Nhận diện một số nguyên tắc của việc hình sự hóa trong bộ luật hình sự Việt Nam

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ  
NHẬN DIỆN MỘT SỐ NGUYÊN TẮC CỦA VIỆC HÌNH SỰ HÓA  
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM  
DƯƠNG THỊ HỒNG THUẬN*  
DƯƠNG THỊ CẨM NHUNG**  
Ngày nhận bài: 08/09/2020  
Ngày phản biện: 21/10/2020  
Ngày đăng bài: 31/12/2020  
Tóm tắt:  
Abstract:  
Hình sự hóa đối với hành vi nguy  
The penalization of behaviors that are  
hiểm cho xã hội là vấn đề luôn được đặt ra dangerous to society is an issue which is  
trong quá trình xây dựng và hoàn thiện always set out in the process formulating and  
chính sách hình sự về hình phạt. Để bảo completing the criminal policy on punishment.  
đảm sự phù hợp của chính sách về hình To ensure the suitability of the punishment  
phạt với yêu cầu bảo vệ quyền con người, policy with the request for protection of human  
với điều kiện phát triển nội tại của đất rights, with the development conditions of the  
nước về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội country in politics, economy, culture, society as  
cũng như với xu hướng phát triển chung well as with the world’s general development  
của thế giới thì nhà làm luật luôn phải tuân trend, lawmakers always have to follow certain  
theo những nguyên tắc nhất định khi tiến principles when conducting penalization. This  
hành hình sự hóa. Bài viết này nghiên cứu, article studies and clarifies some basic principles  
làm rõ một số nguyên tắc cơ bản khi tiến when conducting penalization in the Vietnamese  
hành hình sự hóa trong Bộ luật Hình sự Criminal Code.  
Việt Nam.  
Từ khóa:  
Keywords:  
Nguyên tắc, hình sự hóa, hình phạt,  
Bộ luật Hình sự Việt Nam.  
Principles, penalization, punishment, the  
Criminal Code of Vietnam.  
1. Đặt vấn đề  
Từ trước đến nay, theo quan niệm phổ biến trong xã hội và trong khoa học pháp lý hình  
sự thì “hình sự hóa hay phi hình sự hóa cũng như tội phạm hóa, phi tội phạm hóa” là những  
vấn đề thuộc thẩm quyền của nhà làm luật. Bởi vì, việc đánh giá một hành vi nào đó là nguy  
* ThS., GV Khoa Luật, Trường Đại học Quảng Bình; Email: [email protected]  
** ThS., GV Khoa Luật Hình sự, Trường Đại học Luật, Đại học Huế; Email: [email protected]  
89  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ  
hiểm cho xã hội, có lỗi, đáng bị trừng phạt và cần được quy định trong Bộ luật Hình sự  
(BLHS); cũng như việc quyết định công nhận một hành vi, một loại hành vi nào đó thường  
xảy ra trong đời sống xã hội là tội phạm, hoặc quyết định đưa ra khỏi BLHS hành vi nào đó  
từng bị coi là tội phạm; quy định tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt hoặc giảm nhẹ  
trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với những hành vi nào đó đã được quy định trong BLHS  
chỉ thuộc thẩm quyền của nhà làm luật.  
Theo đó, hiểu một cách chung nhất về hình sự hóa trong BLHS năm 2015 thì: Hình sự  
hóa là việc nhà làm luật quy định loại hình phạt, khung hình phạt, điều kiện quyết định hình  
phạt đối với loại tội phạm này hay loại tội phạm khác được quy định trong Bộ luật Hình sự  
theo hướng nghiêm khắc hơn hoặc tăng nặng hơn1.  
Quá trình hình sự hóa trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sự thể hiện rõ ràng  
quan điểm của Nhà nước ta là cần răn đe và trừng trị nghiêm khắc đối với một số hành vi  
phạm tội ở từng thời điểm nhất định. Tuy vậy, thực tiễn xã hội - lịch sử trong đấu tranh phòng  
ngừa và chống tội phạm cũng khẳng định rằng, hiệu quả của các quy phạm pháp luật hình sự  
đạt được không hoàn toàn bằng sự mở rộng phạm vi áp dụng hoặc tăng nặng hình phạt, mà  
phải bằng việc phân hóa tối đa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt để đảm bảo  
nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc công bằng trong Luật Hình sự. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu  
cho những nhà làm luật khi cân nhắc phạm vi và mức độ hình sự hóa đối với một hành vi nào  
đó phải xem xét toàn diện nhiều vấn đề, trong đó không thể không tuân theo những nguyên  
tắc nhất định trong quá trình hình sự hóa để từ đó có sự điều chỉnh phù hợp, vì theo C. Mác  
“nhà làm luật thông minh là phải ngăn ngừa tội phạm để khỏi phải trừng phạt vì nó,... và đừng  
biến thành tội phạm hành vi nào chỉ mang tính vi cảnh”2.  
