƣởng trợ cấp của ngƣời cao tuổi
Bảng 2. Kết quả ƣớc lƣợng của mô hình probit về nhân tố ảnh hƣởng
đến sự hƣởng trợ cấp của ngƣời cao tuổi theo giới tính
Biến số
Nam
Nữ
Yếu tố nhân khẩu học
Nhóm tuổi
60-69 (nhóm tham chiếu)
70-79
-
-
0.050**
0.027
≥80
0.479***
0.5812***
Trình độ học vấn
Dƣới THPT (nhóm tham chiếu)
Trên THPT
-
-
-0.0367
0.0113
Tình trạng hôn nhân
Chƣa từng kết hôn, khác (nhóm tham chiếu)
Có vợ/chồng
-
-
-0.0107
-0.067
-0.093**
-0.053
Goá/ly thân, ly dị
Tình trạng sức khỏe
Tốt (nhóm tham chiếu)
Yếu
-
-
0.060**
0.010**
Yếu tố gia đình
Khu vực sống
-
-
Nông thôn (nhóm tham chiếu)
Thành thị
-0.077***
-0.049**
38
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 53.2021
Hộ nghꢀo
-
-
Nghèo (nhóm tham chiếu)
- 0.005
- 0.053**
Không nghèo
Hoàn cảnh sống
-
-
Sống một mình (nhóm tham chiếu)
Sống cùng vợ/chồng
Sống cùng con cháu
Hỗ trợ gia đình cho cuộc sống hàng ngày của NCT
Không (nhóm tham chiếu)
Có
-0.0122*
-0.129
-0.055
-0.035
-
-
-0.060**
-0.043**
Yếu tố xã hội và cộng đồng
Tham gia hoạt động xã hội
Không (nhóm tham chiếu)
Có
-
-
- 0.034
- 0.046**
Vị thế NCT trong cộng đồng
Không (nhóm tham chiếu)
Có
-
-
- 0.056
- 0.10***
ASXH và hiểu biết quyền lợi dành cho NCT
Lương hưu, phúc lợi xã hội
Không có (nhóm tham chiếu)
Có
-
-
- 0.318***
-0.180***
Bảo hiểm y tế
Không có (nhóm tham chiếu)
Có
-
-
0.278***
0.180***
Kiến thức về quyền lợi giành cho NCT
Không có (nhóm tham chiếu)
Có
-
-
0.052
0.055**
*** , **, *, tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5%,10%
Nguồn: tính toán từ số liệu điều tra Người cao tuổi Việt Nam(VNAS) 2011
3.3. Ảnh hƣởng của nhóm yếu tố nhân khẩu học
Kết quả ƣớc lƣợng bảng 2 thể hiện tuổi ảnh hƣởng đến xác suất hƣởng trợ cấp của
ngƣời cao tuổi đối với cả nam và nữ. Khi tuổi càng cao thì xác suất hƣởng trợ cấp càng
cao. Đặc biệt đối với nhóm tuổi trên 80, ƣớc lƣợng có ý nghĩa thống kê 1% ở cả hai mô
hìnhꢀ Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với thực tế, do quy định đối tƣợng hƣởng trợ cấp
theo Nghị định 136/2013/NĐ-CP.
Kết quả ƣớc lƣợng trong bảng 2, cho kết quả trình độ học vấn không ảnh hƣởng
nhiều đến xác suất nhận trợ cấp xã hội của ngƣời già trong cả hai mô hình vì hệ số hồi
quy không có ý nghĩa thống kê, kết quả này ngƣợc với nghiên cứu Harkness và cộng sự
(2008), cho rằng những ngƣời cao tuổi nằm trong khu vực chính thức, công chức nhà
nƣớc, ngƣời có trình độ đƣợc hƣởng hỗ trợ xã hội cao hơn các nhóm khác, với ý nghĩa
thống kê 5%. Phụ nữ cao tuổi có chồng tỷ lệ nhận trợ cấp xã hội thấp hơn nhóm nữ giới
chƣa từng kết hôn, vì hệ số hồi quy ƣớc lƣợng mang dấu âm và mức ý nghĩa 5%ꢀ Tuy
nhiên mô hình đối với nam giới các ƣớc lƣợng lại không có ý nghĩa thống kê.
39
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 53.2021
Kết quả ƣớc lƣợng cho cả nam giới và nữ giới cao tuổi, cho thấy tình trạng sức khỏe
tự đánh giá ảnh hƣởng đến xác suất nhận trợ cấp của ngƣời già, với hệ số mang dấu
dƣơng và mức ý nghĩa thống kê 5%, cho thấy tình trạng sức khỏe càng yếu thì xác suất
nhận trợ cấp của ngƣời cao tuổi càng cao, đây cũng là do thực hiện quy định của Chính
phủ đối tƣợng thụ hƣởng trợ cấp, ngƣời già có sức khỏe yếu cần đƣợc quan tâm và hỗ trợ
thu nhập cho cuộc sống.
3.4. Ảnh hƣởng của nhóm yếu tố gia đình
Đối với khu vực sống (thành thị, nông thôn), với mức ý nghĩa thống kê 1% và hệ số
mang dấu âm cho ƣớc lƣợng ở mô hình 1 và mức ý nghĩa 5% cho ƣớc lƣợng ở mô hình 2,
thể hiện tỷ lệ ngƣời cao tuổi sống ở thành thị có tỷ lệ hƣởng trợ cấp ít hơn ở nông thôn.
Điều này cũng tƣơng đồng với kết quả nghiên cứu của Giang và Pfau (2009), khi sử dụng
VHLSS 2006.
Ngƣời cao tuổi là nam giới sống trong hộ có hoàn cảnh kinh tế không nghèo có xác
suất hƣởng trợ cấp thấp hơn so với nhóm hộ gia đình nghꢁo, tuy nhiên kết quả không có ý
nghĩa thống kê, nên không có sự khác biệt đối với nam giới. Với nữ giới, kết quả ƣớc
lƣợng thu đƣợc hệ số âm và có ý nghĩa thống kê 5%, thể hiện nữ giới cao tuổi sống trong
hộ không nghèo tỷ lệ hƣởng trợ cấp thấp hơn so với nhóm sống trong hộ nghèo.
Xét về yếu tố hộ gia đình ngƣời cao tuổi sống là nghèo hay không nghèo, kết quả cho
thấy không có sự khác biệt cho nam giới cao tuổi, nhƣng lại có sự khác biệt cho phụ nữ cao
tuổi, hệ số hồi quy âm và có ý nghĩa thống kê 1%, có nghĩa tỷ lệ nữ giới cao tuổi trong hộ
không nghèo sẽ tham gia lao động ít hơn so với hộ nghèo. Kết quả này cũng phù hợp với
kết quả của nhiều nghiên cứu Kakawani và cộng sự (2005), Gassman và cộng sự (2006).
Hoàn cảnh sống, có sự khác biệt cho nam giới cao tuổi, nam giới cao tuổi sống cùng
vợ có tỷ lệ hƣởng trợ cấp thấp hơn sống một mình với ý nghĩa thống kê 10%, nhƣng
nhóm sống cùng con cháu kết quả ƣớc lƣợng lại không có ý nghĩa thống kê. Không có sự
khác biệt cho nữ giới cao tuổi ở các nhóm có hoàn cảnh sống khác nhau.
Tỷ lệ ngƣời cao tuổi có hỗ trợ từ gia đình cho cuộc sống hàng ngày trong hai mô
hình đều có hệ số ƣớc lƣợng âm với mức ý nghĩa thống kê 5%, thể hiện ngƣời già có hỗ
trợ gia đình cho cuộc sống hàng ngày thực sự có xác suất thụ hƣởng trợ cấp xã hội thấp
hơn ngƣời già không có hỗ trợ gia đìnhꢀ
3.5. Ảnh hƣởng của nhóm yếu tố xã hội và cộng đồng
Nam giới tham gia hoạt động xã hội hay không thì không có ảnh hƣởng đến xác
suất nhận trợ cấp xã hội vì kết quả ƣớc lƣợng không có ý nghĩa thống kêꢀ Nhƣng đối với
nữ giới cao tuổi lại có sự ảnh hƣởng, hệ số ƣớc lƣợng mang dấu âm với mức ý nghĩa 5%,
thể hiện khi có tham gia hoạt động xã hội tỷ lệ ngƣời cao tuổi nữ nhận trợ cấp sẽ thấp hơn
khi không tham gia hoạt động xã hội.
Trong mô hình, vị thế ngƣời cao tuổi trong cộng đồng không có ảnh hƣởng đến xác
suất thụ hƣởng trợ cấp xã hội. Tuy nhiên trong mô hình 2, hệ số ƣớc lƣợng có dấu âm và
mức ý nghĩa 1%, kết quả thể hiện nữ giới cao tuổi có vị thế trong cộng đồng có tỷ lệ nhận
trợ cấp xã hội thấp hơn nhóm không có vị thế.