Để việc mở rộng phạm vi của việc áp dụng hình phạt đối với những hành vi bị coi là tội  
phạm thực sự phản ánh được nhu cầu của xã hội là quy định hình phạt vừa đủ để răn đe, trừng  
trị, giáo dục người, pháp nhân thương mại phạm tội tuân theo pháp luật và các quy tắc của  
cuộc sống; ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng  
pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, thì việc hình sự hóa cần phải được đặt  
trên những yêu cầu nhất định, phản ánh đúng quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc  
thực hiện chính sách hình sự. Những yêu cầu, những đòi hỏi đó có thể hình thành nên những  
nguyên tắc cơ bản để tiến hành hình sự hoá.  
Vậy nguyên tắc của việc hình sự hóa là gì? Theo Từ điển Tiếng Việt thì nguyên tắc được  
hiểu là “những quy định, phép tắc, tiêu chuẩn làm cơ sở, chỗ dựa để xem xét, làm việc”3. Từ  
đó, cho phép chúng tôi có thể hiểu rằng: Nguyên tắc của việc hình sự hóa là những tiêu chí và  
1
Xem thêm: Dương Thị Hồng Thuận (2018), Các hình thức thể hiện hình sự hóa trong Bộ luật Hình sự  
Việt Nam năm 2015, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, số 35, tr.78-83.  
2 C. Mác - Ph. Ăngghen (1978), Toàn tập, tập 1, NXB Sự thật, Hà Nội, tr.125.  
3
Nguyễn Như Ý (1999), Đại Từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa - Thông tin, Thành phố Hồ Chí Minh,  
tr.1217.  
90  
TẠP CHÍ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN - SỐ 45/2020  
quy tắc khoa học dùng làm tư tưởng chỉ đạo, định hướng và điểm xuất phát cho việc đánh giá  
sự cần thiết và tính khả thi của việc sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Hình sự về  
hình phạt theo hướng mở rộng hơn, nghiêm khắc hơn.  
2. Một số nguyên tắc cơ bản của việc hình sự hóa  
Vấn đề hình sự hóa mặc dù đã được nghiên cứu, sử dụng từ lâu, song cho đến nay việc  
xác định cụ thể các nguyên tắc của việc hình sự hóa còn “bỏ ngỏ” chưa được đề cập trong  
khoa học luật hình sự, mà mới chỉ được đề cập chung với nguyên tắc tội phạm hóa ở một số ít  
công trình nghiên cứu hoặc cũng có công trình nghiên cứu soi quy định hình phạt dưới  
nguyên tắc của luật hình sự. Do vậy, chúng tôi mạnh dạn chỉ ra một số nguyên tắc cơ bản sau  
đây để làm cơ sở cho việc tiến hành hình sự hoá.  
2.1. Nguyên tắc về sự phù hợp của việc hình sự hóa với các điều kiện kinh tế - xã hội  
Đây là một trong những nguyên tắc xuất phát điểm và là căn nguyên của việc hình sự  
hoá. Bởi lẽ, theo nghiên cứu về xã hội học hình phạt thì tội phạm đi ra từ xã hội, trong khi  
hình phạt đi ra từ tội phạm; do đó, xã hội là cái có trước, hình phạt là cái có sau và bị quyết  
định bởi xã hội; xã hội vận động, biến đổi làm thay đổi tính chất các quan hệ xã hội cũng như  
tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi (tội phạm) dẫn đến sự thay đổi trong chính sách  
về hình phạt. Mặt khác, hình sự hóa là một trong những phương thức thực hiện chính sách  
hình sự, trong khi đó phương thức thực hiện chính sách hình sự bao giờ cũng do điều kiện  
kinh tế - xã hội quyết định4. Do đó, để có một chính sách hình sự nói chung, hình sự hóa hành  
vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm nói riêng phải tính đến các điều kiện kinh tế - xã  
hội. Việc hình sự hóa hành vi bị coi là tội phạm ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội  
khác nhau đều đặt ra những yêu cầu khác nhau về việc bảo vệ các quan hệ xã hội trong giai  
đoạn đó. Việc xác định có tiến hành hình sự hóa hay không đối với một hành vi nào đó nếu phù  
hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội thì sẽ phát huy được tác dụng trong việc đấu tranh phòng,  
chống tội phạm và ngược lại. Về vấn đề này, C. Mác và Ph. Ăngghen đã chỉ ra rằng: “Pháp luật  
không bao giờ lại có thể cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ  
kinh tế đó tạo nên” và “Sự vi phạm pháp luật thường là kết quả của các yếu tố kinh tế”5.  