40
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 53.2021
3.6 Ảnh hƣởng của nhóm yếu tố ASXH và hiểu biết quyền lợi giành cho NCT
Lƣơng hƣu thực sự có ảnh hƣởng đến tỷ lệ hƣởng trợ cấp xã hội của ngƣời cao tuổi.
Trong cả hai mô hình, hệ số ƣớc lƣợng mang dấu âm và ý nghĩa thống kê 1%, kết quả thể
hiện ngƣời cao tuổi có lƣơng hƣu có tỷ lệ nhận trợ cấp xã hội thấp hơn nhóm không có
lƣơng hƣuꢀ Điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của Mathana Phananiramai (2005) khi
nghiên cứu về hỗ trợ kinh tế cho ngƣời già ở một số nƣớc Asian nhƣ Thái Lan, Philippin,
Việt Namꢀ Malaysia, Đài Loanꢀ
Bảo hiểm y tế có ảnh hƣởng đến xác suất nhận trợ cấp xã hội đối với cả nam và nữ.
Hệ số ƣớc lƣợng mang dấu dƣơng và ý nghĩa 1%, thể hiện khi có bảo hiểm y tế tỷ lệ
ngƣời cao tuổi nhận trợ cấp xã hội cao hơn ngƣời cao tuổi không có bảo hiểm y tế.
Kiến thức về quyền lợi giành cho ngƣời cao tuổi, không ảnh hƣởng đến tỷ lệ nhận
trợ cấp xã hội của nam giới vì hệ số ƣớc lƣợng không có ý nghĩa thống kê. Nhƣng kết quả
ƣớc lƣợng cho nữ giới có hệ số âm và ý nghĩa thống kê 5%, thể hiện tỷ lệ ngƣời cao tuổi
nữ có kiến thức về quyền lợi giành cho ngƣời cao tuổi tỷ lệ nhận trợ cấp cao hơn nhóm
không có kiến thức.
Bảng 3. Tác động biên của các biến số tới sự hƣởng trợ cấp của NCT theo giới tính
Biến số
Nam
Nữ
Yếu tố nhân khẩu học
Nhóm tuổi
-
-
60-69 (nhóm tham chiếu)
70-79
0.0289
0.0574*
0.5083***
0.6451***
≥80
Trình độ học vấn
Dƣới THPT (nhóm tham chiếu)
Trên THPT
-
-
- 0.1596***
- 0.1696***
Tình trạng hôn nhân
Chƣa từng kết hôn, khác (nhóm tham chiếu)
Có vợ/chồng
Goá/ly thân, ly dị
Tình trạng sức khỏe
Tốt (nhóm tham chiếu)
Yếu
-
- 0.1125
- 0.1216
-
- 0.2313***
- 0.1294**
-
-
0.1309***
0.0668**
Yếu tố gia đình
Khu vực sống
-
-
Nông thôn (nhóm tham chiếu)
Thành thị
- 0.0987***
- 0.0757***
Hộ nghꢀo
-
-
Nghèo (nhóm tham chiếu)
- 0.1580***
- 0.1314***
Không nghèo
Hoàn cảnh sống
-
- 0.1933***
- 0.2165**
-
- 0.1781***
0.0349
Sống một mình (nhóm tham chiếu)
Sống cùng vợ/chồng
Sống cùng con cháu
41
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 53.2021
Hỗ trợ gia đình cho cuộc sống hàng ngày của NCT
-
-
Không (nhóm tham chiếu)
0.0371
0.0493
Có
Yếu tố xã hội và cộng đồng
Tham gia hoạt động xã hội
Không (nhóm tham chiếu)
Có
-
-
- 0.0538*
- 0.1143***
Vị thế trong cộng đồng của NCT
Không (nhóm tham chiếu)
Có
-
-
- 0.2198***
- 0.3172***
ASXH và hiểu biết quyền lợi dành cho NCT
Lương hưu, phúc lợi xã hội
Không có (nhóm tham chiếu)
Có
-
-
- 0.3072***
- 0.3525***
Bảo hiểm y tế
Không có (nhóm tham chiếu)
Có
-
-
0.3129***
0.2885***
Kiến thức về quyền lợi giành cho NCT
Không có (nhóm tham chiếu)
Có
-
-
- 0.0355
- 0.0025
****; **; * tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5%, 10%
Nguồn: tính toán từ số liệu điều tra Người cao tuổi Việt Nam(VNAS) 2011
3.7. Tác động biên của nhóm yếu tố nhân khẩu học
Nhóm tuổi, nam giới cao tuổi có tỷ lệ hƣởng trợ cấp cao hơn nhóm ít tuổi, nhóm từ
80 tuổi trở lên tỷ lệ hƣởng trợ cấp cao hơn nhóm 60 - 69: nam 50,83%, nữ 64,51% có ý
nghĩa thống kê 1%ꢀ Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế quy định hiện nay của Chính
phủ “ngƣời cao tuổi từ 80 tuổi trở lên đƣợc hƣởng trợ cấp xã hội hàng tháng”ꢀ
Kết quả ƣớc lƣợng cho thấy, cả hai mô hình nam giới và nữ giới trình độ học vấn
càng cao thì tỷ lệ ngƣời già hƣởng trợ cấp càng giảm (trình độ học vấn trên THPT tỷ lệ
hƣởng trợ cấp xã hội thấp hơn trình độ học vấn dƣới THPT, nam: 15,96%, nữ: 16,96%).