Nguyên tắc về sự phù hợp của việc hình sự hóa với các điều kiện kinh tế - xã hội đặt ra  
những yêu cầu, đòi hỏi nhất định, thể hiện ở chỗ: khi tiến hành hình sự hóa hành vi này hay  
hành vi khác bị coi là tội phạm, nhà làm luật phải xuất phát từ điều kiện tồn tại khách quan để  
xem xét, phân tích, đánh giá đặc điểm, tính chất, kết cấu cũng như xu hướng thay đổi của các  
loại quan hệ xã hội. Nhà làm luật phải làm sáng tỏ tính công bằng, dân chủ trong xã hội, đánh  
giá trình độ dân trí, ý thức pháp luật và các yếu tố khác; đồng thời, đánh giá tính chất và mức  
4 Phạm Văn Lợi (2007), Chính sách hình sự trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội.  
5 Đào Trí Úc (1994), Tội phạm học, Luật Hình sự và Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc  
gia, Hà Nội, tr.147.  
91  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ  
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi kết hợp với việc xem xét các yếu tố chính trị - pháp lý,  
tư tưởng - tâm lý và văn hóa - xã hội. Ngoài ra, cần phải làm sáng tỏ sự tác động của việc áp  
dụng hình phạt hiện có đến cơ cấu và động thái của tình hình tội phạm và tình hình vi phạm  
pháp luật nói chung. Từ đó, nhà làm luật dự báo nhu cầu quy định hay thay đổi hình phạt,  
đồng thời cân nhắc dư luận xã hội, các công trình nghiên cứu đối với hình phạt hiện có hay  
hình phạt cần phải có và điều quan trọng là phải tính đến lợi ích của các chủ thể khi quy định  
hình phạt để có thể đạt được mục đích của hình phạt.  
Như vậy, khi thực hiện hình sự hóa thì việc dự báo được nhu cầu xã hội để từ đó xác  
định loại hình phạt, mức hình phạt đủ sức răn đe, trừng trị, giáo dục và ngăn ngừa phạm tội  
mới là vấn đề hết sức quan trọng. Phạm vi và mức độ quy định hình phạt không thể quá nặng  
cũng không thể quá nhẹ mà phải được cân nhắc trên cơ sở phù hợp với các điều kiện kinh tế -  
xã hội cụ thể. Ví dụ, BLHS năm 2015 đã thực hiện hình sự hóa bằng việc mở rộng phạm vi áp  
dụng hình phạt tiền đối với các loại tội phạm mang tính kinh tế như các tội phạm trong lĩnh  
vực sản xuất, kinh doanh, thương mại; lĩnh vực thuế, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo  
hiểm; công nghệ thông tin, mạng viễn thông; môi trường; tham nhũng;… là phù hợp với “tính  
chất kinh tế” trong tình hình kinh tế - xã hội nước ta hiện nay, vừa phù hợp với định hướng  
cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005. Dù vậy, sau hơn 16 năm đổi  
mới (từ khi có BLHS năm 1999) nền kinh tế nước ta đã có bước phát triển vượt bậc, song  
Điều 35 BLHS năm 2015 vẫn quy định mức tối thiểu của hình phạt tiền 1.000.000 đồng trên  
cơ sở kế thừa quy định của BLHS năm 1999, theo tác giả là quá thấp, chưa phù hợp với điều  
kiện kinh tế hiện nay ở nước ta. Điều đó phần nào sẽ làm giảm đi tính hiệu quả của hình phạt6.  
Như vậy, bên cạnh những nội dung mà nhà làm luật thực hiện hình sự hóa đảm bảo nguyên  
tắc về sự phù hợp của việc hình sự hóa với các điều kiện kinh tế - xã hội thì vẫn còn đó những  
quy định chưa thực sự đảm bảo được nguyên tắc này trong quá trình hình sự hóa, cần được  
tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện.  