Tình trạng hôn nhân, sự chênh lệch tỷ lệ hƣởng trợ cấp xã hội đối với nam giữa nhóm có
vợ, nhóm góa/ly thân, ly dị so với nhóm chƣa từng kết hôn, khác kết quả ƣớc lƣợng có dấu
âm thể hiện xu thế giảm nhƣng không có ý nghĩa thống kê. Mô hình hồi quy đối với nữ, hệ
số ƣớc lƣợng thu đƣợc mang dấu âm và có ý nghĩa thống kê (cụ thể: tỷ lệ nhận trợ cấp xã
hội của nhóm có chồng thấp hơn nhóm chƣa từng kết hôn 23,13% với ý nghĩa thống kê 1%;
nhóm góa/ly dị, ly thân thấp hơn nhóm chƣa từng kết hôn 12,94% có ý nghĩa thống kê 5%),
kết quả này cũng trùng với kết luận của Mathana Phananiramai (2005): tình trạng hôn nhân
thực sự có ảnh hƣởng đến nhận trợ cấp của ngƣời cao tuổi ở một số nƣớc Asian.
Yếu tố sức khỏe ảnh hƣởng đến tỷ lệ thụ hƣởng trợ cấp xã hội đối với cả nam giới
và nữ giới cao tuổi. Nhóm có sức khỏe yếu có tỷ lệ hƣởng trợ cấp xã hội cao hơn so với
nhóm có sức khỏe tốt (13,09% nam, 6,68% nữ).
42
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 53.2021
3.8. Tác động biên của nhóm yếu tố gia đình
Khu vực sống (thành thị, nông thôn), cả nam giới và nữ giới cao tuổi sống khu
thành thị có tỷ lệ hƣởng trợ cấp xã hội thấp hơn khu vực nông thôn (9,87% đối với nam,
7,57% đối với nữ), mức ý nghĩa thống kê 1%ꢀ Điều này do thực tế Việt Nam, điều kiện
sống khu vực nông thôn thấp hơn khu vực thành thị, ngƣời nghèo dễ ở vào hoàn cảnh sức
khỏe yếu, điều kiện kinh tế hộ gia đình thấp, căn cứ theo Nghị định 136/2013/NĐ-CP nên
tỷ lệ thụ hƣởng trợ cấp cao.
Ngƣời cao tuổi sống cùng vợ/chồng có tỷ lệ nhận trợ cấp xã hội thấp hơn nhóm
ngƣời già sống một mình (19,33% nam, 17,81% nữ), ý nghĩa thống kê 1%; nam giới cao
tuổi sống cùng con cháu có tỷ lệ nhận trợ cấp thấp hơn nhóm sống một mình 21,65% với
mức ý nghĩa thống kê 5%, phụ nữ cao tuổi sống cùng con cháu có tỷ lệ nhận trợ cấp cao
hơn nhóm sống một mình 3,49%, tuy nhiên ƣớc lƣợng không có ý nghĩa thống kê.
Hỗ trợ gia đình cho cuộc sống hàng ngày của ngƣời cao tuổi, cả nam giới và nữ giới
cao tuổi khi có hỗ trợ từ gia đình cho cuộc sống hàng ngày tỷ lệ nhận trợ cấp xã hội cao
hơn nhóm khi không có hỗ trợ từ gia đình cho cuộc sống hàng ngày (3,71% nam, 4,93%
nữ), tuy nhiên ƣớc lƣợng không có ý nghĩa thống kê.