Việc phân tích và đánh giá đầy đủ, chính xác các điều kiện kinh tế - xã hội sẽ cho chúng  
ta một cái nhìn bao quát về yêu cầu của sự phù hợp của việc hình sự hóa với các điều kiện  
kinh tế - xã hội, sẽ giúp nhà làm luật hình sự hóa chính xác những hành vi bị coi là tội phạm,  
sẽ bảo đảm việc hình sự hóa được thực thi có hiệu quả trong đời sống xã hội và sẽ là yếu tố  
thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.  
2.2. Nguyên tắc về sự phù hợp, thống nhất của việc hình sự hóa với hệ thống pháp luật trong  
nước cũng như luật pháp quốc tế  
Nguyên tắc này còn được gọi là nguyên tắc đồng bộ và thống nhất về mặt biện pháp  
pháp lý trong quá trình hình sự hóa. Việc quy định một hành vi phạm tội hay hành vi vi phạm  
6 Xem thêm: Dương Thị Hồng Thuận (2019), Hoàn thiện quy định về một số loại hình phạt chính tại Phần  
chung của Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, số 41, tr.95-103.  
92  
TẠP CHÍ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN - SỐ 45/2020  
kéo theo đó là các chế tài phải phù hợp với quy định của hệ thống pháp luật. Đây là yêu cầu  
rất quan trọng nhằm đảm bảo tính đồng bộ và chặt chẽ, tránh những “lỗ hổng”, sự chồng chéo  
của pháp luật và có ý nghĩa rất lớn trong áp dụng pháp luật hình sự. Nguyên tắc này đòi hỏi  
khi nhà làm luật hình sự hóa hành vi nào đó không được trái với quy định của các ngành luật  
khác trong hệ thống pháp luật quốc gia, cũng như các nguyên tắc và quy phạm được thừa  
nhận trong pháp luật quốc tế. Do vậy, vấn đề đặt ra là quy định của các ngành luật trong hệ  
thống pháp luật chung cũng như các quy định trong cùng một ngành luật không được mâu  
thuẫn nhau mà phải phù hợp, thống nhất với nhau và đòi hỏi hành vi trái pháp luật thuộc  
phạm vi của ngành luật nào phải sử dụng đúng mức độ biện pháp của ngành luật đó để điều  
chỉnh. Đặc biệt, quy phạm pháp luật hình sự phải thống nhất, đồng bộ với các quy phạm pháp  
luật dân sự, hành chính, kinh tế. Có thể nói, đây là những ngành luật có đối tượng điều chỉnh  
bao gồm những quan hệ xã hội gần hoặc thậm chí rất gần với luật hình sự. Ranh giới giữa  
hành vi phạm tội với hành vi vi phạm pháp luật hành chính, dân sự, kinh tế chỉ là mức nguy  
hiểm “đáng kể” hay “chưa đáng kể”. Vì vậy, quá trình hình sự hóa cùng với tội phạm hóa nhất  
thiết phải đảm bảo sự phù hợp với những quy định trong luật dân sự, luật kinh tế, luật hành  
chính và các ngành luật khác để từ đó xác định đúng vị trí, vai trò của hình phạt trong hệ thống  
các biện pháp cưỡng chế hình sự nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội và mối quan hệ giữa chúng.  
Trong các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước đối với các hành vi vi phạm pháp luật, thì  
biện pháp cưỡng chế hình sự được coi là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất, cho nên việc  
hình sự hóa chỉ nên thực hiện khi mà các biện pháp pháp luật khác không thể đưa lại kết quả  
mong muốn; hoặc là, chế tài hình sự hiện có không còn phù hợp, không đáp ứng được yêu cầu  
của sự thay đổi các quan hệ xã hội. Vì lẽ đó, khi tiến hành hình sự hóa phải đảm bảo sao cho  
các biện pháp cưỡng chế của luật hình sự đạt mức độ nghiêm khắc nhất theo thứ bậc trong hệ  
thống pháp luật nước ta. Theo đó, mức độ nghiêm khắc giữa các hành vi bị coi là tội phạm cũng  
phải tương xứng với tính chất nghiêm trọng của hành vi. Chính vì thế, điều chỉnh, sử dụng đúng  
mức biện pháp pháp luật hình sự để đấu tranh phòng, chống tội phạm sẽ đem lại hiệu quả cao  
nhất và tạo ra một trật tự pháp luật đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật chung.  