3.9. Tác động biên của nhóm yếu tố xã hội và cộng đồng
Cả nam giới và nữ giới cao tuổi có tham gia hoạt động xã hội tỷ lệ nhận trợ cấp xã hội
thấp hơn khi không tham gia hoạt động xã hội, cụ thể 5,38% đối với nam và 11,43% đối với
nữ. Vị thế ngƣời cao tuổi trong cộng đồng ảnh hƣởng đến tỷ lệ nhận trợ cấp xã hội của cả
nam giới và phụ nữ cao tuổi. Kết quả ƣớc lƣợng cho thấy khi ngƣời già có vị thế trong cộng
đồng tỷ lệ nhận trợ cấp xã hội thấp hơn khi không có vị thế, nam 21,98% và nữ 31,71%.
3.10. Tác động biên của nhóm yếu tố an sinh xã hội và hiểu biết quyền lợi giành
cho người cao tuổi
Ngƣời cao tuổi có lƣơng hƣu trong cả hai mô hình đều có tỷ lệ nhận trợ cấp xã hội
thấp hơn khi không có cụ thể tỷ lệ đó nam thấp hơn 30,72% và nữ thấp hơn 35,25%, ý
nghĩa thống kê 1%. Bảo hiểm y tế, kết quả ƣớc lƣợng trong cả hai mô hình thể hiện, tỷ lệ
ngƣời cao tuổi có bảo hiểm y tế nhận trợ cấp xã hội cao hơn nhóm không có bảo hiểm y tế
(31,29% nam, 28,85% nữ), ý nghĩa thống kê 1%. Có kiến thức về quyền lợi giành cho
ngƣời cao tuổi tỷ lệ nhận trợ cấp xã hội thấp hơn so với không có kiến thức đối với cả
nam và nữ, tƣơng ứng nam: 3,55% và nữ 0,25%, không có ý nghĩa thống kê.
4. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Không chỉ ở Việt Nam, mà nhiều quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt với vấn
đề già hóa dân số. Già hóa dân số dẫn đến nhiều áp lực cho Chính phủ: đảm bảo mức
sống cho ngƣời cao tuổi, thiếu hụt lực lƣợng lao động.
Cần phải thay đổi lứa tuổi nghỉ hƣu và tạo điều kiện thuận lợi cho ngƣời cao tuổi
làm việc để ngƣời cao tuổi có thể chủ động trong đảm bảo thu nhập cho cuộc sống mà
43
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 53.2021
không cần đến sự hỗ trợ của Chính phủ cho cuộc sống hàng ngày. Cần có chính sách đối
với đối tƣợng ngƣời cao tuổi có trình độ tham gia lao động hoặc kéo dài tuổi làm việc
cho đối tƣợng có trình độ học vấn caoꢀ Đặc biệt đối với những ngƣời có trình độ chuyên
môn, kỹ năng, kinh nghiệm nên khuyến khích họ tham gia lực lƣợng lao động lâu hơnꢀ
Cần tuyên truyền và nâng cao nhận thức cho nhóm ngƣời tuổi trẻ ngay từ bây giờ có kế
hoạch tham gia bảo hiểm xã hội để tuổi già có nguồn thu nhập ổn định từ lƣơng hƣu,
phúc lợi xã hội.
Tóm lại, tuổi có ảnh hƣởng đến hƣởng trợ cấp xã hội chỉ có nhóm trên 80 tuổi đối
với cả nam giới và nữ giới sống ở khu vực thành thị hay nông thônꢀ Trình độ học vấn cao
tỷ lệ nhận trợ cấp xã hội cao hơn trình độ thấp, sức khỏe yếu có tỷ lệ nhận trợ cấp xã cao
hơn sức khỏe tốtꢀ Có lƣơng hƣu tỷ lệ nhận trợ cấp xã hội sẽ thấp hơn nhóm không có
lƣơng hƣu, nhƣng có bảo hiểm y tế lại có tỷ lệ nhận trợ cấp xã hội cao hơn nhóm không
có, tham gia hoạt động xã hội có ảnh hƣởng tích cực đến tỷ lệ nhận trợ cấp xã hội, khu
vực (thành thị, nông thôn) cũng ảnh hƣởng đến nhận trợ cấp của ngƣời cao tuổi .