Việc hình sự hóa hành vi nào đó đã được tội phạm hóa đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ  
những văn bản pháp lý quốc tế để đảm bảo sự phù hợp và tương thích với luật pháp quốc tế  
(hình phạt không được quá nhẹ mà cũng không nên quá nặng). Thực hiện tốt những yêu cầu  
này sẽ tạo được sự thống nhất, đồng bộ giữa pháp luật hình sự với hệ thống pháp luật trong  
nước cũng như luật pháp quốc tế. Ví dụ, xuất phát từ tình hình vi phạm pháp luật của pháp  
nhân ở Việt Nam trong những năm gần đây mang tính phổ biến, với mức độ nguy hiểm ngày  
càng cao, gây thiệt hại nghiêm trọng cho kinh tế - xã hội và cho đời sống của người dân; song,  
việc áp dụng biện pháp xử phạt hành chính hay nghĩa vụ phải tự mình chứng minh thiệt hại  
trong thủ tục đòi bồi thường thiệt hại trong pháp luật dân sự đã làm cho việc xử lý đối với  
những hành vi vi phạm do pháp nhân gây ra không hiệu quả, gây khó khăn cho người dân (đối  
93  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ  
tượng bị thiệt hại chính), thậm chí không thể đòi bồi thường thiệt hại. Chính vì vậy, đòi hỏi  
cần phải có biện pháp nghiêm khắc hơn để ngăn chặn loại hành vi này và BLHS năm 2015 đã  
thực hiện hình sự hóa trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với 33 tội danh,  
nhằm đáp ứng yêu cầu bức xúc của thực tiễn đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật của  
các pháp nhân thương mại ở nước ta hiện nay, vừa để hoàn thiện hệ thống pháp luật khi hội  
nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc tế; đồng thời, cũng phù hợp với khuyến nghị của  
quốc tế trong các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên. Như vậy, việc hình sự hóa trách  
nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong BLHS năm 2015 là khá hợp lý và đã tuân thủ  
nguyên tắc này.  
2.3. Nguyên tắc về sự bảo đảm công bằng của việc hình sự hóa đối với các hành vi tội phạm  
Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc công bằng trong pháp luật hình sự, từ nguyên  
tắc trách nhiệm chỉ được áp dụng đối với những hành vi cụ thể, nguy hiểm cho xã hội, trái  
pháp luật và có lỗi dẫn đến luận điểm quan trọng được rút ra là, biện pháp trách nhiệm hình  
sự (hình phạt) phải được quy định và quyết định tương xứng với tính chất và mức độ nghiêm  
trọng của tội phạm đã thực hiện. Một chế tài hình sự chỉ được coi là công bằng khi nó phù  
hợp với mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội (tức là không được quy định nhẹ hay nặng  
hơn so với hành vi phạm tội). Đồng thời, chế tài đó lại tương xứng trong sự so sánh với các  
chế tài áp dụng đối với các tội khác. Đó là một trong những đòi hỏi quan trọng của nguyên tắc  
về sự bảo đảm công bằng trong việc quy định hình phạt đối với tội phạm. Bởi vì giữa tội  
phạm và hình phạt có mối liên hệ chặt chẽ, loại và mức hình phạt cần phải tương xứng với  
hành vi - tội phạm, nghĩa là phải được đo lường. Theo GS.TS. Võ Khánh Vinh: Để đạt được  
sự tương xứng giữa tội phạm và hình phạt cần phải có những tiêu chuẩn bao gồm những đặc  
điểm về chất và lượng cho phép để nếu như không đo lường được thì cũng so sánh được7. Vì  
rằng “giới hạn của hành vi phải là giới hạn của sự trừng phạt mới là công bằng”, cho nên quan  
điểm công bằng đối với những tội phạm khác nhau cần phải có loại và mức hình phạt khác  
nhau phù hợp với mức độ nguy hiểm của các tội phạm, và do vậy, khi tiến hành hình sự hóa  
cũng phải đặt trong nội hàm đó. Ví dụ, Tội dùng nhục hình (Điều 373) và Tội bức cung (Điều  
374) của BLHS năm 2015 đã quy định bổ sung loại hình phạt cao nhất là tù chung thân (trong  
khi BLHS năm 1999, Tội dùng nhục hình tại Điều 298 quy định loại hình phạt cao nhất là tù  
có thời hạn và mức phạt tù tối đa là 12 năm, Tội bức cung tại Điều 299 quy định loại hình  
phạt cao nhất là tù có thời hạn và mức phạt tù tối đa là 10 năm). Tội dùng nhục hình và Tội  
bức cung có thể nói là biểu hiện của tội cố ý gây thương tích theo Điều 104 BLHS năm 1999  
(Điều 134 BLHS năm 2015) có yếu tố lợi dụng chức vụ, quyền hạn và do đó, về mặt nguyên  
tắc phải xử lý tương ứng, thậm chí nặng hơn tội cố ý gây thương tích thông thường do có tình  
tiết tăng nặng lợi dụng chức vụ, quyền hạn. Vì vậy, việc tăng nặng hơn loại hình phạt đối với  
7
Võ Khánh Vinh (1992), Những đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc quy định hệ thống hình  
phạt, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3, tr.43.  
94  
TẠP CHÍ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN - SỐ 45/2020  
02 tội danh này nhằm bảo đảm sự cân xứng về hình phạt cũng như bảo đảm sự công bằng  
trong xử lý tội phạm giữa những tội giống nhau về bản chất.  
Một trong những biểu hiện rõ nét nhất của nguyên tắc về sự bảo đảm công bằng của  
việc hình sự hóa đối với hành vi tội phạm đó là phải có một hệ thống hình phạt công bằng. Hệ  
thống hình phạt công bằng được quy định ở Phần chung là những luận điểm xuất phát cho  
việc quy định các chế tài công bằng đối với các tội phạm cụ thể ở Phần các tội phạm của  
BLHS. Điều này thể hiện ở các yêu cầu, đòi hỏi như sau: hệ thống có mức độ nghiêm khắc  
(loại và mức hình phạt) tương xứng với mức độ nghiêm trọng của các loại tội phạm; các hình  
phạt phải được sắp xếp theo một trình tự nhất định theo sự sắp xếp của việc phân loại tội  
phạm; các hình phạt thể hiện được sự cân đối nhất định, các hình phạt kế tiếp nhau, xét về bản  
chất, nội dung, điều kiện áp dụng không khác biệt nhau quá lớn; quy định rõ loại hình phạt  
nào được áp dụng đối với loại tội phạm nào, đối với chủ thể phạm tội nào và loại hình phạt  
nào không được áp dụng đối với ai, đối với tội phạm nào; mỗi loại hình phạt được quy định rõ  
ràng, cụ thể về nội dung và điều kiện áp dụng nó; quy định rõ giới hạn tối thiểu và giới hạn tối  
đa đối với từng loại hình phạt trong sự tương xứng chung; các hình phạt quy định ở Phần  
chung và hình phạt được quy định ở các chế tài của các điều luật trong Phần các tội phạm cụ  
thể phải có sự tương xứng, hài hòa nhất định; các hình phạt được quy định đối với những loại  
tội phạm khác nhau cần phải tuân theo một tỷ lệ tương xứng nhất định, đối với các tội phạm  
đặc biệt nghiêm trọng cần áp dụng các hình phạt nghiêm khắc nhất, đối với các tội ít nghiêm  
trọng và nguy hiểm không lớn cho xã hội cần áp dụng những hình phạt ít nghiêm khắc hơn.  
Như vậy, khi quy định hình phạt cũng như khi tiến hành hình sự hoá, nếu các nhà làm luật bảo  
đảm được các yêu cầu, đòi hỏi đó thì sẽ bảo đảm được sự công bằng khi áp dụng hình phạt  
đối với các chủ thể phạm tội.  
2.4. Nguyên tắc bảo đảm sự bảo vệ đầy đủ và có hiệu quả hơn  
Nguyên tắc này đòi hỏi khi tiến hành hình sự hóa cần phải nghiên cứu sâu sắc những  
thay đổi về “chất” đã và đang diễn ra trên đất nước ta, những thay đổi đó đòi hỏi một sự bảo  
vệ tương ứng từ phía Nhà nước thông qua việc hình sự hoá. Chúng ta biết rằng, mọi sự trừng  
trị bằng pháp luật hình sự đều là giải pháp sau cùng khi không thể nào làm khác được và xét  
đến cùng thì đó là sự hy sinh một loại giá trị này vì một loại giá trị khác cần hơn, cao hơn.  