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bùi Thế Cƣờng, Trƣơng Sĩ Ánh, Daniel Goodkind (1998), Sắp xếp đời sống gia
đình ở người Việt cao tuổi: Một so sánh giữa hai vùng đất nước, Kỷ yếu hội thảo
Quốc tế Việt Nam học lần 1- 4, Nxbꢀ Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
[2] Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (VWU), Viện Nghiên cứu Y xã hội học (ISMS) và
công ty nghiên cứu và Tƣ vấn Đông Dƣơng (IRC) (2012), Kết quả điều tra Quốc
gia về Người cao tuổi Việt Nam, tổ chức ngày 04/05/2012.
[3] Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2004), Thực trạng đời sống và tham gia hội phụ nữ
của phụ nữ cao tuổi Việt Nam.
[4] Abla Mehio - Sibai, May A. Beydoun, Rania A. Tohme (2009), Living
arrangements of ever - married older Lebanese women: is living with married
children Advantageous?, Cross Cult Gerontol, 24:5 -17.
[5] Adriaan Kalwij and Frederic Vermeulen (2005), Labour force participation of the
elderly in Europe: The importance of Being Healthy, IZA DP No.1887.
[6] Alexander Samorodov (1999), Ageing and labour markets for older workers,
Employment and training, papers,33.
[7] Bui, T. C., S. A. Truong, D. Goodkind, J. Knodel, and J. Friedman (1999),
Vietnamese Older people amidst Transformations of Social Welfare Policy,
Population Studies Center (PSC) Research Report No. 99-436. Ann Arbor, MI:
University of Michigan.
[8] Bhorat Haroon (2003), Estimates of Poverty Alleviation in South Africa, with an
Application to a Universal Income Grant, Working Paper 03/75, Development
Policy Research Unit, School of Economics, University of Cape Town.
44
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 53.2021
[9] Gassman Franziska and Christina Behrendt (2006), Cash Benefits in Low-income
Countries: Simulating the Effects on Poverty Reduction for Senegal and Tanzania,
Discussion Paper 15, Social Security Department, International Labor Office (ILO).
Geneva: ILO.
[10] Giang Thanh Long and Wade D. Pfau (2008), Aging, poverty, and the role of a social
pension in Vietnam, GRIPS policy information Center, Discussion paper: 07 -10.
[11] Giang Thanh Long and Wade D. Pfau. (2009), The Vulnerability of the Older
people Households to Poverty: Determinants and Policy Implications for Vietnam,
Asian Economic Journal, Vol. 23, No. 4: 419-437.
[12] Kakawani Nanak and Kalanidhi Subbarao (2005), Ageing and Poverty in Africa and
the Role of Social Pensions, Working Paper No. 8, International Poverty Center,
United Nations Development Programme (UNDP). Brasilia: International Poverty
Center, UNDP.
[13] Harkness, Martin Evans and Susan (2008), Elderly people in Vietnam: social
protection, informal support and poverty, Benefits, Vol 16 No 3: 245-253.
[14] Husna Sulaiman and Jariah Masud. (2012), Determinants of income security of
older persons in Peninsular Malaysia, Pertanika J.Soc.Sci.&Hm. 20(1): 239 - 250.
[15] Mathana Phananiramai (2005), Incom security for the elderly in Thailand, Journal of
International Development and Cooperation, Vol.11, No.1, pp.43-56.
FACTORS AFFECTING ASSISTANCE FOR THE ELDERLY
BY GENDER
Tran Thi Thu Huong, Nguyen Thi Hong Diep
ABSTRACT
Social assistance is a pillar of income security for the elderly, demonstrating the
ethics and traditions of “drink water, remember its source” and “mutual love and love” of
Vietnamese people towards people with meritorious services to the country, for those in
difficult circumstances, especially for the elderly. Social assistance is a pillar of income
security for the elderly. Using the propit model and the Vietnam Elderly Survey (VNAS
2011), the author analyzes the factors affecting the social welfare for the elderly by gender.
Keywords: Social assistance, social security, the elderly.
* Ngày nộp bài:23/12/2020; Ngày gửi phản biện: 8/1/2021; Ngày duyệt đăng: 29/1/2021
45
Bạn đang xem tài liệu "Nhân tố tác động đến trợ cấp người cao tuổi theo giới tính", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nhan_to_tac_dong_den_tro_cap_nguoi_cao_tuoi_theo_gioi_tinh.pdf