Chẳng hạn như, trường hợp người phạm tội bị áp dụng hình phạt tù thì rõ ràng mục tiêu cần  
đạt được của hình phạt ở đây là trừng trị người phạm tội, thể hiện sự nghiêm minh của xã hội  
và Nhà nước, khẳng định công lý, răn đe, giáo dục, cải tạo người phạm tội để họ trở thành  
người có ích cho xã hội. Tuy nhiên, đằng sau đó là những hệ quả tiêu cực của hình phạt có thể  
nhìn thấy trước được như: ảnh hưởng xấu của môi trường tội phạm đối với người phạm tội;  
mối liên hệ với gia đình, người thân, xã hội bị gián đoạn; làm mất đi hoặc giảm đi thói quen  
lao động hoặc tay nghề, trình độ chuyên môn, lối ứng xử bình thường của con người;…  
95  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ  
Vì rằng, mục đích của việc hình sự hóa là bảo đảm sự bảo vệ đầy đủ và có hiệu quả hơn  
các quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, vậy nên, mỗi một quyết định về hình sự hóa phải xuất  
phát từ quan điểm về mối tương ứng cho phép giữa hệ quả tích cực với những hệ quả tiêu cực  
có thể xảy ra nhằm chủ động hạn chế đến mức tối đa những hệ quả nằm ngoài mong muốn đó.  
Chỉ nên tiến hành hình sự hóa khi chúng ta hoàn toàn tin chắc rằng, hệ quả tích cực dứt khoát  
sẽ vượt trội so với những hệ quả tiêu cực mà quá trình hình sự hóa sẽ làm phát sinh. Ví dụ,  
BLHS năm 2015 đã hình sự hóa đối với chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại phạm  
tội, trong đó có hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, thì hệ quả tiêu cực có thể nhìn thấy  
trước đối với hình phạt này là gây ra tình trạng mất việc làm cho rất nhiều công nhân, ảnh  
hưởng đến đời sống của người lao động và gia đình của họ là những người không có lỗi đối  
với hành vi phạm tội của pháp nhân. Tuy nhiên, nếu hành vi phạm tội của pháp nhân gây ra  
hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội như gây sự cố môi trường trên diện rộng mà không  
có khả năng khắc phục hậu quả gây ra, trong khi hành vi đó gây thiệt hại cho tính mạng, sức  
khoẻ, gây ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sinh hoạt của rất nhiều người,… thì hậu quả mà  
những pháp nhân này để lại là rất nặng nề, cao gấp nhiều lần so với hệ quả tiêu cực có thể  
thấy trước được như đã nói ở trên, và nếu cho phép những pháp nhân này tiếp tục hoạt động  
thì không ai đảm bảo được rằng pháp nhân đó sẽ không tiếp tục phạm tội và những hậu quả  
tương tự đó sẽ không tiếp diễn. Trong trường hợp này, hệ quả tích cực từ việc thực hiện hình  
sự hóa khi áp dụng hình phạt chấm dứt hoạt động của pháp nhân là có thể ngăn chặn pháp  
nhân đó tiếp tục thực hiện hành vi nguy hiểm ảnh hưởng đến môi trường, môi sinh, bảo đảm  
sự nghiêm minh của pháp luật cũng như sự bình đẳng trong chính sách xử lý tội phạm.  
Chính vì thế, khi tiến hành hình sự hóa hành vi này hay hành vi khác phải xem xét, đánh  
giá để bảo đảm sự bảo vệ đầy đủ và có hiệu quả hơn các quan hệ xã hội và trật tự pháp luật  
nhằm đạt được mục đích của hình sự hóa.  
2.5. Nguyên tắc về sự bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng các quy định được hình  
sự hóa  
Khi tiến hành hình sự hóa nhà làm luật thận trọng xem xét, cân nhắc để bảo đảm rằng  
việc hình sự hóa đó có tính khả thi cao khi áp dụng trong thực tiễn. Chẳng hạn như, khi quy  
định một hình phạt mới thì phải xem xét nhiều khía cạnh, góc độ của xã hội để đánh giá hình  
phạt đó có phù hợp với văn hóa tinh thần và đạo đức xã hội, có được đại đa số nhân dân đồng  
tình, ủng hộ hay chỉ là ý chí của nhà làm luật; hình phạt đó có phù hợp với chủ thể của tội  
phạm, có đủ sức răn đe, trừng trị, giáo dục, cải tạo họ trở thành người hoặc pháp nhân thương  
mại có ích cho xã hội, có đạt được mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung... Bên  
cạnh đó, khi hình sự hóa đối với hành vi phạm tội nào đó bằng cách tăng nặng hơn loại hình  
phạt hay mức hình phạt cũng cần phải chứng minh được rằng, phải sử dụng biện pháp nghiêm  
khắc hơn thì mới có thể giáo dục, cải tạo và ngăn ngừa được các hành vi phạm tội, khi đó việc  
96  
TẠP CHÍ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN - SỐ 45/2020  
hình sự hóa mới có thể đạt được mục đích của mình. Ngoài ra, phải cân nhắc, lựa chọn để  
việc hình sự hóa bảo đảm phù hợp với tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng là yếu tố  
nhằm bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng. Bởi việc hình sự hoá, tức là quy định một  
hình phạt nào đó quá nghiêm khắc so với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thì sẽ làm  
cho người bị kết án và những người khác nhận thức là không công bằng, không hợp lý. Trong  
trường hợp này, chủ thể phạm tội luôn luôn mang tư tưởng cho rằng mình phải chịu một hình  
phạt không phù hợp hoặc gây ra oán hờn và không tin tưởng vào pháp luật. Và tất nhiên,  
trong những điều kiện như vậy, việc cải tạo và giáo dục người bị kết án khó mà đạt được hiệu  
quả cao và vì vậy tính khả thi sẽ không cao.  
Tính khả thi của việc hình sự hóa còn thể hiện ở chỗ, bằng việc thông qua các trình tự,  
thủ tục được pháp luật quy định, tức là khả năng chứng minh về mặt tố tụng hình sự, để chứng  
minh cho được các dấu hiệu của tội phạm xảy ra trên thực tế, mức độ lỗi, động cơ, mục  
đích,… từ đó để xử lý chủ thể đã thực hiện hành vi phạm tội, một mặt để giáo dục, cải tạo và  
mặt khác để trừng trị kẻ đã đi ngược lại lợi ích cộng đồng. Tính khả thi này bắt nguồn từ quá  
trình tội phạm hoá. Các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm cụ thể phải cần và đủ để có thể  
định tội danh một cách chính xác, từ đó mới có thể quyết định hình phạt phù hợp, đúng mức.  
Nếu không chứng minh được hành vi thỏa mãn những dấu hiệu trong cấu thành tội phạm cụ  
thể, nghĩa là không chứng minh được tội phạm thì sẽ không áp dụng được hình phạt, vì thế  
việc quy định hình phạt là không có ý nghĩa. Do đó, chỉ có trên cơ sở khả năng chứng minh  
được tội phạm về mặt tố tụng thì hoạt động hình sự hóa mới có ý nghĩa, mới đạt được mục  
đích đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm có hiệu quả.  
3. Kết luận  
Kết quả của quá trình hình sự hóa có thể mang lại hiệu quả tích cực trong thực tiễn áp  
dụng pháp luật, bảo vệ đầy đủ hơn, hiệu quả hơn các quan hệ xã hội trong mỗi giai đoạn nhất  
định và đấu tranh có hiệu quả với tội phạm nếu xác định đúng đắn, chuẩn xác giới hạn của  
việc hình sự hoá. Tuy nhiên cũng có thể là tiêu cực nếu hình sự hóa không chính xác, không  
phản ánh đúng nhu cầu xã hội, từ đó sẽ không đáp ứng được yêu cầu trong công tác phòng  
ngừa, đấu tranh chống tội phạm. Chính vì lẽ đó, quá trình hình sự hóa đòi hỏi các nhà làm luật  
phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc cơ bản của việc hình sự hóa.  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.ꢀ C. Mác - Ph. Ăngghen (1978), Toàn tập, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội.  
2.ꢀ Phạm Văn Lợi (2007), Chính sách hình sự trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam, Nxb Tư  
pháp, Hà Nội.  
3.ꢀ Dương Thị Hồng Thuận (2018), Các hình thức thể hiện hình sự hóa trong Bộ luật  
Hình sự Việt Nam năm 2015, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, số 35.  
97  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ  
4.ꢀ Dương Thị Hồng Thuận (2019), Hoàn thiện quy định về một số loại hình phạt chính  
tại Phần chung của Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn  
số 41.  
5.ꢀ Đào Trí Úc (1994), Tội phạm học, Luật Hình sự và Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam,  
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.  
6.ꢀ Võ Khánh Vinh (1992), Những đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc quy  
định hệ thống hình phạt, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3.  
98  
pdf 10 trang Thùy Anh 9540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhận diện một số nguyên tắc của việc hình sự hóa trong bộ luật hình sự Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhan_dien_mot_so_nguyen_tac_cua_viec_hinh_su_hoa_trong_bo_lu.pdf